Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bùa Ước

“Đến tuổi nào đó, bạn sẽ đủ ‘chín’ để bắt đầu đọc truyện cổ tích trở lại.” - C.S.Lewis Bùa ước là tập 1 trong series sách Lạc vào miền cổ tích. Các nhân vật như Công chúa ngủ trong rừng, cô bé Quàng khăn đỏ, Bạch Tuyết giờ đảm đương những trọng trách mới, và cùng các nhân vật trong thế giới hiện đại bước vào những cuộc phiêu lưu hết sức thú vị. Bùa Ước gồm có: CHUYẾN VIẾNG THĂM CỦA NỮ HOÀNG NGÀY XỬA NGÀY XƯA ĐƯỜNG VỀ THẬT XA BẤT NGỜ NGÀY SINH NHẬT MIỀN CỔ TÍCH TỪ MIỆNG ẾCH RỪNG CHÚ LÙN TÒA THÁP CỦA RAPUNZEL LÂU ĐÀI BÍ MẬT VƯƠNG QUỐC CHARMING VƯƠNG QUỐC QUÀNG KHĂN ĐỎ LÃNH ĐỊA QUỶ LÙN VÀ YÊU TINH VƯƠNG QUỐC TIÊN BẦY SÓI VƯƠNG QUỐC SAY NGỦ VƯƠNG QUỐC BẮC PHƯƠNG QUA HẦM MỎ GOLDILOCKS, BỊ TRUY NÃ DÙ CÒN SỐNG HAY ĐÃ CHẾT THÔNG ĐIỆP CỦA NÀNG TIÊN CÁ HỐ GAI QUẢ TIM ĐÁ TẤM GƯƠNG BÍ MẬT CỦA BẠCH TUYẾT THIẾP MỜI HOÀNG GIA MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH LỜI CẢM ƠN Bộ truyện Lạc Vào Miền Cổ Tích gồm có: Bùa Ước Phù Thủy Hắc Ám Trở Lại Lời Cảnh Báo Của Anh Em Nhà Grimm ... *** Hầm ngục là một nơi vô cùng thảm đạm. Ánh sáng hiếm hoi chập chờn hắt xuống từ những ngọn đuốc đóng đinh trên tường đá. Thứ nước hôi thối từ con hào bao quanh lâu đài bên trên rỉ xuống hầm ngục. Những con chuột to xù rượt đuổi nhau sục tìm thức ăn. Quả không phải chỗ dành cho một nữ hoàng. Vừa quá nửa đêm, tất cả chìm trong im lặng, chỉ thi thoảng mới có tiếng dây xích sột soạt. Xuyên qua cái tĩnh mịch nặng nề đó, tiếng bước chân dội vang khắp sảnh khi có người đi xuống những bậc thang xoắn ốc, tiến vào hầm ngục. Một phụ nữ trẻ xuất hiện cuối bậc thang, cả người được phủ kín bằng tấm áo choàng dài màu ngọc bích. Nàng thận trọng lần bước giữa dãy phòng giam, gây hiếu kỳ cho các tù nhân trong đó. Với mỗi bước đi, nhịp chân nàng lại chậm hơn và nhịp tim đập lại thêm gấp gáp. Tù nhân được xếp chỗ theo tội lỗi đã phạm. Nàng càng dấn bước sâu vào trong hầm ngục lại càng gặp phải những tù nhân độc ác và nguy hiểm hơn. Cái đích mà nàng đang hướng đến là phòng giam ở cuối hành lang, nơi đó, viên cai ngục to lớn đang canh giữ một tù nhân đặc biệt. Nàng đến đây để tìm lời giải đáp cho một câu hỏi. Câu hỏi đơn giản thôi, nhưng nó đã xâm chiếm suy nghĩ của nàng mỗi ngày, khiến nàng thao thức hàng đêm và là thứ duy nhất hiện ra trong giấc mơ của nàng mỗi khi nàng có thể thiếp đi giây lát. Chỉ có một người có thể cho nàng câu trả lời cần biết và người đó đang ở bên kia chấn song phòng giam phía trước. “Tôi muốn gặp bà ta,” người phụ nữ khoác áo choàng bảo viên cai ngục. “Không ai được phép vào thăm bà ta cả,” viên cai ngục đáp, có vẻ thích thú với lời đề nghị lạ lùng. “Tôi đang chấp hành mệnh lệnh nghiêm ngặt của hoàng gia.” Người phụ nữ này liền hạ mũ trùm đầu xuống để lộ gương mặt. Nàng có làn da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun và đôi mắt xanh như rừng thẳm. Vẻ đẹp của nàng nổi tiếng khắp vương quốc và câu chuyện về nàng lại còn vang xa hơn thế. “Nữ hoàng, xin hãy thứ lỗi cho thần!” viên cai ngục kinh ngạc tạ lỗi. Anh ta vội vã gập người cúi chào thật thấp. “Thần không trông đợi có người từ cung điện đến đây.” “Không cần tạ lỗi đâu,” nàng nói. “Nhưng làm ơn đừng tiết lộ việc ta đến đây tối nay.” “Dĩ nhiên rồi ạ,” viên cai ngục gật đầu. Người phụ nữ đến trước chấn song, chờ viên cai ngục nâng chúng lên nhưng anh ta lại ngập ngừng. “Người có chắc là muốn vào đó không, thưa Nữ hoàng?” Viên cai ngục hỏi. “Chẳng liệu được bà ta có thể làm chuyện gì đâu.” “Ta phải gặp bà ta,” nàng kiên quyết. “Bằng mọi giá.” Viên cai ngục bắt đầu quay tròn tay đòn bẩy và chấn song phòng giam được nhấc lên. Người phụ nữ hít một hơi thật sâu và tiếp tục bước qua đó. Nàng tiến vào một hành lang dài hơn, tối hơn; từng chấn song, từng rào chắn lần lượt được nhấc lên và hạ xuống khi nàng vượt qua chúng. Cuối cùng, nàng đã đến cuối hành lang, chấn song cuối cùng được nâng lên và nàng bước vào phòng giam. Tù nhân ở đây là một phụ nữ. Bà ta ngồi trên một chiếc ghế cao giữa phòng giam, ngước nhìn chằm chằm lên khung cửa sổ nhỏ hẹp. Mất ít phút để tù nhân nhận ra có vị khách viếng thăm đằng sau. Đó là người đầu tiên đến thăm bà ta từ bấy đến nay, chẳng cần nhìn bà ta cũng biết là ai; chỉ có thể là một người duy nhất đó thôi. “Xin chào, Bạch Tuyết,” tù nhân khẽ nói. “Xin chào người, Mẹ Kế,” lời đáp của Bạch Tuyết run rẩy và lo lắng. “Hy vọng mẹ vẫn khỏe.” Mặc dù Bạch Tuyết đã chuẩn bị trước những điều muốn nói, giờ đây nàng vẫn cảm thấy khó thốt nên lời. “Ta nghe nói giờ ngươi là nữ hoàng,” người mẹ kế tiếp. “Đúng vậy,” Bạch Tuyết đáp. “Con đã kế thừa ngôi vị như dự định của cha.” “Vậy thì sao ta lại có vinh hạnh này đây? Ngươi đến để xem ta héo hắt đi chăng?” người mẹ kế gằn giọng. Giọng nói ấy đầy quyền uy và sức mạnh; người ta kháo nhau rằng nó làm cho ngay cả người đàn ông mạnh mẽ nhất cũng phải tan chảy như nước đá. “Trái lại,” Bạch Tuyết đáp. “Con đến để tìm hiểu.” “Hiểu gì mới được chứ?” người mẹ kế cay nghiệt đáp trả. “Hiểu vì sao…” Bạch Tuyết ngập ngừng. “Vì sao mẹ lại phải làm những việc đó.” Khi cuối cùng cũng nói lên được lời này, Bạch Tuyết cảm thấy như có một gánh nặng vừa cất khỏi vai mình. Rốt cuộc nàng cũng hỏi được điều bấy nay vẫn đè nặng trong tâm trí. Khó khăn thế là cũng qua một nửa rồi. “Có nhiều chuyện về thế giới này mà ngươi không hiểu đâu,” người mẹ kế nói và quay lại nhìn đứa con của chồng mình. Đó là lần đầu tiên Bạch Tuyết nhìn thấy gương mặt mẹ kế sau một quãng thời gian dài. Đó là gương mặt một người phụ nữ đã từng mang vẻ đẹp hoàn hảo, người phụ nữ từng là hoàng hậu. Vậy mà giờ đây, người ngồi trước mặt nàng chỉ còn là một tù phạm, mà vẻ đẹp đã phai thành một gương mặt cau có, buồn bã. “Có lẽ là thế,” Bạch Tuyết đáp lời. “Nhưng mẹ có thể trách con vì cố gắng tìm hiểu lý do đằng sau hành động của mẹ không?” Những năm vừa qua trong đời Bạch Tuyết là giai đoạn gây xôn xao tranh cãi nhất trong lịch sử hoàng tộc của vương quốc. Ai ai cũng biết câu chuyện nàng công chúa xinh đẹp trú ẩn nơi ngôi nhà của Bảy Chú Lùn, trốn tránh mụ dì ghẻ ganh ghét. Ai ai cũng biết về quả táo tẩm độc nổi tiếng và vị hoàng tử quyết đoán đã đem Bạch Tuyết trở về từ cõi chết. Câu chuyện thật đơn giản, nhưng hậu truyện không như thế. Ngay cả khi bận bịu với việc triều chính và cuộc hôn nhân mới mẻ, Bạch Tuyết vẫn nhận thấy mình thường xuyên tự hỏi liệu lời đoán định về sự ích kỷ của mẹ kế nàng có đúng không. Điều gì đó bên trong vị nữ hoàng trẻ tuổi này vẫn không tin một người lại có thể độc ác đến vậy. “Mẹ có biết ngoài kia người ta gọi mẹ là gì không?” Bạch Tuyết hỏi. “Bên ngoài những bức tường nhà giam này, nhân gian gán cho mẹ là Hoàng hậu Độc Ác.” “Nếu thế gian đã gán cho ta tên gọi đó, vậy thì đó là cái tên mà ta sẽ học cách để sống cùng,” Hoàng hậu Độc Ác đáp. “Một khi thế gian này quyết định, không có nhiều thứ người ta có thể làm để thay đổi cách nghĩ của nó.” Bạch Tuyết lấy làm ngạc nhiên trước sự dửng dưng của người mẹ kế, nhưng Bạch Tuyết cần bà phải để tâm. Nàng cần biết trong bà vẫn còn chút nhân tính. “Họ muốn xử tử mẹ sau khi tra rõ tội lỗi mẹ đã phạm với con! Cả vương quốc này muốn mẹ phải chết!” Giọng Bạch Tuyết nhẹ dần, chỉ còn là lời thì thầm yếu ớt khi nàng cố chống lại những cảm xúc dâng trào. “Nhưng con sẽ không cho phép điều đó xảy ra. Con không thể…” “Vậy ra ta phải cảm ơn ngươi vì tha chết cho ta sao?” Hoàng hậu Độc Ác hỏi vặn. “Nếu ngươi trông chờ ai đó phủ phục xuống chân ngươi và bày tỏ lòng biết ơn, ngươi đã vào nhầm phòng giam rồi đấy.” “Con không làm thế vì mẹ đâu. Con làm thế vì bản thân con,” Bạch Tuyết đáp. “Dù sao đi nữa, người là người mẹ duy nhất con từng biết. Con quyết không tin mẹ lại là quái vật vô lương tâm như người ta nói. Bất kể điều đó có đúng hay không, con tin rằng sâu thẳm trong mẹ còn có một trái tim.” Nước mắt lăn dài trên gương mặt trắng trẻo của Bạch Tuyết. Tuy đã hứa với lòng mình sẽ vững tâm, nàng vẫn không kiềm chế được cảm xúc khi đứng trước người mẹ kế. “Vậy thì ta e rằng ngươi đã sai rồi,” Hoàng hậu Độc Ác nói. “Lương tâm duy nhất ta có đã chết từ lâu và trái tim duy nhất mà ta sở hữu là một trái tim bằng đá.” Hoàng hậu Độc Ác đúng là có một quả tim đá, nhưng không phải trong người bà ta. Một hòn đá có hình dạng và kích thước hệt như trái tim người được đặt trên cái bàn nhỏ ở góc phòng giam. Đó là vật duy nhất Hoàng hậu Độc Ác được phép giữ bên mình khi bà ta bị bắt. Bạch Tuyết nhận ra hòn đá đó từ những ngày thơ ấu. Nó bao giờ cũng rất quý giá đối với mẹ kế nàng, Hoàng hậu Độc Ác chưa bao giờ để nó ra khỏi tầm mắt. Bạch Tuyết chưa từng được phép chạm vào hay cầm lấy nó, nhưng bây giờ thì không gì có thể ngăn cản nàng. Nàng bước ngang qua phòng giam, cầm vật đó lên và tò mò nhìn. Nó gợi lại biết bao nhiêu hồi ức. Mọi sự thờ ơ và nỗi buồn mẹ kế đã gây cho nàng khi nàng còn là một đứa trẻ ùa về. “Cả đời này con chỉ muốn một điều duy nhất,” Bạch Tuyết nói. “Tình yêu thương của mẹ. Khi còn là một cô bé, con từng dành hàng giờ lẩn trốn trong lâu đài, những mong mẹ sẽ nhận thấy thiếu vắng con, nhưng mẹ chưa từng nhận ra. Mẹ ở trong phòng hết ngày này qua ngày khác với tấm gương, kem dưỡng da của mẹ và hòn đá này. Mẹ dành nhiều thời gian cho những người lạ mặt với các bí quyết chống lão hóa hơn là cho con gái của mẹ. Nhưng vì sao chứ?” Hoàng hậu Độc Ác không trả lời. “Bốn lần mẹ cố gắng giết con, ba lần chính tay mẹ thực hiện,” Bạch Tuyết tiếp, lắc đầu không tin được. “Khi mẹ phục sức như một bà già và đến tìm con nơi nhà của các chú lùn, con biết đó là mẹ chứ. Con biết mẹ rất nguy hiểm, nhưng con vẫn để mẹ vào nhà. Con vẫn hy vọng rằng mẹ sẽ thay đổi. Con đã để mẹ làm tổn thương con.” Bạch Tuyết chưa bao giờ tiết lộ điều này với bất cứ ai, nàng chỉ biết vùi mặt vào tay khóc sau khi thốt nên lời. “Ngươi nghĩ ngươi biết thế nào là tan nát cõi lòng ư?” Hoàng hậu Độc Ác nói với vẻ gay gắt đến độ khiến người con riêng của chồng giật mình. “Ngươi chẳng biết gì về nỗi đau cả. Ngươi không bao giờ nhận được chút trìu mến nào từ ta nhưng từ khi được sinh ra, ngươi đã được cả vương quốc này yêu mến. Người khác, trái lại, không được may mắn thế. Với Người khác, Bạch Tuyết à, đôi khi tình yêu duy nhất của đời họ cũng bị tước đi.” Bạch Tuyết không biết phải nói gì. Bà ấy đang nói về tình yêu nào đó? “Mẹ đang nói về cha con sao?” Bạch Tuyết hỏi. Hoàng hậu Độc Ác nhắm mắt lại và lắc đầu. “Tính ngây thơ quả là một phẩm chất được nhiều ưu ái,” bà ta nói. “Tin hay không thì tùy, Bạch Tuyết à, ta từng có cuộc đời của riêng ta trước khi bước vào cuộc đời ngươi.” Bạch Tuyết lặng đi và hơi xấu hổ. Dĩ nhiên nàng biết mẹ kế từng có một cuộc đời khác trước khi kết hôn với cha nàng, nhưng nàng chưa bao giờ nghĩ tới những gì có trong cuộc đời đó. Mẹ kế của nàng luôn rất kín đáo, Bạch Tuyết chẳng có lý do gì để nghĩ sâu xa cả. “Tấm gương của ta đâu?” Hoàng hậu Độc Ác gặng hỏi. “Nó sẽ bị phá hủy,” Bạch Tuyết đáp lời bà. Đột nhiên, hòn đá của Hoàng hậu Độc Ác trong tay Bạch Tuyết trở nặng. Bạch Tuyết không rõ liệu có thật vậy không hay nàng chỉ tưởng tượng thế thôi. Cánh tay cầm hòn đã trở nên mỏi nhừ và nàng phải đặt nó xuống. “Có quá nhiều điều mẹ không nói cho con,” Bạch Tuyết nói. “Có quá nhiều điều bao nhiêu năm nay mẹ giấu con.” Hoàng hậu Độc Ác cúi đầu và nhìn chằm chằm xuống đất. Bà giữ im lặng. “Con có lẽ là người duy nhất trên thế gian dành cho mẹ lòng thương cảm. Làm ơn nói con biết rằng lòng thương đó không phải là vô ích,” Bạch Tuyết van xin. “Nếu có chuyện gì trong quá khứ tác động đến những quyết định gần đây của mẹ, hãy cho con biết.” Vẫn không có câu trả lời nào. “Con sẽ không rời khỏi đây đến chừng nào mẹ kể con nghe!” Bạch Tuyết kêu lên, lần đầu trong đời nàng lớn tiếng. “Được thôi,” Hoàng hậu Độc Ác nói. Bạch Tuyết liền ngồi xuống một chiếc ghế cao khác trong phòng giam. Hoàng hậu Độc Ác nấn ná trong giây lát trước khi bắt đầu và Bạch Tuyết càng thêm chờ đợi. “Người ta sẽ mãi mãi lãng mạn hóa câu chuyện của ngươi,” bà ta bảo Bạch Tuyết. “Sẽ không có ai đoái hoài đến câu chuyện của ta. Ta sẽ tiếp tục bị hạ nhục, biến thành một kẻ độc ác ghê tởm cho đến muôn đời. Tuy nhiên, điều mà thế giới không thể nhận ra là một nhân vật phản diện chỉ là một nạn nhân mà chuyện của họ vẫn chưa được kể. Tất cả những gì ta đã làm, sự nghiệp cả đời ta và tội lỗi của ta chống lại ngươi, tất cả là vì ông ấy.” Bạch Tuyết cảm thấy trái tim mình trở nên nặng nề. Đầu óc nàng choáng váng và sự tò mò chiếm lĩnh toàn bộ con người nàng. “Ai cơ?” nàng vội hỏi đến độ quên kiềm chế sự nóng vội trong giọng nói. Hoàng hậu Độc Ác nhắm mắt lại và để những ký ức trở lại. Hình ảnh những nơi chốn, những người bà đã biết trong quá khứ hiện ra từ thẳm sâu tâm trí như ánh đom đóm trong hang động. Có rất nhiều điều bà đã chứng kiến trong những năm tháng thanh xuân, quá nhiều thứ bà ước rằng mình nhớ và quá nhiều thứ bà muốn quên đi. “Ta sẽ kể ngươi nghe về quá khứ của ta, hay ít nhất là quá khứ của người từng là ta,” Hoàng hậu Độc Ác nói. “Nhưng ta cảnh báo ngươi. Chuyện của ta không phải là một câu chuyện có kết thúc hạnh phúc mãi mãi.”   Mời các bạn đón đọc Bùa Ước của tác giả Chris Colfer.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mùa Hè Để Nhớ - Mary Balogh
Anh - một tử tước đang chạy trốn bản thân - quyết định chọn một cô vợ để buộc ông bố dẹp bỏ ý đồ bắt anh lấy một người mà anh không còn muốn lấy nữa. Và vì lấy vợ mà không cần tình yêu ấy, anh quyết định chọn một quý cô "đoan trang nhất, cao quý nhất và ... buồn tẻ nhất"(!). Nàng - là người được chọn vì đáp ứng hoàn hảo các tiêu chuẩn ấy. Rồi nàng phát hiện ra ý đồ của anh, nhưng nàng đã quyết định làm người hứa hôn giả của anh để giúp anh thực hiện ý định, bù lại anh phải tặng cho nàng "một mùa hè để nhớ". Nàng đã phải nhớ mãi mùa hè ấy... vì những điều anh đã làm... *** Phòng thay quần áo của Lauren thình lình có vẻ đông đúc hơn dù nàng vừa mới đẩy cô hầu đầy nước mắt ra khỏi trước đó năm phút. Cô nàng ngốc nghếch cứ sụt sịt và chảy nước mắt suốt cả tiếng đồng hồ thay quần áo cho cô chủ và làm tóc cho nàng. Trong đời cô chưa bao giờ hạnh phúc hơn, cô đã nói thế khi thiểu não nấc lên và dù cô hoàn toàn chẳng vui tí nào khi không được gặp mẹ, sống ở hạ Newbury, được thường xuyên, thì cô vẫn rất hồi hộp được dời đến Alvesley và gọi ngài Ravensberg là ông chủ. Anh là quý ông tử tế nhất, đẹp trai nhất mà cô từng thấy. Lauren phải cho phép vì sự thật là hôm nay là ngày mà những xúc cảm có thể trở nên rất cao trào. Hôm nay là ngày cưới của nàng. Dì Clara là người đầu tiên vào phòng thay đồ của nàng. Lauren không ăn sáng với tất cả khách khứa trong phòng ăn. Một chiếc khay được mang lên phòng nàng, chất đầy những món ăn ngon lành, những món nàng ưa thích. Nàng không ăn nổi lấy một miếng. Dì Clara ôm lấy nàng nhẹ nhàng, để hai người họ không bị ép nghẹt thở bởi bộ trang phục lộng lẫy cho ngày cưới của mình. "Lauren," bà nói. Đấy là tất cả những gì bà có thể nói, rồi bà mỉm cười. Oh, phải, hôm nay là ngày của xúc động. Lauren biết dì rất vui mừng cho nàng. Bà đã buồn rầu kinh khủng khi biết tin hủy hôn, đã bị thuyết phục là cuối cùng cháu gái mình đã tìm thấy hạnh phúc khi ở Alvesley. Bà thực sự đã khóc – Neville và Lily đã phải an ủi bà – khi Lauren và Kit bước vào phòng khách ở tu viện khá trễ trong buổi chiều mưa một tháng trước. Họ không cần phải nói một lời nào. Mọi người biết ngay là họ đã giảng hòa với nhau. Thật là ngượng ngùng bối rối. Quá rõ như ban ngày tại sao họ lại ở dưới bãi biển quá lâu đến thế. Gwen là người tiếp theo vào phòng. "Oh," cô nói, dừng lại ở ngưỡng cửa, "em mới đẹp làm sao, Lauren. Chưa từng người nào chị biết – có lẽ trừ Elizabeth – có thể làm biến mất vẻ mộc mạc giản dị và làm cho mình thanh lịch và tao nhã đến thế. Vài người chúng ta trở nên vừa lùn vừa béo mất rồi." Lauren bật cười với niềm vui sướng thực sự. Gwen thấp người và tròn trịa hấp dẫn, nhưng lùn và béo mập là từ cuối cùng mà người ta có thể sử dụng để mô tả về cô. Rồi tử tước Whitleaf – em họ Peter – gõ nhẹ vào cửa và ló đầu vào, mặt đỏ bừng đầy háo hức khi Gwen mở cửa ra. "Oh, em nói nhé!" cậu thốt lên. "Chị đẹp lộng lẫy, chị họ. Em vừa ở nhà thờ về. Em nghĩ em sẽ thò đầu vào, chào buổi sáng tốt lành và chúc phúc cho chị, vì em là người thân duy nhất hiện diện từ bên nhà nội của chị. Em hy vọng thế không phải là láo xược. Vũ hội đêm qua rất là vui, đúng không?" Lauren vội băng qua phòng dùng cả hai bàn tay mình nắm lấy hai bàn tay cậu. "Vũ hội rất vui," nàng nói. "một phần lớn vì em đã đến và cuối cùng chị cũng gặp được em. Em đã làm cho niềm hạnh phúc của chị trở nên trọn vẹn." "Oh, em bảo mà!" cậu kêu lên, trông rất vui. "Nhưng em nên ra thôi." Cậu nhìn thấy Gwen đứng bên cửa và cúi chào cô. "Tôi có thể cảm ơn cô lần nữa không, thưa cô, vì lòng tốt vô cùng của cô khi dành phòng mình cho tôi đêm qua?" Chẳng còn phòng nào ở tu viện hay ngôi nhà thừa kế hay quán trọ. Gwen đã ngủ trên chiếc giường phụ trong phòng thay quần áo của dì Clara. Và rồi, chưa đầy hai phút sau khi cậu rời khỏi, Neville và Lily xuất hiện. "Chúng tôi chỉ muốn ghé qua xem Lauren trên đường ra nhà thờ thôi." Lily nói như xin lỗi. "Oh, Lauren, em đẹp tuyệt vời. Tôi rất hạnh phúc cho em. Rất hạnh phúc." Cô ôm lấy Lauren, chẳng bận tâm đến mối nguy hiểm cho bộ trang phục lộng lẫy của họ - và có thể thấy rõ do tình trạng cồng kềnh của cô. Lauren ôm lại cô. "Tôi yêu quý chị, Lily," nàng thì thầm. "Tuyệt quá, tôi cũng nghĩ thế," Lily nói, không chút nao núng. "Nếu không phải vì tôi, thì hôm nay sẽ không phải là ngày cưới của em, đúng không?" Lily đầy tin tưởng nói toạc ra tất cả. Rồi đến phiên Neville. Như dì Clara, anh không nói gì cả - không kể cả tên nàng. Nhưng anh vòng tay ôm chặt lấy nàng sát vào lòng. Nàng cũng vòng tay quanh người anh và nhắm mắt lại. Neville. Neville yêu dấu thân thương của nàng. Người anh trai thân thương nhất, thân yêu nhất mà một người phụ nữ từng có. Nàng biết – dù họ không nói ra điều đó – là ngày hôm nay có ý nghĩa nhiều với anh biết bao nhiêu. Hôm nay là ngày mà cuối cùng anh cũng nhìn thấy nàng được hạnh phúc trọn vẹn, là ngày cuối cùng anh cũng có thể để cho tội lỗi khủng khiếp của mình ra đi. "Hạnh phúc nhé," anh nói, khi cuối cùng cũng thả nàng ra và mỉm cười với nàng. "Hứa với anh nhé?" "Em hứa." nàng mỉm cười lại. "Em yêu anh ấy, anh biết mà." "Nếu chúng ta không đi ngay, Neville," dì Clara nói, "cô dâu sẽ phải lôi chúng ta tới nhà thờ. Như thế hổ thẹn lắm." Họ đều bật cười, và dì Clara là người sau cùng, chần chừ nhìn Lauren khi bước ra với Neville và Lily. Lauren còn lại một mình với Gwen. Nàng quay lại nhìn cô, nụ cười nhạt dần đi. "Có lẽ," nàng nói. "Em đã nên đề nghị tổ chức đám cưới ở Alvesley." Gwen hiểu ngay. Sao nàng không thể? Họ có các chị em gái và bao bạn bè suốt hai mươi ba năm qua. "Không," cô nói. " Sự đứng đắn và dũng khí của em đã không làm em gục ngã hơn một năm rưỡi qua, Lauren. Giờ chúng cũng không thể làm gì em được." Cô hầu của Lauren vỗ nhẹ vào cửa và thò đầu vào nhìn quanh. Cô vẫn còn nước mắt. Nam tước Galton đang đợi cô Edgeworth và quý cô Muir ở sảnh dưới, cô ta thông báo. Mọi thứ đều làm nhớ lại... Lần đó là vào cuối mùa xuân – tháng ba. Lần này là cuối tháng mười. Thời tiết đẹp hơn, mát mẻ nhưng có nắng. Cây cối quanh ngôi nhà thừa kế và dọc theo lối đi ngắn trước khi xe ngựa ra đến cổng công viên và chạy vào trong làng đến nhà thờ ở phía bên kia được trang hoàng bằng tất cả màu sắc lộng lẫy huy hoàng của mùa thu. Lối vào được trải thảm bằng những chiếc lá rơi. Bãi cỏ của làng lố nhố người. Đám người dầy đặc tụm lại quanh cửa và sân nhà thờ. Con đường bao quanh bãi cỏ xếp hàng dài những cỗ xe ngựa không người đủ loại. Những người đánh xe đứng vẩn vơ quanh đó, trố mắt ra nhìn với vẻ thích thú, những bộ chế phục màu sắc phân biệt họ với những người trong làng. Ah, phải, làm nhớ lại sự sợ hãi. Đứng bên trong hành lang nhà thờ vài phút sau đó trong khi Gwen khom người vuốt phẳng viền áo và sắp xếp đuôi áo cho nàng, Lauren có thể cảm nhận được những nhóm người đầy trong nhà thờ chỉ ngay bên kia tầm nhìn của nàng. Cha sở đang chờ ở tay vịn bàn thờ. Kit và Syd cũng vậy. Nàng có hình dung được tất cả những người đứng bên ngoài, đợi tiếng chuông nhà thờ ngân vang để báo nghi lễ đám cưới đã hoàn tất, đợi tóm được cái nhìn thoáng qua của cô dâu và chú rể khi họ từ nhà thờ đi ra, vừa mới cưới xong. Và nàng cũng gần như có thể cảm thấy người đàn bà ăn vận tồi tàn, chạy bổ nhào lên lối đi trong sân nhà thờ vào trong hành lang và phớt qua Lauren để vội vàng vào trong nhà thờ để làm cho thế giới sụp đổ đến tận cùng. Ông ngoại đang đợi một cách kiên nhẫn, mỉm cười yêu thương với nàng. Nàng nghĩ chắc chắn nàng sẽ ngất xỉu. Tệ hơn, nàng thấy cáu gắt kinh khủng. Sự hoảng loạn quắp lấy những bờ mép của sự kiểm soát. Rồi Gwen nhìn lên nàng – và đứng thẳng lên nắm lấy tay nàng, siết nhẹ trong tay mình. "Lauren," cô dịu dàng nói, "hiện giờ mọi chuyện đã qua rồi mà. Quá khứ đã qua rồi. Tương lai đang đợi em. Ngày hôm nay – là ngày cưới của em. Ngày cưới thực sự của em." Cây đàn lớn bắt đầu dạo nhạc. Ông ngoại chìa cánh tay ra. Và họ bước vào trong nhà thờ, vào trong lối đi dài dằng dặc giữa giáo đường. Trong vài phút nàng có thể nhìn thấy mọi thứ, như thể nó luôn được khắc trong tâm trí nàng. Những gương mặt quay lại nhìn nàng bước tới gần, phần lớn đều thân quen, đa số đều mỉm cười. Nàng thậm chí còn nhìn thấy từng người một – Joseph, dám nháy mắt với nàng, Claude và Daphne Willard, dì Sadie và chú Webster, công tước Bewcastle và quý ngài Rannulf Bedwyn, Elizabeth, công tước Portfrey, em họ Peter, bà nội Kit, gật đầu và cười rạng rỡ, Lily và Neville, dì Clara, ông bà bá tước Redfield. Nhưng chỉ vài phút thôi. Rồi mắt nàng tập trung vào điểm cuối lối đi, nơi có một người đang đứng đợi nàng. Anh không cao bằng cha sở đang đứng một bên anh hay Sydnam đứng ở phía bên kia. Nhưng anh đẹp trai không tin được và ăn vận tao nhã tuyệt vời trong chiếc áo khoác đuôi tôm vừa vặn màu đen, chiếc quần ống túm satin màu ngà và chiếc áo gi lê thêu bằng vải lanh và đôi vớ trắng tinh. Đăng ten vòng quanh cổ và cổ tay anh. Kit! Anh trông rất long trọng và trang nghiêm. Nhưng không! Khi đến gần hơn, Lauren có thể nhìn thấy đôi mắt anh mỉm cười. Không phải với vẻ vui tươi và ranh ma thông thường, và là cái gì đó lấy hết hơi thở của nàng dù nàng biết không hề nghi ngờ gì trong suốt cả tháng nay là anh yêu nàng. Anh viết thư hàng ngày từ Alvesley – đôi khi hai lần một ngày, có một lần viết những ba lần một ngày – để nói với nàng điều đó, thường là với thứ ngôn từ cầu kỳ hoa mỹ kỳ quặc ác liệt mà anh biết là sẽ làm cho nàng phì cười. Đôi mắt anh kéo nàng lại với anh. Chúng làm nàng thấy ấm nồng từ đầu đến ngón chân, chúng nhìn như nuốt lấy nàng, làm nàng thấy mình đẹp, được khao khát và rất được thèm muốn. Đôi mắt anh tôn thờ nàng. Đột nhiên nàng tự hỏi là mình có đang mỉm cười không và nhận ra là có. Nàng cũng sợ hãi như thường bị trong suốt những đêm mất ngủ, trong suốt lúc thay quần áo cho đám cưới, trong suốt thời gian đến nhà thờ và đứng trong hành lang. Ngay cả bây giờ nàng cũng sợ, ngay cả bây giờ khi ông nội đang trả lời những câu hỏi của đức cha và trao bàn tay nàng vào tay Kit, là điều gì đó sẽ xảy ra. Đám cưới – đám cưới của nàng – đang diễn ra, nàng nhận ra điều ấy, nhưng nàng vẫn không thể chú tâm vào nó được. Nàng nghĩ hoàn toàn có thể nàng sẽ ngất đi mất thôi. Anh chưa bao giờ thấy nàng đẹp hơn. Chiếc áo dài satin trắng tỏa sáng lung linh không hề trang trí cầu kỳ ngoại trừ viền gấu và vòng quanh đuôi áo, ở mép tay áo ngắn và viền quanh cổ, cổ áo được viền theo kiểu vỏ sò thanh nhã và trang trí bằng chỉ thêu bạc và hàng trăm – có lẽ hàng ngàn – những viên ngọc trai nhỏ xíu. Chiếc mũ, đôi giày mềm, đôi găng tay dài đều màu trắng, chiếc mũ được tô điểm với chiếc khăn trùm bằng ren tốt nhất, dài qua mặt nàng. Chỗ có màu duy nhất là sợi dây ruy băng màu tím dưới ngực áo, đuôi kéo dài đến tận gấu áo, và bó hoa nhỏ màu tím với những chiếc lá xanh sẫm nàng cầm trong một bàn tay. Anh chưa bao giờ nghĩ ngày cưới là ngày hạnh phúc nhất trong đời mình. Anh luôn nghĩ rằng những đám cưới – nếu trừ đêm tân hôn – đều chán ngắt mệt mỏi, một việc khá là rối rắm với đàn ông. Nhưng hôm nay anh phải thừa nhận rằng người ta đã nói điều gì đó về sự rập khuôn xưa cũ. Thật ra là, nhiều điều. Ban đầu nàng trông khá là giống Lauren Edgeworth tượng đá ngày xưa. Nhưng rồi, khi mắt nàng tập trung vào anh và nàng bước tới gần hơn, nàng mỉm cười. Trái tim anh loạn nhịp. Lại một sự rập khuôn nữa. Có lẽ đám cưới là dịp để nhân cách hóa những sự rập khuôn. Anh đã không gặp nàng cả tháng qua. Và hôm qua anh khó khăn lắm mới đến được gần nàng. Hôm nay... phải, hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong đời anh. Rồi anh nhìn thấy sự sợ hãi khủng khiếp sau nụ cười của nàng và cảm nhận được sự đông cứng trong bàn tay nàng. Không chỉ là vì căng thẳng hồi hộp. anh biết nàng đủ rõ, Chúa ơi, để hiểu điều đó. Và dĩ nhiên – dĩ nhiên rồi! Anh đã suy nghĩ về tính thích hợp của nhà thờ Newburry – quang cảnh đám cưới đầu tiên của nàng – cho lễ cưới của họ. Nhưng anh đã kết luận là tốt hơn cho nàng nếu tổ chức đám cưới ở đây, để có thể để cho các bóng ma được yên nghỉ. Anh thật ngu xuẩn – ngốc nghếch ngu si – không nhận ra là phần này của ngày sẽ là sự thử thách khủng khiếp thế nào đối với nàng. Anh cố gắng mang lại sự an toàn cho nàng bằng bàn tay anh, bằng đôi mắt anh. Anh cố bao bọc sự an toàn của tình yêu của anh quanh nàng. Anh không chú tâm vào đám cưới nữa. "Ta yêu cầu và giao trách nhiệm cho cả hai con," cha xứ nói khi Kit tập trung trở lại – và anh có thể thấy Lauren cũng đột nhiên lắng tai nghe, "là hai con phải trả lời vào ngày phán xét đáng sợ này, khi những bí mật của tất cả những trái tim được phơi bày, là nếu ai trong hai con biết bất cứ điều gì cản trở lý do hai con không thể kết hợp với nhau hợp pháp vào đời sống vợ chồng, thì hai con phải thú nhận bây giờ; vì ta đảm bảo với các con rằng những cặp vợ chồng đến với nhau theo những cách khác mà không phải được lời của Chúa cho phép, sẽ không được Thiên Chúa kết hợp, và hôn nhân cũng sẽ không là hợp pháp." Bàn tay nàng đông cứng trong tay anh. Không, tình yêu của anh, không ai phá vỡ sự im lặng này đâu. Không có sự ngăn trở nào cả. Trong thời khắc này tất cả đã qua rồi – tất cả nỗi sợ hãi phi lý đó. Dũng cảm lên, tình yêu của anh. "Người phụ nữ này chưa từng kết hôn chứ?" Đã qua rồi. Đã qua rồi. Nàng thả lỏng ngay tức khắc và mỉm cười rạng rỡ với anh. Không có sự cản trở nào cả. Sớm – rất sớm thôi – họ sẽ là chồng và vợ. Kết hợp với nhau thành một cho đến khi cái chết chia lìa họ. Anh vén tấm mạng ra khỏi gương mặt nàng, gập nó qua vành mũ của nàng. Anh mỉm cười với đôi mắt nàng. Tình yêu của anh. Nữ bá tước của anh. Vợ anh. Sự khiếp sợ - sự khiếp sợ ngu xuẩn – đã được lãng quên. Ký tên vào sổ đăng ký, chuông nhà thờ rung lên từng hồi vui tươi báo cho thế giới bên ngoài, tiếng đàn vang lên tưng bừng hân hoan, cặp vợ chồng mới cưới quay bước lại trên lối đi giữa giáo đường, mỉm cười với tất cả họ hàng và bạn bè, và mọi người cũng cười lại với họ. Nhưng vài sự tụ tập không thể chờ đợi được. Những người họ hàng của cả hai gia đình và vài người khác len ra ngoài và tự trang bị cho mình trước khi Kit và Lauren bước ra ánh nắng mặt trời và người trong làng bùng lên chúc mừng, gần như tất cả mọi người đã tụ tập ở cửa ra vào và cỗ xe ngựa để mở - trang hoàng phong phú với những dây ruy băng và những dải giấy màu trắng – cỗ xe sẽ chở họ đến tu viện cho bữa tiệc cưới. Những người họ hàng đã xếp hàng dọc theo hai bên lối đi của sân nhà thờ, ai nấy đều cười toe toét đầy hiểm độc, người nào cũng được trang bị hàng đống lá cây khô. "Hmm," Kit nói khi Lauren cười rạng rỡ với mọi người xung quanh. Không gì có đủ sức làm hỏng niềm hạnh phúc ngày cưới của nàng. "Chúng ta sẽ co mình lại vào giữa đám đông và hy vọng thoát khỏi tầm nhìn của họ vài phút nhé? Hay là chúng ta chạy băng qua?" "Rất không đàng hoàng," nàng nói, "nếu làm hỏng niềm vui của họ." "Không đàng hoàng." Anh cười nhăn với nàng. "Vậy để nó xảy ra vậy. Nhưng họ sẽ thất vọng nhiều nếu chúng ta chúi đầu xuống và chạy qua. Ta sẽ làm họ thất vọng chứ?" "Chắc chắn," nàng đồng tình, khoác tay anh và điềm tĩnh bước xuống lối đi trong sân nhà thờ với anh, mỉm cười và vẫy tay và bị tưới bởi những chiếc lá đầy màu sắc rực rỡ. Họ vẫy chào đám đông lần nữa khi Kit giúp nàng vào trong cỗ xe và rồi nhảy tót lên ngồi cạnh nàng. Người đánh xe quát lên ra lệnh với giọng hiền lành, và đám đông rẽ ra để họ đi qua, chiếc xe tròng trành chuyển động, và Kit ném tung ra hàng nắm tiền xu để sẵn trên ghế ngồi. Khách dự đám cưới bắt đầu tràn ra khỏi nhà thờ. Bàn tay Kit tìm bàn tay Lauren và ấm áp nắm chặt lấy nó. Họ nhìn nhau, mỉm cười khi cỗ xe chậm rãi chạy vòng qua bãi cỏ trước khi đi vào giữa hai cột cổng vào trong công viên. "Cuối cùng cũng được ở một mình với nhau," anh nói. "Hoặc là gần như một mình. Tháng vừa rồi thật dài vô tận." "Phải, nhưng nó qua rồi." Đôi mắt nàng lóng lánh những giọt nước mắt bất ngờ. "Và sáng nay cũng qua rồi." Anh siết bàn tay nàng chặt hơn. "Mọi việc đều hoàn hảo," anh nói. "Vợ anh ạ. Luôn luôn và mãi mãi là vợ anh, Lauren. Luôn luôn và mãi mãi là tình yêu của anh." "Tình yêu của em," nàng nhẹ nhàng lặp lại. Rồi nụ cười của nàng rạng rỡ hơn. "Ôi, Kit, em rất vui vì anh đã đánh nhau trong công viên hôm đó và em đi ngang qua. Em rất vui là anh đã có cuộc đánh cược quá quắt đó với bạn anh. Em rất vui-" Anh nghiêng đầu qua và hôn nàng. Từ sau lưng họ, một tràng la ó chúc mừng dậy lên. Và một tiếng huýt sáo lảnh lót. Tiếng chuông nhà thờ vang lên từng hồi vui vẻ. Mời các bạn đón đọc Mùa Hè Để Nhớ của tác giả Mary Balogh.
Tấn Trò Đời - Honoré de Balzac
Honoré de Balzac dành nhiều công sức, thời gian cho việc viết tiểu thuyết và phần lớn số tiểu thuyết ông viết được gộp chung thành tác phẩm duy nhất mang tên La Comédie humaine (bản dịch tiếng Việt có tên gọi Tấn trò đời) Tấn trò đời gồm khoảng 95 tác phẩm được Balzac gộp lại vào năm 1842, gồm 3 phần: nghiên cứu về thói quen, nghiên cứu triết học và nghiên cứu bản chất. Những tác phẩm trong Tấn trò đời vừa gắn kết với nhau, vừa có thể tồn tại độc lập. Người ta có thể hiểu một tác phẩm mà không cần đọc các tác phẩm còn lại. Những câu chuyện hoàn toàn khác nhau, chỉ có nhân vật được lặp lại, xuất hiện nhiều lần. Ví dụ trong chuyện này, nhân vật A có thể là nhân vật chính, nhưng trong chuyện khác anh ta lại là nhân vật phụ, là một người có liên quan đến nhân vật chính. Balzac quan niệm xã hội là một chỉnh thể, tất cả các sự kiện đều tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau một cách hết sức chặt chẽ như trong giới tự nhiên. Tất cả những đặc điểm ấy gây cho độc giả ấn tượng như đang sống trong một xã hội có thực. Tuy nhiên, những tác phẩm trong Tấn trò đời là một khối thống nhất vì tất cả cùng vẽ nên bức tranh xã hội Pháp nửa đầu thế kỷ 19. Tựa đề "Tấn trò đời" được Balzac đặt theo tên tác phẩm Vở kịch thần thánh (Divina commedia) của Dante Alighieri (1265-1321). Balzac muốn cho thấy ý định của ông khi viết các tác phẩm trong "Tấn trò đời": tả về cái địa ngục ngay giữa xã hội con người. Nhà văn có đụng ý chọn cái tên đối lập với tên tác phẩm nổi tiếng của Dante có thiên đường và địa ngục. Balzac đã có ý định tập hợp các tác phẩm từ rất sớm. Năm 1830, ông đã cho in 6 tác phẩm vào một quyển sách chung với nhan đề Cảnh đời tư. Hai năm sau Cảnh đời tư được bổ sung thêm hai tác phẩm nữa. Năm 1834 sự tập hợp mở rộng thêm một bước, nhiều tác phẩm được sắp xếp dưới một nhan đề chung là Khảo cứu phong tục, chia làm 6 cảnh, đồng thời nhà văn còn dự kiến có thêm các phần Khảo cứu triết học và Khảo cứu phân tích. Năm 1842, ý định tập hợp và sắp xếp các tác phẩm thành hệ thống của Balzac mới thực hiện được đầy đủ. Nhan đề dự kiến trước đó Khảo cứu xã hội được thay bằng Tấn trò đời. Do ông mất khi mới 51 tuổi nên nhiều tiểu thuyết chỉ có tên chứ chưa có nội dung.  Tấn trò đời được chia làm ba phần: Khảo cứu phong tục, gồm 6 cảnh: Cảnh đời tư (32 tiểu thuyết, đã viết xong 28), Cảnh đời Paris (20 tiểu thuyết, đã viết xong 14), Cảnh đời chính trị (8 tiểu thuyết, đã viết xong 4), Cảnh đời quân sự (23 tiểu thuyết, đã viết xong 2), Cảnh đời nông thôn (5 tiểu thuyết, đã viết xong 3) Khảo cứu triết học (27 tiểu thuyết, đã viết xong 22) Khảo cứu phân tích (5 tiểu thuyết, đã viết xong 1) Tấn Trò Đời có tất cả 16 tập:   Tấn Trò Đời Tập 1-Khảo Luận (NXB Thế Giới 1999) - Balzac, 446 Trang Tấn Trò Đời Tập 2-Lão Goriot (NXB Thế Giới 1999) - Balzac, 489 Trang Tấn Trò Đời Tập 3-Luật Đình Chỉ (NXB Thế Giới 1999) - Balzac, 595 Trang Tấn Trò Đời Tập 4-Những Người Độc Thân (NXB Thế Giới 1999) - Balzac, 485 Trang Tấn Trò Đời Tập 5-Gaudissart Trứ Danh (NXB Thế Giới 1999) - Balzac, 356 Trang Tấn Trò Đời Tập 6-Vỡ Mộng (NXB Thế Giới 1999) - Balzac, 699 Trang Tấn Trò Đời Tập 7-Truyện Mười Ba Người (NXB Thế Giới 2000) - Balzac, 360 Trang Tấn Trò Đời Tập 8-Bức Thăng Trầm Của Kỹ Nữ (NXB Thế Giới 2000) - Balzac, 616 Trang Tấn Trò Đời Tập 9 (NXB Thế Giới 2000) - Balzac Tấn Trò Đời Tập 10 (NXB Thế Giới 2000) - Balzac Tấn Trò Đời Tập 11 (NXB Thế Giới 2000) - Balzac Tấn Trò Đời Tập 12-Những Cảnh Đời Chính Trị (NXB Thế Giới 2001) - Balzac, 384 Trang Tấn Trò Đời Tập 13 (NXB Thế Giới 2000) - Balzac Tấn Trò Đời Tập 14-Bông Huệ Trong Thung (NXB Thế Giới 2001) - Balzac, 321 Trang Tấn Trò Đời Tập 15 (NXB Thế Giới 2000) - Balzac Tấn Trò Đời Tập 16 (NXB Thế Giới 2000) - Balzac *** Honoré de Balzac (1799-1850) là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực.  Ông là con trai của Bernard-François Balssa và Anne-Charlotte-Laure Sallambier, họ Balzac được lấy của một gia đình quý tộc cổ Balzac d'Entraigues. Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Balzac từ khi vào đời cho đến năm (1828). Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi đã mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Victor Hugo. Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao, thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép. Balzac sớm có ý thức về sự tái hiện cuộc đời một cách hoàn chỉnh ở đủ mọi góc cạnh của nó và được đặt trong hệ thống mà ông ví như một "công trình kiến trúc của vũ trụ" với tính chất vừa hệ thống vừa hoành tráng từ các tác phẩm của ông. Vũ trụ ấy là cuộc đời nhìn qua nhãn quang của ông tạo nên một "thế giới kiểu Balzac" in rõ dấu ấn của "cảm hứng vĩ mô". Vì vậy, vũ trụ trong tiểu thuyết Balzac là một "vũ trụ được sáng tạo hơn là được mô phỏng". Honoré de Balzac từng nói một câu nổi tiếng " Ai cũng có thể làm thầy ta !" ; chính sự sâu sắc này của ông đã ảnh hưởng rất lớn về cách sống cũng như trong nghệ thuật của ông. Một số tác phẩm tiêu biểu : Miếng da lừa, Lão Goriot, Bước thăng trầm của kĩ nữ, và đặc biệt là bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời. Mời các bạn đón đọc bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn Trò Đời của tác giả Honoré de Balzac.
Nghệ nhân và Margarita - Mikhail Bulgakov
M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ. Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết. Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita… Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện. Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi. Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?". Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu. Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…". Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó. *** Năm 2006, Mikhail Bulgakov, một trong những nhà văn lớn nhất và kỳ bí nhất của nước Nga, tròn 115 tuổi. Hành trình cuộc đời, hành trình văn chương của ông trên dưới trăm năm đầy gian nan thăng trầm nhưng hướng về bất tử, như lời khẳng định của một nhà văn Nga: “Bulgakov – nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga”. Hơn thế nữa, mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của Bulgakov mỗi ngày một tăng ở Nga và ở nhiều nơi trên thế giới, hầu hết tác phẩm của ông liên tục được in, tái bản, dịch, dựng phim… Xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu “Bulgakov học”. Ông là một trong số rất ít nhà văn ở Nga được làm “Bách khoa toàn thư”; và đặc biệt, Bulgakov có lẽ là một trong những nhà văn có tác phẩm được đưa lên và được đọc nhiều nhất trên mạng Internet. Nghệ nhân và Margarita là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của M. Bulgakov, một trong những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ Nga. Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt hai mươi năm trước, có thể nói đây là công trình dịch thuật công phu và tâm đắc nhất của tôi. Tuy nhiên, có một sự thật là, khác với ở nước Nga và phương Tây, kiệt tác này không thật sự được phổ biến và tiếp nhận rộng rãi ở bạn đọc Việt Nam – có lẽ là do những khác biệt nhất định về văn hóa. Lần này, 65 năm sau khi tác phẩm ra đời, chúng tôi xin tái bản lại bản tiếng Việt trong một nỗ lực tiếp tục đưa Bulgakov đến gần hơn nữa với bạn đọc Việt Nam, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, thế hệ mà tôi hi vọng sẽ dễ dàng tiếp cận Nghệ nhân và Margarita hơn. Ngoài bản dịch cuốn tiểu thuyết, chúng tôi đưa thêm phần Phụ lục để phần nào giúp bạn đọc trong việc cảm thụ tác phẩm này. Hà Nội, 27 tháng 1 năm 2006 Ðoàn Tử Huyến *** Một buổi chiều mùa xuân, vào cái giờ mặt trời lặn nóng chưa từng thấy, trong công viên Hồ Pat’riarsi1 ở Moskva xuất hiện hai vị nam công dân. Người thứ nhất dáng thâm thấp, béo tốt, hói đầu, mặc bộ quần áo mùa hè màu xám nhạt, chiếc mũ còn khá lịch sự bóp lại cầm trong tay, cặp kính gọng sừng đen to quá cỡ ôm ngang khuôn mặt cạo kỹ lưỡng. Người thứ hai còn trẻ, vai rộng, tóc vàng hung rối bù, mũ cát két sọc vuông đội lệch ra sáu gáy, áo sơ mi kẻ ô, quần dài trắng nhàu nát và chân đi đôi giày vải đen. Người thứ nhất không phải ai khác, mà chính là Mikhail Aleksandrovich Berlioz2, chủ tịch ban chấp hành của một trong những hiệp hội văn học lớn nhất Moskva, viết tắt là MASSOLIT3, và ông đồng thời cũng là tổng biên tập một tờ tạp chí văn học lớn; còn người bạn đường trẻ của ông là nhà thơ Ivan Nikolaievich Ponưrev, bút danh Bezdomnưi4. Bước vào dưới dãy bóng râm của hàng cây lipa5 đang bắt đầu nhú lá xanh, việc đầu tiên của hai nhà văn là chạy vội đến bên chiếc quầy dựng bằng ván sơn sặc sỡ với dòng chữ “Bia và nước giải khát”. Mà quên, có lẽ cần phải thông báo ngay cho bạn đọc biết điều kỳ lạ thứ nhất của cái buổi chiều tháng Năm khủng khiếp này. Ðó là, không chỉ ở cạnh quầy giải khát, mà suốt dọc cả con đường có trồng cây chạy song song với phố Malaia Bronnaia cũng không thấy một bóng người nào. Vào cái giờ đó, khi hình như mọi người đã hết cả sức để thở, khi vầng mặt trời, sau một ngày thiêu đốt Moskva, đang bọc mình trong màn sương khô lặn xuống một nơi nào đấy phía sau tuyến đường vòng Sadovoie, chúng ta không hề gặp một ai đi dạo hóng mát dưới bóng hàng cây lipa, không thấy một người nào ngồi trên những chiếc ghế băng “suốt dọc con đường dài vắng tanh vắng ngắt.” “Cho cốc nước khoáng narzan”, Berlioz nói với người đàn bà bán hàng. “Không có narzan đâu”, người đàn bà trong quầy đáp, và không hiểu tại sao bà ta lại tỏ vẻ phật ý. “Có bia không?” Bezdomnưi hỏi bằng giọng khàn khàn. “Bia tối mới chở về”, người đàn bà trả lời. “Thế có gì?” Bezdomnưi lại lên tiếng. “Nước mơ ấm”, người đàn bà nói. “Thôi được, cho xin, cho xin, cho xin!…” Hai cốc nước mơ sủi rất nhiều bọt màu vàng, và trong không khí bốc lên một thứ mùi như ta thường thấy trong các cửa hiệu cắt tóc. Uống xong, hai nhà văn lập tức đua nhau nấc cụt; họ trả tiền và ngồi xuống một chiếc ghế băng, mặt ngoảnh ra hồ, lưng quay về phía phố Bronnaia. Ðúng lúc đó bắt đầu xảy ra điều kỳ lạ thứ hai của buổi chiều hôm đó, nhưng nó chỉ liên quan tới một mình Berlioz: ông bỗng thôi nấc, tim bỗng đập mạnh một cái rồi lặn hẫng đi đâu mất; và thoáng sau nó trở lại nhưng hình như có kèm theo một mũi kim tù nằm mắc bên trong. Thêm vào đó, Berlioz bỗng cảm thấy một nỗi sợ hãi vô cớ nhưng rõ rệt đến nỗi ông muốn ngay lập tức bỏ chạy khỏi nơi đây không ngoái lại. Không hiểu cái gì khiến ông hoảng sợ, Berlioz đưa mắt rầu rĩ nhìn quanh. Mặt ông tái mét; ông lấy khăn mùi soa lau trán, nghĩ thầm: “Cái gì xảy ra với mình thế này nhỉ? Trước đây chưa bao giờ như vậy cả… Hình như tim mình bị sao ấy… Mình mệt mỏi quá rồi. Có lẽ cần phải vứt tất cả lại để đến nghỉ ở Kislovodsk6 thôi…” Ðúng lúc đó, làn không khí oi ả bỗng cô đặc lại trước mắt Berlioz, tạo thành một người đàn ông trong suốt có hình thù hết sức kỳ dị. Trên mái đầu nhỏ tí của anh ta là chiếc mũ lưỡi trai của dân đua ngựa, áo vét kẻ ô mỏng ngắn cũn cỡn… Người này cao khoảng một sagien, nhưng vai hẹp, gầy không thể tưởng được, và bộ mặt, xin bạn đọc lưu ý cho, đầy vẻ nhạo báng! ... Mời các bạn đón đọc Nghệ nhân và Margarita của tác giả Mikhail Bulgakov.
Bến Hẹn - Janet Dailey
Mỗi người trong đời, không ai là không có lần đã lỗi hẹn với người yêu.  Thay vì cầm tay nhau tiến bước tới bến hẹn hạnh phúc, thì lỗi hẹn khiến hai người yêu nhau mỗi người phải rẽ sang một hướng đường khác. Đôi khi lỗi hẹn khiến cho người ta tìm đến được bến hẹn hạnh phúc mới, mà cũng có khi khôn. Nhưng dù thế nào, thì cũng có không ít người suốt đời cứ mãi luyến tiếc khôn nguôi đến "bến hẹn" của mối tình đầu dang dở. "Khi chiếc máy bay hạ thấp độ cao xuống dưới những đám mây xám trên bầu trời thành phố Anchorage, Sh-annon Hayes căng mắt nhìn qua khung cửa sổ đã bị mòn vẹt của nó. Một bức tường núi xám đen vươn cao lên cạnh thành phố, đỉnh núi khuất trong mây. Cô thấy bên dưới, nhà cửa rải rác và đường sá mọc ngang đan vào nhau. Xa xa, cô thấy những toà nhà cao có hình chữ nhật màu xám biến mất trong tầng mây thấp là đà. Thành phố lớn nhất của Alaska không lớn như San-non nghĩ. Cô hơi ngạc nhiên, vì cô cứ tưởng nó ồn ào, đông đúc, náo nhiệt như Houston, Texas, thành phố quê nhà của cô. Khi Shannon ngồi dựa lưng ra ghế, cặp mắt nâu của cô ánh lên vẻ sung sướng. Cô mỉm cười một mình, cảm thấy lòng hân hoan vì chuyến đi của cô đã kết thúc. Cô sờ chiếc nhẫn đính hôn nơi bàn tay trái, thoa mặt kim cương cắt theo hình vuông như thể thoa lên chiếc bùa hộ mệnh. Ánh sáng lờ mờ ảm đạm bên ngoài cửa sổ máy bay không làm cho nhiệt tình của cô suy giảm chút nào. Cô nghe tiếng bánh xe máy bay chạm mạnh xuống phi đạo, rồi sau đó mấy giây, cả chiếc máy bay phản lực chạy chậm lại trên đường băng. Việc phi cơ đáp xuống đất ảnh hưởng đến nhịp tim của cô, làm cho mạch trong người cô đập nhanh hơn. Shannon đưa tay vuốt mái tóc mày hạt dẻ cho thẳng mặc dù mới cách đấy mấy phút, cô đã chải mái tóc bờm xờm cho hấp dẫn. Cô cũng tô son điểm phấn lại một chút, vì cô biết Rick hơi quan tâm đến nhan sắc của cô. Anh đã hãnh diện tuyên bố anh là chủ sở hữu cô gái có mái tóc sẫm, mắt nâu đẹp rực rỡ. Đây là từ anh thường dùng để nói về cô, khiến cô cảm thấy hơi khó chịu. Nhưng bây giờ cô hy vọng anh vẫn nghĩ về cô như thế. Sau chuyến bay lâu 5 giờ, thì đẹp rực rỡ là chuyện khó có thể đạt được. *** Janet Anne Haradon Dailey (21/5/1944 - 14/12/2013) là một tác giả Mỹ về nhiều tiểu thuyết lãng mạn với bút danh Janet Dailey. Các tiểu thuyết của cô đã được dịch sang hơn 90 ngôn ngữ và đã bán được hơn 300 triệu bản trên toàn thế giới. Dailey vừa là một tác giả vừa là một doanh nhân. Dailey luôn muốn trở thành một nhà văn và yêu sách. Ba chị gái của bà thường đọc cho bà khi còn là một đứa trẻ. Đến năm 4 tuổi, bà đã có thẻ thư viện riêng của mình.  Bà tốt nghiệp năm 1962 tại Trường Trung học Jefferson ở Independence, Iowa và làm việc cho một công ty xây dựng thuộc sở hữu của người chồng tương lai của cô, Bill Dailey, hơn bà 15 tuổi. Hai người tiếp tục làm việc cùng nhau, thường dành 17 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần làm việc và kết hôn năm 1964. *** Một số tác phẩm của bà đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam, bao gồm: Bến Hẹn Chị Em Thù Hận Chỉ Vì Yêu Chuyện Tình Dưới Nhành Cây Tầm Gửi Con Đường Đêm Điểm Hẹn Của Tình Yêu Giông Tố Thảo Nguyên Hai Chị Em Hoa Thảo Nguyên Khung Trời Quyến Rũ Ngôi Sao Đơn Độc Ngựa Hoang Sự Lựa Chọn Cuối Cùng Tình Địch (The Rivals In Love) Vũ Hội Hoá Trang *** Khi chiếc máy bay hạ thấp độ cao xuống dưới những đám mây xám trên bầu trời thành phố Anchorage, Shannon Hayes căng mắt nhìn qua khung cửa sổ đã bị mòn vẹt của nó. Một bức tường núi xám đen vươn cao bên cạnh thành phố, đỉnh núi khuất trong mây. Cô thấy bên dưới, nhà cửa rải rác và đường xá dọc ngang đan vào nhau. Xa xa, cô thấy những toà nhà cao có hình chữ nhật màu xám biến mất trong tầng mây thấp là đà. "Thành phố lớn nhất của Alaska không lớn như Shannon nghĩ". Cô hơi ngạc nhiên, vì cô cứ tưởng nó ồn ào, đông đúc, náo nhiệt như Houston, Texas, thành phố quê nhà của cô. Khi Shannon ngồi dựa lưng ra ghế, cặp mắt nâu của cô ánh lên vẻ sung sướng. Cô mỉm cười một mình, cảm thấy lòng hân hoan vì chuyến đi của cô kết thúc. Cô sờ chiếc nhẫn đính hôn nơi bàn tay trái, thoa mặt kim cương cắt theo hình vuông như thể thoa lên chiếc bùa hộ mệnh. Ánh sáng lờ mờ ảm đạm bên ngoài cửa sổ máy bay không làm cho nhiệt tình của cô suy giảm chút nào. Cô nghe tiếng bánh xe máy bay chạm mạnh xuống phi đạo, rồi sau đó mấy giây, cả chiếc máy bay phản lực chạy chậm lại trên đường băng. Việc phi cơ đáp xuống đất ảnh hưởng đến nhịp tim của cô, làm cho mạch trong người cô đập nhanh hơn. Shannon đưa tay vuốt mái tóc hạt dẻ cho thẳng, mặc dù mới cách đây mấy phút, cô đã chải mái tóc bờm sờm cho hấp dẫn. Cô cũng tô son điểm phấn lại một chút, vì cô biết Rick hơi quan tâm đến nhan sắc của cô. Anh đã hãnh diện tuyên bố anh là chủ sở hữu cô gái có mái tóc sẫm, mắt nâu đẹp rực rỡ. Đây là từ anh thường dùng để nói về cô như thế. Sau chuyến bay lâu 5h, thì đẹp rực rỡ là chuyện khó có thể đạt được. Cô gặp anh từ ấy đến nay đã lâu, cô đã sống cô đơn suốt nhiều tháng trời. Cô nhớ cô đã khóc rất nhiều ở phi trường vào hôm Rick lên đường đi Alaska, nhớ những lời họ hứa hẹn với nhau, nhớ những nụ hôn vồ vập trước giờ anh đi. Thỉnh thoảng anh viết thư về, có khi anh gọi điện thoại, có khi anh gửi thư điện tử về cho cô. Nhưng tất cả những chuyện đó không làm sao lấp đầy được nỗi trống trải trong cô. Nhiều bạn gái đã khuyên cô nên bỏ anh, tìm người yêu khác, nhưng Shannon không nghe. Cô biết anh là phi công vùng hoang dã. Cô không mong chờ anh ngồi bên điện thoại để đợi cô gọi đến, mà cô biết anh đang ở đâu đó ngoài vùng hoang dã. Cô nghĩ anh đang chiêm ngưỡng cảnh đẹp huy hoàng trên Trái Đất này. Ít ra cô đã suy nghĩ như thế. Nhưng có phải làm phi công là không có thì giờ rảnh rỗi, để nói lời xin lỗi vì đã để cô chờ đợi và lo âu? Rick đã hứa với cô rằng, khi nào anh có được công việc ổn định và có chỗ ở hẳn hoi để hai người cùng sống, thì anh sẽ báo cô đến. Anh không nói bao lâu thì anh có công việc ổn định. Cách đây hơn một tháng anh có nhắn tin về, vào cuối tháng bảy, bằng thẻ điện thoại, nhưng hôm đó cô đi vắng. Rick để lại cho cô số máy nhắn tin, anh cho biết số máy này của anh còn hiệu lực cho đến cuối tháng 8. Cô thấy như thế còn hơn không... Nhưng Shannon không khỏi lo lắng. Rồi vào đầu tháng 9, cô nhận được bức thư Tốc hành liên bang. Trong phong thư có vé máy bay bằng loại giấy theo kiểu cổ điển rất đẹp, để đến Anchorage. Ngoài ra không còn gì nữa, không thư, không lời ghi chú gì. Nhưng cái vé chỉ đi một chuyến. Như vậy vấn đề quá rõ rồi: Rick muốn cô đến với anh. Sự lo sợ lâu nay của cô rằng anh hết yêu cô đã tan biến. Và bây giờ Shannon đang trên đường đến nơi cùng xây tổ ấm. Cô đã chuẩn bị để lên đường không quá lâu một tuần. Cô chỉ mang theo những thứ cần thiết, còn lại bao nhiêu sẽ gởi bằng tàu thủy sau. Bố mẹ cô sẽ bay đến vào cuối tuần lễ sau để dự lễ cưới. Dĩ nhiên hai ông bà đều tin rằng cả cô và Rick đều điên. Cô nghĩ ý kiến của bố mẹ cũng dễ hiểu thôi. Từ bỏ vịnh Texas ấm áp để đến vùng Alaska lạnh cóng, đối với nhiều người thì đây là hành động điên khùng. Nhưng Shannon đã lây tính phiêu lưu mạo hiểm của Rick từ ngày họ gặp nhau. Anh muốn sống tại vùng xa xôi nhất của nước Mỹ, và cô đã chia sẻ phần nào mong ước của anh. Nhưng cô biết chuyến phiêu lưu của họ không phải đi đến thiên đàng. Thôi thì mặc. Bây giờ cô đến Alaska rồi. Bố mẹ cô đã châm biếm nói rằng cô đi theo tiếng gọi của vùng hoang dã. Họ đã cố làm cho cô nản chí, nhưng họ đã thất bại. Dù sao thì cô và Rick cũng đã đính hôn hơn một năm rồi. Cô phải đến đây để thành hôn với anh là điều rất chính đáng. Mặc dù đồ đạc trên tay nặng nề, nhưng bước chân của cô nhẹ nhàng và nhanh nhẹn khi đi xuống cầu thang máy bay. Cô nhìn đám người lưa thưa đứng đợi ở bên kia cổng phi cảng để tìm Rick. Anh cao lêu nghêu và mái tóc vàng nhạt hấp dẫn. Cô nhìn từng khuôn mặt đàn ông tìm Rick, bất kể họ đang nhìn chằm chằm vào cô. Nhưng anh đâu nhỉ? Cô chậm lại. Bỗng người đi sau thúc lưng cô, khiến cô phải bước ra ngoài hàng để nhìn quanh tìm Rick thêm một lần nữa. Cặp mắt nâu xinh đẹp bỗng trở nên bối rối. Cô không tìm thấy anh ở đâu hết. ... Mời các bạn đón đọc Bến Hẹn của tác giả Janet Dailey.