Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phía Tây Không Có Gì Lạ

Erich Maria Remarque (1898-1970) đã phục vụ trong Thế chiến thứ nhất và đã bị thương tất cả năm lần. Những hình ảnh ghê rợn của cuộc chiến trong giao thông hào đã để lại những vết sẹo không phai mờ trong tâm trí Remarque nên ông cố xua đuổi những bóng ma đó qua các sáng tác văn học. “Phía Tây không có gì lạ” là tác phẩm hay nhất của ông dù chín tác phẩm khác ông cũng viết về những đau đớn, khổ cực trong chiến tranh. “Phía Tây không có gì lạ" là câu chuyện về Pôn Baomơ, một người lính Đức trẻ, xung phong vào quân đội vì Căntôrec, vị giáo sư của anh, đã thuyết phục cả lớp tham gia quân đội để làm cho nước Đức được vẻ vang. Sau một thời kỳ huấn luyện gian khổ dưới quyền của Himmenxtôt, một phu trạm, Baomơ và các bạn ra tiền tuyến. Dù được vẽ vời trong nhà trường với những hình ảnh huy hoàng của các anh hùng, Baomơ nhanh chóng nhận thức được rằng những chiến hào đầy máu của Mặt trận phía Tây là một sa lầy của những khổ đau và chết chóc. Ngay khi những quả đạn pháo đầu tiên nổ tung trong bùn lầy, Baomơ và các bạn thấy rằng tất cả những người ở lại nhà đều dối trá: chiến tranh không phải là một thay đổi vinh quang, chiến tranh không làm cho các cậu con trai trưởng thành mà nó hủy diệt một cách có hệ thống tất cả những ai khỏe mạnh và lịch sự. Tất cả các bạn của Baomơ đều chết, bị thương, hoặc đào ngũ. Pôn Baomơ bắt đầu tự vấn về cuộc đời mình và băn khoăn không biết mình có sống sót được sau cuộc chiến hay thậm chí có sống được trong một thế giới không có chiến tranh hay không. Xuyên suốt câu chuyện, Remarque thường dùng từ “chúng tôi” để nói lên tình đồng đội - cái quý nhất mà chiến tranh tạo nên. Những người lính ấy đã trải qua những giây phút cận kề cái chết cùng nhau nên họ gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau tất cả những gì họ có. “Chúng tôi không nói nhiều nhưng chúng tôi để ý săn sóc nhau từng ly từng tí, thiết tưởng còn hơn cả những cặp tình nhân. Chúng tôi là hai con người, hai tàn lửa sống nhỏ bé, và ngoài kia, là đêm tối, là vòng vây của thần chết.” *** húng tôi nằm sau chiến tuyến chín cây số. Đại đội vừa được thay phiên hôm qua; lúc này cả bọn vừa ăn căng rốn món đậu trắng hầm thịt bò, no nê và hài lòng. Thậm chí mỗi thằng còn được thêm một cà mèn đầy dành cho bữa tối; đã vậy còn lĩnh cả khẩu phần kép xúc xích và bánh mì - thật là quá đã. Lâu lắm rồi chẳng có bữa nào thỏa thuê như thế này: gã đầu bếp với tấm thân bò mộng và cái đầu cà chua đỏ lựng đích thân đem đồ ăn ra mời anh em; ai đi ngang qua gã cũng vẫy vẫy cái muỗng gọi lại và úp cho một muỗng đầy tú hụ. Gã đang tuyệt vọng lắm, vì không biết làm cách nào trút cho hết cái nồi quân dụng to vật này. Tjaden và Müller lôi đâu đến mấy cái chậu và để gã múc cho đầy phè đến tận miệng chậu. Tjaden làm thế vì háu ăn, còn Müller vì lo xa. Mọi người chịu không hiểu Tjaden tọng rõ lắm mà chả biết thức ăn chui đằng nào hết. Trước nay lúc nào cậu ta cũng gầy đét như con cá mắm. Nhưng quan trọng nhất là có cả khẩu phần kép thuốc hút. Mỗi người được mười điếu xì gà, hai mươi điếu thuốc lá và hai miếng thuốc lá nhai, quả là rất đàng hoàng lịch sự! Tôi đổi chỗ thuốc nhai của mình lấy thuốc lá của Katczinsky, thế là tôi có bốn mươi điếu. Đủ xài cho cả ngày. Thật ra thì tất cả những món quà bất ngờ này không dành cho chúng tôi. Người Phổ đâu có hào phóng thế. Chúng tôi vớ bở chỉ nhờ một sự nhầm lẫn. Mười bốn ngày trước chúng tôi phải lên tuyến đầu vì đến phiên giữ chốt. Khu vực chúng tôi cắm quân khá yên tĩnh, và vì vậy để chuẩn bị cho ngày chúng tôi trở về viên quản lý đã lĩnh khẩu phần ăn thông thường đủ cho cả một trăm năm mươi lính toàn đại đội. Nhưng đúng vào ngày cuối cùng, với số lượng pháo nòng dài và pháo hạng nặng nhiều đến kinh ngạc, quân Anh đã liên tục nã đạn vào vị trí của chúng tôi, khiến chúng tôi chịu tổn thất nặng nề tới mức chỉ còn tám chục mống quay về. Chúng tôi rút quân vào ban đêm và lập tức lăn ra đánh một giấc cho đã đời; vì Katczinsky nói đúng: chỉ cần lính tráng được ngủ nhiều hơn thì chiến tranh cũng chẳng đến nỗi nào. Thế nhưng ở tiền tuyến có bao giờ được ngủ cho ra giấc đâu, và mỗi phiên chốt mười lăm ngày lại quá là lâu. Khi những thằng đầu tiên trong chúng tôi bò ra khỏi các lán trú quân thì trời đã trưa. Nửa giờ sau, mọi người đều vớ lấy cà mèn, kéo nhau đến tụ trước nồi thịt hầm vừa chín tới đang tỏa mùi béo ngậy. Đứng đầu tiên cố nhiên là những thằng háu đói nhất: Albert Kropp nhỏ thó, suy nghĩ sáng suốt nhất bọn nên vừa mới được lên binh nhất; Müller V, vẫn tha theo những cuốn sách giáo khoa bên mình và mơ tới kỳ thi tranh thủ ngày về phép, dưới màn đạn lửa vẫn cày các định luật vật lý; Leer, râu quai nón, rất thích các cô gái trong nhà thổ dành cho sĩ quan thề sống thề chết rằng theo lệnh nhà binh thì các cô có nghĩa vụ phải mặc áo sơ mi lụa và phải tắm trước nếu tiếp khách từ cấp đại úy trở lên; và người thứ tư là tôi, Paul Bäumer. Cả bốn thằng cùng mười chín tuổi, cả bốn thằng cùng từ một lớp học đi thẳng vào cuộc chiến. Ngay sau lưng bọn tôi là đám bạn thân, Tjaden, một thợ khóa gầy gò, trạc tuổi bọn tôi, chén khỏe nhất đại đội. Cậu ta ngồi xuống bàn ăn người mảnh như que tăm, nhưng khi đứng dậy thì bụng kệnh như con rệp chửa; Haie Westhus, bằng tuổi, thợ than bùn, có thể dễ dàng nắm gọn một ổ bánh mì lính trong lòng bàn tay mà đố: “Đoán xem, trong tay tớ có gì?”; Detering, nông dân, chỉ nghĩ đến nông trại và vợ của mình; và cuối cùng là Stanislaus Katczinsky, thủ lĩnh của nhóm chúng tôi, gan lì, láu lỉnh, dày dạn, tuổi đã tứ tuần, mặt nâu như đất thó, mắt xanh lơ, vai xuôi thõng và có khứu giác kỳ diệu, ngửi ra ngay những mối nguy hiểm, những món ăn ngon, những chỗ nấp tốt. Nhóm chúng tôi đứng đầu đội quân xếp hàng rồng rắn trước quầy bếp lưu động. Chúng tôi bắt đầu sốt ruột, vì gã đầu bếp thẫn thờ vẫn còn đứng ì ra đấy mà đợi. Cuối cùng Katczinsky réo về phía gã: “Mở thùng súp của cậu ra đi chứ, Heinrich! Ai cũng thấy là đậu nhừ rồi kìa.” Gã kia lắc đầu như ngái ngủ. “Các cậu phải có mặt đông đủ đã.” Tjaden nhe răng cười. “Bọn tôi đến đủ rồi.” Gã hạ sĩ quan anh nuôi vẫn chưa mảy may biết gì. “Các cậu đừng có tưởng bở! Thế còn những người khác đâu cả?” “Hôm nay họ không xơi cơm của cậu! Họ đang nằm ở quân y viện và dưới mồ chung rồi.” Con bò nấu bếp như bị một đòn chí mạng khi biết được sự thật. Gã lảo đảo. “Thế mà tôi lại nấu cho những một trăm năm mươi người.” Kropp huých vào sườn gã. “Vậy thì bọn này cuối cùng cũng được một bữa no. Thôi, bắt đầu đi!” Nhưng trong đầu Tjaden chợt lóe lên một ý nghĩ. Cái mặt chuột nhọn hoắt của cậu ta sáng rỡ lên, cặp mắt nheo lại đầy vẻ láu cá, hai gò má giật giật, cậu ta sán đến gần gã đầu bếp hơn: “Này nhóc, vậy là cậu cũng đã lĩnh cả phần bánh mì cho một trăm năm mươi người, hả?” Gã kia gật đầu trong lúc còn chưa hết choáng váng và hồn vía vẫn ở trên mây. Tjaden túm lấy áo gã. “Cả xúc xích à?” Cái đầu cà chua lại gật. Xương quai hàm Tjaden run lên. “Cả thuốc lá nữa chứ?” “Phải, tất tần tật.” Tjaden mặt mày sáng rỡ ngó ra xung quanh. “Mẹ kiếp, thế này gọi là đỏ hơn son đây! Vậy là tất cả dành cho anh em ta! Mỗi thằng sẽ được… xem nào… đúng rồi, chính xác là gấp đôi khẩu phần!” Nhưng lúc này gã cà chua đã hoàn hồn, gã tuyên bố: “Thế không được.” Giờ thì cả bọn chúng tôi cũng phấn chấn hẳn lên, xô nhau sấn gần lại. “Sao lại không được, cái đồ óc bã đậu kia?” Katczinsky vặn. “Tiêu chuẩn cho một trăm năm mươi người, không thể chia cho tám mươi người được.” “Rồi chúng tao sẽ cho mày biết,” Müller gầm gừ. “Thức ăn thì còn được, chứ những thứ khác tôi chỉ có thể phát đủ tám mươi suất,” gã cà chua khăng khăng một mực. Katczinsky nổi cáu: “Xem chừng phải thuyên chuyển mày khỏi đây, hả? Mày đã lĩnh khẩu phần không phải cho tám mươi lính, mà cho đại đội hai, vậy thôi. Giờ bỏ cả ra đây! Đại đội hai là chúng tao đây này!” Chúng tôi áp sát gã đầu bếp. Chẳng ai chịu nổi gã, đã nhiều phen do lỗi của gã mà ở ngoài chiến hào chúng tôi phải nhận bữa ăn vừa quá muộn vừa nguội ngắt, vì đạn pháo chỉ mới đùng đoàng một tí là gã đã không dám bê nồi thức ăn lại gần hơn, cho nên anh em đại đội chúng tôi đi lấy đồ ăn phải đánh đường xa hơn anh em các đại đội khác rất nhiều. Bulcke ở đại đội một chẳng hạn là một đầu bếp khá hơn hẳn. Tuy béo như con chuột đồng, nhưng khi cần, anh ta vẫn tự tay lễ mễ tha thức ăn lên tận tuyến đầu. Chúng tôi đang bức xúc ghê gớm, và nếu viên chỉ huy đại đội không xuất hiện đúng lúc thì thế nào cũng có thằng bị chẻ nhỏ như chẻ củi. Ông ta hỏi lý do cuộc cãi vã và chỉ nói: “Phải, ngày hôm qua chúng ta đã có những tổn thất nặng nề…” Rồi ông ta ngó vào chiếc nồi lớn. “Món đậu này trông có vẻ ngon đây.” Gã cà chua gật đầu. “Hầm với mỡ và thịt đấy ạ.” Viên trung úy nhìn chúng tôi. Ông ta biết chúng tôi đang nghĩ gì. Ông ta cũng biết nhiều chuyện khác nữa, vì ông ta đã trưởng thành giữa chúng tôi, khi đến đại đội ông ta mới chỉ là hạ sĩ quan. Ông ta lại nhấc vung nồi lên một lần nữa và hít hít. Trước khi bỏ đi, ông ta bảo: “Nhớ mang cả cho tôi một đĩa đầy nhé. Và chia tất cả các khẩu phần đi. Chúng ta có thể cần đến chúng.” Gã cà chua thộn mặt ra. Tjaden nhảy nhót quanh gã. “Cậu có thiệt gì đâu kia chứ! Cứ làm như cả kho lương thực là của mình không bằng… Nào thôi bắt đầu đi, đồ săn mỡ già đời, và đừng có đếm nhầm đấy…” “Treo cổ mày lên!” gã cà chua gầm gừ. Gã tức nổ mắt, chuyện như thế này đi ngược với lý trí của gã. Gã không còn hiểu cái thế giới này nữa. Và để tỏ ra giờ đây gã cũng bất cần tất cả, gã còn tự động chia thêm cho mỗi người hai lạng rưỡi mật ong nhân tạo. Hôm nay quả là một ngày đẹp. Lại có cả quà của quân bưu, hầu như ai cũng nhận được vài lá thư và báo. Lúc này chúng tôi thong thả đi về phía đồng cỏ sau lán trú quân. Kropp cắp dưới nách cái nắp tròn của thùng bơ thực vật. Người ta đã xây bên rìa phải đồng cỏ một chuồng xí công cộng to đoành - một ngôi nhà chắc chắn, lợp mái đàng hoàng. Nhưng chỗ ấy chỉ dành cho bọn lính mới tò te chưa học được cách rút tỉa những điều hay ho từ mỗi việc dù nhỏ nhất. Bọn tôi tìm cái gì khác thú vị hơn kia. Số là nơi đây rải rác những cái thùng nho nhỏ với cùng một mục đích sử dụng - hình vuông, sạch sẽ, đóng toàn bằng gỗ, bốn bề bịt kín, bên trên là bệ ngồi thuận tiện, không chê vào đâu được. Hai bên thùng gắn quai xách, nên có thể dịch chuyển thoải mái. Bọn tôi kê ba cái thùng châu vào nhau và khoan khoái ngồi xuống. Bét ra phải hai tiếng nữa cả bọn mới chịu đứng lên. Tôi vẫn nhớ hồi còn là tân binh vừa chân ướt chân ráo đến doanh trại, cả bọn đã xấu hổ như thế nào khi lần đầu tiên phải dùng chuồng xí công cộng. Chẳng có cửa nẻo gì cả, hai chục thằng ngồi kề bên nhau như trong toa tàu. Chỉ lướt mắt một phát là bao quát cả lũ… thì lính tráng cần được giám sát thường xuyên mà. Từ bấy đến nay chúng tôi đã học được cách vượt qua nhiều thứ hơn là vượt qua chỉ một nỗi xấu hổ cỏn con đó. Thời gian trôi đi, chúng tôi đã quen với những điều còn đáng xấu hổ hơn. Nhưng làm chuyện này giữa trời đất quả thật là quá sướng. Tôi không còn nhớ tại sao trước kia lúc nào bọn tôi cũng ngại ngùng khi đi ngang qua những cái thùng này, vì chúng cũng tự nhiên như ăn uống thôi mà. Và có lẽ cũng không cần phải nhiều lời về chúng, nếu như chúng không đóng một vai trò quan trọng với bọn tôi, và nếu chúng chẳng mới lạ ngay với chính bọn tôi như thế… vì thực ra từ lâu chúng đã quá đương nhiên. Tiêu hóa và bài tiết là những vấn đề thiết thân với người lính hơn với bất cứ người nào khác. Ba phần tư từ vựng của người lính từ đó mà ra, và khi thể hiện niềm vui sướng cực độ hay nỗi căm giận sâu sắc nhất thì từ ngữ anh ta dùng đều bắt nguồn từ chỗ này. Quả là không có cách nào khác để biểu lộ cảm xúc một cách ngắn gọn và rõ ràng đến thế. Cha mẹ và các thầy cô giáo hẳn sẽ lạ lùng lắm khi chúng tôi trở về nhà với lời ăn tiếng nói như vậy, nhưng ở ngoài mặt trận thì nó quá là quen tai. Đối với chúng tôi, toàn bộ những tiến trình này đã lấy lại được đặc tính ngây thơ, vì chúng bắt buộc phải diễn ra giữa chốn công cộng. Hơn thế nữa: chúng tôi xem chúng đương nhiên đến nỗi việc hoàn thành chúng cũng khoan khoái ngang với thắng một ván bài ở mức đặt cược cao nhất. Không phải tự nhiên lại sinh ra cái từ “khẩu ngữ cầu tiêu” để chỉ đủ loại chuyện tán nhảm. Những chỗ giải quyết “nỗi buồn” là góc buôn chuyện, là nơi tụ bạ quen thuộc của lính. Khoảnh khắc này đây bọn tôi đang cảm thấy thoải mái hơn là ngồi trong buồng vệ sinh sang trọng lát gạch men trắng. Nơi đó chỉ có thể sạch sẽ, chứ ở đây mới khoan khoái dễ chịu. Đó là những thời khắc vô tư lự tuyệt vời. Bên trên chúng tôi bầu trời xanh biếc. Xa xa phía chân trời lơ lửng những quả khinh khí cầu màu vàng rực sáng trong nắng và những vệt khói nhỏ màu trắng của những viên đạn cao xạ. Đôi khi chúng vọt lên thành chùm để rượt theo một phi cơ. Tiếng gầm của đạn pháo vẳng về đây chỉ ì ầm tựa một cơn dông từ nơi xa lắm. Những con ong đất vo ve bay ngang cũng đủ át hết cả. Và bao quanh chúng tôi là cánh đồng cỏ đầy hoa. Những ngọn cỏ non đu đưa, những cánh bướm trắng rập rờn đến gần, chúng chao liệng trong làn gió êm ái, ấm áp cuối hạ; còn chúng tôi đọc thư, đọc báo và hút thuốc, chúng tôi bỏ mũ ca lô đặt xuống bên cạnh mình, làn gió đùa trên mái tóc chúng tôi, đùa với những lời nói, những ý nghĩ của chúng tôi. Ba cái thùng của ba thằng đứng giữa đám hoa anh túc đỏ rực… Mời các bạn đón đọc Phía Tây Không Có Gì Lạ của tác giả Erich Maria Remarque.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Trong Đêm Hè
Người Trong Đêm Hè là cuốn tiểu thuyết đã góp phần đưa giải Nobel Văn học năm 1939 về cho Frans Emil Sillanpää và về cho đất nước Phần Lan. Chính Sillanpää đã gọi "đứa con tinh thần" này là "chuỗi thơ mang tính tự sự" bởi sự đan kết tự nhiên giữa bốn mươi tám văn khúc tả cảnh, đối thoại, độc thoại, có lúc đầy kịch tính, khi lại man mác, nên thơ. Tuy là một tác phẩm ngắn trong địa hạt tiểu thuyết, Người trong đêm hè vẫn dựng được tuyến nhân vật phong phú và sinh động. Trước hết, Sillanpää dành nhiều trang viết cho những phụ nữ ở miền quê: cô thiếu nữ Helka đang trải qua quãng đời thanh xuân yên bình; còn hai người vợ - Hilja và Santra - mỗi người đối diện với một hoàn cảnh, đeo nặng một tâm tư. Song hành cùng các nhân vật nữ, dĩ nhiên, là bóng hình những người đàn ông: chàng sinh viên Arvid hào hoa (bạn trai Helka); anh nông dân Jalmari ngu ngơ, vụng về (chồng Hilja); Jukka - người chồng thờ ơ của Santra. Họ cùng xuất hiện trên nền bối cảnh điền trang, một không gian tưởng chừng đơn sơ, yên ả song lại làm nảy lên bức tranh nội tâm sâu kín, đa chiều. *** Frans Sillanpää sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, thuộc xứ đạo Hämeenkyrö. Cuộc sống vất vả khiến bố mẹ ông chỉ có thể nuôi ông ăn học trong 5 năm đầu tại trường trung học Tampere, 3 năm sau đó ông phải tự kiếm tiền để học tiếp. Năm 1908, ông đỗ vào Đại học Helsinki, ngành sinh vật học, với số điểm loại ưu. Nhưng chỉ theo học được một thời gian ngắn, ông đã phải bỏ, về nhà mở cửa hàng văn phòng phẩm kiếm sống. Ở nhà, ông bắt đầu viết truyện và ngay từ truyện ngắn đầu tiên, ông đã được tổng biên tập một tờ báo lớn đánh giá cao và mời cộng tác. Tiểu thuyết đầu tay của ông là Elämä ja aurinko (Cuộc sống và mặt trời), in năm 1916. Năm 1919, tiểu thuyết Hurskas kurjuus (Cái nghèo thanh cao) đã đưa ông vào hàng ngũ những nhà văn danh tiếng, khiến một nhà xuất bản nổi tiếng đề nghị ông viết sách cho họ và sẵn sàng ứng tiền để ông chuyên tâm vào công việc; từ năm 1920 ông được chính phủ Phần Lan trao một khoản trợ cấp trọn đời. Tiểu thuyết đỉnh cao giúp ông đoạt giải Nobel năm 1939 là Nuorena nukkunut (Thiếu nữ chết trẻ), kể về số phận bi thảm của những gia đình nông dân Phần Lan bị những mối quan hệ tư bản thâm nhập vào nông thôn tàn phá. Cuối đời ông viết nhiều tiểu luận và hồi ký tự thuật. Trong các tác phẩm của mình, Frans Sillanpää luôn khẳng định sức mạnh bản năng và tư tưởng thần bí, bi quan. Năm 1936, ông được Đại học Helsinki trao bằng Tiến sĩ Danh dự và năm 1939 được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel. Do chiến tranh, buổi lễ trao giải không tổ chức được nhưng ông đã nhận bằng trong một cuộc họp của Viện Hàn lâm Thụy Điển vào tháng 12 năm 1939. Thời gian này, sức khỏe của ông giảm sút, ông rơi vào trạng thái trầm cảm nặng vì vợ mất và đất nước bị chiến tranh tàn phá, phải điều trị tại bệnh viện tâm thần đến năm 1943. Tác phẩm cuối cùng của ông là bộ hồi ký gồm ba cuốn xuất bản từ năm 1953 đến năm 1956. Frans Sillanpää được toàn thể nhân dân Phần Lan yêu quý, ông thường được mời phát biểu trên đài phát thanh. Ông mất ở Helsinki năm 66 tuổi. Tác phẩm: Elämä ja aurinko (Cuộc sống và mặt trời, 1916), tiểu thuyết Ihmislapsia elämän saatossa (Những con người trong đường đời,1917), tập truyện Hurskas kurjuus (Cái nghèo thanh cao, 1919), tiểu thuyết Rakas isänmaani (Tổ quốc yêu dấu, 1919), tiểu thuyết Hiltu ja Ragnar (Hiltu và Ragnar, 1923), tiểu thuyết Enkelten suojatit (Sự bảo trợ của các thiên thần, 1923), tiểu thuyết Omistani ja omilleni (Về chính tôi và cho chính tôi, 1924), tiểu thuyết Maan tasalta (Từ độ cao của Trái Đất, 1924), tiểu thuyết Töllinmäki (Ngọn đồi ổ chuột, 1925), tiểu thuyết Rippi (Xưng tội, 1928), tiểu thuyết Kiitos hetkistä, Herra... (Cảm ơn Chúa đến đúng lúc..., 1930), tiểu thuyết Nuorena nukkunut (Thiếu nữ chết trẻ, 1931), tiểu thuyết Miehen tie (Con đường của người đàn ông, 1932), tiểu thuyết Virran pohjalta (Dưới đáy sông, 1933), tiểu thuyết Ihmiset suviyössä (Người trong đêm hè, 1934), tiểu thuyết Viidestoista (Thứ mười lăm, 1936), tiểu thuyết Elokuu (Tháng Tám, 1944), tiểu thuyết Ihmiselon ihanuus ja kurjuus (Hạnh phúc và đau khổ của đời người, 1945), tiểu thuyết Poika eli elämäänsä (Cậu bé đã sống cuộc đời mình, 1953), hồi ký Kerron ja kuvailen (Tôi kể chuyện và tôi mô tả, 1954), hồi kí Päiva korkeimmillaan (Ngày cực điểm, 1956), hồi kí *** Review SP: Tác phẩm văn học “Người trong đêm hè” – bản giao hưởng cho mùa hạ trắng Phương Bắc.Tiểu thuyết cũng đã nhận được nhiều giải thưởng cũng như đánh giá tích cực của công chúng. “Mùa Hè phương Bắc gần như không có đêm, chỉ có ánh sáng mờ ảo ngập ngừng, chầm chậm trôi qua. Nhưng trong chạng vạng vẫn ngời lên tia sáng không ngôn từ nào có thể tả nổi. Đó chính là lời thì thầm của sáng Hè đang đến gần. Khi giai điệu hoàng hôn lắng lại thành nốt mềm xanh tim tím màu hoa violet, mê say dịu dàng ngân dài ngay trong quãng ngắt ngắn ngủi, là lúc violon chính bừng tỉnh và bắt vào giai điệu cao nghiêng nghiêng, để cho violon xen nhanh chóng hòa nhịp. Ta cảm nhận được từ trong sâu thẳm tâm hồn bức tranh giai điệu đó” trích Tiểu thuyết, tác phẩm văn học, “Người trong đêm Hè” của Frans Emil Sillanpää, (người dịch: Tiến sĩ Bùi Việt Hoa) Tiểu thuyết hay còn được gọi là “chuỗi thơ mang tính tự sự” với 48 bài văn dài ngắn khác nhau của nhà văn Frans Emil Sillanpää (1888 – 1964) cùng với những sáng tác trước đó đã đem giải Nobel văn học đầu tiên vào năm 1939 và cho đến giờ vẫn là giải Nobel duy nhất của Phần Lan. Mùa Hè, tháng Bảy ở Phần Lan, đất nước Cực Bắc của châu Âu, gần như không có đêm nên thường được gọi là mùa hạ trắng với những đêm trắng khi mặt trời gần như không ngủ và thiên nhiên được miêu tả đẹp như tranh vẽ. Tại vùng nông thôn, thiên nhiên êm đềm, không gian tĩnh lặng, trong lành, cũng có nhiều người không ngủ với nhiều lí do khác nhau. Có những lí do rất đẹp và lãng mạn như khi đôi lứa yêu nhau, cô gái mải suy tư mà không dỗ được giấc ngủ, có người mải chèo thuyền trên hồ và đi ngắm nghía đất đai, người đi dự tiệc đính hôn, người trò chuyện, khiêu vũ, người trở dạ sinh con, và có cả những thương đau như đứa trẻ không được chào đời hay người đàn ông mắc tội giết người, người chồng đi không trở về … Người kể chuyện, kể về các cảnh khác nhau với những giọng điệu khác nhau từ trẻ tới già, từ giàu tới nghèo, từ người không có học đến người học thức, có cả mặt tốt và mặt xấu. Ngôn ngữ của tác giả rất chân thật, biểu cảm và giàu chất thơ ngay từ những đoạn văn khởi đầu của cuốn tiểu thuyết mini đã tạo nên một tấm gương phản chiếu đời sống nông thôn điển hình của Phần Lan những năm 30’ nơi thiên nhiên và con người gần như hòa làm một, nơi mọi hoạt động đều chứa đựng nhiều xúc cảm, nơi trong sinh, yêu và tử có đan xen trong niềm vui, nỗi đau, sự trăn trở, tiếc nuối, những khát khao giới tính kỳ lạ… ”Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong Người trong đêm Hè thiên nhiên mới là nhân vật trung tâm xuyên suốt tiểu thuyết. Ánh sáng và âm thanh, mặt trời và đêm trắng, cánh đồng lúa, rừng cây, mặt hồ nước, trang viên… một vùng quê với đủ mọi thăng trầm và cuộc sống của những người dân đủ mọi tầng lớp trong ánh sáng mờ ảo của đêm Hè hiện lên thật hoàn hảo dưới ngòi bút của Sillanpää. Đây là tác phẩm văn xuôi mang tính trữ tình đậm đặc nhất, nhiều tính nhạc nhất của nhà văn”. Dịch giả Bùi Việt Hoa, người đã có nhiều năm sống và làm việc ở Phần Lan, nghiên cứu văn hóa và văn học Phần Lan, cho biết. Tác phẩm văn học không chỉ đem đến những áng văn tả cảnh tuyệt đẹp, những câu chuyện đời sinh động, chân thực mà còn nêu ra những triết lý vô cùng đơn sơ mà sâu sắc: “Trên thế gian này ai cũng có lúc nghĩ họ đau khổ nhất trần gian – khi không nghĩ đến người khác, mà chỉ chăm chăm nghĩ về mình”. Chỉ một năm sau khi ra đời, tác phẩm văn học Người trong đêm Hè đã được dịch và xuất bản ở Thụy Điển năm 1935 và hai năm tiếp theo được dịch và xuất bản ở Estonia (1936), Đan Mạch (1937), Na Uy (1937) và Latvia (1937), Anh (1966). Cho đến nay, tiểu thuyết này đã được dịch ra 17 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Tiểu thuyết được chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1948 và nhận được nhiều giải thưởng cũng như đánh giá tích cực của công chúng.   Mời các bạn đón đọc Người Trong Đêm Hè của tác giả Frans Emil Sillanpää.
Trốn Thoát Khỏi Thực Tại
Review Doan Truc: Những bà nội trợ kiểu Nhật, những cô nàng thất nghiệp Nhàn rỗi một cách quá đáng, những người đàn bà rớt lại và bị bỏ quên giữa xứ Phù Tang đương đại. Họ đi vào trang viết của Fumio Yamamoto với một khuôn dáng cô đơn, nhiều tự sự. Tôi luôn có một cảm giác bị mắc lại ở một nơi nào đó trong thế giới văn chương của Fumio Yamamoto. Từ Bến bờ thơm mùi dứa, Trúng độc yêu, Xanh màu lá,… cho tới tập truyện ngắn mới nhất Trốn thoát khỏi thực tại. Thứ cảm xúc vừa rõ ràng vừa mơ hồ này đôi khi đầy lên thành một ám ảnh không hồi kết. Fumio Yamamoto đã lưu trữ mình một cách không rõ ràng như thế. Và có lẽ, vì không thể nói ra hết được tư cảm đang đầy lên này nên bà dồn hết vào chữ nghĩa. “Tôi ảm đạm vì không thể nói cười”, đó gần như là một diễn đạt khác về văn chương của người đàn bà ở xứ mặt trời mọc. Văn Fumio Yamamoto không phải là thứ văn mỹ miều của những đường chữ đẹp, thơ mộng. Bà cũng không phải thuộc típ nhà văn nữ quyền để thỉnh thoảng gây hấn hoặc gây sốc. Văn mạch của bà điềm nhiên, có chỗ tỉnh queo, lúc lại sắc lạnh, thậm chí hơi gắt với nhiều câu trần thuật mộc mạc, ngắn gọn. Trong đó, có cảm giác, tác giả vừa muốn đi đến cùng để cắt nghĩa vùng u ám đó, lại như mặc kệ để nó diễn ra theo quy luật của “phi tiểu thuyết” hay những “tiểu tự sự” nhỏ vụn. Để rồi tất cả trống huơ hoắc trong một thế giới cô đơn, ít thấu hiểu và rời rạc. Để rồi, ở đó, những tự sự chồng lên nhau, lặp đi lặp lại một cách tầm thường, mòn vẹt và chán nản. Hakura, cô gái mắc bệnh ung thư vú, tự xem mình có dáng dấp của đồ cặn bã, lười nhác, sống tầm gửi, tâm lý bất định, đầy nhạy cảm, chán nản và nếu có kiếp sau, cô muốn làm một con giun dẹp bởi “giun dẹp sống trong khe suối trong vắt nơi rừng sâu, có bị băm thành trăm mảnh cũng sẽ không chết”. Izumi, người phụ nữ ngấp nhé tuổi 35, trải qua một đời chồng, đang sống trong một chung cư cũ kỹ và rơi vào khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, hay sầu muộn vô cớ, nhàn rỗi đến lạc lõng, không còn khái niệm thời gian rõ ràng, có thể làm tình và thỏa mãn ham muốn nhục dục với một cậu đồng nghiệp cũ kém cả tuổi mình. Catherine, một bà nội trợ đúng nghĩa, có người chồng vừa bị mất việc nên ngoài công việc nhà ban ngày, cô làm nhân viên bán hàng cho một tiệm tạp hóa buổi tối để kiếm thêm tiền. Cuộc sống của cô cứ như một mớ bòng bong, quanh đi quẩn lại vì chồng, con cái, bố mẹ; lắm lúc mỏi mệt, khủng hoảng, cô đơn và trơ trọi ngay trong mái ấm gia đình mình. Mido, cô gái trẻ 25 tuổi rơi vào “thế lưỡng nan của tù nhân”, đã có người yêu hơn 7 năm nhưng vẫn ngủ với những người đàn ông khác. Ngày ngày trôi trong nhịp sống tùy tiện, không buồn không vui, nhiều hồ nghi và vô nghĩa của mình. …Cứ thế, mỗi nhân vật của Fumio Yamamoto là một phần nứt toác của vỏ đương đại có vẻ bằng phẳng, đẹp đẽ đó. Họ là những con người đáng thương bị rớt lại trong đời sống nhộn nhạo, trôi tuột này. Những con người ấy từng xót thương cho người khác nhưng rồi chính họ, cũng không biết từ bao giờ, lại bước vào hoàn cảnh tương tự. Và bao nhiễu nhương, tù đọng và cô đơn vây bủa đó làm họ thỏa hiệp, thây kệ rồi trở nên nhàm chán, chết dần chết mòn. Và lửng lơ, và ám ảnh… Qua những mẩu chuyện nhỏ của những con người không liên quan đến nhau ấy, Fumio Yamamoto đã vẽ nốt những vệt màu còn khiếm khuyết trong bức tranh Nhật Bản hiện đại bằng ngôn ngữ. Một vệt màu trầm cảm triền miên. Một “sự tự sát” từ những vô định không có lời đáp. Bà đưa những người phụ nữ nhỏ bé, những người sống bên rìa xã hội vào vị trí trung tâm và để họ kể những câu chuyện của riêng mình. Kế thừa đặc điểm truyền thống của văn học Nhật nên không quá ngạc nhiên khi văn của Fumio Yamamoto mang đậm tính nữ. Bà đi vào ngóc ngách tâm lý li ti của phụ nữ bằng trải nghiệm và sự đồng cảm của một trái tim nhiều thổn thức. Bà để nhân vật nói những tiếng nói tự do nhất mà trong đời sống đôi lúc họ không có quyền lên tiếng hoặc chán phải lên tiếng. Bà tham dự vào những câu chuyện đó như một người có mặt và vắng mặt. Để rồi, mảng hiện thực của đời sống vừa quen vừa lạ ấy khoét vào ta những vết thương tỉnh thức, về một băn khoăn, bối rối đương đại. Cho đến khi gấp cuốn sách lại, tôi vẫn còn nguyên đó một lưỡng lự. Sự dở dang khó hiểu này rốt cuộc là gì? Vẫn còn một điều mơ hồ nào đó, tôi chưa hiểu lắm. Có khi nào, đó là những điều Fumio Yamamoto không muốn người khác chạm vào chăng? Hay thực ra, nó cũng trống rỗng hết thảy – như những nhân vật của bà cất tiếng. Nó khiến tôi bỗng dưng nhớ đến Woman in the Dunes (tạm dịch: Người đàn bà trong cồn cát) của đạo diễn Nhật sinh năm 1964 – Hiroshi Teshigahara – viên ngọc quý của lịch sử điện ảnh thế giới, sinh muộn hơn bà hai năm. Yamamoto ẩn mình trong “cồn cát” ngôn ngữ để nói về thế giới nội tâm sâu thẳm của người Nhật Bản hôm nay nói riêng và những người phụ nữ đâu đó trên khắp thế giới này. “Vì không nói ra được nên đã mang một nỗi buồn ảm đạm. Tôi ảm đạm vì không thể nói cười”. Năm 1999, Yamamoto đã vinh dự nhận được giải thưởng văn học Yoshikawa Eiji lần thứ 20 dành cho các tác phẩm mới xuất sắc và hiện là một trong những nhà văn đương đại có tác phẩm được đón chờ không chỉ trong phạm vi nước Nhật. *** Fumio Yamamoto sinh năm 1962 ở Kanagawa, là tiểu thuyết gia đương đại nổi tiếng của Nhật Bản. Với giọng văn mộc mạc, sâu lắng và cũng đầy trải nghiệm, các tác phẩm của bà nhanh chóng nhận được sự yêu thích của độc giả trong và ngoài nước, có thể kể đến như "Bến bờ thơm mùi dứa", "Anh chắc chắn sẽ khóc", "Trúng độc yêu", "Không phải nơi khác mà ở ngay đây"… Năm 1999 bà đã vinh dự nhận được giải tương văn học Yoshikawa Eiji lần thứ 20 dành cho các tác phẩm mới xuất sắc. ”…Một mình lái xe trên đường quốc lộ giữa đêm khuya, tuy biết là uổng công vô ích, nhưng tôi vẫn hướng lên những vì sao và cầu nguyện: “Kiếp sau, xin hãy để tôi được làm giun dẹp.”   Tác phẩm: Xanh Một Màu Xanh Khác Trốn Thoát Khỏi Thực Tại 31 Tuổi Thì Đã Làm Sao? Trúng Độc Yêu .... *** Kiếp sau mình phải làm giun dẹp! Tôi buột miệng khi đang tán gẫu bên bàn rượu. Mọi người cũng tò mò nhìn sang. Ngồi cùng mâm rượu là ba người bạn: hai gái một trai quen từ hồi làm thêm, tuổi đều nhỏ hơn tôi, ngoài ra còn bạn trai tôi ngồi bên cạnh. “Giun dẹp là cái giống gì vậy?” “À, tớ biết rồi. Nó dạt theo những dòng chảy dưới núi băng, đáng yêu như một thiên thần nhỏ, đúng không?” “Đích thị là thiên thần biển khơi rồi.” Mọi người thi nhau nói. Tôi lắc nhẹ ly rượu whisky Four Roses của mình, chậm rãi ngắt lời bọn họ. “Không, không đúng. Giun dẹp cũng có kích thước tương đương nhưng nó không sống dưới biển, mà sống trong khe suối trong vắt nơi rừng sâu.” “Hả?” Cả ba người bạn đồng thanh kêu lên. Những câu chuyện đại loại như vậy bạn trai tôi đã nghe quen, nên chỉ ngồi lặng thinh nhấm nháp chút đồ nhắm còn sót lại. “Trước đây tớ đã thấy ở trên tivi. Nó bám vào những tảng đá dưới khe suối, hoặc những mương nước trên cánh đồng không bị phun thuốc trừ sâu, dài khoảng một phân, màu nâu, nhìn rất giống con đỉa. Đầu của nó có hình tam giác, nếu quan sát kỹ sẽ thấy, có chút dáng dấp của đồ cặn bã.” Sao lại giống đồ cặn bã cơ chứ? Mọi người vừa cười vừa hỏi. Tôi uống cạn ly của mình và gọi thêm ly nữa. Sau gần ba tiếng đồng hồ, hai cô gái và bạn trai tôi không uống được nữa, mà chuyển sang gọi trà ô long. “Sao cậu lại muốn biến thành thứ đó hả Hakura?” Cậu bạn nồng nặc mùi rượu lên tiếng. Tôi chuẩn bị trả lời, thì một cô gái trong nhóm nhanh nhảu đáp: “Hình như tớ biết đấy. Loài sinh vật này chỉ cần được bơi lội tung tăng dưới làn nước trong xanh mà chẳng cần bận tâm bất cứ điều gì.” “Gì chứ? Tớ ghét mấy thứ kiểu như đỉa hoặc bao quy đầu, kiếp sau được đầu thai làm siêu mẫu thì tốt biết mấy.” “Toàn là gái nhà lành với nhau, đừng bao giờ nhắc tới mấy-thứ-ấy chứ!” Câu chuyện bắt đầu lan man, tôi cụt hứng và cố tình hắng giọng: “Giun dẹp dù có bị băm thành trăm mảnh cũng sẽ không chết.” Mọi người nhìn tôi đầy kinh ngạc. “Nghe nói, nếu chặt thành ba khúc, tự khắc nó sẽ tái sinh thành ba con, mà đừng nói ba con, dù chặt thành mười khúc, nó cũng sẽ giống đuôi thằn lằn tiếp tục sinh sôi, biến thành mười con.” Cách giải thích ngang ngược và ấu trĩ của tôi khiến mọi người đứng hình trong giây lát. Đúng lúc đó, đồ ăn vừa gọi khi nãy được đem ra. “Ăn chút đồ tráng miệng nhé!” Hai cô gái mở thực đơn ra và bắt đầu bàn bạc. “Những điều cậu vừa nói là thật hả?” Mời các bạn đón đọc Trốn Thoát Khỏi Thực Tại của tác giả Fumio Yamamoto.
Xuân Ngốc
Nếu bạn đang tìm một câu chuyện ngược tâm, ngược thân quằn quại, tốn khăn giấy thì... xin lỗi... nút back ở bên trái. Nếu bạn đang tìm một chuyện tình sủng, ngọt đến ê răng, hường phấn bay ngập trời thì… xin mời... cửa ra ở bên phải. Còn nếu bạn đang muốn đổi gió với những tình tiết hài, bựa về cuộc sống bình thường của những kẻ “bất thường” thì... chúc mừng... bạn đã đến đúng chỗ rồi. Trương Nghiêu (hay còn gọi là Trương Thiết Ngưu) chỉ là đứa con riêng không được yêu thương ở nhà họ Trương. Bởi vì anh trai cùng cha khác mẹ gây chuyện, làm con gái rượu của Từ lão Hổ ngã bị thương, trở nên ngốc nghếch, kết quả bị người ta cầm dao đến nhà đòi cưới.    Nhà họ Trương vì bảo vệ “con trai cưng” mà đẩy cậu con riêng là Trương Nghiêu đi “gả” thay. Trương Nghiêu vốn cho rằng sau khi Từ lão Hổ - ông bố vợ biết mình không phải là “thằng con rể” mà ông muốn sẽ rất tức giận, thậm chí có thể lần nữa xách dao phay sang nhà họ Trương báo thù. Nhưng, sự thực là sau khi biết chuyện, ông bố vợ của anh vẫn vui vẻ, thản nhiên tiếp nhận. Với ông thì chỉ cần con rể “đẹp trai khoai to được con gái ông yêu thích” là đủ. Từ đó, Trương Nghiêu bắt đầu cuộc sống với cô vợ ngốc Từ Tái Xuân và gia đình nhà vợ với toàn những kẻ biến thái. Từ Tái Xuân cho dù sau khi ngã trở thành một cô bé ngốc, nhưng xét cho cùng vẫn là một đứa trẻ tinh ranh. Cô đặc biệt thích ăn kẹo que, mỗi ngày đều quấn lấy Trương Nghiêu làm đủ trò, từ ăn vạ đến làm nũng để đòi kẹo. Thời gian lâu dần, có Từ Tái Xuân bên cạnh trở thành thói quen của Trương Nghiêu. Mặc dù miệng anh vẫn “độc”, vẫn tỏ ra “khó ở” mỗi lần cô vòi vĩnh, nhưng ngay sau đó anh lại tự động thoả mãn cô. Thậm chí có thể vì cô, mặc bộ đồ con gấu ngốc nghếch, chịu đựng bị dị ứng, chờ hàng giờ trong nhà hàng để tặng quà sinh nhật cho cô. Bởi vì, cuộc sống của anh từ khi có cô bỗng trở nên rực rỡ, trái tim anh nhờ cô mà cảm nhận được sự rung động, ấm áp.  Cho đến một ngày, Trương Nghiêu chợt nhận ra, từ khi nào anh đã yêu cô vợ ngốc của mình. Cho dù cô ngốc, anh cũng muốn nắm tay cô, chăm sóc cô, cùng cô đi hết cuộc đời. Vào đúng lúc này, Từ Tái Xuân bất chợt nhớ lại mọi chuyện. Cô không còn ngốc nữa nhưng lại quên anh, quên quãng thời gian “bi thảm nhưng hạnh phúc” của hai người.  Liệu Trương Nghiêu phải làm gì để giành lại cô vợ ngốc của mình?  *** Nam chính Trương Nghiêu ngoài cái bản mặt đẹp trai thì chính là một anh chàng ba không: không học vấn, không nghề nghiệp, không gia đình. Anh trải qua tuổi thơ khốn khó với cái danh con hoang, cha không thương, “mẹ” muốn giết. Cộng thêm việc năm Trương Nghiêu mười tám tuổi bị người hãm hại phải ngồi tù. Những điều này hình thành lên bản tính lưu manh, vô lại cùng khuynh hướng bạo lực trong anh.  Nhưng bù lại, Trương Nghiêu là một gã trai vừa chung tình lại rất mềm lòng. Ngoài miệng lúc nào cũng mắng Từ Tái Xuân là cô ngốc, không đáp ứng yêu cầu của cô nhưng quay lưng đi lại tự động thực hiện những điều cô muốn. Anh yêu chiều cô, bảo vệ cô, vì cô mà thu lại tính tình, cũng không ngại cái danh “bám váy vợ”. Anh chàng Trương Nghiêu mặt dày, độc miệng với cái đầu toàn ý xấu, siêu kute đảm bảo có thể khiến tất cả các nàng “yêu anh từ cái nhìn đầu tiên”. So với Trương Nghiêu, nữ chính Từ Tái Xuân cũng đáng yêu không kém. Mặc dù là một cô ngốc, nhưng “em Xuân” của tớ không hề bánh bèo hay thánh nữ. Ngược lại, cô nàng này cực kỳ hoạt bát, mặc dù dễ dụ nhưng rất tinh ranh. Từ Tái Xuân thích kẹo que, nhưng mỗi lần cô nàng “ăn kẹo” luôn là một thảm hoạ. Ví dụ như, đêm tân hôn, Từ Tái Xuân bổ nhào vào người Trương Nghiêu, vạch quần áo tìm kẹo que.  Trương Nghiêu chơi ác (lại còn ngu), móc “kẹo que” cho em Xuân mút. Kết quả là, mút xong hai người đều rớt nước mắt. Từ Tái Xuân oán hận “kẹo” của Trương Nghiêu không ngon, còn không cắn được. Còn Trương Nghiêu, một câu cũng không thể nói lên lời, ôm bụng dưới nóng rát, tối đó chả biết ngủ thế nào.  Mặc dù hay làm nũng, chơi xấu nhưng Từ Tái Xuân cực kỳ quan tâm “anh chồng” của mình. Cô sẽ vì anh học nấu ăn, vì anh đưa cơm, vì anh mà đánh cả “mẹ chồng”. Sau này, khi cô trở lại bình thường, cho dù đã quên Trương Nghiêu, nhưng cô không tỏ ra bài xích hay khinh thường anh. Ngược lại, còn học cách tiếp nhận anh, từ từ tìm lại đoạn ký ức của hai người. Ngoài nam, nữ chính, các nhân vật phụ cũng rất đặc biệt. Từ con chó lười nam chính nuôi, ông bố thần kinh thô của nữ chính, đến dì Thái - quản gia kiêm đối tượng theo đuổi của Từ lão Hổ đều là những kẻ “biến thái” dễ thương. Cũng không thể không nhắc đến anh bạn Cố Tây Dương của nam chính. Anh chàng này đầy mình tật xấu, so với nam chính cũng không kém bao nhiêu. Cố Tây Dương thích làm “quân sư quạt mo” cho Trương Nghiêu, nhưng mỗi lần kết quả đều không như mong đợi, cuối cùng phải chịu anh Trương đàn áp. “Xuân ngốc” là bộ truyện hoàn toàn khác với các tác phẩm trước đây của Phó Du. Nó khá bựa, đậm chất biến thái đan xen giữa ngọt ngào và cảm động. Cách hành văn của tác giả mượt mà, cách chuyển biến tình tiết logic. Thêm một điểm cộng nữa là edit rất tốt, khiến người đọc có cảm giác thân thiết.  “Xuân ngốc” đảm bảo là một sự “cứu cánh” hoàn hảo cho những ai đang cảm thấy “ngán ngôn tình” hay đang kiếm tìm một câu chuyện để giải toả tâm trạng chán nản của mình. ________ Review by Mỹ Dung Hoa - fb/ReviewNgonTinh0105 *** Review bởi: Tiểu Thư Họ Phạm - fb/hoinhieuchu  Thiệt tình là tui chưa từng đọc truyện nào vừa bựa vừa cảm động như bộ "Xuân ngốc" này. Nhiều cảnh vừa cười vừa khóc luôn á.  Câu chuyện nói về một nàng ngốc và anh chàng cưng chiều nàng ngốc. Thật ra thì lúc đầu nữ chính không ngốc, mà do yêu lầm tra nam rồi bị tra nam đẩy té cầu thang nên mới mất trí nhớ rồi bị ngốc luôn. Xong, vì thương con gái mình, ông cha giang hồ mò tới tận nhà thằng tra đòi chém. Thằng tra sợ quá xách quần trốn sang nước ngoài. Để yên ổn vụ này cha mẹ thằng tra đẩy nam chính là con riêng ra chết thay. Cha của nam chính vờ đạo mạo thanh minh: "Bậy bạ, nhà chúng tôi được phường tặng bằng khen là có văn hoá đấy nhá, chết chóc gì ở đây" Xong quay sang nhìn người đang hằm hè: "Nào nào, anh trai ơi tụi mình kết thông gia nhé." Cha nữ chính không biết mình bị lừa, do thương con gái rượu của mình quá với lại thấy con bé thích người ta nên cũng chịu. Thế là tèng teng teng teng…  Lúc đầu nam chính hận lắm, tính lợi dụng cả nhà nữ chính để chèn ép nhà mình. Nào ngờ ngày đầu tiên về ở rể đã bị trình độ chưa tốt nghiệp tiểu học của cha vợ và kĩ năng liếm kẹo của vợ ngốc hạ gục. Kể từ đó anh chàng bước lên con đường 'cầu phá trinh' không lối về. Ngày ngày lập kế hoạch dụ dỗ vợ yêu. Thậm chí anh chàng còn tí ta tí tởn chạy lên mạng hỏi thầy bói xem thiên thời địa lợi nhân hoà. Nào ngờ hê hê hê... Đã lên chục cái kế hoạch ABCD thì đương nhiên phải thành công một cái rồi. Rốt cuộc đến một ngày nào đó khá xa là xôi, anh chàng cũng thoả mãn nguyện vọng phá thân của mình. Nhưng cũng bắt đầu từ hôm đó, tên lưu manh ấy càng tha hoá hơn giống như một tên tâm thần phân liệt sáng thì dịu dàng chiều chuộng, tối thì biến thành sói quất sạch sành sanh nữ chính tới nỗi cô nàng sợ quá trốn biệt sang phòng 'người thương của cha'. Đọc tới đây mình cười hộc máu, cả một bộ truyện chỉ duy nhất có khúc này cha vợ và con rể mới đồng lòng nhau.  Còn về tra nam, nữ phụ. Mọi người yên tâm đi vì đây là truyện bựa cho nên hai nhân vật này không hề đáng ghét mà chỉ có cười sái quai hàm. Ngày xưa thằng tra chê nữ chính béo bao nhiêu thì sau này ổng bị đồ ăn của nữ chính hấp dẫn bấy nhiêu. Ngày nào cũng ăn bánh ngọt hỏi sao không phì lũ. Thế là một body sáu múi, săn chắc đầy quyến rũ đã biến thành cục mỡ chảy xệ. Nói chứ tra nam trong truyện này thấy thương lắm mọi người ạ. Bị nam chính 'oánh' lên bờ xuống ruộng, đánh hơn đánh con luôn ý.  Về em nữ phụ ấy à, ẻm bị AIDS bị giang mai các kiểu, đã vậy còn bị phim hàn quốc đầu độc. Haizz…nhớ lại đoạn này mà cạn lời với ẻm. Muốn biết vì sao thì mọi người cứ vào đọc. Nói chung là đáng thương không kém tra nam. Mà thôi nhân vật qua đường không xuất hiện nhiều có thể skip. Túm cái quần lại là chế nào chưa đọc bộ này thì đọc ngay lập tức cho tui. Truyện moẹ gì mà hài méo chịu được. Mời các bạn đón đọc Xuân Ngốc của tác gải Phó Du.
Trí Thông Minh Của Em Thật Uổng Phí
“Là mối tình đầu của một ai đó thật sự rất tuyệt vời, nhưng là tình cuối một ai đó mới chính là hạnh phúc.” Hà Trăn Trăn - một cô nàng chỉ có ăn, ngủ và hàng ngày lấy thú vui viết truyện trên weibo để sống lại là một người may mắn. Cô có mối tình từ thời trung học, chàng trai đó chính là tình đầu vô cùng vô cùng ngọt ngào của cô, tưởng như sắp tu thành chính quả, sắp vác được tên siêu cấp đẹp trai về nhà. Có ai ngờ rằng tên kia lại mất tích không dấu vết, hắn sống sao chỉ có trời biết, đất biết, hắn biết, nhưng cô lại không biết. Mang tâm trạng thất tình, cô liền chọn cách đi du học, trốn tránh nơi không còn hắn. Nào ngờ rằng mấy năm sau trở về, hắn không những thành đạt mà còn là trợ thủ đắc lực của ba Hà. Hà Trăn Trăn cứ ngỡ đây là lần gặp mặt đầu tiên sau bao năm cả hai xa cách, nhưng lúc đó cô không biết rằng từ những trang truyện cô viết lên weibo ngày đầu tiên, luôn có một fan trung thành theo dõi, không những thế, để ủng hộ và khích lệ cô, anh ta còn lấy cốt truyện cô sáng tác vẽ thành truyện tranh, lôi kéo thêm nhiều độc giả. Việc trò chuyện với người fan ấy mỗi ngày đã trở thành thói quen của Trăn Trăn, và không nói chắc ai cũng có thể đoán ra, tên đấy là Cố An Thành - mối tình đầu sâu sắc của cô. Câu chuyện về sau càng đáng yêu hơn ở những màn đối đáp, những cái hôn vội, cái ôm bất ngờ giữa hai người  An Thành và Trăn Trăn, bên cạnh đó, bố Hà cũng góp không ít sức khi giao con gái rượu duy nhất của mình cho An Thành dạy dỗ. “Cố An Thành chưa bao giờ biến mất hoàn toàn trong lòng cô. Anh vẫn luôn chiếm một vị trí cố định, rất chắc chắn, gió thổi cũng không lung lay, cô muốn quên, nhưng không thể quên được.” ----------------------------------------- “...Cố An Thành đặt bàn tay ấm áp của mình lên mu bàn tay cô, tay nắm tay dạy cô từng chút một. Nhưng mà làn da chỉ mới tiếp xúc được ba giây, Hà Trăn Trăn đã nhảy lên như lửa đốt, “Tôi…tôi tự làm được, tôi hiểu mà! Về nhà tôi làm lại lần nữa rồi sẽ gửi cho anh!” Không đúng, không đúng, tim đập không đúng, nhiệt độ cơ thể cũng không đúng. Tất cả đều không đúng. Cô xách túi đi về phía cửa, vừa mở vặn nắm cửa, Cố An Thành đã vội vàng gọi cô, “Hà Trăn Trăn! Đứng lại!” Trong lòng Hà Trăn Trăn rất rối: Tôi không nghe, tôi không nghe thấy gì hết Cô chạy nhanh đến trước cửa thang máy thì Cố An Thành cũng đuổi kịp tới nơi, nét mặt anh còn có phần lo lắng, “Khoan hãy đi!” Trong đầu Hà Trăn Trăn xuất hiện hàng loạt các lời kịch cẩu huyết, cuối cùng đại não không chịu được cũng thốt ra một lời thoại kinh điển, “Cố An Thành, anh đừng ép tôi!” Trong nháy mắt, Hà Trăn Trăn thề rằng, cô nhìn thấy vẻ mặt Cố An Thành đờ ra ngây ngẩn. Cùng lúc đó, cô cũng bị mình dọa cho hết hồn. Yên lặng như chết, một lúc sau Cố An Thành mới đi tới trước mặt cô, ánh mắt đầy phức tạp, cuối cùng lại hóa thành một tiếng thở dài như có như không. Anh cởi áo ra, khoác áo qua ngang hông Hà Trăn Trăn rồi thắt lại. Cô mờ mịt nhìn anh. Hình như khó khăn lắm Cố An Thành mới có thể mở miệng được, khuôn mặt lạnh lùng từ trước đến nay bây giờ lại ửng lên nét đỏ, cuối cùng anh thấp giọng nói, “Cô… kỳ kinh nguyệt của cô đến rồi.” Hà Trăn Trăn: "….” ----------------------------------------- Nói đi cũng phải nói lại, An Thành thật sự rất yêu Trăn Trăn, yêu đến bất lực ☺️. Trừ việc anh bỏ đi lúc trước, còn lại hoàn toàn anh không làm tổn thương nữ chính thêm lần nào, đem mọi sự cưng chiều điều bù đắp cho Trăn Trăn, từ việc theo dõi weibo hàng ngày từ lúc cô du học. Vì anh biết cô ngốc này sẽ sống một cuộc sống hồ đồ, cô chưa từng biết mình mong muốn gì, suy nghĩ lại cực đơn thuần, nên việc cô chìm đắm trong sáng tác có lẽ là việc duy nhất mà cô thích làm. Vì thế mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây anh đều vào đọc truyện cô viết, luôn để lại một bình luận nhỏ khích lệ cô. Càng đọc mình càng hâm mộ nữ chính, có một người con trai đem hết tim gan mà yêu cô, có những người bạn rất đáng yêu luôn xung quanh và giúp đỡ cô. Kết truyện sẽ làm bạn nở nụ cười với hạnh phúc viên mãn của cặp đôi này nhưng cũng có một chút tiếc nuối với cô bạn thân của Trăn Trăn, vì cô ấy cũng có một mối tình đầu khắc cốt ghi tâm, nhưng có lẽ nó chỉ là một kỉ niệm làm cô ấy mãi nhớ đến sau này, không may mắn như nữ chính có thể cùng người mình thương vào lễ đường. :) Nếu các bạn thấy hay hãy Like và Share ủng hộ Review Team nhé. ❤️ #Hồ_Phi - fb/ReviewNgonTinh0105 *** “Nghe nói tiểu thư Hà mới từ Canada về nước tháng trước, đã cảm thấy quen với cuộc sống ở trong nước chưa?” Hà Phỉ Phỉ cong môi lên cười cười, “Thời gian tôi ở trong nước so với ở nước ngoài vẫn lâu hơn hiều, sao lại không quen được chứ.” Nói xong, cô cúi đầu dùng cái muỗng inox khuấy khuấy ly cà phê, nhân tiện liếc nhìn thời gian trên đồng hồ. Lý Thành Hạo cũng cười, “Đúng vậy, cô xem tôi đó, hỏi một vấn đề dư thừa. Nhưng mà mấy năm nay thành phố Hàng Châu thay đổi rất nhiều, có nhiều chuyện thú vị, nhiều nơi vui chơi mọc lên, nếu như tiểu thư Hà có hứng thú, tôi có thể cùng cô đi dạo xung quanh đây một chút, ở nước ngoài có tốt cũng không tốt hơn nước mình được, tiểu thư Hà, cô nói có đúng không?” Hà Phỉ Phỉ gật gật đầu, mang theo chút hời hợt, “Đúng là ở trong nước vẫn tốt hơn.” “Vậy cô. . . . . .” Lúc này, đột nhiên điện thoại di động của Hà Phỉ Phỉ vang lên, cắt đứt lời nói mới nói được một nửa của Lý Thành Hạo. Hà Phỉ Phỉ cầm điện thoại lên nhìn, sau đó cười cười xin lỗi với Lý Thành Hạo nói, “Thật xin lỗi, tôi đi nghe điện thoại.” “Không sao, cứ nhận đi, lỡ có chuyện quan trọng.” Hà Phỉ Phỉ cầm điện thoại di động đi vào toilet, “Này, Nhuỵ, cái người này sao mà gọi đúng lúc thế, mình đang muốn trốn đi vệ sinh đây.” Hướng Nhuỵ ở đầu bên kia điện thoại cười to một tiếng, trêu ghẹo cô, “Đại tiểu thư Hà cũng có ngày hôm nay sao, thật là vui quá đi, sắp có chuyện vui rồi.” Hà Phỉ Phỉ chậc lưỡi một tiếng, “Cậu lại là người xấu tính như vậy à, mẹ mình đang muốn lừa mình đi xem mắt, mình cũng nên nhanh chóng tới chỗ cậu để tránh thôi.” “Tổ tông của tôi, xin cậu đừng làm vậy, cái tổ chim sẻ nho nhỏ của mình không chứa được pho tượng phật lớn như cậu đâu, cậu đó, vẫn nên ngoan ngoãn trở lại nói chuyện phiếm với đối tượng hẹn hò đi, mình còn phải chuẩn bị tài liệu để đi họp đây.” “Vậy, vậy mình phải làm gì bây giờ, tìm lý do gì để bỏ chạy đây.” Hướng nhụy suy nghĩ một chút, hỏi một đằng, trả lời một nẻo, “Ôi chao, ôi chao, cái vị họ Lý kia nhân phẩm tướng mạo như thế nào?” “Đều rất giỏi, so với những phú nhị đại (Thế hệ giàu có thứ hai ở Trung Quốc) khác thì giỏi hơn nhiều.” Hướng Nhụy vỗ đùi, “Chính là như vậy, nhìn khắp nơi xem, cậu còn bị thua thiệt sao? Bây giờ về nhà cậu cũng khó ăn nói với dì, sự nghiệp vạn dặm của nhà họ Lý và Hà thị của chúng ta gần đây có chút liên quan, đoán chừng là dì và chú cũng vì chuyện này mới sắp xếp cho các cậu gặp mặt một lần, sau này trên thương trường cũng dễ nói chuyện, cậu cố nhịn đi, tối mình mời cậu đi ăn bữa tiệc lớn." Mời các bạn đón đọc Trí Thông Minh Của Em Thật Uổng Phí của tác giả Thời Nhĩ.