Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hạnh Phúc Trong Năm Lời Nói Dối

“Cứ để thời gian ăn mòn những nỗi oán hận, thế thì dễ dàng hơn. Chính xác như những nụ hôn bị đánh cắp một cách ngớ ngẩn, hãy để chúng chìm vào lãng quên trong nhà kho của sự dối trá. Chủ nghĩa phủ nhận muôn năm. Rồi để xem. Ta chẳng bao giờ dám yên trí nữa. Và nếu như tấm gương phản chiếu lại hình ảnh hơi mờ ảo của người mà ta muốn trở thành. Sau tất cả, ai mà chẳng có khiếm khuyết?”. ------------------- Bạn đã bao giờ nói dối chưa? Với người xa lạ, bạn bè, người yêu, gia đình,…? Về những điều nhỏ nhặt như “Không, em không giận, em vẫn ổn” cho đến những chuyện to tát như “Tôi lỡ có thai và tôi không muốn giữ đứa bé”…? Những lời nói dối luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta, thậm chí trở thành một phần không thể thiếu. Chúng ta nói dối khi sự lừa dối có lợi hơn sự thật. Nhưng liệu cuộc sống được xây dựng trên sự dối trá đó có khiến chúng ta thấy thoải mái và bình yên trong lòng? “Hạnh phúc trong năm lời nói dối” là câu chuyện xoay quanh Chloe Avanel - một cô gái bình thường, có những mối quan hệ bình thường và cần thiết như bao người khác, sống trong một gia đình với người mẹ đã mất và một vài trục trặc nho nhỏ. Mọi thứ được thông qua đôi mắt của cô, từ góc độ của cái tôi nhân vật nhìn ra ngoài cuộc sống và chứng kiến những lời nói dối. Nó khiến cô luôn tự hỏi liệu có thể nào dừng trò chơi lừa bịp này và sống không giả dối dù chỉ một lần không? Cuộc sống của Chloe, chuyện tình yêu của Chloe và Benjamin, mối quan hệ với người chị gái Joséphine và những mâu thuẫn trong gia đình Chloe, tất cả những lời nói dối dần được vô tình phát hiện hoặc hiển hiện và phơi bày rõ ràng. Đến cuối cùng, sau rất nhiều năm trôi qua, Chloe nhận ra rằng: đừng bao giờ tin vào vẻ bề ngoài; hãy tập trung vào thứ gì xứng đáng, tiến lên và nắm lấy nó. Bầu trời khi ấy dù đen tối đến đâu cũng sẽ trở nên bừng sáng một màu trong xanh. *** Không, tôi không muốn. Hoàn toàn không muốn về ra mắt bố mẹ Benjamin trong một hồi trống dồn dập theo kiểu “Tôi là Chloé, hôn thê của con trai cả nhà các vị”. Mặt khác, anh cũng có vẻ không vội để tôi xuất đầu lộ diện như một con thú trong hội chợ ở phòng khách kiểu cách của bố mẹ anh, những người hết sức đứng đắn. Với một nụ cười méo mó, trong cái váy xếp li và lời lẽ lúng túng. Thật quá sức chịu đựng. Tuy nhiên, cuối cùng thì, Benjamin, còn gọi là Benji, đã quen đến ăn tối ở nhà tôi, với những gì còn lại (ý tôi là gia đình, không phải những bữa tối nhé), vì tôi đang sống với chị Joséphine, Édouard - người yêu của chị và em trai tôi Gaspard. Mẹ tôi mất năm tôi mười lăm tuổi và đã năm năm nay bố tôi sống trên một hòn đảo hẻo lánh ngoài khơi Polynésie thế nên chị em tôi sống với nhau, vui vẻ trong tình thương ruột thịt. Một khay bò băm phủ khoai tây nghiền còn nghi ngút khói vừa được đặt lên bàn ngay khi Joséphine ngây ngô hỏi: - Thế bao giờ em ra mắt ông bà Largevent? Một tia hốt hoảng vụt qua mắt Benjamin mà tôi không muốn tố cáo nó. Anh có xấu hổ về tôi không? Lòng tự ái của tôi bị động chạm, nhưng thái độ của anh trấn an tôi. Tôi luôn nhớ kỷ niệm về lần duy nhất tôi thấy bố mẹ anh. Đó là khi họ đi du thuyền trong khi tôi là người chia bài ở sòng bạc trên tàu. Khi trở về, tôi chẳng liên lạc gì với họ. Cũng không cả trong cái lần đáng nhớ khi Benji làm mất chiếc ô tô của họ. Vậy là mọi chuyện đã rõ ràng, cần phải có một buổi ra mắt, tôi sẽ bắt buộc phải có mặt, nhưng nếu có cách nào để tránh nó thì tôi muốn vô cùng. Thật ra, tôi tự hỏi tại sao Benjamin không thấy xấu hổ về bố mẹ anh. Anh chưa bao giờ chỉ trích họ một cách công khai, nhưng kỳ thật tôi biết những mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái chẳng bao giờ dễ dàng cả. Chẳng hạn, anh phải báo trước nếu không ăn ở nhà ngày hôm sau. Đó là một dấu hiệu đấy, tôi nghĩ thế. Và cái giọng điệu mà anh dùng để nói chuyện với bố mẹ, nó y như cách anh đối thoại với khách hàng vậy. À đúng rồi, tôi quên kể rằng Benji là một công chứng viên. Nghe cũng không hay ho lắm, nhưng cái nghề này khiến anh hài lòng và giúp anh lấp đầy tài khoản ngân hàng. Chỉ có một điều gây bực bội: đồng nghiệp của anh là một cô nàng gốc Mỹ tên Jessica Dupont, một quả bom tóc vàng với bộ ngực 95C. Cô ta có bộ răng trắng bóc, đều tăm tắp (cảm ơn ngành nha khoa)1* và một giọng nói ngọt ngào có thể làm tan chảy bất cứ nhiễm sắc thể Y nào. Những tiếng giày cao gót lịch thiệp vang lên trên nền đá cẩm thạch, và mùi Chanel số 5 vấn vương mỗi khi cô ta đi qua. Tôi chẳng thù ghét gì cô nàng ngoài việc khiến Benjamin luôn phải liếc theo hình bóng ấy. *Nguyên văn chirurgie = phẫu thuật, hiểu là chirurgie dentaire.. Mặc cho những điều phiền lòng này, đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy tuyệt tới vậy với một người khác giới. Ừm, kinh nghiệm của tôi cũng chỉ giới hạn với một người yêu cũ thôi, nhưng vậy cũng đủ để tôi thấy rằng Benji hội tụ rất nhiều ưu điểm. Đầu tiên là anh không hẹn hò ở quán cà phê, bị bám dính bởi lũ bạn bè bợm nhậu. Tiếp theo là anh không thao thao bất tuyệt về đám bạn gái cũ, mấy cô với những số đo như người mẫu, ngực bự và tóc bạch kim. Tóc tôi màu nâu, mũi tôi hơi dài và thân hình có chút mập mạp (dù chẳng nghi ngờ gì là tôi cũng rất thu hút). Một điều đáng quý nữa: Benjamin không quá kiệm lời trên điện thoại. Chỉ là hôm nay, tôi đã nhận được hai tin nhắn, đều rất nhẹ nhàng, dịu dàng và ân cần, vậy đó. Anh nói rằng anh yêu tôi. Điều đó làm tôi dễ chịu. Bởi vì PAF (tôi đang nói về người yêu đầu tiên, Pierre Antoine Fabrège, anh trai của Marjolaine bạn tôi) là một người hay quên. Có cả ngàn điều để làm trong một giây, tôi đã tự đặt tên cho mình là “Đồ vô dụng”2*. Điều này vô cùng ám ảnh tâm trí bạn. Tôi không biết bạn thế nào, chứ với tôi, tâm trạng tôi chỉ càng vững thêm theo số lượng tiếng bíp trên điện thoại. *Nguyên văn “bánh thứ năm của xe ngựa”, ý chỉ người vô dụng thừa thãi.. Và tôi không nói về lý do tại sao chúng tôi chia tay, đó là điều mà tôi muốn bọc trong một cái vỏ đủ dày, khóa lại trong một chiếc hộp thật kín, bỏ vào thùng các-tông dán chặt một cách tỉ mỉ, tất cả được đặt trên gác xép, dưới một lớp bụi. Tóm lại, đừng nhắc thêm về điều đó, tôi đã quên rồi. Hoặc giả là như thế. Chi tiết cuối cùng: tôi yêu cái cách Benji yêu những phẩm chất của tôi. Bởi vì việc anh xoay xở để tìm được những điều đó trong tôi cũng chẳng dễ dàng gì. Và cũng bởi vì anh giúp tôi nhận thức được chúng. Anh thích tính hài hước của tôi, anh thích nụ cười của tôi, anh thích tiếng cười, năng lượng nơi tôi, làn da của tôi (thích lắm đấy, anh nói với tôi thế), lọn tóc nổi loạn cố vượt ra khỏi mái đầu bất trị, và tôi đã bỏ qua chúng, với đầy hối tiếc. Tóm lại, chúng tôi yêu nhau. Chúng tôi thường ăn trưa với nhau, anh cũng ăn tối thường xuyên ở nhà tôi, và sau đó lại trở về nhà để không gây ra ồn ào gì. Bởi vì anh còn ở với bố mẹ và chưa có một buổi giới thiệu chính thức nào. Vậy đó. Điều khập khiễng duy nhất trong cuộc sống thú vị này, đó là: tôi chẳng làm gì khác cả. Không học hành, không nghề nghiệp, không thất nghiệp, chẳng gì cả. Người ta có thể tin rằng đó là một hoàn cảnh lý tưởng, nhưng không. Tôi mười chín tuổi và muốn thay đổi, không muốn loanh quanh trong phòng để huyễn hoặc bản thân rằng tôi rất tuyệt vời, trước tiên là để thuyết phục chính mình. Tôi cho rằng vấn đề sẽ được giải quyết ngay năm học tới, nhưng những ngày trôi qua như một miếng bọt biển: uể oải và vô ích. Nói một cách chính thức, tôi đang trong thời gian tìm kiếm. Nghĩa là: tôi nhìn mình mà chẳng nói năng gì và chỉ lặp đi lặp lại: “Mày muốn làm gì với cuộc đời mày hả Chloé thân mến?” - nhưng mọi chuyện cũng chẳng khá hơn. Cái vòng luẩn quẩn này cứ như thế kể từ khi tôi không còn làm tài hề nữa (cho những ai không biết, tài hề là người phụ trách các trò chơi trong sòng bạc). Chị em tôi thêm nặng gánh. Tôi biết cần phải tìm thấy lối đi cho riêng mình. Giờ đây, tôi có cảm giác trước mặt là một đường hầm dày đặc, vô định, đen tối và dính dấp. Những ngày tâm trạng tốt thì tôi rất có lòng tin, nhưng những ngày khác, tôi như chìm trong cảnh khốn cùng. Làm việc trong một chuỗi hàng ăn nhanh, như là cái cửa hàng với chữ M lớn khoanh tròn trên lưng3* ư? Ừ, có thể. Bắt đầu học lại theo hệ từ xa ư? Cái đó, thực sự, giờ không phải là thời điểm tốt. Tìm một công việc bất kỳ nào khác để cho phép mình dịu đi lũ sói đang gào thét trong lòng ư? Hừm. *Ý chỉ McDonald’s.. Vậy là, không, chẳng có một buổi ra mắt chính thức nào, đề tài này đã khép lại. Chọn một chủ đề khác để nói chuyện, làm ơn đi. - Em biết là em đang làm trái luật đấy, Benjamin nói khi chúng tôi đi lên phòng tôi, sau khi đã ních đầy bụng món bò băm phủ khoai tây nghiền. Em đang hưởng tiền bảo hiểm từ cái chết của mẹ em, khi mà thường thì vì em đã dừng việc học, đáng ra em không nhận được số tiền đó nữa. - Ôi, thôi nào! Em đã đăng ký vào tháng Chín năm ngoái, em đã trả tiền học, nên năm nay chả có gì mà lo cả. Giờ là cuối tháng Tư, tức là năm học cũng sắp hết rồi. Mùa thu tới, để xem. Em sẽ lại trở thành sinh viên thôi, nào. Một cái nhếch mép phiền lòng lướt qua khuôn mặt Benji. Với anh, đó không phải là một cái “nào” chấp nhận được. - Chỉ là… Anh biết những điều này và anh không muốn đảm bảo cho mấy cái việc làm trái với… - Em xin ngắt lời anh ngay lập tức nhé. Em biết anh là công chứng viên và đã tuyên thệ trung thực. Anh đã cảnh báo cho em rồi, và đừng lo, anh sẽ không bị gạch tên khỏi danh sách đâu. Với cả, năm học này, cũng không hẳn là gian lận tiền bảo hiểm, vì em đã đăng ký học tới tháng Sáu rồi. Tuy nhiên, Benjamin chẳng có vẻ gì là tự hào. Gương mặt anh xám xịt, vẻ cương trực như bị bóp méo. Không tự hào, cũng chẳng hạnh phúc. - Được rồi, sự chu đáo của anh được ghi nhận. Em đã ngán phải bắt anh giữ bí mật chuyện này rồi. Một cái nhún vai. Bởi vì anh không thích điều đó, thế thì chọn một chủ đề mới vậy (cái thứ ba). Ờm, nói về… - Anh có thấy lúc này có vẻ lạnh không? Benjamin phá ra cười và đáp: - À, thế thì anh có giải pháp ngay đây: nép vào anh, anh biết làm thế nào để sưởi ấm cho em… Anh bao lấy tôi trong vòng tay và xoa người tôi như thể chúng tôi đang ở dưới một cơn bão tuyết. Benji, tôi yêu tiếng cười và tính tình anh. Làn da màu cà phê sữa của anh và những cử chỉ nhẹ nhàng nữa. - Anh không muốn ở lại đây đêm nay, dù chỉ một lần à? - Không, tốt hơn là anh nên về... Còn em, hãy suy nghĩ về cách làm cho bản thân trở nên bận rộn hơn trong những ngày này đi nhé. Trở nên bận rộn hơn, trở nên bận rộn hơn… Như thể lý do chính là để không gian lận tiền bảo hiểm! Tôi lắc đầu, với một chút buồn phiền. Và Benjamin ra về sau một tiếng thở dài. Bí mật đầu tiên, lời nói dối đầu tiên. Chẳng hề vẻ vang gì, với bất kỳ ai. ♥♥♥ Trong đêm, cả đống suy nghĩ quay cuồng trong đầu tôi, giương ra những hình ảnh kỳ quái. Vấn đề đầu tiên của tôi, đó là tôi chẳng biết phải làm gì với bản thân, với một quả cầu thủy tinh trên tay, tôi tự ngắm mình thật lâu. Nhìn đi, ai là mày, Chloé, mày đang giấu diếm điều gì trong tâm trí? Tôi thấy mình là một cô gái trẻ hấp dẫn và đầy năng lượng - nhưng giờ đây trống rỗng vô nghĩa. Bíp bíp, cần được giúp đỡ để biết cô ấy đã đi đâu. Benjamin cuốn đi những nghĩ suy trong tôi và tập trung vào một chi tiết nhỏ bé nhất, rằng bất kể điều này có làm tôi vui hay không, anh vẫn muốn tôi trở lại làm sinh viên, muốn ngăn tôi tự biến mình thành kẻ lừa đảo chuyên nghiệp. Tôi có muốn hẹn hò với người luôn kiên quyết với loại tội lỗi nhỏ nhặt này, như thể chúng vốn rất cơ bản? Câu trả lời là có. Tôi thích một người quá đỗi trung thực hơn là một kẻ lừa đảo, cơ hội, khôn vặt. Ngay cả khi tính thẳng thắn đôi khi thật nhàm chán. Bất kể ra sao. Ta tin rằng bóng đêm của những người chẳng làm gì trong ngày sẽ yên lặng và thanh tĩnh lắm. Chẳng có gì cả. Kẻ ăn không ngồi rồi cứ lặp đi lặp lại, suy nghĩ một cách đau khổ về mục đích cuộc đời mình, đả kích, tự nhận ra đó là một thứ ngáng chân, một cái dằm nặng nề đối với mọi người xung quanh. Thay vì đi tàu điện, tôi đi bộ. Trên bến Garonne, tôi nhận ra những thay đổi nhỏ nhất, những người quen mặt đã gần như trở thành bạn bè. Có những bà mẹ đang đẩy xe em bé, những người chạy bộ giẫm lên mặt đường rải nhựa những bước vững chắc, những kẻ nhàn rỗi, như tôi. Và lũ trẻ, vào lúc tan trường. Nhưng họ không nhầm đâu: từng chút một, tôi trở thành một quả bóng trong trạng thái bị kích thích. Khi còn làm tài hề trên tàu, tôi thấy thật dễ ngủ, chắc là tôi cần nghỉ ngơi (và la hét với đám cùng phòng, tín đồ của tivi buổi đêm bằng tiếng Indonesia ở âm lượng ít nhất tám mươi đề-xi-ben). Khi đang lo lắng, tôi cứ lần chần tránh né và kiên trì giữ lấy những ý định vốn rất tốn thời gian. Những ý định của đêm nay thật là đa dạng: a) Benji, tôi đã có anh rồi, tôi sẽ giữ lấy anh. b) Tôi sẽ tìm một công việc trong lúc đợi năm học tới, và tại sao không trở lại du thuyền để đếm thẻ bài nhỉ? c) Từ nay, tôi sẽ dậy cùng lúc với những người khác, bởi vì nó chả có lý gì cả. Tôi là một người năng động, và tôi sẽ chứng tỏ điều đó. Có câu châm ngôn gì ấy nhỉ? “Hạnh phúc thuộc về kẻ dậy sớm”, hoặc cái gì đại loại thế. Thế nên, ngay sáng mai, báo thức sẽ kêu lúc bảy giờ. Trừ khi những nghĩ suy trằn trọc lúc nửa đêm này làm tôi kiệt sức. Và tôi hiểu, trong màn sương mờ mịt, rằng không phải hạnh phúc, mà là thế giới thuộc về những kẻ dậy sớm. Và thế gian này có thể đợi tới khi tôi có một tinh thần tươi sáng. Điều này giải thích cho việc tôi cáu kỉnh tắt báo thức. Và rồi ngủ lại ngon lành. Tiếng bíp từ tin nhắn điện thoại đánh thức tôi dậy một giờ sau đó. Là Benjamin. Anh phải đi công tác gấp ở tỉnh, sẽ vắng mặt tới ngày mai. Tốt thôi. Nếu chuyến đi này không phải với Jessica Dupont, quả bom của văn phòng công chứng, thì tôi có thể tiếp tục ngủ. Rốt cuộc tôi cũng thức dậy, ý thức được những trách nhiệm mới mà mình đã tự đặt ra đêm qua và rồi bị gặm nhấm bởi cảm giác tội lỗi. Đó là lý do mà tôi đang lướt Internet, tìm kiếm một công việc trong mơ. Những người chưa bao giờ thử thì không biết điều này, nhưng không phải dễ dàng để tìm thấy một công việc thú vị, trả lương khá và kích thích trí thông minh. Nói đúng hơn, đó là nhiệm vụ bất khả thi. Hoặc nếu thông báo nhấp nháy trên màn hình, với một đề nghị hấp dẫn kiểu “Kiếm thật nhiều tiền mà không cần di chuyển”, thì tức là nó đang che giấu một điều gì đó không rõ ràng, thì không, cảm ơn. Ngoài một công việc dạng như khiêu dâm qua điện thoại, chẳng có gì để xem cả. Đó sẽ là một phương án, và trong một khoảnh khắc, tôi thấy mình, khóa kín trong phòng, trả lời những gã đàn ông bệnh hoạn chỉ có một khao khát duy nhất: nghe những tiếng rên rỉ lừ đừ... Và tôi tưởng tượng ra hình ảnh của Benjamin khi tôi thông báo với anh, đầy hoan hỉ, rằng cuối cùng thì tôi cũng có được công việc trong mơ rồi... Không, dù thế nào thì, nó yêu cầu tài năng mà tôi không có. Lúc ấy, một lần nữa, tôi oải nhàn4* trong căn nhà. Cần có một sức mạnh chắc chắn nào đó, kiểu như để có thể vượt qua ngày dài không quá chán nản mà cũng không cảm thấy tội lỗi. Rõ ràng là tôi không có sức mạnh đó. Sự tội lỗi đã thắng thế, đến nỗi tôi phải giặt giũ quần áo không chút chậm trễ, lấp đầy tủ lạnh và thậm chí còn đi nấu ăn, khi mà thường thì đó là việc của Gaspard. Điều này nói lên là tôi đang cảm thấy tệ thế nào. *Oải nhàn: có một tư thế uể oải và nhàn rỗi (Chloé Avanel, Từ điển tiếng Pháp hay dùng, trang 354).. Điều tệ nhất là những người khác cảm thấy đấy là bình thường. Đã đến lúc tôi cần tìm ra một mối bận tâm thực sự. Mời các bạn đón đọc Hạnh Phúc Trong Năm Lời Nói Dối của tác giả Pascale Perrier.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chớ Gọi Tôi Là Người
Để rửa mối nhục thất bại của dân Trung Quốc trên đấu trường võ thuật quốc tế, một tổ chức dân gian tự xưng là Ủy ban Tổng động viên nhân dân toàn quốc, gọi tắt là Tổng hội, nỗ lực lần theo manh mối quyết tìm cho ra truyền nhân của phái Đại Mộng Quyền, tương truyền là môn phái thượng đình có thể mượn lực chế nhân, vô địch thiên hạ. Tình cờ, bọn họ nhận ra anh chàng đạp xe xích lô tên Đường Nguyên Báo ở ga Bắc Kinh chính là người thừa hưởng bí kíp võ thuật. Và thế là, vô số màn hoạt náo bi hài đã được bày ra dưới ngòi bút của ông vua "văn học lưu manh" Trung Quốc. Đầy ắp tính biểu tượng và những đặc trưng văn hóa, xã hội không kèm giải thích, cuốn sách là một thách thức với cả những độc giả đã trót say mê thế giới nghệ thuật độc đáo, kỳ dị của Vương Sóc. "Khác lạ đến mức khó chịu... Cốt truyện đơn giản, mặc dù nó đã lạc bước vào sự cường điệu hoang đường phóng túng đến độ đáng kinh ngạc..." - USA Today "Vương Sóc, được coi như 'Kerouac của Trung Quốc'... Vở hài kịch siêu thực này mang đến một kết thúc đậm tính khải huyền." - The Economist Người khác nhau ôm động cơ viết tiểu thuyết khác nhau. Đa số tiểu thuyết không cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc. nếu cứ khăng khăng muốn hỏi câu vì sao, chỉ càng khiến đầu óc mình rối loạn. Nói theo một ý nghĩa nào đó, tôi là người không có đầu óc, càng không phải kẻ dốc hết tâm sức, cần mẫn miệt mài. Thoạt tiên hiểu ra điểm này, mọi người mới có thể tránh việc tự mình dẳn vặt. Tôi đề nghị bạn hãy xem thứ này là một mớ càn xiên bát nháo." - Vương Sóc *** "Cuộc họp hôm nay có bốn vấn đề cần thảo luận.Vấn đề thứ nhất do đồng chí Trưởng Ban thư ký Ủy ban tổ chức giải thi đấu tự do Trung Quốc mở rộng Triệu Hàng Vũ trình bày về tình hình hoạt động của Ban thư ký trong giai đoạn trước với các cổ đông, vấn đề thứ hai là do trong các cổ đông có tồn tại một số ý kiến không tín nhiệm một vài lãnh đạo của Ban thư ký, để giải tỏa thắc mắc của các cổ đông, để chứng minh lần thi đấu này là thực sự cần thiết, chúng tôi đã tìm được một băng video ghi cảnh thi đấu ở Sapporo[1], sẽ phát cho các vị cổ đông xem trong thời gian giải lao. Vấn đề thứ ba có liên quan tới việc đổi tên cho Ủy ban tổ chức giải thi đấu tự do Trung Quốc mở rộng và cơ cấu thường trực của Ban thư ký. Vấn đề thứ tư là để công việc được tiến hành thuận lợi, chúng tôi thực hiện hoạt động nhận tiền quyên góp lần thứ ba - mong các vị cổ đông không ra về trước giờ tan họp." Đây là một nhà hát có súc chứa tới hơn nghìn người, hiện giờ các chỗ ngồi đều vắng tanh vắng ngắt. Trên sân khấu bày chiếc bàn tròn lớn, người tham dự cuộc họp ngồi chen chúc xung quanh, một luồng ánh sáng chiếu lên gương mặt người chủ trì. Đó là một thanh niên cực kỳ đẹp trai. Luồng ánh sáng chuyển động về phía người đàn ông đeo kính có gương mặt xanh xao, mái tóc bù xù đang ngồi cạnh người chủ trì, mắt kính phản quang khiến người ta gần như không thể nhìn thấy đôi mắt của ông ta. Xem cách nói gấp gáp cũng đủ nhận ra đây là người dễ bị kích động. Ông ta chính là Triệu Hàng Vũ, Trưởng Ban thư ký Ủy ban tổ chức giải thi đấu tự do Trung Quốc mở rộng. "Về công việc của Ban thư ký Ủy ban tổ chức giải thi đấu tự do Trung Hoa mở rộng, tôi xin trình bày bốn điểm. Sau khi trình bày xong mời các vị cổ đông đặt câu hỏi, hỏi trực tiếp hay đưa giấy cũng được, tôi xin lần lượt trả lời. Nếu có câu nào tôi không trả lời được thì những đồng chí khác trong Ban thư ký sẽ giải đáp. Trước tiên tôi cần phải nói rằng êkíp Ban thư ký đã làm việc rất tốt, công việc cũng có chút thành tích. Thứ hai là Ban Thư ký làm việc rất vất vả. Ở đây tôi có vài con số muốn nói cho mọi người biết, từ khi Ban thư ký bắt đầu làm việc, mọi nhân viên chúng tôi từ trên xuống dưới chưa từng được ăn ngon ngủ yên. Chặng đường đã đi vất vả như đường từ Bắc Kinh vượt qua Thái Bình Dương tới San Francisco vậy. Tổng cộng ăn hết hơn bảy nghìn gói mì tôm, hút hơn mười bốn nghìn điếu thuốc, uống tới hơn một trăm cân trà. Trong trương mục đã ghi rõ các khoản tiền, không một xu nào rơi vào túi riêng của tôi cả. Thứ ba, cá biệt có thể có đồng chí khi nấu mì đã ăn vài quả trứng chiên, khi làm đêm ngoài uống chè ra còn dùng thêm ít mật ong. Đối với những trường hợp chi vượt tiêu chuẩn như vậy, chúng tôi phát hiện một xử lý một, quyết không nương tay. Cũng xin hoan nghênh các đồng chí đã thẳng thắn phê bình. Sau đây tôi xin trình bày về tình hình công tác của Ban thư ký gần đây, cũng chính là điểm cuối cùng. Trong hội nghị cổ đông lần trước, chúng ta đã ra nghị quyết phải tìm truyền nhân của Đại Mộng quyền. Hội nghị vừa kết thúc, chúng tôi đã lập tức phái 9 đội đi khắp nơi tìm kiếm. Tính tới đêm qua đã có 8 đội trở về. 8 đội này đã đi khắp Tam Sơn Ngũ Nhạc nhưng đều trở về tay trắng. Giờ chúng ta chỉ có thể hy vọng vào đội thứ 9 mà thôi. Đội này do nữ nhân viên giỏi nhất của Ban thư ký là Bạch Độ dẫn đầu, trước lúc xuất phát tôi đã kiên quyết ra lệnh: Không tìm được truyền nhân Đại Mộng quyền thì đừng quay về gặp tôi! Tôi rất tin tưởng năng lực của đồng chí Bạch Độ, chỉ cần người đó còn sống thì dù phải đi khắp chân trời góc bể cô ấy cũng sẽ tìm được anh ta. Tuy nhiên có một sự thực khốc liệt đang bày ra trước mắt chúng ta, chúng ta không thể không nghĩ tới khả năng Đại Mộng quyền đã bị thất truyền. Nói cho cùng thì lần cuối cùng chúng ta nghe được tin tức về truyền nhân Đại Mộng quyền là hơn 90 năm trước. Chúng tôi nhận ra người tráng sĩ Nghĩa Hòa Đoàn[2] bị giải ra pháp trường trong bức ảnh năm đó chính là Chưởng môn nhân của Đại Mộng quyền." Triệu Hàng Vũ mở chiếc túi da đen đặt trên bàn, lấy ra một tấm ảnh đen trắng đã được phóng to. Trong ảnh là một đám dân đen áo quần rách rưới đang bị đội lính tuần tay cầm yêu đao giải ra pháp trường. Trong đó có một người đàn ông da đen mình trần, dáng người mập mạp, tóc tết đuôi sam quấn quanh cổ, bên cạnh có đánh dấu một mũi tên đen nho nhỏ. "Đây là do nhân viên tình báo của chúng tôi chụp lại trong điện Louvre ở Paris. Người đàn ông có mũi tên đen chỉ vào ở trong ảnh chính là Chưởng môn đương thời của Đại Mộng quyền, còn danh tính quê quán thì không có cách nào khảo cứu." Triệu Hàng Vũ đưa tắm ảnh cho người bên cạnh để mọi người truyền tay nhau xem, ai cũng nhìn đi nhìn lại người đàn ông thô kệch trong bức ảnh một cách hứng thú. "Giống gã đồ tể phải không?" Triệu Hàng Vũ châm điếu thuốc, hỏi người đàn ông gầy gò có dáng dấp như một vị giám đốc với mái tóc bóng mượt, mặc âu phục đeo kính gọng vàng đang chăm chú nhìn bức ảnh. "Anh nên hiểu điều này, chân nhân bất lộ tướng." "Các anh làm thế nào để biết đây là Chưởng môn của Đại Mộng quyền?" Người đàn ông gầy gò hỏi lại. "Chúng tôi có bốn bằng chứng để chứng minh điều này." Triệu Hàng Vũ gẩy gẩy tàn thuốc, chậm rãi nói. "Đầu tiên chúng tôi tra trong hồ sơ lưu trữ của nhà Thanh, và đọc một số lượng lớn ngoại truyện dã sử có ghi chép về các hoạt động chiến đấu của Nghĩa Hòa Đoàn suốt một dải từ Bắc Kinh đến Thiên Tân. Tất cả các ghi chép đều cho thấy rằng, năm đó, khi Nghĩa Hòa Đoàn hoạt động mạnh mẽ nhất, dưới quyền của Tào Phúc Điền ở huyện Tĩnh Hải thành phố Thiên Tân có viên đại tướng giỏi dùng Đại Mộng quyền, mượn lực chế nhân, súng đạn Tây dương không động đến được một sợi lông của người đó. Cuộc chiến tại tô giới Tử Trúc Lâm và giáo đường North Cathedral anh ta đều tham gia, giết chết vô số người Tây. Sau khi khu vực Bắc Kinh, Thiên Tân bị chiếm đóng, có người trong đội quân của Lưu Thập Cửu ở thôn Cao Gia còn nhìn thấy anh ta. Sau đó, vị hảo hán này cùng bị bắt với Đại Đao Vương Ngũ ở Bắc Kinh, bị chém ở Thái Thị Khẩu[3]. Đó là điểm thứ nhất. Thứ hai, thông qua bức ảnh này, chúng tôi đã tìm được con cháu của người tuần bổ dẫn đầu trong ảnh. Người lính tuần này đã tự sát vì sợ tội trong Cách mạng văn hóa, nhưng chúng tôi tìm được 'Đại Mộng quyền phổ' trong nhà ông ta. Căn cứ vào lời kể của Quế Lôi Thanh, cư dân ở số 125 ngõ Thái Lai, phố Tiểu Quách Trang, quận Hà Đông thành phố Thiên Tân, cha anh ta có được cuốn quyền phổ này khí xử trảm tù binh Nghĩa Hòa Đoàn năm đó, rốt cục là vị nào thì không thể biết được. Người của Nghĩa Hòa Đoàn bị bắt không nói rõ danh tính, chỉ luôn miệng nói: 'Sau hai mươi năm nữa lại làm một trang hảo hán'. Có một điểm có thể khẳng định, cha anh ta chỉ tham gia hành động sát hại các tráng sĩ của Nghĩa Hòa Đoàn một lần. Mà là do lính Tây bắt đi và bị chụp ảnh lại. Bởi vậy, cuốn quyền phổ này phải là của những người trong bức ảnh. Chúng tôi cũng tìm được ngài Boll Per là con cháu của vị giáo sĩ truyền giáo người Pháp Bo 11 Per - người đã chụp lại bức ảnh này, hiện nay đang làm tùy viên của Đại sứ quán Pháp tại Trung Quốc. Ngài ây đã rất nhiệt tình kê khai cho chúng tôi danh sách những người bạn của ông nội đã từng đến Trung Quốc hồi đó. Cuối cùng chúng tôi đã tìm được viên hạ sĩ quan chỉ huy quân Pháp trước kia nay ở thành phố Toulouse phía Nam nước Pháp tên là Radu, chính là người châu Âu mặc quân phục đứng cuối hàng trong bức ảnh. Ông cụ đã hơn một trăm tuổi, nhưng vẫn còn tráng kiện, ký ức về những việc đã xảy ra trong cuộc viễn chinh đến Trung Quốc vào cuối thế kỉ trước cũng còn rất rõ, đương nhiên bây giờ ông có quan hệ rất hữu hảo với nhân dân Trung Quốc. Sau khi biết ý định của chúng tôi, ông Radu đã lập tức chỉ cho chúng tôi người đàn ông mà mũi tên chỉ vào, nói anh ta chính là 'bậc kỳ nhân có thể làm thay đổi hướng bay của đạn'. Theo lời kể của Radu, ông đã từng chiến đấu với người này, khi đó một hàng người nhằm vào anh ta cùng bắn, nhưng tất cả đạn bắn ra đều bay ngược trở lại làm chết một loạt lính Tây ngay tại đó. Trong lúc hoảng loạn, ông Radu đã nhắm bắn lên trời, không ngờ phát súng lại bắn trúng vào người đó, thế là bọn họ ùa đến bắt anh ta lại, còng tay giải đi." "Đáng tiếc, đáng tiếc!" Tất cả cùng than thở. "Nhân tiện nói thêm, ông Radu cảm thấy rất hối hận về những gì mình đã làm khi còn trẻ, luôn miệng nhờ chúng tôi chuyển lời xin lỗi của mình đến nhân dân Trung Quốc." "Tôi có bốn vấn đề muốn hỏi đồng chí Trưởng Ban thư ký." Một vị chủ doanh nghiệp nông sản da mặt đen sạm, dáng vẻ thông minh hỏi Triệu Hàng Vũ: "Thứ nhất, nếu việc có hay không truyền nhân của Đại Mộng quyền còn chưa xác định được, vậy chúng ta có cần tiếp tục lãng phí tiền bạc và nhân lực để tìm kiếm hay không? Các môn phái võ lâm của nước ta đầy đủ cả, lẽ nào lại không thể sánh với Đại Mộng quyền hay sao? Anh sống chết theo đuổi cuộc tìm kiếm này phải chăng là vì một mối quan hệ cá nhân nào đó? Thứ hai, người Tây đã khôi phục lại quan hệ hữu hảo với nước ta, vì hòa bình thế giới, chúng ta có cần thiết gây chiến như vậy không? Thứ ba, nhân viên của Ban thư ký chỉ vẻn vẹn có hơn mười người, công việc cũng mới bắt đầu được một tuần, thế mà đã ăn hết bảy nghìn gói mì tôm, uống tới hơn một trăm cân trà, thực quá phí phạm. Nếu cứ tiếp tục như vậy, tôi khó lòng gánh vác được, cho dù có khó hạ thấp thêm tiêu chuẩn thì cũng nên bãi bỏ việc ăn uống quá ngon, nghiện thuốc quá nhiều đi, chung quy lại, không phải chúng tôi mời người ta đến ăn uống. Thứ tư, các anh đi Pháp điều tra, sao không sắp xếp để đại biểu cổ đông dẫn đầu?" "Tôi xin được trả lời bốn câu hỏi mà vị đại biểu này đã nêu." Triệu Hàng Vũ nghiêm túc nói. "Cũng là bốn điểm. Thứ nhất, chúng tôi không chuẩn bị để chết treo trên một cái cây là Đại Mộng quyền. Đồng thời với việc tìm kiếm truyền nhân của Đại Mộng quyền, chúng tôi cũng tiến hành liên hệ với truyền nhân của các phái như Đại Bằng quyền, Ưng Trảo Hầu quyền. Một khi chứng minh được Đại Mộng quyền đã thất truyền thì sẽ mời họ xuống núi. Ngoài ra, về hứng thú của cá nhân tôi với Đại Mộng quyền thì chỉ là muốn khống chế địch giành thắng lợi mà thôi, không hề có động cơ cá nhân nào trong đó. Đại Mộng quyền mượn lực chế nhân thực sự là tuyệt chiêu đúc kết nghìn năm tính túy của nước ta, chờ lát nữa xem video các vị sẽ biết. Nếu đem so thể lực với sự hung tợn thì những dàn tộc ăn rau quả như chúng ta khó có thể thắng được các chủng tộc ăn thịt - như bản thân tôi, nếu tính về mười đời trước thì cũng là môn đệ thư hương. Thứ hai, những người Tây già cả không phải lo, nhưng bọn Tây trẻ vẫn hung hăng sừng sộ. Nhìn thế giới ngày nay, chúng ta khó có thể tranh với người khác, đánh nhau không lấy được một cái huy chương vàng, sĩ diện của tổ tông coi như đã bị lũ con cháu hèn kém chúng ta làm cho mất hết rồi." "Cả nước cùng tiến lên rất khó," người chủ trì xen vào. "Hơn một tỷ người phục vụ một người nổi trội nhất thì còn có thể. Để tôi nói, thứ mà tổ tông để lại ngoài ăn ra thì còn có đánh nhau." "Tôi vẫn chưa nói hết." Triệu Hàng Vũ bất mãn lườm người chủ trì một cái, nói với mọi người. "Không làm như vậy không được, nỗi sỉ nhục hơn một trăm năm nay không tìm người thay chúng ta thì không thể được. Tôi bất chấp tất cả, ai có thể giúp được chúng ta, tôi sẽ móc cả trái tim mình ra trao cho người ấy. Anh chưa nghe người nước ngoài nói: 'Một người Trung Quốc là một con rồng, một nhóm người Trung Quốc là một ổ giòi."' "Đây là nói quá về chúng ta."   Mời các bạn đón đọc Chớ Gọi Tôi Là Người của tác giả Vương Sóc.
Những Nhân Chứng Cuối Cùng
VIẾT VỀ MỘT KHO CẤT GIỮ NỖI ĐAU CÒN TINH KHÔI Những nhân chứng cuối cùng (ấn bản lần đầu năm 1985) là quyển thứ hai trong loạt năm quyển sách Những giọng nói không tưởng (cùng với Chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ -1983, Những cậu bé kẽm - 1991/ Lời nguyện cầu từ Chernobyl - 1997 và Thời second hand - 2013) đã mang đến cho nhà văn Belarus Svetlana Alexievich giải Nobel văn chương 2015. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí Ba Lan năm 2013, nữ nhà văn cho biết ý tưởng viết quyển sách thứ hai này xuất phát từ những chuyến đi thực tế cho quyển sách đầu tiên Chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ. Cuộc chiến cướp mất hàng chục triệu con người Liên Xô đã khiến nhiều ngôi làng Xô viết sau chiến tranh không còn bóng dáng đàn ông, và tại những ngôi nhà góa bụa đó, bà thường nghe được hai câu chuyện: một của người mẹ và một của đứa con. Nhờ đó, bà phát hiện: “còn một kho cất giữ nỗi đau hoàn toàn chưa được động tới, tinh khôi”: ký ức trẻ thơ. Người ta đã quen nghe nói về chiến tranh từ người lớn, nhưng chỉ những chuyện kể từ miệng trẻ em mới có thể bộc lộ hết sự điên rồ của chiến tranh, sự hung bạo phi nhân tính không gì có thể biện bạch. Trung thành với thể loại văn xuôi tư liệu của loạt Những giọng nói không tưởng, Svetlana Alexievich kể, trong Những nhân chứng cuối cùng bà ghi lại lời những “nhân vật trẻ em” khi họ đã trưởng thành. Đây là một công việc hết sức khó khăn. “Một giáo sư sử học thì nói những điều rất khác, rất ‘người lớn’ về chiến tranh. Nên cần nhiều thời gian, bốn hay năm giờ đồng hồ để lộ ra được diện mạo một cậu bé có mẹ bị quân Đức lôi ra khỏi nhà đem bắn. Để cậu bé có thể nhìn tận mắt mình: ‘Tại sao họ bắn mẹ. Mẹ đẹp như thế…’ Cần phải đạt tới được những chi tiết chân thực, tinh khôi, trẻ thơ đó. Vấn đề là gột sạch cái người lớn từ những chuyện kể này”. Và tác giả đã làm như thế với cả trăm câu chuyện trẻ thơ, được kể lại bởi những người mà khi Chiến tranh Vệ quốc nổ ra, họ mới từ 4, 5 đến 12 tuổi. Hơn 100 câu chuyện của những đứa bé sống ở Belarus - nằm sát Ba Lan, là nước đầu tiên trong Liên Xô bị phát xít Đức bất ngờ tấn công ngày 22-6-1941, đã đạt được mục đích mà Alexievich đặt ra: Nước mắt trẻ thơ, dẫu chỉ một giọt thôi, cũng nặng hơn vô vàn lý lẽ chiến tranh nào. Với lời nhắc nhở đó, trong một dịp đi Saint Petersburg năm 2017, tôi đã tìm đến Con đường Sống mà một số nhân vật trẻ em trong Những nhân chứng cuối cùng dã đi qua. Đây là tuyến đường vận chuyển duy nhất kéo dài từ đường vành đai Saint Petersburg tới hồ Ladoga, con đường huyết mạch nối thành phố khi đó còn mang tên Leningrad - với phần còn lại của nước Nga trong 900 ngày đêm bị phát xít Đức bao vây. Tuyến đường rất xanh, chạy qua những rừng bạch dương, rừng thông… nhưng mỗi ngọn cây lá cỏ đều nhắc tôi rằng hơn 70 năm trước, lá non cỏ tươi ở Leningrad từng không mọc nổi vì nạn đói, cả vỏ cây non cũng bị tước đi… Mỗi cây số ở hai bên đường đều được đánh dấu bằng cột mốc, ở cây số 12 có tượng đài nhắc nhở: “1,5 triệu tấn hàng hóa được chuyển qua cung đường này, 1,2 triệu người dân theo Con đường Sống này ra khỏi Leningard bị bao vây”. Ở cây số 40 là hiểu tượng vòng vây phong tỏa bị cắt đứt. Ở cây số 45 là bảo tàng Con đường Sống, nằm tại ngọn hải đăng Osinovets. Trong khuôn viên hảo tàng, có đặt một tảng đá to hướng ra hiển, trên đó ghi: “Tại dây sẽ xây dựng tượng đài kỷ niệm những anh hùng của Con đường Sống. Đối diện bảo tàng, bên kia đường là những cây bạch dương non được cột ruy băng đỏ, giữa khu rừng nhỏ đó cũng đặt một tảng đá có khắc hàng chữ: “Nơi đây sẽ đặt tượng đài kỷ niệm những người đã bỏ mình trong lòng hồ Ladoga”. Người Nga không quên những năm tháng nặng nề với số phận dân tộc mình. 72 năm sau khi chiến tranh hết thúc, những tượng đài vẫn được tiếp tục lưu dấu. Bởi những người cựu binh của cuộc Chiến tranh Vệ quốc đã già lắm rồi, họ đến dự cuộc duyệt binh chiến thắng mỗi năm một thưa dần. Con cháu họ cũng đã lớn, và ký ức của các nhân chứng ngày càng ít đi này đang dần phôi phai. Ở thế giới vẫn còn chiến tranh của chúng ta, những câu chuyện của các “nhân chứng cuối cùng” này, được gia cố thêm bằng những tượng đài kia, là một nỗ lực nhắc nhớ. Sau giải Nobel văn chương 2015, loạt sách Những giọng nói không tưởng đã được tái bản, có sửa chữa. Bản dịch này dựa trên quyển sách Những nhân chứng cuối cùng được tác giả hiệu đính và nhà xuất bản Vremya phát hành năm 2016. Xin trân trọng gửi tới độc giả bản dịch cùng lời cảm ơn chân thành đến chị Irina Anatolyevna Letiagina, cựu biên tập viên Nhà xuất bản Cầu vồng và Tiến bộ (Liên Xô cũ), đã giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành bản dịch này. Phan Xuân Loan (11-2017) *** Seri Những Giọng Nói Không Tưởng, bao gồm: Chiến tranh không mang gương mặt phụ nữ, Những Nhân Chứng Cuối Cùng, Những cậu bé kẽm, Lời nguyện cầu Chernobyl Thời second hand *** Svetlana Alexievich (31/5/1948) là một nhà báo điều tra và nhà văn thể loại văn xuôi hiện thực. Bà là người Belarus nhưng viết báo, viết văn bằng tiếng Nga. Năm 2015, bà được trao giải Nobel Văn học vì “lối viết phức điệu, một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng dũng cảm trong thời đại chúng ta”.  Ngoài Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, Svetlana Alexievich còn viết nhiều sách về đề tài chiến tranh như Những nhân chứng cuối cùng (1985), Quan tài kẽm (1989), Tiếng vọng từ Chernobyl (1997)... Ngoài Nobel Văn chương, Svetlana Alexievich nhận nhiều giải thưởng khác như giải Leninsky Komsomol ở Nga, PEN Award, Peace Prize of the German Book Trade, Giải Médicis Essai (Pháp), giải National Book Critics Circle (Mỹ)… *** Tháng Sáu năm bốn mốt. Tôi nhớ lúc đó mình còn nhỏ lắm, nhưng tôi vẫn nhớ hết. Điều cuối cùng tôi nhớ từ cuộc sống hòa bình là câu chuyện cổ tích mẹ vẫn đọc hằng đêm. Câu chuyện yêu thích của tôi - Con cá vàng. Tôi luôn xin cá vàng điều gì đó: “Cá vàng ơi, cá vàng dễ thương ơi…” Và em gái tôi cũng vậy. Em nguyện cầu theo kiểu của mình: “Cá nhỏ, cá ngoan. Làm theo lời chị…” Chúng tôi xin nghỉ hè được về quê bà, với ba đi cùng. Ông vui như thế… Buổi sáng tôi thức giấc vì sợ. Bởi những tiếng động lạ nào đó… Mẹ và ba ngỡ chị em tôi còn say giấc, còn tôi nằm cạnh em gái và giả vờ ngủ. Tôi thấy ba hôn mẹ rất lâu, hôn lên mặt, lên tay, và tôi ngạc nhiên, trước đây ông chẳng bao giờ hôn mẹ như thế. Họ nắm tay nhau bước ra sân, tôi nhảy lại chỗ cửa sổ: Mẹ ôm lấy cổ ba, không muốn rời ông. Ông đẩy bà ra và chạy, còn bà đuổi theo và hét lên gì đó. Khi đó tôi cũng hét lên: “Ba! Ba!” Em gái và em trai Vasya thức giấc, em gái thấy tôi khóc, nó cũng la lên: “Ba ơi!” Tất cả chúng tôi lao ra ngoài hiên. “Ba ơi!” Ba nhìn chúng tôi, và tận bây giờ tôi vẫn nhớ, ông lấy tay che đầu và bước đi, thậm chí là bỏ chạy. Ông sợ ngoái đầu nhìn lại… Mặt trời soi chiếu gương mặt tôi. Ấm như thế. Và đến giờ tôi vẫn không tin là sáng hôm ấy ba tôi bước vào cuộc chiến. Tôi còn quá nhỏ, nhưng dường như vẫn nhận thức được đây là lần cuối tôi được nhìn thấy ông. Không bao giờ gặp lại. Tôi còn rất, rất nhỏ. Và như thế gắn liền với ký ức của tôi, chiến tranh - đó là khi không còn ba. Rồi về sau tôi còn nhớ: bầu trời tối om và máy bay đen sì. Cạnh con đường nhựa mẹ tôi nằm xoải tay. Chúng tôi đánh thức bà dậy, nhưng bà không buồn nhấc người lên. Những người lính quấn mẹ tôi vào tấm bạt và chôn bà trong cát, ngay chính ở chỗ đó. Chúng tôi la hét cầu xin: “Đừng chôn mẹ cháu trong cái hố đó. Mẹ cháu sẽ thức dậy và chúng cháu sẽ đi tiếp”. Những con bọ kềnh càng từ dưới cát bò lên… Tôi không thể nào tưởng tượng nổi mẹ sẽ sống cùng chúng dưới lòng đất. Sau này chị em tôi biết tìm bà thế nào, chúng tôi sẽ gặp lại nhau ra sao? Ai sẽ viết thư cho ba chúng tôi? Ai đó trong những người lính trẻ hỏi tôi: “Bé con, em tên gì?” Nhưng tôi quên rồi. “Cô bé, vậy họ em là gì? Mẹ em tên gì?” Tôi cũng không nhớ… Chị em tôi ngồi cạnh nấm mộ nhỏ của mẹ tới tận đêm, cho đến khi người ta kéo chúng tôi lên xe ngựa. Một chiếc xe ngựa thồ toàn trẻ em. Đưa chúng tôi đi là một ông già nào đó, ông gom lũ trẻ chúng tôi khắp dọc đường. Chúng tôi dừng lại ở một ngôi làng, và những người lạ mặt dẫn chúng tôi vào các nhà dân. Rồi tôi không nói chuyện với ai một thời gian dài. Tôi chỉ nhìn thôi. Sau đó, tôi nhớ, vào mùa hè. Mùa hè rực rỡ. Một người đàn bà lạ xoa đầu tôi. Tôi bắt đầu khóc. Và bắt đầu mở miệng. Tôi kể về mẹ và ba. Rằng ba đã chạy trốn chúng tôi, thậm chí ông còn không ngoái đầu lại. Và mẹ nằm sõng soài như thế nào. Và những con bọ cánh cứng đã bò trên cát ra sao. Người đàn bà xoa đầu tôi. Giây phút đó tôi chợt hiểu ra: Bà giống mẹ tôi. Mời các bạn đón đọc Những Nhân Chứng Cuối Cùng của tác giả Svetlana Alexievich.
Những Ngày Tươi Đẹp
Ngày hôm nay có phải ngày thích hợp để chết? Từ chỗ gờ tường tháp chuông cách mặt đất sáu tầng nhà, Finch tự hỏi như vậy để bỗng nhận ra cậu không đơn độc, vì phía bên kia tháp chuông, Violet dường như cũng đang có cùng suy nghĩ. Ngày hôm ấy, Finch không rõ cậu đã thuyết phục được Violet lùi lại hay chính sự xuất hiện của Violet đã ngăn cậu nhảy xuống, nhưng tình bạn, tình yêu đã khởi đầu từ đó. Liệu tất cả những điều ấy có đủ để đưa họ trở lại cuộc sống? Những ngày tươi đẹp hài hước, lãng mạn nhưng cũng không thiếu những khoảnh khắc nao lòng. Cuốn sách cho ta thấy những gì thực sự diễn ra trong tâm trí của người đang chìm trong hố đen trầm cảm, cho ta biết cảm thông và sống sao cho trọn vẹn từng khoảnh khắc. *** Review Cói:   Là quyển sách yêu thích nửa đầu 2019 của mình. Và mình rất recommend cho các bạn đang là học sinh như mình. Lấy bối cảnh ở một trường trung học, nhân vật chính là Finch - một cậu bạn bị xem là khác thường và lập dị, đã gặp gỡ Violet - người luôn ám ảnh bởi quá khứ người chị gái. Đọc câu chuyện này với tâm thế như dõi theo cuộc sống trung học của hai bạn trẻ nên mình vô cùng hứng thú. Sự khác biệt ở mỗi cá thể, mà bị coi là lập dị ở trường trung học; cho nên ai cũng cố gắng trở nên bình thường. Finch thì không như thế. “...Tôi nghĩ rằng có những nơi cần được ngắm nhìn. Có lẽ sẽ chẳng có ai đến thăm những nơi đó và trân trọng chúng hoặc dành thời gian để nghĩ chúng quan trọng, nhưng có lẽ ngay cả những nhỏ nhất cũng có ý nghĩa gì đó. Còn nếu không, có lẽ chúng có thể có ý nghĩa gì đó với chúng ta. Ít nhất mà nói, vào lúc chúng ta rời đi, chúng ta biết chúng ta đã nhìn thấy nơi đây, tiểu bang vĩ đại của chúng ta. Vậy thì ta đi thôi. Hãy đi thôi. Hãy để đời ta có chút ý nghĩa nào đó. Hãy rồi khỏi cái gờ tường đó đi.” Finch cứu Violet khỏi cảnh chết đuối dưới những nỗi dằn vặt, ám ảnh. Nhưng còn Finch, cậu có thể bơi khỏi chính cái hồ sâu ấy không ? Từ một Violet ủ dột, cô ấy trở nên tươi sáng, vui vẻ trở lại. Nhưng còn Finch, vẫn mãi giữ những suy nghĩ cho chính mình. Một cuốn sách hay. Có nhiều khía cạnh được khai thác mà mục đích là để ta suy ngẫm về chính mình, về những người xung quanh. Mình đã có những cảm xúc thật vui, và xúc động rất nhiều. Các bạn, nếu bạn nghĩ mình có vấn đề về sức khoẻ tinh thần, hãy đọc cuốn sách này ít nhất một lần nhé. *** Review Trinh Phạm Thị Đoan:   Đánh giá: 5????/5 Nhiều người nói quyển sách này đã "thơ mộng hóa" căn bệnh trầm cảm, nhưng mình thấy nó thật đẹp, và cũng thật buồn. Khi Finch cứu Violet trên gờ tháp chuông, chẳng ai ngờ rằng cậu cũng đang tự chiến đấu với chính mình để không nhảy xuống vực thẳm đen tối kia. Mình vẫn luôn tin rằng, sẽ chẳng có ai muốn chết nếu có người chịu lắng nghe họ, không cần làm gì cả, chỉ cần lắng nghe thôi. Thật khó khăn khi phải vật lộn mỗi ngày giữa hai lựa chọn Thức và Ngủ. Thật khó khăn khi cố gắng không cho ai thấy phía sau cánh cửa-nơi bạn dần dần suy sụp. Thật khó khăn để yêu một người mà không nghĩ đến người ấy sẽ như thế nào nếu mình đột ngột rời đi. Một sinh mệnh đẹp đẽ như thế, cuối cùng lại tàn lụi ở nơi không ai nhìn thấy. Nhưng ít nhất cậu ấy vẫn sống, ở một thế giới do cậu ấy tạo ra, nơi cậu ấy không còn phải chịu đựng những Cú Rơi Dài nữa. Bởi vì hôm nay vẫn là một ngày tươi đẹp. *** Tôi lại tỉnh dậy. Ngày thứ 6 Ngày hôm nay có phải là ngày thích hợp để chết? Đó là điều tôi tự hỏi mình vào buổi sáng khi tôi thức dậy. Vào tiết thứ ba khi tôi đang chống mắt nghe thầy Schroeder giảng bài như ru ngủ. Ở bàn ăn tối khi tôi chuyển đĩa đậu cho mọi người. Khi ban đêm tôi nằm thao thức vì tâm trí cứ quay mòng mòng với bao điều suy nghĩ. Hôm nay có phải ngày đó không? Và nếu không phải hôm nay thì là bao giờ? Tôi đang tự hỏi mình điều đó ngay lúc này, khi đứng ở gờ tường hẹp cách mặt đất sáu tầng nhà. Tôi đang ở rất cao, đến mức như thể là một phần của bầu trời. Tôi nhìn xuống vỉa hè bên dưới, và cả thế giới chao nghiêng. Tôi nhắm mắt lại, tận hưởng cái cách mọi thứ quay cuồng. Có lẽ lần này tôi sẽ làm điều đó - phó mặc cho ngọn gió đưa mình đi. Cảm giác đó sẽ giống như bồng bềnh trong bể bơi, thiếp dần đi tới khi chẳng còn gì nữa. Tôi không nhớ mình đã trèo lên đây. Thật ra tôi không nhớ mấy những gì đã xảy ra trước Chủ nhật, chí ít là những gì xảy ra trong mùa đông này. Lúc nào cũng vậy - cứ tỉnh dậy là đầu óc sạch trơn. Tôi giống như lão già râu xồm Rip Van Winkle* Mọi sự cứ không cánh mà bay. Bạn có thể nghĩ tôi đã quen với việc này, nhưng lần này là tệ nhất vì không phải tôi chỉ ngủ vài ngày hay một, hai tuần - tôi đã ngủ suốt các kỳ nghỉ, tức là lễ Tạ ơn, Giáng sinh và Giao thừa. Tôi không thể diễn tả sự khác biệt lần này, chỉ là khi thức dậy, tôi cảm thấy mình gần cái chết hơn mọi khi. Tôi thức, đúng thế, nhưng hoàn toàn trống rỗng, như thể ai đó đã hút kiệt máu tôi. Đây là ngày thứ sáu từ khi tôi tỉnh lại lần nữa, và là tuần đi học đầu tiên kể từ ngày 14 tháng Mười một. Tôi mở mắt, và mặt đất vẫn ở đó, vững chãi và kiên cố. Tôi đang ở trên tháp chuông của trường, đứng trên một gờ tường rộng khoảng 10 phân. Tháp chuông khá nhỏ, khoảng sàn bê tông ngoài cái chuông chỉ rộng độ vài bước chân, ngoài ra còn có cái lan can thấp bằng đá mà tôi đã trèo qua để ra đến đây. Thỉnh thoảng tôi lại đá chân vào nó để chắc chắn rằng nó vẫn ở đó. Hai tay tôi dang rộng như đang tiến hành một buổi thuyết giáo và toàn bộ cái thành phố không-quá-lớn, buồn tẻ này là con chiên. “Thưa quý ông, quý bà,” tôi hét, “xin chào mừng quý vị đến với cái chết của tôi!” Có thể các bạn đã đoán tôi sẽ nói chào mừng đến với “cuộc sống” của tôi, bởi tôi vừa mới thức dậy mà, nhưng chỉ lúc nào tỉnh tôi mới nghĩ đến cái chết. Tôi đang gào theo cái lối của một nhà truyền giáo kiểu cũ, đầu giật giật, các từ cứ về cuối lại ríu rít vào nhau, và tôi suýt nữa mất thăng bằng. Tôi bám vào phía sau, mừng là dường như không ai nhận thấy điều này, bởi vì, nói thật là, thật khó tỏ ra can đảm khi mình đang bám chặt lan can và run lập cập như một con gà. “Tôi, Theodore Finch, với tinh thần thiếu minh mẫn, trân trọng tuyên bố để lại toàn bộ tài sản trần tục của mình cho Charlie Donahue, Brenda Shank-Kravitz và chị em gái tôi. Những người khác có thể biến con mẹ nó đi!” Ở nhà, từ nhỏ mẹ đã dạy chúng tôi phát âm cái cụm từ đó (nếu chúng tôi phải dùng đến), hay đúng hơn, là dạy chúng tôi đừng nói ra, nhưng đáng buồn là nó đã kẹt lại trong đầu tôi. Dù tiếng chuông đã vang lên, mấy đứa cùng lớp tôi vẫn tha thẩn ở sân trường. Đây mới là tuần đầu tiên của kỳ hai năm cuối cấp, thế mà bọn chúng đã làm ra vẻ mình đã học xong và chuẩn bị ra trường đến nơi. Một thằng trong số đó nhìn về phía tôi, như thể nó đã nghe thấy tôi nói, nhưng những đứa khác thì không, hoặc bởi vì chúng chưa nhìn ra tôi hoặc bởi vì chúng biết tỏng tôi ở đó và Ôi dào, lại thằng Theodore Lập Dị chứ gì. Rồi thằng đó quay đầu đi chỗ khác và chỉ lên trời. Lúc đầu tôi tưởng nó chỉ vào mình, nhưng đúng lúc đó tôi nhìn thấy cô. Cô đứng cách tôi vài bước, ở phía bên kia tháp chuông, cũng đứng ngoài gờ tường, tóc vàng sậm bay trong gió, chân váy phồng lên như một chiếc dù. Dù bây giờ là tháng Một ở bang Indiana, cô đi chân đất, chỉ mặc quần tất mỏng, một tay cầm đôi bốt, và đang nhìn chằm chằm hoặc vào chân cô hoặc vào mặt đất - thật khó nói chính xác. Trông cô như đã hóa đá tại chỗ. Tôi nói bằng giọng thông thường, không phải của nhà truyền giáo, một cách bình tĩnh nhất có thể: “Nghe tớ nói này, giờ tệ nhất là cậu nhìn xuống đấy.” Thật chậm chạp, cô quay đầu sang phía tôi, và tôi biết cô gái này, hoặc ít nhất tôi đã nhìn thấy cô ở hành lang trường. Tôi không thể ngăn mình nói tiếp: “Cậu có đến đây thường xuyên không? Vì chỗ này gần như là chỗ của tớ, và tớ không nghĩ là đã từng nhìn thấy cậu ở đây.” Cô không cười cũng chẳng chớp mắt, chỉ nhìn tôi chằm chằm từ sau cặp kính to sụ che gần hết khuôn mặt. Cô cố lùi một bước và chân vô tình đá vào lan can. Cô chệnh choạng một chút, và trước khi cô kịp hoảng loạn, tôi lên tiếng: “Tớ không biết cái gì đưa cậu tới đây, nhưng với tớ thì thành phố của chúng ta trông xinh đẹp hơn và mọi người có vẻ tử tế hơn, thậm chí những người xấu xa nhất trông cũng gần như tử tế. Trừ Gabe Romero và Amanda Monk và toàn thể cái nhóm mà cậu hay chơi cùng.” Tên cô là Violet Gì Đó. Cô nổi tiếng chẳng kém mấy đứa trong đội cổ vũ của trường - một trong những đứa con gái mà bạn không nghĩ mình sẽ bắt gặp ở một gờ tường cách mặt đất sáu tầng nhà. Sau cặp kính thô kệch cô khá xinh, tựa như búp bê bằng sứ vậy. Đôi mắt to, khuôn mặt trái tim dễ thương, khuôn miệng như muốn nở ra một nụ cười nhỏ xinh hoàn hảo. Cô là kiểu con gái hẹn hò với những gã như Ryan Cross, siêu sao bóng chày, và ngồi cùng Amanda Monk và những đứa con gái đầu sỏ khác vào bữa trưa. “Nhưng hãy thẳng thắn với nhau, chúng ta không lên đây để ngắm cảnh. Cậu là Violet, phải không?” Cô chớp mắt một cái, và tôi coi đó là câu trả lời đồng ý. “Tớ là Theodore Finch. Tớ nghĩ chúng ta đã học Toán cùng nhau năm ngoái.” Cô chớp mắt lần nữa. “Tớ ghét môn Toán, nhưng không phải vì thế mà tớ đến đây. Nếu đó là lý do của cậu thì đừng để bụng nhé. Cậu chắc là giỏi Toán hơn tớ, vì chắc chắn ai cũng sẽ giỏi Toán hơn tớ, nhưng cũng chẳng sao cả, tớ thấy không vấn đề gì. Này nhé, tớ giỏi cái khác, những cái quan trọng hơn - ghita, tình dục, hoặc liên tục làm bố tớ thất vọng, đấy là vài ví dụ. Mà thực ra, rõ ràng là cậu sẽ không bao giờ sử dụng nó ở thế giới thực, đúng không? Ý tớ là môn Toán ấy.” Tôi cứ thao thao, nhưng tôi biết mình sắp hết chịu nổi. Trước hết là vì tôi đang buồn đi tè, nên từ ngữ của tôi không phải là cái duy nhất co rúm lại với nhau. (Rút kinh nghiệm: Trước khi tự tử, hãy nhớ đi tè). Và, thứ hai, trời đang bắt đầu mưa, mà ở nhiệt độ này, mưa sẽ hóa tuyết trước khi chạm đất. “Trời bắt đầu mưa đấy,” tôi nói, như thể cô không biết điều này. “Tớ nghĩ sẽ có người tranh cãi rằng mưa sẽ rửa trôi máu đi, để cái đống của chúng ta đỡ bầy nhầy, tiện cho người khác dọn. Nhưng chính cái phần ‘bầy nhầy’ đã khiến tớ phải suy nghĩ. Tớ không phải là một người phù phiếm, nhưng tớ là một con người, tớ không biết cậu thế nào chứ trong đám tang của mình, tớ không muốn trông như vừa đi qua một cái máy xẻ gỗ.” Cô đang rùng mình hay đang run lên, tôi không thể biết chắc chắn, và thế là tôi nhích từng chút một về phía cô, cầu mong không ngã trước khi đến đích, bởi rõ ràng điều cuối cùng tôi muốn làm là biến mình thành một thằng ngu trước mặt người con gái này. “Tớ đã nói rõ ràng là tớ muốn được hỏa thiêu, nhưng mẹ tớ không tin.” Còn bố thì sẽ làm bất kể điều gì mẹ nói để không làm phật ý mẹ thêm nữa, và bố còn nói thêm: Con còn quá trẻ để nghĩ đến điều này, con biết đấy, bà Finch của con đã sống tới năm chín mươi tám tuổi, chúng ta không cần phải nói về chuyện này bây giờ, Theodore, đừng làm mẹ giận. “Thế tức là tớ sẽ bị nhét vào quan tài, tức là nếu tớ nhảy, cái chết sẽ chẳng đẹp đẽ gì. Hơn nữa, có lẽ tớ thích khuôn mặt tớ được nguyên vẹn, hai mắt, một mũi, một miệng, một hàm răng đầy đủ, mà nó, nói thật với cậu, là một trong những cái hơn người ở tớ đấy.” Tôi cười minh họa cho cô luôn. Một hàm răng đều tăm tắp, ít nhất là trông bề ngoài thì như vậy. Thấy cô vẫn im lặng, tôi tiếp tục vừa nhích dần sang vừa nói. “Nhưng hơn hết, tớ cảm thấy không phải với những người làm đám ma. Đó vốn là một nghề chả ra sao rồi, nhưng phải xử lý một thằng dở hơi như tớ ư?” Từ phía bên dưới, ai đó hét lên: “Violet à? Có phải Violet trên đó không?” “Ôi trời ơi,” cô buột miệng, nhỏ đến mức tôi hầu như không nghe thấy. “Ôitrờiôitrờiôitrời.” Gió thổi váy và tóc cô, trông như thể cô sẽ bay đi. Bắt đầu có tiếng lao xao ở dưới, và tôi hét: “Đừng cố cứu tôi! Các người sẽ chỉ làm hại chính mình thôi!” Rồi tôi nói, rất nhỏ, chỉ đủ cho cô nghe: “Bây giờ tớ nghĩ chúng ta phải làm thế này.” Lúc này tôi đang đứng cách cô chừng ba mươi phân. “Tớ muốn cậu ném đôi giày của cậu về phía cái chuông rồi bám vào lan can, chỉ cần nắm chặt vào lan can, và khi nào cậu nắm được nó, hãy dựa người vào rồi đưa chân phải qua. Hiểu chứ?” Cô gật đầu và suýt mất thăng bằng. “Đừng gật đầu. Và làm gì thì làm, đừng có nhầm lùi lại thành tiến lên đấy. Tớ sẽ đếm cho cậu. Từ một đến ba nhé.” Cô ném đôi bốt về phía cái chuông, và chúng rơi bộp, bộp trên sàn bê tông. “Một. Hai. Ba.” Cô nắm lấy cái lan can đá và nhổm người lên rồi đưa một chân qua để ngồi lên đó. Cô nhìn chằm chằm xuống mặt đất và tôi có thể thấy cô lại hóa đá, và thế là tôi nói: “Tốt. Tuyệt vời. Chỉ cần đừng nhìn xuống nữa.” Cô chầm chậm nhìn tôi rồi thò chân phải xuống tìm sàn tháp chuông, và khi chân cô chạm mặt sàn, tôi nói: “Bây giờ tìm cách đưa chân trái qua đi. Đừng bỏ tay khỏi tường.” Lúc này cô run cầm cập đến nỗi tôi có thể nghe tiếng hai hàm răng cô va vào nhau, nhưng tôi nhìn theo trong khi cô đưa chân trái về phía chân phải, và giờ cô đã an toàn. Vậy là bây giờ chỉ còn lại tôi bên ngoài. Tôi nhìn xuống mặt đất một lần cuối cùng, qua mũi đôi bàn chân cỡ bốn mươi bảy vẫn tiếp tục to ra của mình - hôm nay tôi đi giày đế mềm với dây buộc huỳnh quang - qua ô cửa sổ mở ở tầng bốn, tầng ba, tầng hai, qua Amanda Monk, vừa lớn tiếng cười đùa trên bậc thềm vừa ngúng nguẩy túm tóc vàng buộc kiểu đuôi ngựa, tay nâng sách che đầu, cố vừa tạo dáng vừa che mưa cùng một lúc. Mời các bạn đón đọc Những Ngày Tươi Đẹp của tác giả Jennifer Niven.
Người Mẹ Lang Thang
Tiểu thuyết về mẹ cảm động nhất của văn học Nhật Bản được hàng triệu bạn trẻ xứ sở hoa anh đào truyền tay nhau. Bạn sẽ phải khóc khi đọc đến những trang cuối cùng! Người mẹ lang thang là một câu chuyện về Hiromi - một người phụ nữ đã đi khắp nước Nhật và trở thành “mẹ nuôi” của những đứa trẻ kém may mắn trong cuộc sống. Cô đã chăm sóc những đứa trẻ chỉ có bố mà thiếu vắng tình yêu của mẹ, những ông bố thường xuyên vắng nhà dài ngày hay những đứa trẻ bị mẹ ngược đãi và bỏ nhà đi.  Hành trình của Hiromi kéo dài từ khi cô 20 tuổi đến năm 40 tuổi. Dù là thời gian ở cùng chăm sóc những đứa trẻ khác nhau, có đứa vài tháng, cũng có đứa tận vài năm nhưng cô vẫn cố gắng coi chúng như con ruột của mình và khi những đứa trẻ đã cứng cáp, gia đình ổn định, khi “dịch vụ” của cô không còn cần thiết nữa, cô lặng lẽ bỏ đi. Với sự tận tụy, hết lòng yêu thương những đứa trẻ ấy, Hiromi đã để lại trong tâm trí những đứa trẻ hình ảnh về một người mẹ đích thực và những kỉ niệm gia đình ấm áp trong quãng thời gian ngắn ngủi sống cùng cô.  Tại sao cô lại làm như vậy ?  Tại sao lại sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân để đi chăm sóc những đứa trẻ khác không phải con mình ?  Tại sao người mẹ ấy tiếp tục làm công việc kỳ lạ là chăm lo cho bao đứa trẻ Nhật Bản mà không mong đợi một tình cảm hồi đáp? Tại sao lại từ bỏ chính cuộc đời mình để làm tất cả những điều tưởng chừng vô nghĩa ấy? Liệu sau bao biến cố xảy ra trong đời,  sau những mất mát, tổn thương thì người mẹ ấy có được bù đắp và sống một cuộc đời không còn day dứt ?  Sau bao năm chăm hạnh phúc của người mẹ lang thang sẽ đi về đâu? Người mẹ ấy sẽ sống như thế đến khi nào? Người phụ nữ ấy làm tất cả những điều ấy vì cái gì? Bởi điều cô theo đuổi không phải tình yêu, không phải gia đình, cũng không phải sự vĩnh hằng. Câu trả lời dành cho bạn khi đọc đến cuối trang sách tuyệt vời này! “Mẹ không phải là một người chỉ làm việc nhà” *** Review Linh Lee:   Đúng như nhan đề, người mẹ lang thang là câu chuyện về Hiromi - một người phụ nữ kỳ lạ. Suốt hơn hai mươi năm tuổi xuân, cô đi đến nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, sống cùng nhiều gia đình với vai trò một người mẹ, chăm sóc nhiều đứa trẻ, lang thang không chốn về, chẳng nói rõ lý do. Cô là người mẹ tốt, nhưng đồng thời cũng là người tàn nhẫn nhất. Dùng bản thân đánh đổi lấy việc được chung sống với những đứa nhỏ. Lựa chọn những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, và đều thiếu vắng người mẹ, sự xuất hiện của cô đối với những đứa trẻ, có lẽ giống như một vị cứu tinh, và chúng coi cô là "mẹ" thực sự. Dùng trái tim đón nhận cô, nhưng rồi đến một thời điểm, cô lại rời đi. Dường như ở Hiromi tồn tại bản năng của người mẹ, tính cách cô dịu dàng, mềm mại, cô lo lắng từng bữa ăn, tính cách, tâm sinh lý của chúng. Không nói rõ về những hành động chăm sóc, nhưng từ sự ỷ lại của những đứa trẻ đối với cô, có thể nói, cô dùng cả trái tim để bao dung chúng. Và Hiromi là một người mang đầy những bí mật: tại sao cô lại tốt đến vậy? Tại sao cô phải bỏ đi, mà không phải là ở lại chăm sóc những đứa trẻ đến hết cuộc đời? "Người mẹ lang thang" có lẽ đã nói đúng chính xác cuộc sống của cô, cô đáng khâm phục: đi khắp nơi, tự nuôi thân, dù cho công việc chẳng mấy huy hoàng, sống với những nghĩa cử tốt đẹp. Lối viết song song giữa những câu chuyện từ nhiều nhân vật khác nhau, đã xây dựng lên một Hiromi hoàn thiện trong mắt độc giả, quá khứ, hiện tai được lồng ghép, và một phần tương lai cũng được hé lộ, cái kết mở để lại cho ta một khoảng để ta tự bổ sung: Hiromi đi tiếp, hay Hiromi nghỉ lại... Câu nói rằng mẹ không phải chỉ là người làm việc nhà đâu, dường như đã chạm đến trái tim của tôi. Có người từng nói với tôi rằng: ta mải mê nói những điều hoa mỹ, cao cả, nhưng lại chẳng biết quý trọng những gì đơn giản của cuộc sống, vì ta không hiểu, chưa từng mất đi. Phải chịu cảnh thiếu thốn tình mẹ như những người con nuôi của cô mới hiểu được tình cảm ấy thiêng liêng tới mức nào. Phải rồi, mẹ không phải là người làm việc nhà, mà là người đem đến cho chúng tình cảm, là người chở che, bao bọc những đứa con của mình. Dù con khôn lớn, nhưng mẹ thì vẫn là mẹ, và vĩnh viễn là mẹ, lớn đến đâu, thì những đứa con của mẹ Hiromi vẫn luôn tìm được cảm giác bình yên khi gặp được mẹ. Nhẹ nhàng, sâu lắng, và đầy tình cảm... Điểm: 8/10 *** Hiromi thật kỳ lạ. Đây đã là lần thứ tư cô chuyển nơi sống. Từ thành phố nhộn nhịp Tokyo, cô đi đến thị trấn dưới chân núi Phú Sĩ, vòng qua hòn đảo lạnh giá vùng Hokkaido rồi lại quay trở về một quán rượu nhỏ tại thủ đô. Nhưng đó không phải là chuyến đi du lịch gì cả, Hiromi đang đi tìm những đứa trẻ đang bị bỏ rơi. Ba anh em Ryosuke, Momoko và Naosuke đang sống với bà ngoại và người bố ngày đêm phải lái xe chở hàng; cậu bé Koutarou vì là con lai nên bị bắt nhốt ở nhà không được đi học; cô bé Manami sống đơn độc với người bố làm nghề biển, anh em Akio và Natsuno phải chạy trốn cùng người cha bị xiết nợ. Ánh mắt của những đứa trẻ ấy thôi thúc Hiromi phải làm điều gì đó cho chúng. Dưới những mái nhà không có hơi ấm của người mẹ, cô lẻn vào nhẹ nhàng như một chú mèo, chăm sóc và nuôi dưỡng những đứa trẻ, đến khi chúng ổn định với cuộc sống rồi thì cô lại ra đi mà không giữ lại bất cứ ký ức tươi đẹp nào cả. Điều kỳ lạ hơn cả, Hiromi dành hết những năm tháng tươi đẹp nhất của đời mình để làm “mẹ” của những đứa trẻ, nhưng cô không đòi hỏi sự hồi đáp nào cả. Cô không mong lũ trẻ khi lớn lên sẽ trả ơn cô bằng tiền bạc hay danh vọng, cũng không muốn chúng phải bận tâm đến cuộc sống của cô. Hiromi chỉ muốn chúng được hạnh phúc, giống như cách cô mong đứa con thật sự của mình được hạnh phúc. Người mẹ lang thang là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Hika Harada sau Tokyo Laudering - tác phẩm đã gây tiếng vang lớn cho bà ở diễn đàn văn học Nhật Bản. Motif của hai cuốn sách này cũng có nhiều điểm tương đồng, cả hai đều xoay quanh một người phụ nữ đến chăm sóc cho những ngôi nhà đặc biệt. Ở Người mẹ lang thang, đó là những căn nhà thiếu vắng người mẹ, còn ở Tokyo Laundering là những căn nhà của người vừa mới qua đời. Nếu có điều gì khiến Người mẹ lang thang trở nên khác biệt so với tác phẩm trước đây của Hika Hirada thì đó chính là hơi ấm của tình người. Cái cách Hiromi hết lòng với mỗi đứa con mà cô chăm sóc, dạy chúng không được uống nước ép hoa quả trước bữa ăn, rồi cắt tờ rơi thành hình vuông để xếp giấy, hay cách nhắc nhở những đứa con khi đến trường thì lắng nghe thầy cô giảng bài, hàng đêm lại làm bài tập cùng con, tất cả đều rất giống với hình mẫu mà một đứa trẻ luôn tưởng tượng về người mẹ của mình. Với những người đàn ông, Hiromi có thể trao thể xác mình cho họ, nhưng với những đứa trẻ của anh ta, cô sẽ trao cả trái tim mình để ủ ấm cho chúng. Thông qua cuốn sách Người mẹ lang thang, Hika Hirada muốn gửi gắm đến những thế hệ làm cha mẹ hiện tại và cả sau này rằng: Cha mẹ phải dành thời gian cho con cái, chứ không phải chỉ cho chúng mỗi tiền đâu. Bởi tình yêu thương là không bao giờ đủ, kể cả khi con người ta đã trưởng thành lớn lên và già đi. Và cũng bởi với những trái tim bị tổn thương thì chỉ có một trái tim khác mới có thể chữa lành được. Mời các bạn đón đọc Người Mẹ Lang Thang của tác giả Hika Harada.