Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Manon Lescaut - Abbe Prevost

Đời văn của linh mục Prévost thật khác thường: người đương thời từng say mê chuyền tay nhau đọc những pho tiểu thuyết bề thế của Prévost, chăm chú lắng nghe những bài diễn giảng của ông. Nhưng đến đầu thế kỷ XIX, ánh hào quang của những áng văn đó đã lu mờ đi, những bài diễn giảng kia không còn hợp với khẩu vị của công chúng thời nay nữa. Và bản thân tên tuổi của Prévost chắc hẳn rồi cũng sẽ mai một, nếu ông không để lại tập Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô. Thiên truyện tuy chiếm một chỗ đứng hết sức nhỏ nhoi trong toàn bộ cái di sản văn chương khá đồ sộ của nhà văn, nhưng nó đã mang lại cho Prévost một vinh quang thực sự bất tử và đưa ông lên hàng những đại biểu lớn nhất của văn chương thế giới. Antoine Francois Prévost sinh ngày mồng 1 tháng Tư năm 1697 tại thành Eđen (tỉnh Arthur) trong một gia đình tư sản rất được trọng vọng. Hồi bé, cậu học tại quê nhà, trong một trường sơ học của dòng Jésuistes. Bước sang tuổi thiếu niên, Prévost đã được bố mẹ thu xếp để cậu con sẵn sàng dấn thân vào con đường phụng sự Chúa. Vừa chớm đến tuổi trưởng thành, năm 16 tuổi, ông đã là sinh đồ của một chủng viện dòng Jésuistes ở Paris. Tại đây, người ta đã nhanh chóng nhận ra những khả năng xuất sắc của chàng trai, nên chỉ hai năm sau (1715), Prévost đã được gửi tới thị trấn La Flèche, theo học tại một trong những cơ sở đào tạo lớn nhất thời bấy giờ – trường Henri IV. Theo chương trình học thì tại đây, Prévost sẽ phải nghiền ngẫm giáo lý, triết học và các khoa học nhân văn khác. Nhưng mới học chưa đầy một năm, chẳng rõ vì lý do gì, ông đã từ giã La Flèche, ra đi. Từ đó, Prévost bắt đầu dấn thân vào không biết cơ man nào là những cuộc phiêu lưu, để cho miệng thế đã không ngớt lời dèm pha, thêu dệt nên đủ mọi thứ chuyện trong suốt nhiều năm sau đó. Các nhà văn học sử đã phải tốn khá nhiều giấy mực mới đẩy lùi được những lời đơm đặt nhảm nhí, bôi lọ tiểu sử của Prévost. Nhưng chỉ cần tính riêng những điều không thể chối cãi được trong đời tư của nhà văn, ta cũng đủ thấy ông đã phải sống một cuộc đời hết sức phức tạp, đầy sóng gió và mâu thuẫn, nhất là trong những năm còn đang độ trẻ trung. Rời La Flèche, Prévost sung ngay vào quân đội, làm một anh lính thường. Tòng ngũ chưa đầy hai năm, ông lại muốn về lại với cuộc sống tu hành (năm 1719), nhưng đã bị cự tuyệt. Prévost tức tốc sang ngay La Mã, hy vọng rằng sẽ cạy cục được các đấng bề trên của dòng Jésuistes cho mình được quyền tái nhập, để tiếp tục học hành. Nhưng giữa đường, chẳng may ông thọ bệnh. Một viên sĩ quan đã đứng ra giúp đỡ Prévost, đưa ông vào nhà thương và lo liệu cơm nước, thuốc thang. Nhưng chẳng bao lâu sau ông mới vỡ nhẽ ra rằng viên sĩ quan nọ chẳng phải chỉ vì nhân từ mà cưu mang ông; trong thâm tâm, gã còn nuôi một ý định khác: dụ dỗ chàng trai quay lại với cuộc đời binh nghiệp. Các khoản chi phí ông ta bỏ ra cho Prévost, chẳng qua chỉ như là món tiền ứng trước để ít nữa sẽ khấu vào đồng lương chú lính trẻ. Bởi thế, gã buộc Prévost phải tiếp tục tòng ngũ như trước. Để khỏi tái đăng bất đắc đĩ, Prévost bỏ sang Hà Lan. Được ít lâu, ông lại quay về quê, sống với gia đình. Có lẽ đây chính là thời kỳ nhà văn phải nếm trải cuộc phiêu lưu, tương tự như cuộc phiêu lưu tả trong thiên truyện nổi tiếng sau này. Cũng giống như nhân vật chính cuốn truyện, Prévost đã nhất quyết đi theo người tình mình yêu say đắm, đang bị cảnh sát bắt giữ, nhưng giữa đường thì lăn ra ốm, không còn kịp theo chân đám tù nhân kia, và từ đó mãi mãi mất hút tăm tích người yêu. Đau khổ và tuyệt vọng, Prévost bèn tìm cách lánh đời, và ông lại quay về với kinh bổn, nhưng lần này không phải trong dòng tu cũ, mà của dòng Bénédictin, vốn nổi danh với những trước tác khoa học, nhất là sử học nói riêng, Sau một năm thụ huấn, Prévost làm lễ tuyên thệ (1721). Nhưng ông không sao kham nổi nếp sống câu thúc giữa bốn bức tường âm u, và lòng vẫn không nguôi nhớ nhung cảnh sống phóng khoáng ngày nào. Quan hệ giữa ông với các vị chức sắc cai quản dòng tu cứ trở nên ngày một rắc rối dần. Bởi thế, chỉ trong vòng bảy năm thôi (1721-1728), Prévost đã phải tám lần thay đổi nơi tu luyện. Đó chính là thời kỳ Prévost bắt đầu lao vào sáng tác. Tại các trai phòng của tu viện Blanc-Manto và Saint-Germain des Prés, ông đã hoàn thành bốn tập đầu bộ Ký sự của một trang quý tộc lánh đời, thiên tiểu thuyết đã được coi là tác phẩm đã làm rạng danh cho tác giả. Hai tập đầu thiên truyện ra mắt công chúng vào đầu năm 1728. Sự xuất hiện của hai tập tiếp theo, tập III và tập IV, trùng với thời kỳ xảy ra một bước ngoặt ghê gớm trong đời nhà văn: ông bí mật trốn khỏi tu viện, lên đường về Paris. Dòng tu Bénédictin mưu toan ỉm đi vụ xì-căng-đan đó, thuyết phục ông quay về, nhưng vô hiệu. Bởi thế, họ đã phải nhờ đến viên cục trưởng cảnh sát kinh thành can thiệp, yêu cầu bắt giữ vị tu sĩ bỏ trốn. Ngày 6 tháng Một năm 1728, cảnh sát kinh thành ký lệnh bắt giam. Nhưng đáng nực cười là trong đơn kiện, dòng tu Bénédictin đã ghi rõ ràng kẻ bị truy nã là tác giả bộ Ký sự của một trang quý tộc - thiên truyện đang làm xôn xao dư luận Paris lác bấy giờ. Chỉ mươi hôm sau, ngày 19 tháng Một, kiểm duyệt cũng đã ký lệnh cho phép in tập III và tập IV Ký sự của một trang quý tộc. Hay tin cửa ngục đang mở rộng để chờ mình, Prévost hối hả rời quê nhà, sang Anh. Từ đó lại bắt đầu một chặng đường luân lạc mới là đồng thời cũng là giai đoạn hoạt động sáng tác sôi nổi nhất của nhà văn. Prévost tha hương từ năm 1729 đến hết năm 1734. Có thời, ông đã phải làm gia sư cho một quý tộc Anh, nhưng phần lớn thời giờ và tâm huyết lại dành cho viết lách. Năm 1751, Prévost bỏ sang Hà Lan. Trong chuyến đi này, chắc hẳn nhà văn đã mang sẵn trong hành trang Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô, và định đưa cho các nhà in ở Amsterđam xuất bản, Tuy nhiên, ngây ngất với những thành công tuyệt đỉnh của bộ Ký sự, các nhà kinh doanh sách Hà Lan chỉ muốn nhận từ tay ông những tập tiếp theo của bộ tiểu thuyết đó. Vì túng bấn, Prévost phải bắt tay viết tiếp hai tập nữa, mặc dù Ký sự hoàn toàn chẳng cần phụ thêm một dòng tục biên nào. Do nhu cầu thương mại, bộ tiểu thuyết đã được gắn thêm hai tập mới trong đó có một tập là Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô, mặc dù chính tác giả cũng đã phải thú thực trong Lời tựa ở đầu sách rằng câu chuyện tả ở đây chẳng hề liên quan gì với những biến cố đã thuật lại trong Ký sự. Như thế là, thiên truyện nhỏ khiến cho danh tiếng của linh mục Prévost trở nên bất tử đã ra mắt độc giả lần đầu ngay từ năm 1751, với tư cách là phụ lục của bộ Ký sự của một trang quý tộc mà ngày nay đã hoàn toàn bị lãng quên. Các sáng tác của Prévost sở dĩ được nhiều người hâm mộ trước hết là do tính hấp dẫn của chúng. Các tác phẩm của ông hầu như trang nào cũng vẽ lên một biến cố rất đỗi lôi cuốn – khi thì cảnh bắt cóc hoặc giết người, khi thì một cuộc truy nã, và đâu đâu cũng đầy rẫy những sự trùng khớp hết sức tình cờ, hành động tả ở đây phần nhiều đều diễn ra tại những căn nhà ẩm thấp, những lâu đài âm u, những cánh rừng hoang vắng hoặc những xứ sở xa lạ. Trong các nhân vật chính, bao giờ cũng phải có mặt một con “quỷ dữ”, tâm địa hắc ám, hành tích đầy bí ẩn, hiện thân cho cái ác. Người đọc còn bị lôi cuốn bởi những nét mới lạ mà Prévost lồng vào tính cách các nhân vật: tiểu thuyết nào của ông cũng khắc họa những con người tâm can bị thiêu đốt bởi những khát vọng mãnh liệt, có thể nuốt chửng hết thảy mọi thứ trên đời và lí trí không sao cưỡng nổi. Và niềm khát vọng giữ vai trò chủ chốt ở đây phần nhiều đều là những mối tình say đắm. Tình yêu trong các sáng tác của linh mục Prévost là thứ khát vọng tiền định, bản năng, không sức nào kiềm chế nổi, và phần nhiều đều bi thảm – dẫn người ta đến cho tuyệt vọng, chỉ còn biết quyên sinh, lắm khi còn đẩy người ta đến chỗ lao đầu vào những tội ác rùng rợn. Đồng thời, các nhân vật của Prévost trước sau vẫn coi tình yêu là một thứ hạnh phúc cao cả, mà chỉ những ai có diễm phúc lớn may ra mới được nếm trải; và chính vì diễm phúc đó, người ta dám sẵn sàng vứt bỏ hết thảy mọi thứ. Với tư cách là nhà tâm lý học, Prévost vốn chịu ảnh hưởng của những kịch tác gia phái cổ điển là Corneille và Racine, tác giả của những vở bi kịch mà cái giữ vai trò chủ đạo bao giờ cũng là những khát vọng không sao kìm chế nổi. Nhưng nếu những tình cảm được khắc họa trong các tác phẩm đó đều là những tình cảm trừu tượng và là số phận của những đấng anh hùng huyền thoại hoặc những nhân vật lịch sử phi phàm (các bậc vua chúa, các vị tướng soái), thì trong các thiên tiểu thuyết của Prévost, những khát vọng kia đều bùng cháy lên trong tâm can những kẻ địa vị xã hội khiêm nhường hơn; và chính nhờ vậy mà phẩm giá của họ đều vượt lên trên cái mức bình thường. Bởi thế, khát vọng nào của các nhân vật do Prévost tạo dựng cũng đều xung khắc gay gắt với những nhân tố thông thường trong cuộc sống của người đời – điều kiện vật chất, nếp nghĩ và nếp sống của gia đình, những định kiến của thế tục, v.v… Năm 1734, Prévost mới được quyền về lại quê hương: Giáo hoàng gia ân cho nhà văn được tiếp tục thử thách đức tin tại các tu viện như trước. Năm 1736, một đại quý tộc có quyền hành nhất nước Pháp thời kỳ ấy là hoàng thân Conti đã mời Prévost sung vào đoàn tùy tùng của ông ta, giữ chức linh mục trong hoàng cung, Prévost nhận lời ngay, vì đây là một chức hữu danh vô thực – không phải gánh vác một trọng trách nào, mà cũng chẳng được hưởng một thứ bổng lộc nào – nhưng lại cho phép ông được sống ở bên ngoài tu viện, danh tiếng lừng lẫy của nhà văn lớn nhất đương thời đã khiến giới thượng lưu và các xa lông văn chương mở rộng cửa đón ông, Prévost lại có thêm nhiều bạn mới là nhiều người hâm mộ mới. Tuy nhiên, cũng chính vào thời kỳ đó, Prévost đã lại phải lìa bỏ quê nhà lần nữa. Số là vào những năm đó, giới thượng lưu Pháp vốn sính một hình thức thông tin lạ đời: xuất bản các tạp chí viết tay, loan truyền đủ mọi thứ tin tức, kể cả những tin đồn thất thiệt, lẫn những chuyện đơm đặt hồ độ, chẳng đếm xỉa gì đến sự thật, của các vương tôn, công tử nhàn nhã. Đám thư lại có hoa tay phụ họa vào, ngồi nắn nót chép những trang tạp chí nọ để gửi đến đám khách hàng đặt mua. Prévost đã quá khinh suất, bằng lòng giúp đỡ việc biên tập về văn phong cho một trong những tạp chí loại đó. Một vị quý tộc có thân thế bất đồ đã bị tờ tạp chí này vu khống, ông ta bèn ra lệnh bắt giam chủ bút. Các nhà chức trách bắt đầu mở cuộc điều tra. Đến khi đó biết được rằng Prévost có nhúng tay vào việc biên tập, thì viên cục trưởng cảnh sát liền yêu cầu ông phải rời ngay nước Pháp. Prévost lại phải lưu lạc ở chốn đất khách quê người một năm rưỡi nữa, lúc ở Bỉ, lúc ở Frankfurt. Mãi đến lúc về lại Pháp, ông mới bắt đầu được hưởng một cuộc sống yên hàn, và danh tiếng ông mới đạt đến đỉnh cao chói lọi. Từ đó, Prévost mới được biết thế nào là sự thư thái tâm hồn và sự no đủ về vật chất. Prévost vẫn không rời bỏ sự nghiệp sáng tác cho đến tận giây phút trút hơi thở cuối cùng. Ông mất ngày 25 tháng Một năm 1763 vì vỡ tim trong một lần dạo chơi quanh điện Chanteille, ở ngoại ô Paris. *** Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô, như đã nói, ra mắt lần đầu vào năm 1731 ở Hà Lan với tư cách là phụ lục của tập VII bộ Ký sự của một trang quý tộc. Ở Pháp, kiệt tác này không được đánh giá cao ngay từ đầu, thành ra mãi đến năm 1733 mới được ấn hành. Tờ “Báo của cung đình và kinh thành Paris”, số ra ngày 21 tháng sáu năm 1733, đã đăng một mẩu tin như sau: “Mới đây, tập VII bộ Ký sự của một trang quý tộc đã ra mắt công chúng. Thiên truyện được viết tài tình và lôi cuốn đến mức ngay cả những kẻ bình thường cũng phải mủi lòng cho thân phận của một gã bịp bợm và một ả buôn phấn bán hương”. Nhưng chỉ ít lâu sau, các nhà chức trách kinh đô đã phải ký lệnh thu hồi và thiêu hủy quyển sách. Trong hồ sơ lưu trữ hiện còn giữ được biên bản tịch thu năm bản truyện của một chủ hiệu sách ở kinh thành và hai bản nữa của một chủ hiệu khác. Việc tịch thu sách trên thị trường dĩ nhiên không hề làm lu mờ danh tiếng của thiên truyện, và người đương thời vẫn háo hức chuyền tay nhau các ấn bản do nhiều nhà kinh doanh sách Hà Lan in ra, đang ồ ạt tràn vào đất Pháp tác bấy giờ. Việc cấm lưu hành Truyện hiệp sĩ đơ Griơ, coi đây là tác phẩm vô đạo đức, giữa lúc phong hóa suy đồi chưa từng thấy, giờ đây xem chừng rất khó hiểu. Nhưng có lẽ chính sự băng hoại đạo đức đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đánh giá đúng và không hiểu hết tư tưởng chính mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm: người đương thời chỉ nhìn thấy ở đây câu chuyện về những cuộc phiêu lưu suồng sã, rẻ tiền của đôi trai gái hư thân mất nết. Đây là cách lý giải về nguyên nhân khiến người đương thời không đánh giá đúng thiên truyện của Prévost do chính A.I. Gertxen đưa ra. Sự cấm đoán đó đã thôi thúc Prévost đứng lên bảo vệ tác phẩm của chính ông trong tờ tạp chí “Đồng tình và phản đối” do bản thân nhà văn sáng lập và xuất bản từ năm 1735 – 1740. Prévost đã cố xoa dịu cái ấn tượng mạnh mẽ do tác phẩm gây ra và cải chính những lời quở trách mình là đã sáng tác ra một quyển sách “vô đạo đức”. “Công chúng đã đọc một cách say sưa tập cuối bộ Ký sự của một trang quý tộc, có in câu chuyện về cuộc phiêu lưu của hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô. Chúng tôi coi đây là một chàng trai có những thiên bẩm rực rỡ và sức lôi cuốn bất tận, say mê đến mức rồ dại một cô gái trẻ, vừa rất yêu chàng, nhưng vừa thích sống một cuộc đời phù hoa, trăng gió, hơn là đeo đuổi những hạnh phúc cao cả, có thể giúp cho người yêu bộc lộ hết những tài năng trời cho và làm rạng danh cho dòng dõi cao quý của chính chàng. Trước mắt chúng ta là một kẻ nô lệ bất hạnh của tình yêu; tuy nhìn thấy trước được mọi nỗi khốn đốn đang chờ mình, nhưng chàng trai không còn đủ sức để lẩn trốn chúng, đẩy lùi chúng; chàng đã hiên ngang đứng ra hứng chịu mọi nỗi khốn đốn ấy, mặc cho chúng giày vò mình, hoàn toàn chẳng đếm xỉa gì đến những phương sách khả dĩ giúp mình giành được một chỗ đứng dễ chịu hơn; tóm tại, đó là trang nam nhi vừa hư hỏng, vừa đạo đức, luôn đeo đuổi những ý định tốt lành, nhưng lại hành động một cách xấu xa, nếp cảm nghĩ thì rất đáng quyến rũ, nhưng hành vi thì đáng phỉ báng. Chẳng qua là một tính cách độc đáo. Tính cách của nàng Manông Lexcô lại càng độc đáo hơn. Nàng biết rõ thế nào là phải trái, thậm chí còn rất mực coi trọng lẽ phải, nhưng toàn làm những việc đáng chê trách. Nàng yêu tha thiết hiệp sĩ đơ Griơ, nhưng nỗi thèm khát cảnh giàu sang và hoa lệ đã khiến nàng phản lại những tình cảm của chính mình đối với chàng trai, chạy theo một gã tài chính lắm tiền. Phải làm chủ được một nghệ thuật thế nào mới có thể thu hút nơi cảm tình của độc giả, gợi lên nơi họ sự thông cảm đối với những bất hạnh mà cô gái hư thân mất nết này phải hứng chịu! Tuy cả hai đều là những kẻ hư hỏng, nhưng người ta vẫn thấy thương họ, vì thấy rằng sự hư hỏng ấy chung quy chỉ là hậu quả của sự yếu lòng và si mê; hơn nữa, ta cũng thấy rõ rằng trong thâm tâm, cả hai đều lên án gay gắt hành vi của chính mình và đều thừa nhận rằng cách cư xử như vậy là rất đáng chê trách. Xem thế đủ biết tuy miêu tả cái xấu, nhưng tác giả tuyệt nhiên không đem nó ra mà truyền giảng. Tác giả chỉ vẽ lên ở đây ảnh hưởng của những dục vọng cuồng si, đã khiến cho lý trí trở nên bất lực, khi mà con người bị cầm tù bởi nỗi bất hạnh là đem phó mặc lý trí của bản thân cho dục vọng thao túng…” Thiên truyện bị cấm lưu hành suốt hai chục năm dài đằng đẵng. Mãi đến năm 1735 mới lại được in ra, lần này thành hai tập mỏng, kèm theo không biết bao nhiêu sửa chữa, thậm chí còn đưa vào một tình tiết mới, tuy không hề làm thay đổi nội dung chính của câu chuyện. Từ đấy trở đi, Manông Lexcô mới giành được một chỗ đứng vững chãi trong các sáng tác xuất sắc nhất của văn chương thế giới xưa nay. *** Đề tài được Prévost luận giải trong Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô là thứ tình yêu tiền định, đủ sức nhấn chìm hết thảy mọi thứ ở đời. Đây là đề tài, như đã nói, vốn chiếm vị trí chủ chốt trong sáng tác của nhà văn. Nhưng khác với những bộ tiểu thuyết trường thiên của Prévost, cốt truyện vốn hết sức phức tạp và lắt léo, Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông là một áng văn bố cục cân đối và hài hóa khác thường. Nét đặc sắc ấy sở dĩ có được chắc hẳn, chính là do tính chất tự thuật của nó: cái bi kịch làm chất liệu của thiên truyện cũng chính là tấn bi kịch đầy xúc động mà tác giả đã nếm trải với tất cả tâm hồn mình một cách đủ sâu sắc, đến mức chẳng cần phải thêm thắt bất cứ một suy tưởng hay một biến cố hư cấu nào. Prévost đã dựng lên được một hình tượng về một “cô gái sa đọa”, có sức lôi cuốn mãnh liệt đến mức gần như lấn át hết hình ảnh của chàng hiệp sĩ chung tình của chính mình trong cảm thức của người đọc. Một chứng cứ, thoạt nhìn rất nhỏ nhặt, nhưng đầy sức thuyết phục, là: ngay từ đầu thế kỷ trước, các nhà kinh doanh sách đã tùy tiện “đổi” lại nhan đề tập sách từ Truyện chàng hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô thành Truyện nàng Manông Lexcô và hiệp sĩ đơ Griơ; ít lâu sau, nữ nhân vật đã lấn át hẳn tên tuổi của chàng hiệp sĩ ở bìa sách: tên truyện, bây giờ chỉ còn vẻn vẹn ba chữ: Nàng Manông Lexcô. Mãi gần đây, các nhà xuất bản ở Pháp mới trở lại với cái tên cũ, do chính tác giả đặt cho quyển truyện, việc đảo ngược họ tên hai nhân vật tưởng chừng rất nhỏ nhặt, nhưng thực ra đã động chạm đến một vấn đề lớn: ai là nhân vật chính và tấn bi kịch, mà nhà văn muốn thuật lại với chúng ta trong tác phẩm, là bi kịch của người nào, và dĩ nhiên chẳng phải vô cớ mà Prévost đã để tên hiệp sĩ đơ Griơ lên ở đầu; chính chàng, hiệp sĩ đơ Griơ, chứ không phải Manông Lexcô, mới là nhân vật chính của tấn bi kịch trong truyện. Hơn nữa, mối xung đột được Prévost lồng vào các biến cố là ở đây tại chính là sự xung khắc gay gắt giữa hai tính cách: hiệp sĩ đơ Griơ và người con gái mà chàng say đắm yêu. Ví thử đơ Griơ cũng vô đạo đức như Manông thì cuộc hội ngộ giữa hai người chắc chắn sẽ chẳng kéo theo một tấn bi kịch nào: vì gắn bó số phận mình với Manông, chàng sẽ hóa thành một gã ma-cô tốt số; và với cái vẻ ngoài đầy quyến rũ của Manông, cuộc sống của họ rồi đây chắc hẳn sẽ trôi qua một cách êm ả trong no đủ, chẳng còn phải bận bịu, lo toan gì nữa… Vả chăng, cả người anh của Manông, lẫn bản thân nàng đều đã nhắc nhở hiệp sĩ nên đi theo chính con đường ấy. Nhưng toàn bộ sự tình chính là ở chỗ đơ Griơ và Manông là hai tính cách khác hẳn nhau; cả bản chất đạo đức, lẫn diện mạo tinh thần của cả hai đều rất ít có những nét chung. Bi kịch của đơ Griơ chính là ở chỗ chàng không thể chia sẻ với Manông một lý tưởng về tình yêu cao thượng, mà chỉ có nó mới đáp ứng được lòng mong mỏi của chàng; trong khi đó thì toàn bộ tấn bi kịch của Manông chung quy chỉ là sự thiếu thốn những điều kiện sinh hoạt vật chất. Nghe theo sự mách bảo của ý nguyện chính mình, Prévost đã thuật lại câu chuyện qua lời hiệp sĩ. Hình thức tự truyện cho phép nhà văn bộc lộ một cách hết sức sâu sắc và chân thực toàn bộ thế giới bên trong của nhân vật. Tấm lòng cao thượng bẩm sinh và nếp nghĩ quá thiên về lý tưởng đã không cho phép đơ Griơ nhận ra con người thực của Manông, chỉ họa hoằn lắm, và thường là vào lúc vắng bóng người yêu, đần óc chàng mới đủ sáng suốt để cảm nhận sự độc hại về đạo đức của chính mình, và càng nhận rõ được sự suy đốn đó sâu sắc bao nhiêu, chàng càng tin chắc thêm bấy nhiêu sự ươn hèn của bản thân và càng thấy rõ sẽ không còn biết lấy đâu ra sức lực nữa để mà chống trả, vì nghị lực chàng đã tiêu ma đi hết bởi lẽ vướng vào mối tình bất hạnh này. Trung thành với những lý tưởng cao cả của chính mình về tình yêu, hiệp sĩ đã cư xử với Manông như một hiện thân thuần khiết nhất của nữ tính, cần nhớ rằng trong suốt cuốn truyện, đơ Griơ đã không hề đã động lấy một lời về con người thể chất của Manông, về nét mặt của nàng. Đối với chàng, Manông là một thực thể tuyệt đối, hao hàm trong bản thân nó hết thảy mọi sự hoàn thiện. Và với tư cách một hiệp sĩ chân chính, đơ Griơ đã hiến thân cho thần tượng mình ngưỡng mộ hết thảy mọi thứ đang có – tên tuổi, địa vị xã hội, gia đình, bước đường công danh, cuộc sống sung túc; và nếu cần, sẵn sàng hiến luôn cả mạng sống của chính mình. Hình tượng của Manông, xét về các phẩm chất nghệ thuật, là một trong những hình tượng hoàn mỹ nhất của văn chương thế giới. Ở đây, nhà văn đã kết hợp được thành một thể thống nhất hai khía cạnh tương phản gay gắt – vẻ ngoài đầy sức quyến rũ và sự hạn hẹp về thế giới nội tâm của nữ nhân vật – bằng một tài nghệ phi thường đến mức người đọc luôn luôn bị quyền lực của hai tình cảm đối lập nhau chi phối: vừa thán phục và vừa căm giận. Tuy nhiên, cũng đừng quên rằng hình tượng Manông mà chúng ta cảm nhận ở đây là qua lời kể của đơ Griơ – một người thuật chuyện nhiệt thành đến mức khó có ai theo kịp. Đơ Griơ lúc nào cũng không tiếc lời biện hộ cho nàng và chỉ hãn hữu lắm mới cảm nhận được ít nhiều rõ nét những thói hư tật xấu của cô gái, Manông là một phụ nữ mất hết mọi nền nếp đạo lý, là một con người trí lực kém cỏi và tầm nhìn cực kỳ thiển cận, chật hẹp, cho nên sẽ rất lầm lạc, nếu khẳng định rằng cái ngự trị trong thiên truyện là ý niệm “tính người tối đa” (chelovecheskij maksimum). Không cần tuyên bố công khai rằng chủ nghĩa khoái lạc nhất thiết phải là bạn đồng hành cố hữu của thói xem thường các quy phạm đạo đức vẫn được xã hội chấp nhận, ta vẫn có quyền coi việc đánh đồng hình tượng Manông với ý niệm “tính người tối đa” là việc làm quá ư ngây thơ: tính người đâu phải chỉ thu gọn ở những bộ trang phục lộng lẫy, ở những bữa dạ tiệc thịnh soạn, ở những chiếc vé xem hát đắt tiền và những trò tiêu khiển miên man. Cội nguồn tạo dựng, ngay cả khi xét trong phạm vi của nữ giới đơn thuần đi nữa, cũng xa lạ đối với Manông. Ta không tài nào hình dung nổi nàng trong cương vị của một người mẹ, một người vợ, tảo tần nuôi con dạy cái và thu vén việc cửa nhà. Hơn nữa, Manông còn mang sẵn trong con người mình bản năng tàn phá – hễ tiếp cận với nàng, mọi thứ đều lập tức trở nên đồi bại. Ngay cả đám tôi tớ của Manông, do chứng kiến cảnh sống chung của nàng với đơ Griơ, cũng đã tiêm nhiễm phải những thói xấu của chủ: họ cũng lấy cắp tiền nong, tư trang của chủ, y hệt như nàng đã lấy cắp của đám khách làng chơi đến giải buồn. Manông không đủ sức mang lại hạnh phúc cho người nàng yêu: ngay cả khi đã đứng vững chân trên một mảnh đất chắc chắn như mối tình rất mực thủy chung của đơ Griơ đi nữa, nàng vẫn không sao xây dựng được một hạnh phúc lứa đôi bền chặt. Đến như tình cảm máu mủ, ruột rà, nàng cũng hoàn toàn xa lạ, Không như đơ Griơ, lúc nào cũng ngóng chờ được trở về sum họp với cha già, với người em, với người bạn thời thơ ấu, Manông không bao giờ tưởng đến gia đình và đả động đến gia đình. Ngay cả bạn gái, nàng cũng không có. Trong khi đơ Griơ bao giờ cũng canh cánh bên lòng hình ảnh người bạn Tibecgiơ, thậm chí cả khi hai người xa cách, thì Manông hoàn toàn chẳng có một ai để mà kết thân. Nàng không hề dành sẵn đất cho tình bằng hữu. Cần nhận thấy rằng trong thiên truyện của Prévost, từ phía đơ Griơ đã xuất hiện toàn những nhân vật chính diện (cha chàng, em chàng, Tibecgiơ, ông đơ T… – và thậm chí cả viên cai ngục ở nhà tù Priut nữa), thì từ phía Manông chỉ xuất hiệu toàn những nhân vật phản diện (anh nàng, đám khách làng chơi liên tục thế chân nhau). Manông tựa hồ như một thứ ma lực, chỉ lôi cuốn về phía mình toàn những cái xấu, cái ác, cũng rất đáng chú ý là hết thảy những kẻ “ngưỡng mộ” Manông, được nhà văn dựng lại trong truyện, đều chỉ đến với nàng không từ một động cơ nào khác, ngoài những dục vọng đê cấp; họ không hề ngờ vực mảy may nào sự thành công của chính họ, vì ai cũng thừa biết rằng nàng không phải là “món khó gần”. Không hề thấy một gã nào trong số họ đến với nàng là do những tình cảm chân thành thôi thúc. Nói cho công bằng, thì khi sang đến Mỹ, hành vi của Manông có phần ít đáng chê trách hơn lúc còn ở quê nhà. Nhưng vị tất đã có thể xem đây là kết quả của sự ăn năn hay sự cải hóa tự nhiên của tâm tính. Sang đất Mỹ thời ấy là cả một cuộc hành trình dài dằng dặc – hàng trăm cây số rong xé trên đất Pháp, thêm hai tháng trường lênh đênh trên thuyền buồm giữa đại đương, rồi điều kiện sống khắc nghiệt ở Tân thế giới, thân phận hèn kém của kẻ bị lưu đày, và những thiếu thốn, thua thiệt đủ mọi đường – tất cả những cái đó không thể không làm tổn hại đến sức mạnh tinh thần và thể chất của Manông. Sang đến Mỹ, nàng đã hóa thành một con người khác – đau khổ, kiệt sức, tuyệt vọng, từ bỏ hẳn lối sống buông thả và nông nổi ngày nào. Nét nổi bật của thiên truyện là Prévost đã miêu tả một cách tỉ mỉ lạ thường những đặc điểm về sinh hoạt của thời đại. Hành động tả trong truyện diễn ra đúng vào thời kỳ Trùng Hưng (1715 – 1723), khi mà xã hội Pháp say sưa lao vào một lối sống buông thả hoàn toàn, vào những năm chót cùng của triều đại Louis XIV dài lê thê. Cái ngự trị trong chốn cung đình là sự hà khắc và thói đạo đức giả. Không khí đó đã ảnh hưởng rất sâu đậm đến toàn bộ nếp sinh hoạt bên ngoài xã hội, sau ngày Louis XIV chết đi, ngôi báu đã lọt vào tay người chắt là Louis XV (vì cả con, lẫn cháu vua đều đã về chầu Chúa trước tổ phụ), bấy giờ mới chỉ là một cậu bé con thơ dại. Bởi thế, mọi quyền bính trong nước, trên thực tế, đều nằm trong tay quan nhiếp chính Philippe Orléans ham vui và nông nổi. Thần dân trong nước tức thì phản ứng ngay lại với bầu không khí tẻ nhạt, giả dối, từng chiếm địa vị thống trị dưới thời đức vua già lụ khụ ngày xưa, xã hội Pháp tức thì trút một hơi thở phào nhẹ nhõm và lao ngay vào cuộc sống ăn chơi, phè phỡn, cho bõ những ngày dài câu thúc, kiêng khem mới đây. Linh mục Prévost quả đã làm sống lại trong truyện một cách chính xác phi thường nhiều đặc điểm của nếp sống thời ấy. Các sử gia thời Trùng Hưng đều nhất trí thừa nhận rằng những tình tiết nhỏ nhặt, như thể thức lưu đày sang Mỹ những tù nhân bị khép tội phát vãng, địa điểm các sòng bạc và lề thói sát phạt của đám dân máu mê, những thể chế tồn tại trong các sở cẩm, các trại giam, cũng như các tửu điếm, v.v..., nhất nhất đều xác thực. Tác giả không tự cho phép mình bỏ qua bất cứ chi tiết nào từng được chứng kiến tận mắt. Bức tranh do nhà văn vẽ lại về cuộc sống thời bấy giờ quả chân xác đến mức khó lòng quở trách. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những xung đột được Prévost khắc họa ở đây đều chỉ tiêu biểu cho cái thời đại lịch sử ấy, bởi lẽ những trở lực ngăn cản đơ Griơ và Manông vươn đến hạnh phúc không chỉ đơn thuần là ở các thể chế xã hội thời Trùng Hưng, mà chính là ở tính cách của Manông. Nền văn chương thế kỷ XVIII vốn không thiếu gì những sáng tác miêu tả những trở lực do các thiên kiến của giai cấp quý tộc vô tư sản dựng lên trên bước đường đi đến hạnh phúc của các đôi nam thanh nữ tú, chỉ cần đơn cử ra đây một dẫn chứng: trong Nàng Héloise mới, hạnh phúc của Julie và Xanh Pré cũng đã sụp đổ, chung quy chỉ vì Xanh Pré xuất thân từ tầng lớp bình dân. Tấn bi kịch của đơ Griơ có một ngọn nguồn hoàn toàn khác, và không thể đã hết trách nhiệm lên đầu hoàn cảnh xung quanh, nói riêng là người cha già của hiệp sĩ. Ông thân của đơ Griơ chống lại cuộc hôn nhân giữa con mình với Manông không phải vì nàng xuất thân từ tầng lớp dân thường, mà chính vì nàng là một nhân cách suy đốn về đạo đức, không thể mang lại hạnh phúc cho con trai của chính mình, cha của đơ Griơ là một người từng trải, và hiểu được thế nào là nhân tình thế thái. Câu chuyện trốn nhà ra đi của Manông với con trai ông, người nàng mới quen biết qua loa, rồi hoàn cảnh diễn ra cuộc hội ngộ đó, và chắc hẳn chính số phản phúc của Manông, đã tố giác người tình khi vừa hay biết được rằng chàng không lấy đâu ra tiền để chu cấp cho mình – tất cả những sự kiện ấy đã giúp ông thấu hiểu được chân tướng của Manông và có đầy đủ mọi lý lẽ để chống lại cuộc hôn nhân. Không một ông cha hay bà mẹ nào, chẳng riêng gì ở thời Trùng Hưng, mà ở bất cứ thời đại nào khác, lại có thể tán thành với dự tính của một anh con trai mười bảy, do chính mình đứt ruột đẻ ra, đem gắn bó số phận với một cô gái giang hồ, chuyên ăn cắp vặt và toàn ngấm ngâm mưu mô những chuyện làm ăn gian lận. Tìm cách biện hộ cho Manông, xuê xoa hay nhắm mắt làm ngơ với những căn nguyên sâu xa của cái nhân cách tồi tệ đó có nghĩa là hạn chế bớt mức độ gay gắt, tính độc đáo và tầm bao quát của hình tượng ấy, do đó, không đánh giá hết chiều sâu tâm lý và tài nghệ của nhà văn. Người bạn hơn tuổi của đơ Griơ, chàng Tibecgiơ, được tác giả khắc họa như một người bạn mẫu mực, trung thành. Từ lâu rồi, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy: các nhân vật chính diện, nhất là trong văn chương thế kỷ XVIII, bao giờ cũng là những nhân cách kém sắc sảo, “nghèo nàn” hơn các nhân vật phản diện, Nhưng ở Tibecgiơ, đức khôn ngoan và lòng chung thủy trong hành vi tuyệt nhiên không làm hình tượng chàng trở nên mờ nhạt và vô vị. Tibecgiơ tuy kiên định trong đức tin, nhưng vẫn tỏ ra rất mực khoan dung đối với đơ Griơ; chàng rất nghiêm khắc, nhưng đồng thời vẫn rất người, ví thử Tibecgiơ chỉ là một anh chàng cố chấp, ti tiện và thông thái rởm, chỉ biết truyền giảng những bài học luân lý tẻ nhạt đơn thuần, thì không đời nào đơ Griơ lại quý trọng chàng đến thế, Tibecgiơ là người bạn chân tình, ngay thẳng, đầy lòng bao dung, nhưng không bao giờ tha thứ cho bạn về những việc làm nông nổi. Sự trung thành, tận tụy của chàng đã đạt đến đỉnh cao của đức xả thân: để cứu bạn, chàng sẵn sàng hy sinh hết thảy, theo chân bạn sang tận đến Mỹ, mặc đã chuyến đi ấy vào thời Prévost phải kéo đài hàng mấy tháng trường và phải trải qua bao nhọc nhằn, vất vả, thậm chí có khi phải mạo hiểm đến cả tính mạng nữa. Đơ Griơ đánh giá rất cao tình bạn giữa chàng và Tibecgiơ, chàng tin chắc rằng không một thử thách nào có thể bẻ gãy được mối quan hệ thân thiết đó. Tibecgiơ là người độc nhất mà đơ Griơ có thể cởi mở hết tấm lòng, và chính nhờ những cuộc tranh cãi tay đôi với Tibécgiơ, chàng đã lần gỡ được thực chất của mối tình say đắm mình đang đeo đuổi và tìm thấy lời giải đáp cho những câu hỏi đang dằn vặt tâm can. Trong những cuộc tranh cãi ấy, quan điểm của hai người hoàn toàn khác nhau, nhưng điều đó không hề cản trở họ hiểu nhau (nhất là Tibecgiơ đối với tâm tư của đơ Griơ). Lý lẽ do Tibecgiơ đưa ra, đơ Griơ hoàn toàn không thể chấp nhận được, vì những lý lẽ ấy chẳng những bao hàm cả sự kết án cách hành động của chàng, mà còn công khai bác bỏ hoàn toàn cái ảo tưởng của chàng về cuộc sống hạnh phúc với Manông. Dẫu sao, chàng hiệp sĩ bất hạnh cũng chẳng còn ai khác nữa để mà tâm sự: chàng biết rõ rằng người bạn ấy sẽ đem đến cho mình chẳng phải chỉ có những lời chỉ trích, mà còn có cả sự cảm thông, sự nâng đỡ và sự thấu hiểu. Nhân tiện cần ghi nhận rằng chưa bao giờ đơ Griơ đã thử cố trò chuyện với Manông về những đề tài thường xuyên được đề cập đến trong những cuộc tranh luận với Tibecgiơ. Trước ngày gặp Manông, đơ Griơ chắc hẳn vẫn luôn luôn chia sẻ các quan niệm của Tibecgiơ. Sự giống nhau đó chính là nền tảng của tình bạn giữa hai người, là cội rễ của sự kính trọng lẫn nhau giữa họ. Sự bất đồng quan điểm giữa đơ Griơ và Tibecgiơ chỉ là một chuyện nhất thời, và rất có thể sự bất đồng đó, nếu không hoàn toàn mất đi, thì ít ra cũng sẽ đỡ gay gắt hơn, một khi những thế lực chia rẽ họ mất tác dụng. Theo nhận định rất sắc sảo của nhà nghiên cứu văn học Arsen Usse, Tibecgiơ là lương tâm của hiệp sĩ đơ Griơ. Tài nghệ mà nhà văn đem ra để sáng tác nên Truyện hiệp sĩ đơ Griơ và nàng Manông Lexcô đã đưa thiên truyện không bao lăm trang này vào hàng những kiệt tác vĩ đại nhất chẳng những của văn chương Pháp, mà cả của văn chương thế giới. Thiên truyện được viết bằng một bút Pháp giản dị và hài hòa lạ thường; lời văn chuẩn xác, trong sáng và đầy âm hưởng, không nhường bước trước bất cứ một áng vấn mẫu mực ưu tú nào trong văn chương Pháp thời cổ điển và thời Khai sáng. Câu chuyện của đơ Griơ về những nỗi bất hạnh và đau khổ của chính chàng được thuật lại một cách chân thật, không chút khoa trương, không chút tô vẽ cốt gây ấn tượng; nhưng đằng sau cái vẻ ngoài kìm giữ đó, người đọc vẫn luôn cầm thấy một nỗi say mê sôi sục. Cả về phương điện bố cục nữa, thiên truyện cũng thật hoàn mỹ: ngay từ mấy trang đầu, tác giả đã đưa chúng ta đi thẳng vào diễn biến câu chuyện, và hứng thú của chúng ta vẫn không hề giảm sút mảy may cho đến lúc đọc dòng chót cùng tác phẩm. Nhưng công lao chủ yếu của linh mục Prévost dĩ nhiên là ở chỗ ông đã tạo dựng được hai hình tượng văn học thực sự bất hủ. Hiệp sĩ đơ Griơ là mẫu mực của một tình yêu rất mực thủy chung, của đức hy sinh và của lòng vị tha vô bờ hến. Nhà văn đã vẽ lên trước mắt chúng ta những tâm tư đau khổ và phức tạp của chàng trai một cách đầy thuyết phục đến mức ta sẵn lòng tha thứ hết cho chàng mọi lỗi lầm chàng đã phạm phải và luôn vững tin vào sự cao thượng và sự trong sạch về đạo đức của chàng. Còn hình tượng Manông thì thật khó tìm một điển hình văn học nào sánh ngang về sự hoàn mỹ trong văn chương thế giới xưa nay. Nhà văn đã ký thác nơi cô gái đầu óc trống rỗng, tâm hồn chai sạn, tầm mắt hạn hẹp và đạo đức đốn mạt ấy một vẻ quyến rũ mãnh liệt đến mức khiến ta suýt quên đi những thói hư tật xấu của nàng và sẵn sàng hâm mộ nàng cũng chẳng kém gì đích thân hiệp sĩ đơ Griơ. Arsen Usse đã nhận xét rất đúng rằng dù nhân tình của Manông có đông đến bao nhiêu đi chăng nữa, con số đó vẫn chẳng thấm tháp vào đâu so với đám người ngưỡng mộ cô nữ nhân vật mà linh mục Prévost đã dắt đến bên chân nàng. Thật vậy, đã hai thế kỷ trôi qua, nhưng Manông vẫn đầy sức quyến rũ. Từ các trang sách của nhà văn, tiếng cười say nồng của nàng vẫn vang vọng mãi không thôi và ánh mắt huyền bí, ranh mãnh của nàng vẫn lôi cuốn chúng ta như ngày nàng mới ra mắt. E. GUNST[1] Đức Dương dịch Mời các bạn đón đọc Manon Lescaut của tác giả Abbe Prevost.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Anh Meaulnes
Một trăm năm nay, người ta vẫn không ngừng hỏi và tự hỏi, Alain-Fournier đã làm như thế nào mà Anh Meaulnes cứ giữ mãi được sự huyền diệu vô song chưa từng bao giờ bị mai một, qua liên tiếp biết bao thế hệ độc giả. Rất có thể, sự tồn tại không vương xước xát của thời gian và ánh mắt con người ấy bắt nguồn từ một lòng quả cảm vô cùng hiếm hoi dám phiêu lưu tới những miền mong manh nhất của tâm tưởng và ký ức, để cho thực tại không ngừng chạm vào lãnh thổ của cái bí ẩn thuần khiết. Nhưng cũng cần thêm vào đó cảm hứng từ các thần tượng văn chương của Alain-Fournier, Maurice Maeterlinck và nhất là Charles Péguy. Dẫu là như thế nào, ra đời năm 1913, cùng tập thứ nhất À la recherche du temps perdu của Marcel Proust,Anh Meaulnesđánh dấu sự kết thúc của một thời đại lớn của nước Pháp và châu Âu; ngay sau đó, cuộc chiến tranh dữ dội sẽ làm tan biến biết bao con người ưu tú hạng nhất, trong đó trước hết phải kể tới chính Alain-Fournier. *** "Anh Meaulnes": tác phẩm văn chương huyền diệu chạm vào lãnh thổ của sự bí ẩn thuần khiết Một trăm năm, Anh Meaulnes vẫn là một tác phẩm văn chương huyền diệu vô song chưa từng bao giờ bị mai một, qua liên tiếp biết bao thế hệ độc giả Alain-Fournier là một trong những con người ưu tú của văn đàn nước Pháp. Ra đời vào khoảng những thập niên đầu của thế kỷ XX, tác phẩm đầu tay của Alain-Fournier đã trở thành kinh điển. Truyện không chỉ có ảnh hưởng mạnh tới những thế hệ nhà văn tây phương hiện đại mà còn làm rung cảm những tâm hồn trẻ tuổi sắp sửa vượt qua mốc quan trọng của tuổi hai mươi. Năm 1967 và 2006, Anh Meaulnes đã được chuyển thể thành phim. Kể về câu chuyện của những chàng trai trẻ tuổi trên hành trình khám phá cuộc đời, cuốn tiểu thuyết khai thác đề tài về sự chênh lệch và đối lập giữa sự vô hạn của ước mơ cùng sự hữu hạn của đời người. Xuyên suốt cả thiên truyện, Alain-Fournier đã khắc họa nỗi khắc khoải của con người trong cuộc đụng độ chênh lệch với định mệnh. Có thể nói trong thế giới văn chương, hiếm có tác phẩm nào giống như Anh Meaulnes. Dù không phải tự truyện nhưng trong đó người ta thấy rõ một sự đồng nhất gần như trọn vẹn giữa tác giả và những nhân vật chính, với những chi tiết hầu như hoàn toàn phản ánh cuộc đời ngắn ngủi của tác giả. Một trăm năm nay, người ta vẫn không ngừng hỏi và tự hỏi, Alain-Fournier đã làm như thế nào mà Anh Meaulnes cứ giữ mãi được sự huyền diệu vô song chưa từng bao giờ bị mai một, qua liên tiếp biết bao thế hệ độc giả. Rất có thể, sự tồn tại không vươngphôi pha của thời gian và ánh mắt con người ấy bắt nguồn từ một lòng quả cảm vô cùng hiếm hoi dám phiêu lưu tới những miền mong manh nhất của tâm tưởng và ký ức, để cho thực tại không ngừng chạm vào lãnh thổ của cái bí ẩn thuần khiết. Nhưng cũng cần thêm vào đó cảm hứng từ các thần tượng văn chương của Alain-Fournier, Maurice Maeterlinck và nhất là Charles Péguy. Dẫu là như thế nào, ra đời năm 1913, cùng tập thứ nhất Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, Anh Meaulnes đánh dấu sự kết thúc của một thời đại lớn của nước Pháp và châu Âu; ngay sau đó, cuộc chiến tranh dữ dội sẽ làm tan biến biết bao con người ưu tú hạng nhất, trong đó trước hết phải kể tới chính Alain-Fournier. *** Alain-Fournier (1886 – 1914) lớn lên tại Sologne, nơi bố mẹ ông là giáo viên tiểu học.  Ông gặp Yvonne de Quièvrecourt, mối tình đầu, vào năm 1905. Chuyện tình này không đi đến hồi kết bởi ông chỉ gặp lại Yvonne vào tám năm sau, khi cô đã kết hôn và là mẹ của hai đứa trẻ. Lấy nguyên mẫu từ mối tình ấy, Anh Meaulnes được hoàn thành vào đầu năm 1913, trước tiên được in thành nhiều kỳ trên tạp chí La Nouvelle Revue Française, sau khi in thành sách tại nhà Émile-Paul Frères. Ngay khi chiến tranh nổ ra vào năm 1914, Alain-Fournier được điều động đến mặt trận Lorraine và cuối tháng Chín năm ấy, ông đã hy sinh trong một trận đánh tại rừng Saint-Rémy, khi ông chưa tròn hai mươi tám tuổi. *** Augustin Meaulnes, người hùng lớn hơn cả cuộc đời trong tác phẩm kinh điển Pháp quyến rũ năm 1913 của Alain-Fournier, là sự pha trộn tò mò giữa vị thành niên bị dày vò và hiệp sĩ sai lầm. Soubriquet "vĩ đại" luôn gắn liền với anh ta có lẽ là để chỉ kích thước của anh ta (lớn, cao) nhưng cũng là sức mạnh trong những giấc mơ của anh ta (hoành tráng, hoặc thậm chí vĩ đại). Như lời kể của con trai giáo viên mười lăm tuổi François Seurel, tác động của cậu bé mười bảy tuổi này đến nhập học tại trường của cha mình có phép thuật biến hình trong cuộc gặp gỡ đầu tiên của Nick Carraway với Jay Gatsby, chỉ chuyển đến thế giới của những cô cậu học sinh ở tỉnh. Việc so sánh với The Great Gatsby chỉ là một trong nhiều hiểu biết tuyệt vời của Adam Gopnik, người đã viết lời giới thiệu cho bản dịch Penguin Classics xuất sắc này của Robin Buss (tôi cũng đã kiểm tra cuốn sách trong bản gốc). Văn bản bây giờ có vẻ hơi cũ, với các nhân vật có nhiều ý tưởng hơn là người thực, nhưng Gopnik đặt những ý tưởng đó trong bối cảnh văn học, lịch sử và Freud rõ ràng; ấn bản này gần như đáng mua cho riêng bài luận của anh ấy. Monsieur Seurel và các học sinh của ông dường như dành nhiều thời gian ở nông thôn như khi họ ở trong lớp học, và cuộc sống của vùng nông thôn đó chính xác là nằm ở vùng Cher của Pháp, không xa Bourges. Nhưng ở giữa nó, có một gia sản đã mất gần như là một giấc mơ, không bao giờ tìm lại được. Meaulnes đến đó một cách tình cờ vào một đêm, sau khi ngủ quên trên xe ngựa, và thấy mình đang chuẩn bị cho một đám cưới. Đó là một đoạn văn của phép thuật tuyệt đối: một nhà hát Watteauesque fête đông đúc bởi những đứa trẻ ăn mặc lộng lẫy và những nhân vật từ một nhà hát kịch. Anh gặp con gái của trang viên và yêu ngay lập tức. Nhưng đám cưới được gọi tắt và khách mời giải tán. Meaulnes dành nhiều năm tiếp theo để cố gắng tìm đường trở lại, cuối cùng theo chân Yvonne yêu xa của mình đến Paris. Giấc mơ thức dậy không khác gì thế giới hiệp sĩ bí ẩn trong tác phẩm Pelléas et Mélisande năm 1892 của Maurice Maeterinck, được nhìn thấy ở đây qua con mắt của tuổi thơ như một lời than thở cho sự kết thúc của tuổi thơ.   Mời các bạn đón đọc Anh Meaulnes của tác giả Alain-Fournier.
Yêu Những Điều Không Hoàn Hảo
Tình yêu thương vượt qua mọi hiểu biết của con người Đôi khi chúng ta gặp được những bộ phim để lại dư âm trong ta suốt một thời gian dài. Đối với tôi, A river runs through it là một bộ phim như thế. Lấy bối cảnh thiên nhiên đẹp đẽ của tiểu bang Montana nước Mỹ vào đầu thế kỷ 20, bộ phim kể về gia đình Maclean, một gia đình tôn sùng sở thích câu cá như một tôn giáo. Người cha của gia đình ấy là một mục sư có hai cậu con trai, cậu con trai cả Norman thuận theo ý cha trở thành giảng viên, còn cậu con trai thứ Paul lại làm phóng viên cho một tờ báo địa phương, sống cuộc sống có phần nổi loạn. Thế rồi Paul không trả nổi những khoản nợ phát sinh do đánh bạc, anh bị đánh đến chết trên đường phố. Người cha roi vào nỗi đau tột cùng vì mất con, vào buổi thánh lễ ngày Chúa nhật, ông cầu nguyện cho con mình và nói với các tín đồ một câu đầy cảm xúc. "Chúng ta vẫn có thể yêu thương nhau trọn vẹn mà không cần hiểu nhau một cách vẹn toàn." Người cha mục sư không thể hiểu tại sao đứa con trai thứ của mình lại sống ngang tàng như thế, nhưng điều này không có nghĩa là ông ngừng yêu thương Paul. Bộ phim đã gửi đến cho người xem một thông điệp, rằng tình yêu thương vượt xa khỏi phạm vi những điều mà con người có thể hiểu được bằng tri thức. Không phải chỉ khi nào cảm thấy vừa lòng hay hiểu thấu thì ta mới yêu thương lẫn nhau, cũng không phải khi không hiểu nhau nữa thì tình yêu cũng cạn. Tình yêu thương của người cha bắt nguồn ngay từ sự tồn tại của đứa con, dù không vừa lòng, không tán thành những hành động của con, tình yêu thương ấy vẫn không suy suyển. Như dòng chảy của con sông sâu, tình yêu thương luôn luôn chảy trong sâu thẳm trái tim mỗi người. Ngẫm lại cuộc sống của chính mình, ta sẽ nhận thấy rất nhiều điều không hoàn hảo. Trước hết, chỉ nhìn vào bản thân mình thôi ta đã cảm nhận được nhiều thiếu sót rồi: lời nói và hành động mâu thuẫn với nhau, vụng về trong những mối quan hệ xã hội, chuyện học hành, công việc không suôn sẻ như ý muốn. Chưa kể đôi khi ta còn khiến người khác tổn thương, thậm chí còn làm những việc khiến bản thân cảm thấy tội lỗi và hối hận. Và khi nhìn vào những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, ta cũng nhận thấy những điều không-hoàn-hảo tương tự như vậy. Con cái không nghe lời cha mẹ, cha mẹ không hiểu cho lối sống của con cái, những thói quen làm ta khó chịu của người bạn đời... Những người anh em nhiều tuổi luôn khiến ta lo lắng từ chuyện tiền bạc đến sức khỏe, những người bạn thân thiết gặp khó khăn không nỗ lực vượt qua mà chỉ than vãn phàn nàn... Đến một khoảnh khắc nào đó, bạn bỗng muốn rời xa họ. Mỗi ngày, khi theo dõi chương trình thời sự buổi sáng, ta sẽ thấy thế giới không ngừng xảy ra những sự kiện và sự cố bắt nguồn từ những mâu thuẫn, bất hòa. Nhưng dù đang sống giữa thế gian đầy rẫy những điều không hoàn hảo, ta vẫn không thể ngừng yêu thương chính những điều không hoàn hảo ấy. Cuộc sống rất đáng để trân trọng, ta không thể phí hoài cuộc sống vào việc mỉa mai hay căm ghét thứ gì đó chỉ vì không thể hiểu được nó hoặc nó không vừa ý ta. Hơn nữa khi bắt đầu cầu nguyện hoặc tu hành, ta sẽ cảm nhận được rằng bên trong ta không chỉ tồn tại những thiếu sót mà còn có cả cái nhìn từ bi ấm áp dành cho những thiếu sót ấy. Trong bản thân mỗi người chúng ta luôn tồn tại ánh mắt ấm áp chan chứa yêu thương hằng dõi theo và chấp nhận chính bản thân mình, như người mẹ luôn dõi theo đứa con duy nhất của mình vậy. Tuy còn nhiều thiếu sót, nhưng tôi đã tập họp lại trong cuốn sách này những ghi chép và suy nghĩ của mình mỗi khi ngắm nhìn bản thân và thế giới bằng cái nhìn từ bi ấy. Ngoài ra, thông qua những buổi thỉnh giảng như chương trình Hòa nhạc chữa lành trái tim, tôi cũng có cơ hội gặp gỡ nhiều người, họ đã đem lại những bài học lớn và trở thành cảm hứng viết cho tôi. Trong số những trăn trở mà họ đưa ra trong buổi giảng, có những câu hỏi rất cụ thể và nghiêm túc, mà dù có tới vài tấm bằng tiến sĩ tâm lý học tôi cũng không thể nào giải đáp dễ dàng. Từng người từng người đều là những người thầy đưa tôi đến với con đường trí tuệ, đồng thời họ cũng là hiện thân của lòng từ bi giúp tôi luôn rộng mở trái tim mình. Mong sao những dòng chữ nhỏ bé của tôi có thể đem đến cho độc giả dũng khí, giúp họ chữa lành vết thương lòng và dành ra cho riêng mình khoảng thời gian để yêu bản thân hơn đồng thời nhận ra được bản chất thực sự của tình yêu thương. Mong sao cuốn sách này sẽ trở thành bàn tay giữ lấy bạn khi bạn rơi vào tuyệt vọng, sẽ trở thành khoảng lặng để bạn tạm dừng chân giữa những hỗn độn ồn ào. Tại Trường học chữa lành trái tim, Insadong, Seoul Đại đức Hae Min *** Thượng tọa Tiến sĩ Hae min sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc, xuất gia tu học theo Thiền phái Tào Khê (Jogye-jong). Sau khi hoàn thành bằng Thạc sĩ Tôn giáo học đối chiếu ở Đại học Havard và Tiến sĩ Tôn giáo học ở Đại học Princeton, ngài ở lại Hoa Kỳ tham gia giảng dạy về Tôn giáo học ở trường Đại học Hampshire, Massachusetts. Ngài từng là giáo sư Đại học Hoa Kỳ 7 năm, đã dành thời gian hai năm để hoàn thành tác phẩm. Thượng tọa Tiến sĩ Haemin đã có chuyến đi hoằng dương Phật pháp tại Vương quốc Anh và được đài BBC phỏng vấn và đưa tin. Năm 2015, Thượng tọa Tiến sĩ Haemin trở về Seoul, Hàn Quốc, cùng nhiều chuyên gia mở trường Tâm lý Trị liệu, điều trị miễn phí cho những người gặp phải bất hạnh trong cuộc sống, hay đang vướng phiền não nghiệp hướng, mang nhiều khổ tâm. Đại đức Haemin là một trong những người rất có ảnh hưởng tới giới trẻ Hàn Quốc, trang Twitter cá nhân (https://twitter.com/haeminsunim) của ông hiện có tới hơn một triệu người theo dõi. Sách cùng tác giả: - Bước Chậm Lại Giữa Thế Gian Vội Vã - Những vỡ lẽ của tuổi trẻ - Yêu lấy những điều không hoàn hảo. *** ĐỪNG SỐNG QUÁ HIỀN LÀNH Khi còn nhỏ, bạn có thường được khen là hiền lành? Bạn có phải là đứa trẻ không bao giờ cãi lời cha mẹ hoặc thầy cô, gặp chuyện khó khăn cũng cố gắng chịu đựng mà không than phiền tiếng nào? Rồi bây giờ, khi đã trưởng thành, bạn có luôn chịu trách nhiệm và hết mình với công việc được giao cũng như luôn cố gắng để không làm ảnh hưởng đến người khác? Bạn có phải là người dù gặp phải kẻ gây khó dễ cho mình, dù bị đối xử bất công vẫn suy nghĩ rằng chỉ cần mình chịu đựng là được nên cứ thế im lặng cho qua mọi chuyện? Và bạn có phải là người không thể nói lên những điều khiến người khác khó chịu hay làm họ tổn thương? Càng những người "hiền lành" như vậy lại càng dễ mắc bệnh trầm cảm hay chứng rối loạn hoảng sợ, cũng như các bệnh về tâm lý khác nảy sinh giữa những mối quan hệ trong gia đình hoặc nơi làm việc. Điểm chung của những người hiền lành này là cách nói chuyện từ tốn, thái độ nhã nhặn và rất biết nhường nhịn người khác. Cho dù bản thân cũng có điều muốn làm hay có lối suy nghĩ khác đi chăng nữa, họ vẫn luôn sẵn sàng chiều theo ý đối phương. Không chỉ một hai lần tôi chứng kiến và cảm thấy đáng tiếc cho những người hiền lành như vậy, sao ông trời lại vô tâm ban cho họ cõi lòng nhiều khổ tâm đến thế. Thực ra hồi còn nhỏ tôi cũng là một đứa trẻ hướng nội và dễ bảo nên rất hay được khen ngoan. Tôi đã tưởng rằng làm một cậu con trai hiền lành không khiến cha mẹ phiền lòng, một học trò ngoan ngoãn luôn nghe lời thầy cô là việc tốt. Thế nhưng khi sang Mỹ học, lần đầu tiên tôi nhận ra rằng chỉ biết sống hiền lành thôi thì không ổn. Khi làm bài tập nhóm với những người thông minh và cá tính, tôi thường bị đùn đẩy cho phần mà ai cũng tránh. Tôi luôn cho qua, vì nghĩ rằng chuyện đó cũng không có gì là không tốt, nhưng những tình huống tương tự cứ lặp đi lặp lại khiến tôi căng thẳng vô cùng. Và chỉ một mình tôi khốn khổ bởi điều này. Khi tôi kể chuyện này cho một đàn anh thân thiết người Mỹ, anh đã khuyên tôi rằng: "Hãy trở thành một người hiền lành với chính bản thân mình trước khi hiền lành với người khác!" Khoảnh khắc đó, tôi cảm giác như mình bị ai đó đánh thật mạnh vào gáy. Trước đó tôi đã sống mà luôn lo lắng không biết người khác sẽ nghĩ gì về mình. Tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ tới việc lo lắng, yêu thương chính bản thân mình cả. Sống hiền lành là như vậy đấy. Khi chúng ta gọi một người nào đó là hiền lành, nghĩa là chúng ta đang nói về một người không nhấn mạnh chủ kiến của mình và luôn nghe theo yêu cầu của người khác. Cho dù rõ ràng cũng có điều muốn nói, muốn làm nhưng họ hiếm khi thể hiện ra mà luôn thuận theo ý kiến, chủ trương của người khác. Người luôn nghe lời người khác như vậy dĩ nhiên là một người dễ chịu, một người tốt, một người hiền lành. Tóm lại, dường như chúng ta luôn gọi những người không thể hiện hoặc đè nén nhu cầu của bản thân vì người khác là người "hiền lành". Tuy không thể khẳng định một trăm phần trăm nhưng khi trò chuyện với những người "hiền lành" mắc bệnh tâm lý như trầm cảm ta có thể nhận thấy vài khuynh hướng chung trong mối quan hệ giữa họ với cha mẹ hoặc những người dưỡng dục họ. Ví dụ, trong số họ có nhiều người lớn lên dưới sự nuôi dưỡng của một ông bố gia trưởng hoặc một bà mẹ nghiêm khắc. Hay một ví dụ khác, có những ngưòi lớn lên với nhiều anh chị em, không được cha mẹ quan tâm nên luôn có xu hướng làm mọi thứ cha mẹ muốn để được công nhận. Một số trường hợp khác, vì mối quan hệ của cha mẹ không được tốt hay hoàn cảnh gia đình khó khăn nên người con nghĩ rằng ít nhất mình cũng phải biết nghe lời để cha mẹ bớt nhọc nhằn. Nhưng vấn đề là, khi ta sống mà quá cố gắng chiều theo yêu cầu của người khác, ta sẽ bỏ bê những cảm xúc và nguyện vọng của chính mình. Nếu không xem trọng mà lơ đi những gì mình đang cảm nhận thì khi trưởng thành ta sẽ không biết mình muốn làm gì, bản thân mình là ai. Hơn nữa khi bị đối xử bất công hay gặp những người làm ta khốn đốn, ta sẽ không thể giải tỏa nỗi oan ức hay phẫn nộ mà mình đang cảm nhận, những cảm xúc đáng lẽ phải bộc lộ với đối phương lại bị dồn nén bên trong ta và dần dần sẽ công kích chính bản thân ta. Và ta không khỏi tự hỏi "Tại sao mình cứ như một kẻ ngốc, không biết nói chuyện thẳng thắn cũng không biết nổi giận với người khác?" Đầu tiên, bạn cần ghi nhớ điều này. Những cảm xúc mà ta đang cảm nhận không phải là những thứ vụn vặt có thể làm lơ, ngược lại chúng vô cùng quan trọng và luôn cần được quan tâm tới. Hon nữa, những cảm xúc đó sẽ không biến mất dễ dàng cho dù ta có đè nén hay lờ chúng đi. Rất nhiều vấn đề về tâm lý nảy sinh bắt nguồn từ thói quen tự đè nén cảm xúc khiến năng lượng của những cảm xúc bị đè nén không được giải phóng khỏi tâm trí một cách lành mạnh. Cảm xúc cũng giống như dòng nước, nếu không chảy thoát được sẽ ứ đọng lại một chỗ và bốc mùi khó chịu. Bây giờ vẫn chưa quá muộn. Từ bây giờ bạn hãy học cách lắng nghe tiếng nói của chính mình để biết mình muốn gì, trước khi hành động theo kỳ vọng của người khác. Nếu người khác có yêu cầu bạn làm cái này, cái kia nhưng bạn cảm thấy mình không muốn làm thì nhất định đừng làm để tránh cảm giác tự ti và thu mình lại sau này. Hãy luôn cố gắng thể hiện cảm xúc của mình cho đối phương hiểu. Đừng lo sợ rằng nói thật cảm xúc của mình sẽ khiến đối phương ghét mình hay khiến mối quan hệ giữa mình và họ sẽ trở nên bất tiện. Cũng rất có thể đối phương vì không biết được cảm nhận của bạn nên mới đưa ra những yêu cầu đó. Khi những người khác đều ăn mì tương đen nhưng bạn muốn ăn cơm rang, hãy đường hoàng nói "Tôi muốn ăn cơm rang." Trở thành người tốt đối xử tử tế với người khác là một việc tốt, nhưng trước hết ta có nghĩa vụ phải trân trọng chính mình. —ooOoo— Biết cách nói lên điều mình muốn mà không cảm thấy khó khăn Là một kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, cũng như việc biết lái xe vậy. Nếu không có kỹ năng ấy, bất mãn sẽ liên tục chất chồng Rồi bùng nổ như núi lửa phun trào, phá hủy các mối quan hệ ta đang có. —ooOoo— Bạn có từng cảm thấy tủi thân và tự hỏi Mình phải một mình giúp người khác đến bao giờ nữa? Nếu có, đừng cố nén cảm xúc vào trong mà hãy nói ra thành lòi "Một mình tôi không làm được, bạn giúp tôi được chứ?" Tập thể hiện cảm xúc từng chút từng chút một, bạn sẽ dần khá hơn rất nhiều. —ooOoo— Khi ai đó nhờ vả điều gì Đừng quên rằng bạn luôn có quyền lựa chọn từ chối "Xin lỗi, nhưng việc này hơi khó." Bạn không có nghĩa vụ phải nhận lời nhờ vả của tất cả mọi người, nhất là những nhờ vả quá sức, để khiến chính mình phải khổ sở. Nếu vì bạn không giúp mà mối quan hệ giữa bạn và người đó trở nên xa cách Thì ngay từ đầu đó đã không phải là mối nhân duyên tốt rồi. Khi đi máy bay, ta vẫn thường được hướng dẫn rằng trong trường hợp khẩn cấp Ta cần đeo mặt nạ dưỡng khí cho mình trước khi đeo cho trẻ em đi cùng. Tương tự, chăm lo cho bản thân mình trước Hoàn toàn không phải là một hành động ích kỷ. Bản thân mình phải hạnh phúc thì mới có thể làm cho những người xung quanh hạnh phúc. —ooOoo— Khi bạn tự biết trân trọng bản thân, Thế gian cũng sẽ bắt đầu trân trọng bạn. —ooOoo— Hãy trở thành một người tốt đối với chính bản thân mình. Giống như khi yêu ai đó, bạn luôn muốn được ở bên họ Ngày hôm nay hãy dành thời gian ở bên "bản thân" cũng rất xứng đáng được bạn yêu thương. Hãy mua cho mình món ăn ngon, cho mình đi xem một bộ phim hay, Và đưa mình đến một nơi phong cảnh đẹp. Hãy dành công sức cho bản thân như khi bạn dành công sức cho những người bạn yêu thương. Bạn thân mến Chính nhờ tự cảm thấy mình còn nhiều điều thiếu sót Nên bạn mới có thể rộng lòng hiểu cho người khác, Và biết nỗ lực hơn vì những thiếu sót đó Để rồi cuối cùng chạm đến thành công. Chúng ta, đừng ghét bỏ những gì mình còn thiếu sót Mà hãy một lần nhìn nhận chúng với sự biết ơn. —ooOoo— Dù bản thân có nhược điểm cũng không sao. Làm sao chúng ta luôn giữ cuộc đời mình sạch sẽ như một con hạc trắng được? Trong cuộc sống nhiều khi ta không tránh khỏi để lại những vết sẹo trên cơ thể, tâm hồn, và cả trong những mối quan hệ. Thay vì một cuộc sống không vết nhơ vì không làm gì cả do lo sợ gây ra lỗi lầm Hãy chọn cuộc sống mà bạn có thể trưởng thành giữa những thất bại và tổn thương. Và hãy nói thật lớn với bản thân đang nỗ lực của mình rằng "Tôi, yêu bạn rất rất nhiều." Ai cũng có một nỗi niềm trong lòng Không thể dễ dàng bày tỏ với người khác. Nỗi đau vì chuyện gia đình, cảm giác tự ti luôn giấu kín, một căn bệnh không thể tiết lộ, Hay sự tổn thương trong những mối quan hệ, một trách nhiệm nặng nề không thể né tránh Nhưng chính sức nặng của nỗi niềm đó sẽ giúp ta không hành động ngông cuồng mà luôn khiêm tốn, Hiểu người khác hôn và luôn cố gắng sống đẹp hơn mỗi ngày. Con người ta, vẻ bề ngoài không phải là tất cả. —ooOoo— Chắc hẳn có những lúc bạn cảm thấy ghen tị Khi nhìn thấy hình ảnh vui vẻ của bạn bè đăng trên mạng xã hội? Nhưng đừng ghen tị quá nhiều. Một trong những sai lầm thường gặp nhất của chúng ta Là so sánh hình ảnh bên ngoài của bạn bè với hình ảnh bên trong của chính mình. Chúng ta đâu biết nội tâm của người kia thế nào? Chưa biết chừng người ấy cũng đang nhìn vẻ bề ngoài của bạn mà ghen tị nhiều lắm đấy. Có bao giờ bạn cảm thấy tự ti vì người anh họ luôn giỏi giang hơn mình? Sẽ luôn có một người anh họ học giỏi hơn bạn, theo học một trường đại học danh giá hơn trường bạn và làm ở công ty tốt hơn công ty bạn. Thế nhưng vốn dĩ phải chờ đến khi nhắm mắt xuôi tay ta mới biết được hết giá trị của cuộc đời. Chuyện học hành, trường lớp, nơi làm việc có thể là những thước đo khiến bạn ghen tị lúc này Nhưng khi bạn có tuổi, những thứ ấy sẽ chẳng còn to tát nữa. Ai biết hài lòng và sống cuộc sống của chính mình, đó mới là người chiến thắng. —ooOoo— Con người ta thiếu sức hút không phải vì những điểm yếu, những điều họ cảm thấy mình thua kém người khác, Mà chính là vì khi cảm thấy thua kém người khác, họ sẽ tự xấu hổ về bản thân, và điều đó làm mất đi sức hút của họ. Nếu bạn tự tin và cảm thấy thoải mái với bản thân mình, thì những điểm yếu ấy sẽ chẳng phải điều gì to tát đáng bận tâm. Sự tự tin chính là sức hút của bạn đấy. "Không nhất thiết phải là người giỏi nhất. Là hạng hai, hạng ba thì đã sao? Tôi vui khi thấy mình luôn nỗ lực thế này. Tôi sẽ yêu thương bản thân mình nhiều hơn nữa." Hãy luôn tự nói với mình như thế. —ooOoo— Nếu bạn liên tục bận tâm về những điều người khác chê bai Thì bạn sẽ tự thu mình lại và dần dần không thể làm bất cứ việc gì nữa. Đó chính là điều họ muốn thấy ở bạn. Đừng giao chìa khóa cuộc đời mình cho những người chê bai bạn. Mỗi khi nghe thấy tiếng họ, bạn hãy nói thật to rằng "Hãy xem ai mới là người đúng! Nhờ có các người, tôi sẽ càng cố gắng hơn nữa!" —ooOoo— "Tại sao tôi phải hủy hoại cuộc sống của chính mình Chỉ vì lời chê bai từ những người không biết rõ về tôi?" - Hong Seok Cheon Khi những lời đàm tiếu về bạn hiện lên trong tâm trí Nếu bạn tin vào những lời ấy Thì từ giây phút đó chúng sẽ bắt đầu chi phối bạn. Chỉ vì những lời đó xuất hiện trong tâm trí bạn không có nghĩa chúng đều là sự thật. Đừng quên rằng chúng không phải là suy nghĩ của bạn, và đừng để bị chi phối bởi chúng. —ooOoo— Khi bạn nghe thấy bên trong mình cất lên tiếng nói "Ngưoi vốn dĩ có biết vẽ bao giờ đâu" Thì lúc đó bạn nhất định phải vẽ nhiều hơn nữa. Tiếng nói đó sẽ im lặng ngay thôi. - Vincent van Gogh —ooOoo— Chúng ta được yêu thương không phải vì chúng ta làm tốt điều gì đó. Chỉ riêng sự tồn tại của chúng ta thôi cũng đã đáng được yêu thương rồi. Hãy tự coi trọng và biết yêu thương chính bản thân mình. Có chút thiếu sót, có chút lỗi lầm cũng không sao. Cho dù ta không hoàn hảo theo những quy chuẩn, những thước đo của thế gian Sự tồn tại của chúng ta đã là thứ có giá trị và đáng được yêu thương rồi. Khi đến Ấn Độ, bạn sẽ thấy người ta chào nhau bằng câu "Namaste." Thật ra "Namaste" là một câu nói có ý nghĩa rất đẹp và sâu sắc. "Điều thiêng liêng bên trong tôi Xin được cúi đầu chào điều thiêng liêng bên trong bạn." Bản thân mỗi người chúng ta Đã là sự tồn tại vĩ đại và thiêng liêng hơn chúng ta nghĩ, rất nhiều. Mời các bạn đón đọc Yêu Những Điều Không Hoàn Hảo của tác giả Hae Min.
Thuyết Tán Tỉnh Cậu
“Lăng nhăng như mày mà cũng muốn kết hôn hả?” “Thì tao hết lăng nhăng rồi nên mới muốn kết hôn, từ lúc đẻ ra đến giờ chưa kết hôn lần nào nên muốn thử. Mà đám cưới phải có cô dâu thiệt là dễ thương nè, tổ chức tiệc mời cả nghìn bàn luôn, nếu mời được Thủ tướng đến làm chủ hôn thì còn oách hơn nữa.” “Mày ảo tưởng nó vừa thôi.” “Không thích hả?” “Không.” “Thích đám cưới theo phong cách nào?” “Đơn giản, có lẽ chỉ tổ chức trong gia đình thôi?” “Ok, để tao gọi điện báo cho mẹ.” Bộ phim ăn khách Theory of Love đã làm mưa làm gió bao nhiêu trái tim người xem thì nay tiểu thuyết đã chính thức được ra mắt. Chàng trai ăn chơi cũng phải dừng lại trước người mà cậu yêu. Nhưng đó không phải chuyện dễ dàng. Yêu mà không biết mình yêu, thương mà cứ băn khoăn... *** Nói rằng yêu đơn phương là một loại hạnh phúc, đúng. Nhưng nói yêu đơn phương là đau khổ tột cùng, cũng chẳng sai. Đối với Third, đơn phương một người vừa là ngọt ngào cũng vừa là đắng cay. Được người ấy quan tâm là vui, biết người đã bên người khác là đau, và điều làm Third đau lòng hơn hết thảy là cậu lại mang thứ tình cảm ấy dành cho người không nên. Kai là tri kỷ, là bạn chung chí hướng, là người đã hứa cùng cậu thực hiện ước mơ và là người Third yêu đơn phương đã hơn hai năm. Đến khi vận mệnh giữa họ dịch chuyển, Third cũng biết rằng tình bạn giữa cậu và Kai không thể nào tiếp tục được nữa. Nếu một ngày người ta yêu cũng quay lại nhìn chúng ta như cách chúng ta mong muốn, liệu có thật là tốt?   “Xin chào, chúng ta lại gặp nhau vào tối thứ năm hàng tuần, đúng tám giờ tối không hơn không kém. Có lẽ nhiều người đã thắc mắc sao dạo này tôi ít trả lời tin nhắn trên fanpage, thật xin lỗi mọi người. Dạo gần đây việc học của tôi khá lu bu nhưng giờ thì dễ thở hơn rồi.” Giờ mới để ý, ống kính bị lệch. Nhưng lười xuống giường chỉnh lại mất thời gian nên thôi kệ, cứ để vậy đi. “Chúng ta bắt đầu thôi nào. Tuần trước, mấy em khóa dưới và cả bạn bè tôi đều đề cử cho tôi một bộ phim.” Tôi ngừng lại một lúc để tạo chút không khí hồi hộp cho khán giả. Tích tắc, tích tắc… “Đúng vậy, bộ phim này chính là… The girl that never stopped laughing 2 hay tựa đề Thái mà mọi người quen thuộc là Cô bé hay cườiphần hai.” Vỗ tay đi chứ, chết tiệt! Không thì nhạt chết. Mở màn câu view bằng cái ‘đầu voi’ rõ to rồi chết máy bằng cái cái ‘đuôi chuột’ đầy yên tĩnh và ngại ngùng, tôi đành nhanh chóng đổi chủ đề. “Ban đầu tôi cũng không có hứng thú với bộ này lắm, mà mọi người còn nói nội dung nó chẳng liên quan gì đến phần đầu, ủa, vậy làm phần tiếp theo làm gì không biết? Nhưng xem xong rồi mới hiểu. Phim kể về câu chuyện của một nữ sinh Trung học năm cuối tên Amy, cô bé mắc bệnh bẩm sinh, mỗi lần cười sẽ không ngừng lại được. Thật ra thì gọi nó là bệnh liên quan đến quai hàm cũng không sai. Nhưng tôi sẽ không tiết lộ nội dung đâu, mọi người phải tự mình trải nghiệm mới thấy thú vị chứ. Nào, giờ thì chúng ta cùng bàn luận về kịch bản, hình ảnh và nhạc phim nào…” Sau đó là một loạt nhận xét lan man không đầu không đuôi của tôi. À, chắc mọi người đang thắc mắc không biết là tôi là ai đúng không? Vậy để tôi nhắc lại lần nữa nhé. Tôi, “Third”, một Youtuber nghiệp dư. Nói là nghiệp dư thì cũng không đúng lắm, vì tôi đã tạo tài khoản này gần một năm rồi, coi như cũng có chút thành tựu với hơn ba mươi nghìn người xem. Fanpage mà tôi đã nhắc đến lúc trước hiện tại có chẵn ba mươi tư nghìn người theo dõi. Đúng là có cảm giác người nổi tiếng ghê luôn. Sau khi quay xong clip bàn luận về phim thì đến khâu chỉnh sửa, ghép lời, ghép nhạc rồi đăng tải lên Youtube, đây là sở thích của tôi. Và người quan trọng luôn có mặt giúp đỡ tôi lúc này chính là cậu ta, bạn thân của tôi… “Mày, clip trước có quá trời người xem luôn.” Hỏi xem nó giúp gì được cho tôi á, ừ thì tất cả đó, nhưng đa phần là ngồi nghe tôi lảm nhảm như hôm nay. “Ba trăm lượt xem.” “Hả?” “Ba trăm lượt xem, tao mới mở ra kiểm tra mười lăm phút trước.” “Youtube của mày chắc có vấn đề, thử vào lại xem.” “Tên kênh của mày nè, review phim Cô bé hay cười, lượng người xem hiện tại, ba trăm mười bốn là nhiều của mày đấy à?” Bố khỉ, tôi còn tưởng nó chưa bấm vào xem. “Nếu muốn có chục nghìn lượt xem thì lần sau mày phụ tao đi, lần nào mày xuất hiện là lần đó lượt xem tăng đột biến luôn.” Câu này thật sự luôn luôn đúng. Cả hai chúng tôi đều là sinh viên khoa Nghệ thuật truyền thông, chuyên ngành Điện ảnh, mọi người thường hay gọi chúng tôi là “nhóc phim”. Hiện giờ tôi đang học năm ba, vừa học vừa tham gia các hoạt động ngoại khóa, gần như không kiếm đâu ra thời gian rảnh, nhưng cũng lạ là… Dù bận cỡ nào, tôi với thằng bạn thân này luôn cùng nhau dành thời gian mua vé ra rạp xem phim. Ngồi xem đến hết cả phần danh đề, màn hình đổi màu đen xì một cục, hai đứa mới chịu rời khỏi rạp, cùng nhau bình luận, chia sẻ cảm nhận. Cũng chính vì thế nên tôi mới mở kênh youtube này, chủ yếu để trao đổi kinh nghiệm với người xem. Tôi chỉ muốn biết mọi người xem xong bộ phim đó có nghĩ giống tôi không, nghe thì hay đấy nhưng, ờ thì, lắm lúc cũng chẳng đâu vào đâu. Thường chẳng mấy ai quan tâm đến video của tôi, cái nào lắm lượt xem đều vì có sự góp mặt của thằng bạn. Hễ nó thò mặt vào cùng tôi review phim nào, lượt xem chắc chắn luôn vượt quá mười nghìn. “Kênh của mày, mày tự đi mà review đi chứ thằng quần.” “Thêm mày càng nổi chứ sao.” “Đừng lợi dụng mình để nổi tiếng nha bạn Third. Tao không phải anh chàng đẹp trai tốt bụng dành cho mày đâu.” Đầu tôi bị bàn tay lớn dúi mạnh một cái trước khi thằng bạn thân hùng hổ bước nhanh về phía hành lang làm tôi phải vội vàng chạy theo mới đuổi kịp nó. “Rồi mày đẹp trai với ai không biết.” “Đẹp trai với bạn gái tao chứ ai.” Hự? Một nhát xuyên tim, đau thấu trời xanh. “Rồi hôm nay mày rảnh không, đi xem phim không?” Tôi vội chuyển chủ đề ngay lập tức. “Không rảnh. Tao có hẹn đưa Jam đi ăn. Mày muốn xem phim gì thì đi xem trước đi.” Lạc lõng. Có lẽ đó là từ duy nhất có thể diễn tả tâm trạng tôi ngay lúc này. Đối với tôi, hai chữ ‘bạn thân’ này là cái tên tôi đặt cho bức tường dựng lên để che giấu tình cảm thực sự của mình. Kỳ thật là tôi ghét nó, ghét bức tường này, ước chi nó biến luôn khỏi thế giới này càng tốt. Bởi vì tôi… đang yêu đơn phương chính thằng bạn thân của mình. Mà nó cũng chẳng giống người bình thường, lắm điểm khác người và tôi cũng biết rõ tất cả mọi thứ liên quan đến nó. Thằng bạn thân này của tôi tên ‘Kai’, tên đầy đủ là Khunpol Krichpirom, sinh ngày thứ năm mùng bảy tháng chín. Năm sinh không cần quan tâm đâu nhưng năm mất chắc chắn là năm nay, vì tôi thề sẽ giết nó. Kai là một đứa vô cùng đáng ghét với vô số thói quen quái thai như phải ăn cơm vào đúng mười hai giờ trưa vì dạ dày nó là cơ quan hoạt động chính xác nhất thế giới này. “Ông chủ! Như cũ nhé.” “Kai, đợi chút, hôm nay đông khách.” “Bụng em réo ầm ĩ rồi, mười hai giờ rồi ông chủ ơi.” “Vậy hôm nay chú mày ăn quán khác đi, miễn chen ngang.” “Ông chủ còn thừa gì không? Kiểu mà bỏ vào chén được luôn khỏi cần xào nấu gì thêm cho mất thời gian ấy.” “Hơ…” “Có không ông chủ?” “Kimhuai, lấy cơm trắng chan nước mắm cho thằng Kai đi.” “Lại nữa hả, tháng này anh Kai ăn hết hai chai nước mắm rồi bố ơi.” Tôi nhìn nó ăn cơm chan nước mắm bao lần cũng chưa từng thấy nó than lấy một câu không ngon, chỉ toàn thấy nó bảo may còn được ăn cơm đúng giờ. Nói thật, tôi rất sợ, sợ nó hỏng thận chết sớm trước khi kịp chết già cùng tôi. Thằng Kai là hotboy. Dù chưa có bằng chứng nhận nhưng sự đào hoa cộng thêm cái mặt oppa khiến danh sách bạn gái của nó rải đều xuống gần như tất cả các khoa. “Mày, hỏi thật, từ lúc quen nhau đến giờ mày có bao giờ thử đếm xem từng có bao nhiêu cô bạn gái rồi không?” “Không, quá nhiều.” “Một chút cũng không nhớ?” “Rồi mày đi tọc mạch chuyện bồ tao làm cái gì hả thằng Third.” “Ơ, bạn thân như tao không có quyền biết à?” “Bố không nhớ.” “Hay thế này đi, tao nói tên khoa nào, mày nói xem đã có bạn gái ở khoa đó chưa, ok không?” Chẳng biết nó còn thậm thụt bồ bịch với ai không nữa. Hẹn hò công khai đã đếm không xuể rồi, thêm chỗ mập mập mờ mờ nữa chắc kín vài dãy phố. “Nói đi.” “Quản trị kinh doanh?” “Ba người, thích nhất Noina.” Tự dưng cảnh “Jeab, sao lại cắt dây thun của tớ?” lại hiện lên trong đầu. “Kiến trúc?” “Nhỏ AR, có cá tính mỗi tội hay dỗi, không thích.” “Giáo dục?” “Hoa khôi của khoa tên Poy đó.” “Vậy Nông nghiệp thì sao? Nông nghiệp đó.” Từ lúc quen biết nó đến giờ tôi chưa từng thấy nó hẹn hò với nữ sinh khoa này luôn. “Hoa hậu trồng trọt năm ngoái.” Hơ! Cỡ hoa hậu trồng trọt mà mày cũng cưa đổ được hả? “Vậy y khoa thì sao? Y khoa? Nha khoa? Khoa dược? Điều dưỡng? Y tá?” “Chắc là đủ hết rồi.” “Luật? Xã hội? Kỹ thuật? Khoa học?” “Ừm.” “Ừm là cái quái gì cơ.” “Từng hẹn hò qua hết rồi.” “Thằng Kai, mày muốn làm lâm tặc, cưa hết cả cái trường này hả đồ khốn?” “Nhưng có duy nhất một khoa và một ngành tao sẽ không bao giờ động đến nhé.” “Ngành nào?” Tôi vừa hỏi vừa hồi hộp, vì tôi thật sự hy vọng rằng nó không phải người tùy tiện hẹn hò với bất cứ ai… “Ngành Điện ảnh, quy tắc của tao là không hẹn hò với bạn bè cùng ngành, hiểu không?” Đối phương vỗ vỗ vai tôi cùng nụ cười quyến rũ như bao lần. Muốn hiểu gì đây? Hiểu rằng cho dù tình cảm đơn phương của tôi có cố trèo qua được bức tường “bạn thân” thì cũng chỉ toàn công dã tràng đó hả? Đau thật sự. Nhưng cũng chẳng thể làm gì ngoài gật đầu, tỏ vẻ thấu hiểu, trong nước mắt. Thằng Kai là người không biết giữ gìn đồ đạc, nhưng có một thứ nó vô cùng nâng niu, ngoài mấy cô bạn gái thì ai cũng không được đụng vào. Đó là chiếc BigBike KTM 1190 RC8, đứa con yêu quý của nó, tên Charl. “Rốt cuộc hôm nay có đi xem phim với tao không?” “Đi chứ.” “Đi xe ai đây?” “Mày lái xe mày, tao sẽ lái Chawee.” “Chawee nào?” “Chari là biệt danh, Chawee là tên thật.” “Mày đùa hả?” “Tao nghiêm túc mà.” “Tao ngồi sau Chawee nhà mày được không?” “Không được đâu, chỗ đó chỉ dành cho bạn gái thôi nhá, mày hiểu tao mà bạn hiền.” Ờ có vẻ hơi khó hiểu, mà tao cũng không muốn hiểu lắm đâu. Thằng Kai từng nói với tôi rằng trong tình yêu, nếu người đó thật sự thích mình thì họ nhất định sẽ đến tìm mình. Đây chính là lý do mà từ trước đến giờ, nó chưa bao giờ chủ động theo đuổi người khác, chỉ có đối phương tự chạy theo nó không ngớt mà thôi. “Vợ tao like bài, mày ạ.” “Like cái gì?” “Hình gái tao đang tán.” “Kìa, khung chat kìa. Trả lời đi.” Mint Supreeya: Anh, đây là ai thế? Like hết ảnh của anh, còn có bạn chung với anh nữa. Khunpol Krichpimon: À, anh cũng không biết. Thiên hạ đệ nhất dối trá, lươn lẹo, xảo trá là đây chứ đâu xa. Quan trọng, nó cũng là người rũ bỏ mọi thứ rất dễ dàng. Dễ dàng đến nỗi tôi nghĩ cả cái trường này, nó xưng thứ hai cũng không ai dám trèo lên đứng nhất. Rrrrr…! “Rồi, anh đang đi rồi đây.” Tiếng chuông điện thoại của thằng bạn thân kéo tôi khỏi mớ suy nghĩ xa xôi, trở về thực tại. Đúng vậy. Giờ chúng tôi đang đi trên đoạn hành lang nối dài, phía trước chừng mười mét là bãi đỗ xe. Tôi và Kai sẽ tách nhau ra, mỗi đứa một đường. “Jam, có chuyện gì không?” “…” “Thật không? Đừng có đùa.” “…” “Đừng cố tình gây sự nữa. Phiền lắm.” Ủa, rồi sao, cảnh này trông quen quen, diễn đi diễn lại không lệch đi đâu được. Chắc tôi phải chứng kiến cảnh này hơn chục lần rồi, mỗi lần “bấm máy” là thần thái của “diễn viên” Kai lại không chút sai biệt… “Lại dọa chia tay. Ờ, vậy luôn đi, anh không ý kiến.” Sau đó nó cúp máy. Giờ đến lượt tôi bước tới vỗ vai an ủi nó như mọi lần. “Mày, ổn không?” “Cũng không ổn lắm.” Giọng nó có vẻ buồn. Không sao đâu mày, tao vẫn ở đây, tao không đi đâu cả. Nếu mày không có ai thì vẫn còn tao luôn an ủi mày. Tao… Yêu… Mày. Ting! Tiếng tin nhắn Line vang lên. Đừng nha mày, đừng cầm điện thoại lên nha thằng bạn chết tiệt. Đừng! “Em Milk khoa Kế toán.” Giờ khỏi cần soi gương tôi cũng biết sắc mặt mình sượng hơn thằng Kai cả trăm lần, đến bàn tay an ủi đặt trên vai nó còn chưa kịp lấy xuống. “Rồi… rồi sao?” “Đang để ý.” “Nhưng mày vừa chia tay với Jam, đừng nói là…” “Nói trước là tao không bắt cá hai tay nha, còn chưa kịp tán em nó cơ mà. Nhưng giờ lại độc thân thì tán được rồi.” “…!” “Tao đi trước đây, theo đuổi tình yêu mới cái đã, sáng mai gặp. Mua giùm tao gói mì vị Tom Yum Kung nữa nhá. Tao yêu mày chết đi được.” “Khoan đã Kai, thằng khốn nạn.” Cuối cùng vẫn chỉ còn lại mình tôi. Tôi không nhớ nổi mình đã đối diện với tình huống thế này bao nhiêu lần. Trong suốt gần hơn hai năm thích nó, chưa lần nào nó quay lại nhìn tôi dù chỉ một lần. Có thể vì tôi chưa một lần đủ dũng khí thổ lộ, nên kết cục nào thì người duy nhất tổn thương cũng chỉ mình tôi. Ngày mai sẽ như mọi ngày, chỗ ngồi sau xe nó sẽ dành cho người mới. Ngày mai sẽ chỉ có tôi ôm đống đồ ăn nó thích, chủ động đi tìm nó, còn nó đến giờ vẫn chưa từng biết đến cảm nhận của tôi. Ngày mai bí mật vẫn là bí mật. Nếu không muốn mất nó, tôi sẽ phải tiếp tục vai diễn bạn hiền này, chôn giấu tình cảm đơn phương trong yên lặng. Buồn thật nhưng cũng chẳng thể làm gì khác, tôi chán nản quay về bãi đậu xe. Và mỗi lần cảm giác phiền muộn này tìm tới, tôi đều trở về phòng, mở cái laptop cũ, bật nhạc, sau đó đi thẳng vào phòng tắm. Hòa cùng tiếng nhạc buồn, tôi bật khóc, không đến nỗi nức nở nhưng đau lòng này là thật. Một tay đấm tường, tay còn lại vặn vòi hoa sen để cái lạnh xua bớt đi nỗi buồn. Âm nhạc cất lên! “Chết tiệt, mất nước!” Đúng cụt hứng mà. Tôi vội vàng chạy ra mở lại bản nhạc cũ rồi quay sang lấy chai nước trong tủ lạnh. Nước máy không chảy thì khui chai nước uống, dội xuống cho lòng này tan nát luôn đi. Ào!!! Thằng Kai, nhẽ ra mày phải biết vì mày mà tao tốn biết bao nước uống, lãng phí tài nguyên nhiều lắm, biết không… Mời các bạn đón đọc Thuyết Tán Tỉnh Cậu của tác giả Jittirain & Yang Yang (dịch).
Isabelle Vỡ Mộng
Mộng và thực, hư cấu và đời thật đã hòa quyện lấy nhau trong đời sống tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa như chốn Đào nguyên, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng Lacase. Ở đó, mùi vị của thứ tình ái viễn mơ, sự theo đuổi đam mê đã tự khắc trỗi dậy và cũng tự khắc tàn phai. Một không khí hoang phế gió lộng của thời thanh xuân được André Gide đưa vào trong cuốn tiểu thuyết truyện lồng trong truyện nhuốm u hoài và quyến rũ. *** Bộ sách là kiệt tác văn chương Pháp vừa ra mắt bạn đọc nhân dịp Giáng sinh 2018. “Đứa con đi hoang trở về” (Le retour de l’enfant prodigue, 1907) của tác giả André Gide khởi nguồn cảm hứng từ dụ ngôn Đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh Tân ước. Với một sự triển khai đa chiều, André Gide đưa vào đó bốn cuộc đối thoại, như một vở kịch bốn màn, kéo câu chuyện khỏi không gian của bản kinh giáo điều để nối kết với cuộc sống nhân gian vốn dĩ phức tạp. Qua ngôi nhà và khát vọng tự do, chọn lựa phiêu lưu của tuổi trẻ và sự trở về kiếm tìm cứu rỗi nơi một con người đã nếm trải gió bụi lạc lối…, André Gide mở ra các cảnh huống triết lý mà ở đó, có thể mỗi người đọc đều đã từng “nhập vai”. “Vỡ mộng” (Isabelle, 1911) cũng là tác phẩm của André Gide nói về mộng và thực, hư cấu và đời thật đã hòa quyện lấy nhau trong đời sống tâm hồn của một thanh niên lý tưởng và đa cảm. Lâu đài Quartfoutche cổ xưa như chốn Đào nguyên, tách biệt với cõi nhân gian rộn ràng đã đổ bóng xuống nỗi cô độc của chàng Lacase. Ở đó, mùi vị của thứ tình ái viễn mơ, sự theo đuổi đam mê đã tự khắc trỗi dậy và cũng tự khắc tàn phai. Một không khí “hoang phế gió lộng” của thời thanh xuân được André Gide đưa vào trong cuốn tiểu thuyết truyện lồng trong truyện nhuốm u hoài và quyến rũ. “Thư gửi một con tin” (Lettre à un otage, 1943) của Antoine de Saint-Exupéry nói về giá trị tuyệt đối của con người. Từng bay trên những sa mạc, biển cả, đô thị, xuyên biên giới các quốc gia, vùng lãnh thổ, cha đẻ của Hoàng tử bé tiếp tục truyền trao nguồn cảm hứng du hành cùng những chiêm niệm về nhân sinh trong tập sách nhỏ này. Tinh thần tự do, lòng ái quốc, tình bạn, giá trị con người và cả những khuyết tật của văn minh, những biên giới văn hóa được ông trải ra trên các đoản văn đầy thi tính và giàu triết lý. Nhà văn, nhà giáo, dịch giả Bửu Ý nguyên là giảng viên Pháp văn, trưởng khoa ngoại ngữ của Trường đại học Sư phạm Huế. Ông từng được Pháp trao Huân chương Cành cọ hàn lâm. Huân chương cao quý này dành cho những người được xem là cầu nối văn hóa - giáo dục giữa hai nước Việt - Pháp, quảng bá văn hóa Pháp tại Việt Nam và giảng dạy tiếng Pháp... *** André Paul Guillaume Gide (22 tháng 11 năm 1869 – 19 tháng 2 năm 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng của thế kỷ 20, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Sáng tác đầu tay của ông là cuốn tự truyện Les cahiers d'André Walter (Những cuốn vở của André Walter, 1891) viết bằng thơ và văn xuôi đầy chất thơ, kể về sự giằng xé, giày vò giữa thể xác và tâm hồn và sự tìm kiếm lối thoát trong các hình thái thần bí và thanh cao của tình yêu. Do bị bệnh lao không phải chịu quân dịch, những năm 1893-1894 André Gide du lịch sang Algérie và Tunisia, nơi ông phát hiện ra mình là người đồng tính luyến ái. Thời gian khủng hoảng kéo dài được ghi nhận bởi sự bất ổn tinh thần và những kiếm tìm chân lý thể hiện trong truyện vừa Le Retour de l'Enfant prodigue (Cuộc trở về của đứa con du đãng, 1907). Về mặt phong cách, Gide đã khắc phục lối viết cầu kì ban đầu, đến với một ngôn ngữ giản dị rõ ràng. Năm 1908, ông trở thành người đồng sáng lập Tổng quan mới của nước Pháp, một trong những tạp chí có ảnh hưởng đối với sự phát triển nền văn học Pháp và thế giới. Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) đặt vấn đề về sự chấp nhận một cách mê muội những tín ngưỡng và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Những kẻ làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết. Một năm sau khi xuất bản truyện vừa Thésée (Theseus, 1946) - mà ông coi như một bức di thư văn học - André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Năm 1950, André Gide xuất bản tập cuối cùng của bộ Journal (Nhật kí). Ông mất năm 1951 ở Paris. Mời các bạn đón đọc Isabelle Vỡ Mộng của tác giả André Gide & Bửu Ý (dịch).