Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thư Gửi Đứa Trẻ Chưa Từng Sinh Ra

Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra – Quyển sách mà mọi phụ nữ nên đọc. Chỉ khoảng 150 trang sách mỏng nhẹ nhưng Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra sẽ làm bất kỳ ai xáo động, tất nhiên trước hết là những người phụ nữ. Và cho dù bạn đã làm mẹ hay chưa, quyển sách này sẽ chạm đến tận thẳm sâu tâm hồn bạn, chính là nỗi niềm của các bà mẹ nói chung và của những người từng phải lâm vào tình huống bỏ đứa con đang hoài thai của mình.   Nữ tác giả người Ý Oriana Fallaci đã viết nên một quyển sách thật sự khác biệt, vẫn còn nguyên giá trị dù đã ra đời gần 40 năm (tác phẩm xuất bản lần đầu năm 1975) về tình mẫu tử, về việc làm mẹ và chuẩn bị tiếp nhận một sinh linh đến trong cuộc đời.   Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra lấy chủ thể là một phụ nữ đang có thai với bạn trai. Tiểu thuyết là những dòng tự sự của người mẹ dành cho đứa con, cảm xúc của cô khi mang thai, những vấn đề cô phải trải qua khi quyết định giữ lại sinh linh mà cha nó không muốn nó tồn tại…   Đã có hàng tá quyển sách xúc động các bà mẹ viết cho con mình, ngay từ khi chúng đang còn là một bào thai. Nhưng với Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra, độc giả sẽ “choáng” vì cách người mẹ cho đứa trẻ vẫn chưa thành hình ấy được thấy hết những thực tế của việc tồn tại. Đó là một bức tranh khốc liệt của việc làm người, vượt qua các rào cản của định kiến, của lề thói. Người mẹ không đặt bất cứ kỳ vọng nào lên đứa con tương lai nhưng cô dành sự quan tâm khi nêu ra những thực tế phải đối diện, niềm âu lo kèm theo những hy vọng. Những trang viết thấm đượm suy tư, đầy âu yếm, lúc lại phẫn nộ đến tuyệt vọng, khi thì chất chứa yêu thương.   Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra là quyển sách mà bất cứ phụ nữ nào cũng nên đọc, để biết dù ở vai trò nào, tình mẫu tử luôn là vĩ đại. Và với nam giới, cũng cần đọc để hiểu thêm người phụ nữ của mình.   *** Nhưng nếu con sinh ra là đàn ông, ta cũng vẫn vui mừng. Có lẽ còn vui mừng hơn, bởi con sẽ thoát được nhiều điều nhục nhã, biết bao phục dịch và bao cảnh lạm dụng. Nếu sinh ra là đàn ông, con sẽ không phải tận dụng khuôn mặt xinh xắn để được chấp nhận ngay từ cái nhìn đầu tiên, hay một thân hình đẹp để che giấu trí thông minh của mình. Con sẽ không phải nghe những phán xét ác nghiệt khi con ngủ với ai đó mà con thích; người ta sẽ không nói với con rằng tội lỗi sinh ra vào ngày con hái trái táo. Con sẽ ít phải đấu tranh hơn…   Theo Thế giới văn hóa *** Oriana Fallaci, sinh ngày 29 tháng Sáu năm 1929 tại Firenze, Oriana Fallaci là nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Italia. Bà sinh ra trong một gia đình chống phát xít và có cha là một thủ lĩnh của phong trào đấu tranh chống Mussolini. Năm 14 tuổi, Oriana Fallaci tham gia Kháng chiến. Chiến tranh thế giới II kết thúc, bà theo học tại Đại học Firenze. Ngay từ rất sớm, Oriana Fallaci đã cảm nhận được bản năng viết lách trong con người mình. Bà từng viết những thứ mà bà gọi là “những truyện ngắn ngây ngô” từ năm 9 tuổi, và đến năm 16 tuổi, bà bắt đầu mở rộng sang chủ đề cảnh sát và bệnh viện. Oriana Fallaci đặc biệt nổi tiếng với vai trò nhà báo, và được nhà viết tiểu sử Jill M. Duquaine tôn vinh là “nhà báo chính luận xuất sắc nhất thời hiện đại.” Bà mất ngày 15 tháng 9 năm 2006 tại thành phố quê hương. Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra được xuất bản lần đầu tiên năm 1975, được coi là “một trong những trang viết đẹp đẽ nhất của phụ nữ về mang thai, nạo phá thai và những dằn vặt nội tâm.” *** Đêm qua ta biết là con tồn tại: một giọt sống thoát thai từ hư vô. Ta đang nằm, mắt mở to trong đêm tối, và đột nhiên ta biết con ở đó. Con tồn tại. Điều đó giống như một viên đạn xuyên vào ngực ta. Tim ta ngừng đập. Và khi nó điên cuồng đập trở lại trong tiếng đại bác bàng hoàng, ta có cảm giác mình bị quăng vào cái giếng nơi mọi thứ đều không chắc chắn và đáng sợ. Giờ thì ta bị khóa chặt trong nối sợ hãi thấm đẫm khuôn mặt ta, tóc ta, ý nghĩ của ta. Ta lạc lối trong nỗi sợ đó. Con hãy hiểu rằng đó không phải là sợ người khác. Ta chẳng bận tâm đến người khác. Đó không phải là sợ Chúa. Ta không tin vào Chúa. Đó không phải là sợ đau. Ta không hề sợ đau. Ta sợ con, sợ điều đã giật con ra khỏi hư vô để gắn con vào cơ thể ta. Ta chưa bao giờ sẵn sàng chào đón con, mặc dù ta biết con hiện hữu, như thể ta đã chờ đợi con từ lâu. Ta vẫn luôn tự vấn bản thân câu hỏi khủng khiếp: Thế nếu con không muốn được sinh ra? Thế nếu một ngày kia con gào lên trách cứ ta: “Ai bảo mẹ đem con vào thế giới này, tại sao mẹ đưa con đến thế giới này, tại sao?” Cuộc đời là một nỗ lực lớn, con ạ. Đó là cuộc chiến lặp lại hằng ngày, và những giây phút vui vẻ hạnh phúc là những khoảng lặng ngắn ngủi mà vì chúng, người ta phải trả một cái giá tàn khốc. Làm sao ta biết được sẽ là không đúng nếu vứt bỏ con đi? Làm sao ta nói được là con sẽ không thích bị ném trả vào thinh lặng? Con không thể nói với ta: giọt sống của con chỉ là một tổ hợp tế bào vừa chớm bắt đầu. Thậm chí có lẽ còn chưa là sự sống, mới chỉ là khả năng của sự sống. Ấy thế mà ta ước gì con có thể giúp ta, dù chỉ với cái gật đầu, một dấu hiệu thoáng qua. Mẹ ta nói rằng ta đã cho bà một dấu hiệu như thế, và đó là lý do khiến bà mang ta đến thế giới này. Con biết không, mẹ ta đã không muốn có ta. Ta được hình thành bởi lầm lỗi, từ giây phút bất cẩn của những kẻ khác. Với hy vọng ta sẽ không sinh ra, hằng đêm, bà pha thuốc vào ly nước. Rồi vừa khóc, bà vừa uống hết ly nước. Bà uống thuốc đều đặn cho đến cái đêm ta cựa quậy trong bụng bà, và đá cho bà một cái để bảo đừng có vứt ta đi. Đang đưa ly nước lên môi, bà liền đẩy ra xa rồi hất hết chỗ nước đó đi. Vài tháng sau, ta lăn ra rạng rỡ dưới ánh mặt trời. Ta không biết điều đó là tốt hay dở; khi hạnh phúc ta nghĩ điều đó là tốt, khi bất hạnh ta nghĩ điều đó là dở. Nhưng thậm chí, ngay cả khi cảm thấy khổ sở, ta cũng không hối hận vì đã được sinh ra, bởi không gì tệ hơn việc chẳng-là-gì-cả. Để ta nhắc lại lần nữa: ta không sợ đau. Con người được sinh ra với sự đau đớn; nỗi đau lớn lên cùng ta, và ta quen với nó cũng như quen với việc có hai chân, hai tay. Thực sự ta thậm chí cũng chẳng sợ chết, chết có nghĩa là ít nhất cũng là đã từng được sinh ra, từng được thoát thai từ hư không. Điều ta thực sự sợ hãi, ấy là chẳng-là-gì-cả, không là gì, chưa từng tồn tại, dù là tình cờ, hoặc lầm lỗi, hoặc do sự bất cẩn của những kẻ khác. Rất nhiều phụ nữ tự hỏi tại sao họ phải mang thai đứa trẻ đến thế giới này? Để rồi nó sẽ bị đói khát, để rồi nó sẽ bị giá rét, để rồi nó sẽ bị phản bội và nhục mạ, để rồi nó sẽ bị chết trong chiến tranh hay do bệnh tật? Họ chối bỏ hy vọng rằng sự đói khát của nó sẽ được bù đắp, giá lạnh sẽ được sưởi ấm, rằng lòng trung thành và kính trọng sẽ đồng hành cùng nó trong suốt cuộc đời, rằng nó sẽ cống hiến cuộc đời cho nỗ lực xóa bỏ chiến tranh và bệnh tật. Có thể họ đúng. Nhưng chẳng lẽ phải lựa chọn không-là-gì-cả còn hơn là chịu đau khổ? Thậm chí, ngay cả khi gạt nước mắt vì những thất bại, vỡ mộng, dằn vặt, ta vẫn chắc chắn rằng khổ đau vẫn còn hơn không-là-gì-cả. Và nếu ta áp dụng điều này với sự sống, với nan đề có sinh ra hay không, từng tế bào thần kinh trên cơ thể ta gào lên rằng được sinh ra còn hơn là không được sinh ra. Nhưng liệu ta có thể áp đặt cách biện luận này với con? Chẳng phải điều đó có nghĩa là ta đang đem con đến với thế giới này chỉ vì bản thân ta và không vì ai khác? Ta không quan tâm đến việc đem con đến thế giới này chỉ vì bản thân ta và không vì ai khác. Ta chẳng cần gì con cả.       -- 2 --   Con chẳng gửi cho ta hồi đáp nào, con chẳng tỏ dấu hiệu nào. Mà sao con có thể làm được điều đó kia chứ? Mới chỉ quá ít thời gian: nếu ta có hỏi bác sĩ về sự tồn tại của con, ông ta sẽ chỉ mỉm cười. Nhưng ta đã quyết định thay con: con sẽ được sinh ra. Ta quyết định như thế sau khi nhìn thấy con trong bức ảnh. Đó không phải là ảnh con, đương nhiên rồi, mà là hình ảnh phôi thai được ba tuần tuổi, in trên một tạp chí trong bài viết về quá trình hình thành sự sống. Khi nhìn bức ảnh, nỗi sợ trong ta tan biến cũng nhanh như khi nó đến. Con trông như một bông hoa huyền bí, một bông hoa lan trong suốt. Phía trên có thể nhìn thấy một thứ như cái đầu với hai khối tròn rồi sẽ phát triển thành bộ não. Phía dưới đó là một cái hốc sẽ phát triển thành khoang miệng. Lúc con ba tuần tuổi, gần như không thể nhận thấy con – chú thích ghi như thế. Hai mi li mét rưỡi. Tuy vậy, trong con đang lớn dần thứ sẽ thành đôi mắt, một thứ gì đó trông tựa như cột sống, hệ thần kinh, dạ dày, gan, ruột, phổi. Tim con đã hiện hữu và khá to: tính theo tỷ lệ thì lớn hơn tim ta chín lần. Nó bơm máy và đập đều đặn kể từ ngày tuổi thứ mười tám: làm sao ta có thể vứt bỏ con? Với ta, con hình thành do tình cờ hay do sai lầm thì cũng không quan trọng, chẳng phải thế giới chúng ta đang sống cũng khởi đầu do tình cờ, hay có lẽ là từ một sai lầm nào đó sao? Nhiều người bảo rằng ban đầu chẳng có gì cả, tất cả chỉ là một sự bình lặng khủng khiếp, một sự tĩnh lặng vô cùng; thế rồi có ánh lóe sáng, một sự chia tách, và cái chưa từng tồn tại giờ xuất hiện. Sự chia tách ngay sau đó được nối tiếp bằng những chia tách khác: càng lúc càng khó dự đoán, càng lúc càng điên rồ, bất chấp hệ quả… Và trong số những hệ quả đó xuất hiện một tế bào, cũng là vì tình cờ hoặc có lẽ do nhầm lẫn, mà ngay lập tức nó được nhân lên hàng triệu, hàng tỉ lần cho đến khi cây cối, cá, và con người được sinh ra. Con nghĩ có ai cân nhắc nan đề này trước khi có cái lóe sáng kia không? Con nghĩ có ai băn khoăn chuyện tế bào đó có thích hay không? Con nghĩ có ai bận tâm đến sự đói khát, lạnh lẽo, bất hạnh của tế bào đó không? Ta không nghĩ là có. Kể cả nếu có ai đó – ví như một vị Chúa sánh với sự khởi thủy của thuở hồng hoang ban đầu, vượt khỏi không gian và thời gian – thì ông ta cũng sẽ không bận tâm tới cái tốt và cái xấu. Mọi thứ đã xảy ra vì nó có thể xảy ra, cho nên nó đã phải xảy ra, theo một đòi hỏi là sự đòi hỏi duy nhất về tính chính đáng. Và mọi việc diễn ra với con cũng như thế. Ta chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Ta làm thế không phải vì ích kỷ, con ạ: ta thề là việc đưa con đến thế giới này không hề khiến ta thích thú. Ta không thấy cảnh mình đi trên phố với cái bụng căng phồng, ta không thấy cảnh mình cho con bú, tắm cho con, dạy con tập nói. Ta là một phụ nữ đang đi làm và ta có nhiều ràng buộc khác, nhiều mối quan tâm khác: ta đã nói rồi, ta không cần con. Dẫu vậy, ta vẫn sẽ đồng hành cùng con, dù con có thích hay không. Ta sẽ áp đặt lên con chính những đòi hỏi đã áp đặt lên ta, lên mẹ của ta, bà của ta, cụ của ta, cứ thế cho đến tận sinh linh đầu tiên được một con người sinh ra, dù sinh linh đó có thích hay không. Có lẽ nếu sinh linh đó được phép lựa chọn, nó sẽ kinh hãi mà rằng: không, tôi không muốn được sinh ra. Nhưng chẳng ai hỏi ý kiến nó, thế nên nó được sinh ra, sống rồi chết đi sau khi đã sinh ra một sinh linh khác cũng không được hỏi để lựa chọn, và rồi hết sinh linh này tới sinh linh khác cứ lặp lại y hệt, cứ thế suốt hàng triệu triệu năm cho tới thời đại chúng ta. Và mỗi lần đều có một sự áp đặt mà thiếu nó, chúng ta không thể tồn tại. Hãy dũng cảm lên con! Con nghĩ hạt cây không cần dũng cảm để xuyên thủng mặt đất và đâm chồi ư? Chỉ cần một con gió cũng đủ quật gãy chồi cây, chỉ cần bàn chân của một con chuột nhắt là đủ nghiền nát nó. Nhưng nó vẫn đâm chồi và đứng vững, rồi trưởng thành để phát tán những hạt khác. Và trở thành một phần của cánh rừng. Nếu một ngày nào đó con hét lên: “Tại sao mẹ lại đem con đến thế giới này, tại sao?” Ta sẽ trả lời: “Ta đã làm điều mà những cái cây đã và đang làm, từ hàng triệu triệu năm nay. Ta đã nghĩ đó là điều đúng, nên làm.”   Mời các bạn đón đọc Thư Gửi Đứa Trẻ Chưa Từng Sinh Ra của tác giả Oriana Fallaci.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Luật Chơi - Phan Hồn Nhiên
Ta đang sở hữu tình trạng hoàn hảo của một cỗ máy thực thụ. Thế giới vận hành theo cách chúng ta đang đối diện mỗi ngày, hay bên dưới bề mặt kia còn cất giấu các bí mật, những thay đổi ngầm sẽ bẻ ngoặt nó sang lộ trình mới? Tất cả chúng ta, đến một lúc nào đó, đều sẽ phải rời khỏi nơi chốn cũ. Chỉ có bước ra bên ngoài vỏ bọc an toàn, theo đuổi mục đích của chính mình, ta mới trở thành con người mà ta hằng mong muốn Cùng với Hiện thân, Máu hiếm, Luật chơi là cuốn tiếp theo trong series sách sci-fi của Phan Hồn nhiên! *** Một cuộc sống đúng như các chàng trai cô gái hôm nay đang sống. Một chương trình truyền hình mọi người vẫn xem mỗi tuần. Một ngôi nhà, một căn phòng đã quen thuộc. Bỗng, chỉ sau một buổi tối ra khỏi nhà, khi trở về, mọi thứ vây quanh Lâm thay đổi hoàn toàn. Những người ngỡ như có thể tin cậy nhất, các nơi chốn tưởng chừng an toàn nhất, với cậu, lại cất giấu nhiều nguy hiểm nhất. Một cuộc phiêu lưu mở ra trước mắt Lâm. Cậu nhập cuộc, tham gia cuộc chiến đấu liên quan đến vấn đề sinh – tử. Khởi đầu âm thầm và được dẫn dắt bởi nỗi sợ hãi, cho đến một lúc, cuộc phiêu lưu của chàng trai trẻ biến thành một hành trình chủ động. Nhân vật chính thực hiện tiến trình biến đổi quan trọng, từ một chàng trai tuổi teen trở thành nhân vật được lựa chọn, một người chiến đấu và chiến thắng. Mang phong cách sci-fi, Luật Chơi mang theo những âm mưu và bí mật buộc bạn không ngừng phân tích, lý giải và khám phá. Các nhân vật sẽ tiến vào lãnh địa đầy thử thách của khoa học hiện đại, tiếp cận một số gợi mở bất ngờ của nghệ thuật. Và như tất cả những chàng trai cô gái tuổi 17, họ cũng bước vào thế giới của tình yêu, tìm thấy các rung động đầu đời, và nhận ra những điều lớn lao phía sau tình yêu ấy. Thông qua hình ảnh “gap year” mà nhân vật chính trải qua, Luật Chơi gửi đến bạn thông điệp mạnh mẽ về thời gian chuyển tiếp mà người trẻ sẽ trải nghiệm. Nhận biết con người thật của chính mình cũng như con người mà mình muốn trở thành, Lâm không ngừng bước để đạt đến mục tiêu. Nhưng, trên con đường cậu đi, những gì đồng hành với cậu mới là điều đáng giá nhất. *** Phan Hồn Nhiên (sinh năm 1972) là một nữ nhà văn Việt Nam, tác giả của những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn hiện đại và tưởng tượng. Chị bắt đầu viết sách từ năm 1992 và đã có nhiều cuốn sách ra mắt được đông đảo công chúng trên cả nước đón nhận. Sinh ra tại Hà Nội, nhưng Phan Hồn Nhiên sống tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm lên 5 tuổi. Ba là kỹ sư nông nghiệp người miền Nam, còn mẹ là là bác sĩ thú y người Hà Nội. Chị tốt nghiệp trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn và sau đó là bằng cử nhân tại trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội vào năm 1999. Sau đó, chị trở thành nhà báo, quản lý biên tập viên tại Tạp chí Sinh viên Việt Nam. Hai trong số các cuốn sách của chị đã được chuyển thể thành những bộ phim truyền hình. Tài năng của nhà văn Phan Hồn Nhiên nhanh chóng bộc lộ sau khi bà giành vị trí thứ hai trong cuộc thi nhà văn trẻ được tổ chức bởi báo Hoa Học Trò. Năm 2009, chị đã được trao giải thưởng của Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh cho tập truyện ngắn Cánh Trái. Năm 2011, chị giành giải thưởng Sách Quốc gia cho cuốn sách Xúc cảm nguy hiểm và cũng trong năm đó, chị đã tham gia Chương trình Viết văn quốc tế tại Iowa, Mỹ. Hiện là biên tập viên, làm việc tại báo Sinh Viên Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM năm 2010; Uỷ viên Hội đồng Văn xuôi của Hội khoá VII (2015-2020). Sự nghiệp viết văn của Phan Hồn Nhiên đến nay đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng với đông đảo quần chúng bạn đọc trên cả nước, bao gồm các tiểu thuyết, truyện ngắn • Tác phẩm đã xuất bản: - Ngựa thép (tiểu thuyết - NXB Trẻ) - Cánh trái (tập truyện ngắn - NXB Văn Nghệ) - Đồi mùa hè (tập truyện ngắn - NXB Văn học) - Công ty (truyện dài - NXB Trẻ) - Mắt bão (truyện dài - NXB Văn Nghệ) - The Joker (truyện dài - NXB Trẻ) - Một nắm mưa trên ngôi nhà Mondrian (in chung Vũ Đình Giang - NXB Trẻ) • Tác phẩm viết riêng cho tuổi teen đã xuất bản: - Bộ ba fantasy: Những đôi mắt lạnh, Chuỗi hạt Azoth, Xuyên thấm (3 truyện dài - NXB Kim Đồng) - Bộ ba Sci-fi: Máu hiếm, Luật chơi, Hiện thân (3 truyện dài - NXB Trẻ) - Nằm ở lưng đồi (tập truyện ngắn - NXB Trẻ) - Dạt vòm (truyện dài - NXB Kim Đồng) - Giao mùa (tập truyện ngắn - NXB Kim Đồng) - Cú nhảy ban mai (tập truyện ngắn - NXB Kim Đồng) - Băng ghế mùa thu (tập truyện ngắn - NXB Kim Đồng) - Người mưa (tập truyện ngắn - NXB Kim Đồng) - Xúc cảm nguy hiểm (tập truyện ngắn - NXB Kim Đồng) • Giải thưởng - Vị trí thứ hai trong cuộc thi Nhà văn trẻ của Báo Hoa Học Trò. - Giải thưởng Nhà văn trẻ của Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009. - Giải thưởng Sách Quốc gia năm 2011. - Giải đồng Sách hay Việt Nam cho tác phẩm Xúc cảm nguy hiểm năm 2012. Mời các bạn đón đọc Luật Chơi của tác giả Phan Hồn Nhiên.
Chàng Sumô Không Thể Béo - Éric-Emmanuel Schmitt
Jun, cậu bé mới lớn bỏ nhà lên thủ đô kiếm sống bằng nghề bán tiểu thuyết-ảnh ở một góc ngã tư. Jun dị ứng với tất thảy, với con người, với cả những người ruột thịt gần nhất: người bố đã tự tử vì sức ép công việc quá lớn, người mẹ đã cư xử như một thiên thần với mọi người mà không dành cho cậu sự ưu ái nào. Jun sống trong nỗi tuyệt vọng đó cho đến ngày cậu gặp một ông lão cứ nhắc đi nhắc lại như đinh đóng cột: “Ta thấy một người to lớn trong cậu.” Câu thần chú ấy chính là một sự khởi đầu, để tạo nên một nhân vật hết sức đặc biệt: một chàng sumô không thể béo... Với cuốn sách đậm chất ngụ ngôn này, Éric-Emmanuel Schmitt đã chứng tỏ một điều: sách mỏng không đồng nghĩa với sách nhẹ ký. *** Thủ đô Tokyo - Nhật, những năm 2000. Cậu bé Jun 15 tuổi sống lang thang trên đường phố Tokyo bằng cách bán những thứ khá bệnh hoạn: các con vịt có ngực, những hình phụ nữ khỏa thân bằng nhựa... để bỏ vào bồn tắm. Jun bỏ nhà ra đi được vài năm. Mẹ cậu cư xử như một thiên thần với tất cả mọi người, nhưng lại vô tâm và thờ ơ với chính cậu. Bố cậu - tự tử vì sức ép công việc quá lớn - người mà "Nếu ai đó bảo con vẽ bố, có lẽ con sẽ vẽ cái máy cạo râu trong phòng tắm, cái tên trên hộp thư báo, cái tủ có ba đôi giày và hai bộ quần áo tối màu; có lẽ con sẽ vẽ cả sự yên lặng... Nhiều bạn của con không được gần gũi bố nhưng đa phần chúng nó đều có quyền có một người-cha-trong-các-kỳ-nghỉ. Con ấy à, con đã rất thích có được điều đó, có một người-cha-trong-các-kỳ-nghỉ, một ông mặc quần short, trông buồn cười, động viên, kiên trì dạy con làm đống thứ linh tinh...". Những trải nghiệm cay đắng từ gia đình đã làm biến đổi thế giới quan cũng như tính cách của Jun, khiến cậu phát triển "một thứ mỹ cảm lộn ngược, một thứ mỹ cảm gắn liền với những dị dạng của mình", khiến cậu căm ghét đồng loại: "Tôi dị ứng với tất cả. Không có gì lôi cuốn tôi, tôi ghê tởm tất cả, sống làm cho tôi ngứa ngáy, hít thở làm tôi nổi cáu, nhìn xung quanh khiến tôi muốn đâm đầu vào tường cho phọt óc, quan sát loài người làm tôi thấy buồn nôn, chịu đựng lời nói của họ làm da tôi phủ đầy vẩy eczema, lại gần sự xấu xí của họ làm tôi rùng mình... Tóm lại, tôi đã vò nặn cuộc đời tôi theo sự què quặt của tôi". Nhưng cuộc gặp gỡ với ông già Shomintsu kỳ lạ trên đường đã làm cuộc sống của Jun hoàn toàn thay đổi. Ông già ấy luôn luôn nhắc đi nhắc lại với cậu bé còi xương, hai đầu gối quặt vào trong và yết hầu lồi ra: "Ta thấy một người to lớn trong cậu". Câu nói "thần chú" này là khởi đầu để tạo nên một nhân vật hết sức đặc biệt: một chàng sumô không thể béo... Đó chính là khởi đầu kỳ diệu để Jun xóa bỏ quá khứ cùng những sức nặng tâm lý ngăn cậu trở thành một đô vật sumo thực thụ. Jun đã học được cách chế ngự bản thân qua tập luyện và thiền định, đồng thời vươn tới tầm cao của sự hiểu biết chính mình. Sự thù hận đồng loại trong cậu cũng biến mất, và ở điểm kết thúc của câu chuyện, Jun còn tìm thấy tình yêu. Văn phong giản dị nhưng cô đọng, ngôn từ mộc mạc mà chọn lọc, cuốn sách đậm chất ngụ ngôn và triết lý của cây viết tài năng Éric-Emmanuel Schmitt đã chứng tỏ một điều: sách mỏng không đồng nghĩa với sách nhẹ ký. Đọc Chàng sumo không thể béo, bạn sẽ biết về: - Cách làm chủ dòng suy nghĩ và dung hòa cảm xúc - Vẻ đẹp của tình mẫu tử và tình cảm gia đình. - Một tỷ điều thú vị và tinh tế về môn vật sumo mà có thể những định kiến hời hợt nào đó (nếu có) khiến ta có suy nghĩ lầm lẫn về môn thể thao này. - Chân dung nước Nhật hiện đại và tinh thần võ sĩ bất diệt ở đất nước mặt trời phương Đông. - Cách hàn gắn nỗi đau và sự tuyệt vọng. - Cách nhìn nhận và đánh giá đúng bản thân. - Cách hiểu rõ chính mình. - Cách lắng nghe và truyền cảm hứng. - Sự lạc quan lành mạnh. Nói về cuốn sách này, tờ Le Point của Pháp nhận định: "Cùng lúc đơn giản và phức tạp, cùng lúc sáng rõ và khiến người ta phải bối rối. Ai cũng có thể nhận ra mình trong đó"... còn Le Pèlerin thì bình "đúng chất" Eric-Emanuelle: "Đừng e ngại, cuốn sách này sẽ không khiến bạn béo ra mà chỉ khiến bạn lớn lên thôi". ... Mời các bạn đón đọc Chàng Sumô Không Thể Béo của tác giả Éric-Emmanuel Schmitt.
Thợ Săn Vàng - James Oliver Curwood
Trong tiểu thuyết “Thợ Săn Vàng", Curwood kể về những cuộc mạo hiểm ly kỳ hấp dẫn của Roderick Drew, một chàng trai da trắng và hai thổ dân da đỏ - Mukoki, một chiến binh già và Wabigoon, bạn học của Roderick. Họ lên đường đi giải cứu Minnetaki, em gái của Wabigoon, bị bọn cướp Woonga bắt cóc. Sau khi đã giải cứu được cô gái da đỏ, họ lại tiếp tục cuộc hành trình bằng thuyền độc mộc đi ngược dòng lên những ngọn núi thâm u miền Viễn Bắc để truy lùng một mỏ vàng thất lạc, từ một tấm bản đồ cổ được vẽ cách đó nửa thế kỷ. Câu chuyện được thuật lại vô cùng sinh động và hấp dẫn, và mang lại cho bạn đọc nhiều kiến thức về đời sống và con người ở vùng cực Bắc Canada vào khoảng đầu thế kỷ 20. Chúng tôi hy vọng các bạn sẽ cảm thấy thích thú với bản dịch này. Và cũng hy vọng sẽ có cơ hội tiếp tục giới thiệu thêm những bản dịch các tác phẩm hay nhất của nhà văn James Oliver Curwood cùng các bạn. *** James Oliver Curwood (12/6/1878 - 13/8/1927) là một tiểu thuyết gia và nhà bảo vệ môi trường người Mỹ. Chào đời ở Owosso, Michigan, ông rời trường trung học khi chưa tốt nghiệp, nhưng vẫn vượt qua những bài thi tuyển của Đại học Michigan, sau đó theo học chuyên ngành báo chí. Năm 1900, Curwood bán truyện ngắn đầu tay khi làm việc cho tờ Detroit News-Tribune. Năm 1909, ông du hành tới miền bắc Canada, chuyến đi này đã gợi hứng cho những câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm trong miền hoang dã Viễn Bắc của ông. Với thành công của những quyển tiểu thuyết này, ông tiếp tục trở lại vùng Alaska và Yukon mỗi năm vài tháng, và viết hơn ba mươi cuốn tiểu thuyết cùng chủ đề đó. Nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim do ngôi sao điện ảnh Nell Shipman thủ diễn với vai trò của một phụ nữ can đảm, ưa thích mạo hiểm. Rất nhiều phim đã được dựng trong thời kỳ Curwood đang sống, cũng như sau khi ông qua đời, suốt cho tới thập niên 1950. Năm 1988, đạo diễn Pháp Jean Jacques Annaud đã dựng cuốn tiểu thuyết thứ mười sáu của ông - “The Grizzly King” (Vua gấu xám) thành phim L’Ours. Thành công của Annaud đã khuấy động những quan tâm mới tới những cuốn tiểu thuyết của Curwood, và từ 1994-1995 đã có thêm năm bộ phim nữa ra đời trên cơ sở các kịch bản chuyển thể từ những câu chuyện của ông. Cho tới năm 1922, các tác phẩm của Curwood giúp ông trở thành người giàu có và ông đã hoàn thành giấc mơ thời thơ ấu của mình với việc xây dựng Lâu đài Curwood ở Owosso. Là một người hăng say cổ động cho việc bảo vệ môi trường, Curwood được đề cử vào Ủy ban Bảo vệ môi trường Michigan năm 1926. Năm sau, trong một chuyến đi câu ở Florida, ông bị một con nhện độc cắn vào đùi và bị dị ứng ngay lập tức. Những sa sút sức khoẻ liên quan tới vết cắn đó kéo dài suốt mấy tháng sau và dẫn tới cái chết vì hoại huyết của ông vào tháng 8/1927. Ông được chôn cất tại Nghĩa trang Oak Hill ở Owosso. Toà lâu đài của ông hiện trở thành viện bảo tàng Curwood. Hàng năm, vào dịp nghỉ cuối tuần đầu tiên của tháng Sáu, thành phố Owosso tổ chức Lễ hội Curwood để chúc tụng truyền thống của mình. Ông còn được vinh danh với việc được lấy tên để đặt cho một ngọn núi ở L’Anne Twonship, Michigan, Núi Curwood, và Công viên L’ Anne Township được đổi tên thành Công viên Curwood. • Các tác phẩm chính: — Những tay thợ săn sói (The Wolf Hunters - 1908). — Thợ săn vàng (The Gold Hunters - 1909). — Đoá hoa miền Bắc (The Flower of the North - 1912). — Kazan (1914). — Người đàn bà bị săn đuổi (The Hunted Woman - 1916). — Vua gấu xám (The Grizzly King - 1916). — Baree - con trai của Kazan (Baree, Son of Kazan – 1917). — Thung lũng của những kẻ im lặng (The Valley of Silent Men –1920). — Cái bẫy thú bằng vàng (The Golden Snare –1921). *** Sự im lặng sâu thẳm của ban trưa bao trùm lên cánh rừng Canada mênh mông quạnh vắng. Những con nai sừng tấm và tuần lộc đã ăn no từ sớm mai đang lặng lẽ nghỉ ngơi trong hơi ấm của mặt trời tháng Ba. Con mèo rừng nằm cuộn mình trong cái hang giữa những tảng đá lớn của nó, chờ đợi ánh mặt trời chìm xuống phương tây để khởi sự săn mồi. Con cáo đang ngủ giấc trưa và những chú chim sâu hay chộn rộn lười nhát rỉa lông dưới ánh nắng ấm áp đang làm tan chảy lớp tuyết cuối đông. Đó chính là lúc một người thợ săn già nào đó tháo chiếc ba lô khỏi người, lặng lẽ thu nhặt củi để nhóm lửa, ăn bữa trưa và khoan khoái rít chiếc tẩu thuốc, tai và mắt đầy cảnh giác, chính lúc đó, nếu bạn chỉ nói lớn hơn tiếng thì thầm một chút thôi, ông ta sẽ bảo bạn: “Suỵt! Hãy im lặng! Anh không biết chúng ta đã đến gần con mồi thế nào đâu. Mọi con vật đã ăn xong bữa sáng và nằm nghỉ. Con mồi sẽ bất động khoảng một hai giờ, và có lẽ những con nai hoặc tuần lộc ở phía trước chỉ cách một tầm đạn mà thôi. Giờ thì chúng ta không thể nghe thấy chúng!” Một lúc sau, có một con vật bắt đầu thoát ra khỏi trạng thái im lặng bất động. Đầu tiên, nó chỉ là một chấm đen trên phía tràn ánh nắng của đỉnh đồi phủ tuyết. Rồi nó cử động, duỗi dài thân hình như một con chó, hai chân trước của nó duỗi ra và vai nó hạ thấp xuống – đó là một con sói. Sói là loài thú ngủ rất ngon lành sau một bữa no. Một tay thợ săn giỏi có thể biết rằng con sói này đã ăn no vào đêm trước. Tuy nhiên, đã có cái gì đó đánh thức nó. Mơ hồ xuất hiện trước con vật nhạy cảm nhất trong số những cư dân của rừng một thứ mùi – mùi của con người. Nó đi xuống dốc núi với vẻ chậm chạp hờ hững của một con thú đã no nê, và với chỉ nửa phần sự khéo léo vốn có của nó; chạy chầm chậm trên lớp tuyết mềm của khe núi và dừng lại nơi mùi của con người đậm đặc đến nỗi nó ngóc mõm lên trời và gửi tới các bạn cùng đàn trong rừng một dấu hiệu cảnh báo rằng nó đã phát hiện ra sự có mặt của con người. Một con sói chỉ làm như thế vào ban ngày. Khi đêm xuống, nó và đồng bọn có thể khởi sự cuộc săn tìm, nhưng dưới ánh sáng ban ngày nó chỉ lên tiếng cảnh báo rồi nhanh chóng lẩn xa khỏi dấu vết. Nhưng có một cái gì đó giữ nó lại. Có một điều bí ẩn trong không khí làm nó bối rối. Ngay phía trước có vết rộng và êm của một chiếc xe trượt tuyết và dấu chân của nhiều con chó. Khoảng một giờ trước chuyến xe chở thư từ Bưu cục Wabinosh đã chạy ngang con đường này trên chuyến hành trình dài đến thế giới văn minh. Nhưng không phải cuộc di chuyển vừa qua của người và chó khiến cho con sói đang cảnh giác cao độ, sắp sửa chuồn đi mà vẫn chần chừ. Đó là điều gì đó từ hướng đối diện, hướng Bắc, đang đến theo cơn gió. Đầu tiên là những tiếng ồn, rồi đến các mùi, rồi cả hai, và con sói chạy vụt lên sườn núi tràn ánh nắng. Từ phía tiếng ồn và mùi lạ xuất hiện có một cái hồ, và trên bờ phía kia của nó, cách đấy khoảng một phần tư dặm, đột nhiên lao ra từ bìa rừng thông rậm rạp một đám người, xe trượt tuyết và chó. Trong khoảnh khắc, cái khối thú vật đó dường như bị vướng vào một sự hỗn loạn, một kiểu đánh nhau tàn bạo thường xảy ra giữa những con chó lai sói kéo xe ở miền Bắc. Rồi có tiếng ra lệnh sắc đanh của con người, tiếng roi quật xé gió, tiếng oăng oẳng đau đớn của những con chó Eskimo, và đội hình rối loạn được chỉnh đốn trở lại, trở thành một sợi chỉ màu vàng xám băng qua mặt hồ đóng băng trơn trợt. Người đàn ông chạy bên cạnh cổ xe trượt. Ông ta cao, gầy, và dù ở khoảng cách khá xa người ta cũng có thể nhận ra đó là một thổ dân da đỏ. Khi chiếc xe trượt băng qua được một phần tư quãng đường trên mặt hồ, một chiếc xe trượt khác lao ra từ khu rừng rậm. Bên cạnh chiếc xe này cũng có một người đàn ông đang chạy với tốc độ liều mạng. ... Mời các bạn đón đọc Thợ Săn Vàng của tác giả James Oliver Curwood.
Tắt Đèn
Tắt đèn là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của nhà văn Ngô Tất Tố (tiểu thuyết, in trên báo Việt nữ năm 1937). Đây là một tác phẩm văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ XX dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Tác phẩm kể về nhân vật chính là chị Dậu. Trước khi lấy chồng chị vốn có tên là Lê Thị Đào, một cô gái đẹp, giỏi giang, tháo vát và (theo nhà văn là) sinh ra trong gia đình trung lưu. Vốn lúc đầu, gia cảnh anh chị Dậu có dư dả, nhưng vì liền lúc mẹ và em trai anh Dậu cùng qua đời, anh chị dù đã hết sức cần kiệm nhưng vẫn phải tiêu quá nhiều tiền cho hai đám ma chay. Chưa hết, sau khi đám ma cho em trai xong, anh Dậu bỗng mắc bệnh sốt rét, không làm gì được, mọi vất vả dồn lên vai chị Dậu, khiến gia cảnh lâm vào'nhất nhì trong hạng cùng đinh' trong làng. Mùa sưu đến, chị Dậu phải chạy vạy khắp nơi vay tiền để nộp cho chồng, nhưng không kiếm đâu ra. Anh Dậu dù bị ốm nhưng vẫn bị bọn cai lệ cùm kẹp lôi ra giam ở đình làng. Cuối cùng, bần quá, chị buộc lòng phải dứt ruột bán đi cái Tí, đứa con gái đầu lòng 7 tuổi ngoan ngoãn hiếu thảo, và ổ chó mới đẻ cho vợ chồng lão Nghị Quế để lấy hai đồng nộp sưu. Nhưng vừa đủ tiền nộp sưu cho chồng, bọn cai trong làng lại ép chị nộp cả tiền sưu cho em trai anh Dậu với lý do chết ở năm ta nhưng lúc đó lịch năm tây đã sang năm mới. Vậy là anh Dậu vẫn bị cùm kẹp không được về nhà. Nửa đêm, anh Dậu dở sống dở chết được đưa về. Được bà con lối xóm giúp đỡ, anh dần tỉnh lại. Một bà lão hàng xóm tốt bụng cho chị bò gạo nấu cháo để anh ăn lại sức. Nhưng vừa kề bát cháo lên miệng, bọn cai lệ và người nhà lý trưởng ập vào ép sưu. Chị Dậu ra sức van xin không được, cuối cùng uất ức quá không thể chịu được nữa, chị đã ra tay đánh cả cai lệ và tên người nhà lý trưởng. Phạm tội đánh người nhà nước, chị bị thúc giải lên quan. Tên quan huyện lại là tên dâm ô, định ra tay sàm sỡ chị. Chị bèn vứt tọt nắm bạc vào mặt hắn rồi vùng chạy. Sau đó, chị may mắn gặp một người nhà quan cụ trên tỉnh. Người này cho chị 2 đồng nộp nốt tiền sưu và hứa hẹn cho chị công việc vắt sữa để quan cụ uống (do quan cụ đã rụng hết răng không ăn được cơm). Chị bèn về bàn với anh Dậu, cho cái Tỉu làm con nuôi nhà hàng xóm, lên tỉnh làm việc. Thời gian đầu, chị làm được tiền và gửi về cho anh Dậu. Nhưng vào một đêm tối, quan cụ mò vào buồng của chị định dở trò đồi bại với chị... Tác phẩm kết thúc bằng câu "Chị vùng chạy ra ngoài giữa lúc trời tối đen như mực, đen như cái tiền đồ của chị vậy!" *** Bắt đầu từ gà gáy một tiếng, trâu bò lục-tục kéo thợ cầy đến đoạn đường phía trong điếm tuần. Mọi ngày, giờ ấy, những con-vật này cũng như những người cổ cầy, vai bừa kia, đã lần-lượt đi mò ra ruộng làm việc cho chủ. Hôm nay, vì cổng làng chưa mở, chúng phải chia quãng đứng rải-rác ở hai vệ đường, giống như một lũ phu vờ chờ đón những ông quan lớn. Dưới bóng tối của rặng tre um-tùm, tiếng trâu thở hì-hò, tiếng bò đập đuôi đen- đét, sen với tiếng người khạc khúng-khắng. Cảnh-tượng điếm tuần thình-lình hiện ra trong ánh lửa lập-lòe của chiếc mồi rơm bị thổi. Cạnh giẫy sào, giáo ngả nghiêng dựng ở giáp tường, một lũ tuần-phu lố-nhố ngồi trên lớp chiếu quằn-quèo. Có người phì-phò thổi mồi. Có người ve-ve mồi thuốc và chìa tay chờ đón điếu đóm. Có người há miệng ngáp dài. Có người đang hai tay dụi mắt. Cũng có người gối đầu trên cái miệng hiệu sừng trâu, ngảnh mặt vào vách mà ngáy. Cái điếu cày và cái đóm lửa bị năm, sáu người chuyền tay, chiếu đi, chiếu lại độ vài ba vòng, ánh lửa lại tắt, trong điếm chỉ còn tiếng nói chuyện rầm-rầm. Gà gáy giục. Trời sáng mờ-mờ. Trâu bò, con đứng, con nằm, thi nhau quai hai hàm răng nhai trầu xuông và nhả ra những cục nước bọt to bằng cái trứng. Thợ cầy khắp lượt dùng bắp cầy, vai cầy làm ghế ngồi, cùng nhau bàn tán băng-cua về chuyện sưu thuế. Những con chèo-bẻo chẽo-choẹt hót trên ngọn tre, như muốn họa lại khúc ca réo-rắt - mà người quê vẫn gọi là khúc váy cô, cô cởí - của mấy con chào-mào đậu trên cành xoan, đon- đả chào vẻ tươi đẹp của cảnh trời buổi sáng. Toang cổng vẫn đóng chặt. Tuần-phu lại lần lượt thổi mồi hút thuốc lào. - Ông Trương ơi, ông làm ơn mở cổng cho tôi đánh trâu ra đồng ạ. Mọi ngày bây giờ tôi đã cầy được ba sào ruộng rồi. Hôm nay, bây giờ còn nhong-nhóng ở đây... Phỏng chừng từ giờ đến trưa, cầy sao cho xong cái ruộng mẫu hai? Thôi ông làm phúc, làm đức... Sau tiếng năn-nỉ của anh chàng cục-mịch, vai vác cầy, tay cầm thừng trâu, trương-tuần quẳng cái điếu cầy xuống đất, thở nốt khói thuốc trong miệng, rồi giương đôi mắt say thuốc lờ- đờ: - Nay chẳng xong thì mai! Ông Lý đã bảo thuế còn thiếu nhiều, không cho một con trâu, con bò nào ra đồng hết thảy... - Thưa ông, ông chủ tôi nóng tính lắm kia! Ông ấy đã dặn buổi nay tôi phải cầy cho xong ruộng ấy, nếu không xong, đến trưa về ăn cơm, ông ấy mắng như tát nước và nói như móc cơm ra... Chớ tôi có muốn vất-vả vào mình làm gì? Vả lại, ông Lý sai tuần đóng cổng, cốt để bắt trâu, bắt bò của người thiếu thuế kia chứ! Ông chủ tôi nộp thuế đủ từ hôm qua rồi, xin ông mở cổng cho tôi...! Trương-tuần nhăn mặt: - Tôi không phải tộc-biểu, không phải phần thu, biết điếc gì đâu ông chủ anh nộp thuế rồi hay chưa nộp. Bây giờ mở cổng cho anh, chốc nữa ông Lý ông ấy chửi cha tôi lên, anh có-nghe hộ tôi không? Anh chàng cục-mịch lủi-thủi đánh trâu gồng cầy lùi xuống, để nhường khu đất trước điếm cho người khác vác bừa và đuổi trâu lên. - Người ta trâu của nhà, ông chẳng cho ra thì chớ. Đây tôi, trâu thuê... đồng hai một buổi đáp, ông ạ. Xin ông lượng tình mà ngỏ cổng cho tôi ra đồng kẻo trưa quá mất rồi. Người ấy nói tuy thiết-tha, trương-tuần chỉ đáp lại bằng cái lắc đầu: - Nếu trưa quá thì bừa luôn đến chiều. Trâu thuê sợ gì! - Thế được thì còn gì nói truyện gì nữa! Của một đống tiền, ai để cho mình ốp nó đến chiều? Chỉ đến non trưa, ông chủ có trâu cho thuê đã ra tận ruộng tháo vai trâu mà dắt trâu về, muốn bừa thêm một nửa đường nữa cũng không cho, ông ạ. Thôi! Mùa làm ăn, ông nghĩ lại...! - Tôi chẳng nghĩ lại, nghĩ đi gì cả! Bố tôi sống lại, bảo tôi mở cổng này bây giờ, tôi cũng xin chịu đừng nói anh... Người ấy lại vác bừa, đưa trâu trở lại chỗ cũ với cái sắc mặt thìu-thịu. Mặt trời ngấp nghé mặt lũy, muốn nhòm vào điếm. Tuần-phiên lẻ-tẻ vác sào, cắp chiếu, đeo hiệu đi về. Trong điếm chỉ còn trương-tuần duỗi gối kiểu gọng bừa, ngồi trên chiếc chiếu điểm những tro mồi, bã điếu, đốc suất mấy tên đàn em ở lại canh ngày. Xa xa nẻo trong đình, một hồi mõ cá thật dài, tiếp luôn đến trống ngũ-liên nện đủ ba hồi chín tiếng. ... Mời các bạn đón đọc Tắt Đèn của tác giả Ngô Tất Tố.