Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Sau Bữa Tiệc

Tuyết Sinh dịch YUKIO MISHIMA (1925-1970)Yukio Mishima (三島 由紀夫; phiên âm: (Tam Đảo Do Kỷ Phu), tên thật Hiraoka Kimitake (平岡 公威; phiên âm: Bình Cương Công Uy) (14 tháng 1 1925 - 25 tháng 11 1970) là một nhà văn và nhà biên kịch Nhật Bản, nổi tiếng với các tác phẩm như Kinkakuji (1956), bộ bốn tác phẩm "豐饒の海" (Hōjō no Umi, Biển cả muôn màu, 1965-70). Mishima sinh ra tại quận Yotsuya ở Tokyo (ngày nay là một phần của Shinjuku). Cha ông là Azusa Hiraoka, một nhân viên chính phủ, trong khi mẹ ông Shizue, là con một hiệu trưởng tại Tokyo. Ông bà nội của Mashima là Jotarō và Natsuko Hiraoka. Ông có một người em trai tên là Chiyuki và một em gái tên Mitsuko, người qua đời sớm do sốt ban. Tuổi thơ của Mishima bị phủ bóng bởi người bà Natsu, người đã nuôi và cách ly ông khỏi gia đình trong vài năm. Natsu là cháu nuôi của Matsudaira Yoritaka, một daimyo của Shishido tại tỉnh Hitachi và lớn lên trong gia đình công chúa Arisugawa Taruhito; bà vẫn duy trì lễ giáo quý tộc ngay cả sau khi kết hôn với ông của Mishama. Natsu là một người cục cằn và dễ nổi nóng, điều này thường xuyên được ám chỉ trong các tác phẩm của Mishima. Chính qua tìm hiểu Natsu mà một số người đã phát hiện nỗi ám ảnh với cái chết của Mishima. Natsu thường không cho Mishima ra ngoài ánh nắng hay tham gia vào bất hoạt động thể thao nào với các cậu bé khác; điều này khiến ông phải dành phần lớn thời gian một mình hoặc chơi đồ chơi con gái. Mishima trở lại gia đình năm 12 tuổi. Cha ông, một con người của kỉ luật quân đội, đã áp dụng kỉ luật sắt với cậu bé Mishima bằng cách bồng cậu bé lên thành của một con tàu cao tốc; cha của Mishima cũng thường xuyên lùng sục phòng của ông và phát hiện những sở thích "ẻo lả" về văn chương của Mishima và xé các bản thảo đó của ông. Ở tuổi 12, Mishima viết những câu chuyện đầu tiên của ông. Ông đọc ất nhiều các tác phẩm của Oscar Wilde, Rainer Maria Rilke và vô số những tác gia kinh điển Nhật Bản khác. Ông nhập học một trường dành cho tầng lớp quý tộc ở Nhật. Sau sáu năm học, Mishima trở thành thành viên trẻ nhất trong ban biên tập văn học của trường, ông bị cuốn hút bởi các tác phẩm của Tachihara Michizō. Những tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông bao gồm thơ Waka, trước khi chuyển hướng sang thể loại văn xuôi. Mishima được mời viết chuyện ngắn văn xuôi cho tạp chí văn học của trường và gửi bản Hanazakari no Mori (花ざかりの森 The Forest in Full Bloom), một câu chuyện trong đó người kể mô tả cảm xúc về những người tổ tiên còn sống trong nội tâm nhân vật. Giáo viên của Mishima rất ấn tượng với câu chuyện và họ giới thiệu nó cho tạp chí văn học uy tín, Bungei-Bunka (文芸文化 Literary Culture). Câu chuyện với ngôn ngữ ẩn dụ và cách ngôn, đã được xuất bản năm 1944, giới hạn trong 4000 bản do việc thiếu nguyên liệu giấy thời chiến tranh. Để bảo vệ ông khỏi phản ừng từ các bạn đồng môn, các giáo viên của Mishima đã đặt cho ông bút danh "Yukio Mishima". Chuyện Tabako (煙草, tạm dịch: Thuốc lá), xuất bản năm 1946, mô tả sự khinh miệt và đối xử mà Mishima gặp phải ở trường khi ông thổ lộ với những thành viên của CLB Rugby trường rằng ông gắn bó với nghề văn chương. Những kí ức này cũng là nguồn tư liệu cho tác phẩm Shi o Kaku Shōnen (詩を書く少年, tạm dịch: Cậu bé làm thơ) sau này, xuất bản năm 1954. Mishima bị gọi kiểm tra sức khỏe quân ngũ trong thế chiến II. Nhưng khi kiểm tra sức khỏe, ông bị cảm lạnh và đã nói dối với bác sĩ quân đội rằng mình bị lao, vì vậy Mishima đã được tuyên bố là không đủ tiêu chuẩn sức khỏe nhập ngũ. Dù cho người cha cấm ông không được viết truyện nữa, nhưng Mishima vẫn tiếp tục bí mật viết vào buổi đêm, dưới sự ủng hộ và bảo vệ của mẹ ông, bà luôn là người đầu tiên đọc một chuyện mới của Mishima. Tham dự các buổi thuyết giảng ban ngày và viết chuyện ban đêm, Mishima tốt nghiệp trường Đại học Tokyo năm 1947. Sau đó ông dành được một vị trí nhân viên bộ tài chính trong chính phủ, một tương lai sáng lạn đang chờ đón. Tuy nhiên, Mishima lại cảm thấy kiệt sức và cha ông đồng ý cho ông từ chức trong năm đầu tiên để tập trung thời gian cho viết lách. Mishima bắt đầu viết chuyện ngắn Misaki nite no Monogatari (岬にての物語 A Story at the Cape) năm 1945 và tiếp tục viết cho đến cuối thế chiến thứ 2. Vào tháng 1 năm 1946, ông tới thăm nhà văn Yasunari Kawabata tại Kamakura và mang theo bản thảo chuyện Chūsei (中世 The Middle Ages) và Tabako, nhằm xin lời khuyên và sự giúp đỡ của Kawabata. Tháng 6 năm 1946, nhờ lời khuyên của Kawabata, Tabako được tạp chí văn chương mới Ningen (人間 Humanity) xuất bản. Cũng trong năm 1946, Mishima bắt đầu viết tiểu thuyết đầu tay, Tōzoku (盗賊 Thieves), trong đó câu chuyện kể về hai thành viên trẻ trong gia đình quý tộc luôn muốn được tự vẫn. Tiểu thuyết này xuất bản năm 1948, nhờ nó mà Mishima đã được xếp vào hàng ngũ thế hệ thứ hai của những nhà văn thời hậu chiến. Sau đó, ông cho ra đời Confessions of a Mask, một tác phẩm bán tự truyện kể về người đồng tình luôn phải lấp sau mặt nạ để hòa nhập vào xã hội. Cuốn tiểu thuyết đã rất thành công và biến Mishima trở thành một nhân vật nổi tiếng ở tuổi 24. Vào khoảng năm 1949, Mishima cho xuất bạn một serie tiểu luận trong Kindai Bungaku về Kawabata Yasunari, người mà ông dành cho một sự ngưỡng mộ sâu sắc. Mishima là một nhà văn đa tài, ông không chỉ viết tiểu thuyết, tiểu thuyết ngắn, chuyện ngắn, tiểu luận mà còn là một nhà biên kịch có tiếng cho sân khấu kịch Kabuki và những phiên bản hiện đại của thể loại kịch Nō. Các tác phẩm của ông đã dành được tiếng vang quốc tế và rất nhiều trong số đó đã được dịch sang tiếng Anh. Mishima đã đi tới rất nhiều nơi; năm 1952, ông tới thăm Hy Lạp, đất nước đã từng làm say đắm ông từ thời thơ ấu. Những kinh nghiệm thu được từ chuyến thăm đã xuất hiện trong Shiosai (Sound of the Waves), xuất bản năm 1954, câu chuyện lấy cảm hứng từ thần thoại Daphnis và Chloe của Hy Lạp. Mishima cũng khắc họa những sự kiện đương thời trong các tác phẩm của mình. The Temple of the Golden Pavilion xuất bản năm 1956, là một câu chuyện tiểu thuyết hóa về vụ cháy ngôi chùa nổi tiếng ở Kyoto. Utage no Ato (After the Banquet), xuất bản năm 1960, bám sát những sự kiện xung quanh chiến dịch tranh cử thị trưởng Tokyo của chính trị gia Hachirō Arita, vì tác phẩm này mà Mishima đã bị kiện vị tội xâm phạm cá nhân. Năm 1962, tác phẩm Utsukushii Hoshi (Beautiful Star), một tác phẩm gần với thể loại khoa học viễn tưởng thời đó, được xuất bản và nhận được những phản ứng trái ngược. Mishima từng ba lần được đề cử giải Nobel và là một nhà văn yêu thích của rất nhiều nhà xuất bản quốc tế. Tuy nhiên, năm 1968, người thầy đầu tiên của ông Kawabata dành được giải Nobel và Mishima hiểu rằng cơ hội nhận được giải thưởng cho người Nhật Bản trong tương lai gần là rất nhỏ. Cũng có tin đồn rằng Mishima muốn chuyển giải thưởng cho bậc lão thành Kawabata, người đã giới thiệu ông tới văn đàn Tokyo trong thập niên 1940. Năm 1955, Mishima tham gia lớp tập thể thao và chế độ dinh dưỡng cho tập luyện ba buổi một tuần được ông tuân thủ trong suốt 15 năm cuối đời. Trong bài tiểu luận xuất bản năm 1968, Sun and Steel, Mishima phàn nàn về việc những nhà trí thức coi trọng đầu óc hơn thân thể. Mishima sau đó đã trở nên rất điêu luyện với môn kendō. Dù cho đã từng thăm các quan bar dành cho gay ở Nhật Bản, vấn đề định hướng giới tính của Mishima hiện vẫn là một chủ đề bàn thảo ở Nhật. Mishima kết hôn với Yoko Sugiyama ngày 11 tháng 6 năm 1958 và có hai con là Noriko (1959) và Lichiro (1962). Năm 1967, Mishima gia nhập Lực lượng phòng vệ đất liền Nhật Bản và trải qua việc tập luyện cơ bản. Một năm sau đó, ông thành lập Tatenokai (Hội lá chắn) nhằm tập hợp các thanh niên trai tráng có võ và thề sẽ bảo vệ Nhật Hoàng. Trong 10 năm cuối cuộc đời, Mishima viết một vài vở kịch và tham gia đóng trong vài bộ phim cũng như đồng chỉ đạo một bộ phim chuyển thể từ một trong những chuyện của ông, Patriotism, the Rite of Love and Death. Ông cũng tiếp tục viết bộ bốn tác phẩm , Hōjō no Umi (Sea of Fertility), những tác phẩm xuất bản theo khổ định kỳ từ tháng 9 năm 1965. Ngày 25 tháng 11 năm 1970, Mishima và bốn thành viên của Hội lá chắn, tới thăm sĩ quan chỉ huy doanh trại Ichigaya, một trụ sở ở Tokyo của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản. Bên trong trụ sở, họ dựng chướng ngại vật và trói vị chỉ huy trên ghế. Với một bản tuyên ngôn và khẩu hiệu chuẩn bị sẵn nêu rõ các yêu cầu, Mishima bước ra ban công để hô hào các binh sĩ tụ tập phía dưới và xúi dục họ đảo chính để thiết lập lại sức mạnh của hoàng đế. Tuy nhiên, những lời nói của Mishima chỉ khiến chọc giận các binh sĩ và bản thân ông thì bị chế giễu. Ông hoàn thành bài diễn văn đã chuẩn bị sẵn, trở lại phòng chỉ huy và tự sát theo nghi thức seppuku, nhiệm vụ sau cùng truyền thống của nghi thức này được giao cho thành viên Masakatsu Morita của Hội lá chắn thực hiện, tuy nhiên Morita không đủ khả năng thực hiện điều này và cuối cùng Mishima cho phép một thành viên khác của Hội lá chắn, là Hiroyasu Koga ,chặt đầu ông. Những nghi vấn được đặt ra xung quanh sự tự vẫn của Mishima. Vào thời điểm Mishima qua đời, ông đã hoàn thành tác phẩm cuối cùng The Sea of Fertility. Ông được công nhận là một trong những nhà văn hậu chiến phong cách nhất trong văn học ngôn ngữ Nhật. Mishima viết 40 tiểu thuyết, 18 vở kịch, 20 sách về chuyện ngắn, khoảng 20 sách về tiểu luận cũng như một kịch bản. Phần lớn các tác phẩm này bao gồm những cuốn sách được viết nhanh nhằm thu lợi nhuận, dù chúng bị coi nhẹ nhưng những phần quan trọng của các cuốn sách này vẫn được lưu giữ. Vào cuối đời, Mishima là một người tán dương chủ nghĩa dân tộc. Các nhân vật cánh tả không ưa gì ông, đặc biệt là vì ý tưởng chấn hưng tinh thần võ sĩ đạo (bushidō) của Mishima, ông cũng bị rất nhiều những người theo chủ nghĩa dân tộc chỉ trích vì luận điểm nêu ra trong Bunka Bōeiron (文化防衛論 A Defense of Culture), cho rằng Hirohito nên thoái vị và phải nhận trách nhiệm cho sự chết chóc trong chiến tranh. ∙ Giải Shincho của Nhà xuất bản Shinchosha, 1954, cho The Sound of Waves. ∙ Giải Kishida của Nhà xuát bản Shinchosha cho các tác phẩm kịch, 1955. ∙ Giải Yomiuri của Báo Yomiuri Newspaper Co., cho tiểu thuyết xuất sắc nhất, 1957, The Temple of the Golden Pavilion. ∙ Giải Yomiuri của Báo Yomiuri Newspaper Co., cho vở kịch xuất sắc nhất, 1961, Toka no Kiku. LỜI NGƯỜI DỊCH Từ thế kỷ 15, nước Nhật có một loại nghệ thuật sân khấu giống tương tự như hát bội ở Việt Nam. Những đề tài được bộ môn này đưa lên diễn tả trên sân khấu phần nhiều bắt nguồn từ những chuyện cổ tích Nhật. Nghệ thuật sân khấu này tiếng Nhật gọi là Noh. Sau đây là quang cảnh của một sân khấu hát Noh. Những nhân vật chánh đeo mặt nạ, mặc quần áo đặc biệt tượng trưng cho những vai liên hệ tới đề tài diễn tả. Một ban hợp ca đề xướng lên những bài hát được dùng làm âm thanh phụ hoạ cho những lời nói của nhân vật chánh. Ngoài ra còn có tiếng sáo và tiếng trống đệm. Sau đây là thí dụ về tuồng tích của một tuồng Noh. Chuyện cổ tích có kể rằng: ngày xưa có một chàng trai thuộc dòng dõi nho phong, thanh lịch. Anh ta yêu một thiếu nữ và nàng đặt điều kiện là anh ta phải tới hầu hạ tại nhà nàng trong chín mươi chín đêm liền, để rồi tới đêm thứ 100 thì nàng sẽ ban tình yêu cho. Anh ta đã kiên nhẫn tới nhà nàng liên tiếp trong 99 đêm liền để rồi sau đó lại ra về không. Tới đêm thứ 100, khi sắp sửa tới lúc được quyền yêu nàng, thì anh ta lại chỉ tới để tự tìm cái chết ngay trước mặt nàng. Tên người con trai đó là Fuka-kusa-no- Shosho và người con gái: Kayoi Komachi. Trên đây là đoạn chuyện cổ tích, và tuồng Noh chỉ bắt đầu diễn tả từ khúc nối tiếp vào câu chuyện đó như sau: Khi màn kéo lên, trên sân khấu khán giả thấy một bóng ma đàn bà mặc quần áo đỏ, có hoa sặc sỡ tượng trưng cho gia đình giàu có, đang thơ thẩn hái những hạt đậu. bóng ma đeo mặt nạ đó chính là hồn của Komachi hiện lên. Tiếng sáo và trống dạo đầu rồi ban hợp ca đồng xướng lên những câu hát: “Hỡi nàng con gái kia, nhặt những hạt đậu gì vậy?...” Sau đó xuất hiện một nhà sư đi qua, nhìn thấy biết nàng là hồn ma hiện về, nên đến hỏi han. Nàng liền thú thật mọi chuyện tiền oan, nghiệp chướng đã lỡ gây ra nên bây giờ mặc dầu chết rồi hồn vẫn còn lẩn quẩn với mối tình chốn dương gian. Nghe xong, nhà sư liền niệm Phật, tụng kinh và dùng triết lý khuyên giải để đưa hồn người đàn bà bất hạnh về Tây Trúc. Nhờ đó, hồn nàng mới siêu thoát được và không còn hiện về nữa. Mishima rất thích loại tuồng Noh này, tháng nào cũng đi coi một lần. Và từ đó ông rút ra một quan niệm triết lý về cái Đẹp của nghệ thuật như sau: “Đẹp là cái gì tàn bạo, dũng mãnh để đi tới chỗ tự huỷ hoại.” Theo Mishima, loại văn chương mô tả tâm lý quằn quại đau khổ của con người như văn của Shakespeare chỉ là những món ăn tinh thần của giới trưởng giả “bourgeois”. Loại văn chương đó không thể hiện được cái Đẹp tuyệt đối của sự vật. Cái Đẹp âm thầm, cuối cùng, vĩnh cửu chỉ có thể tìm thấy trong sự bạo động và nhất là trong sự chết. Chính cái Đẹp đó đã được thể hiện trong văn thơ của Thomas Mann với cuốn truyện “Death in Venice” (Bản dịch của Nguyễn Tử Lộc, Trẻ xuất bản) hay Edga Allan Poe trong tập thơ “Con Quạ.” Năm 1970, Mishima có viết một bài nguyên văn bằng Anh ngữ, đăng trong Đặc san “This is Japan” dưới nhan đề Japan Within (Bề trong Nhật Bản) để diễn tả triết lý về cái Đẹp của sự Chết như sau: “Nếu những sự bành trướng, kỹ nghệ và tân tiến hoá, với một đời sống xô bồ gần như điên dại của đám dân thành thị là “bộ mặt bề ngoài” của nước Nhật thì tôi tự cảm thấy cần phải cương quyết bảo vệ và tái lập nội dung “Nhật Bản bên trong”. Tuồng Noh chính là một tiêu chuẩn để tạo ra sự thanh tịnh của tâm hồn. Chính vẻ Đẹp của sự thanh tịnh đó đã lôi kéo tôi rời bỏ đời sống xô bồ hời hợt của nước Nhật bề ngoài hiện nay. Một cái xô bồ bề ngoài đã huỷ hoại những giá trị bên trong –và thúc đẩy tôi tạo ra một bộ mặt mới khác cho Nhật Bản. Và chính sự Chết đã nằm dưới cái Đẹp đó. Một ngày nào đó rất có thể, tôi sẽ đi theo sức lôi cuốn của vẻ đẹp này để tìm tới cái chết trong sự huỷ hoại, im lặng.” Bốn năm sau khi viết câu chuyện này, Mishima đã tự tử theo nghi lễ võ sĩ đạo. Ông sống tất cả 48 năm, kể từ lúc mở mắt chào đời tại Tokyo năm 1925. VÀI ĐIỀU GHI NHẬN VỀ CUỐN TIỂU THUYẾT “SAU BỮA TIỆC” Đây là một cuốn tiểu thuyết luận đề tương tự như loại tiểu thuyết luận đề Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Những luận đề được lồng vào Sau Bữa Tiệc là: Vấn đề đạo đức: Có ba khuôn mặt điển hình, tượng trưng cho 3 quan niệm đạo đức khác nhau: Noguchi. Tượng trưng cho quan niệm Đạo Đức Bổn phận theo kiểu Đạo Đức của Kant. Phải tuân theo những nguyên tắc tối thượng, bất di bất dịch của Đạo Đức. Đây là những nguyên tắc phổ quát chi phối mọi hoạt động của con người. Kazu. Đại diện cho quan niệm đạo đức cởi mở, đạo đức sáng tạo của Bergson. Quan niệm đạo đức này cho rằng phải tuỳ hoàn cảnh mà áp dụng những quy luật đạo đức một cách uyển chuyển, luôn sáng tạo ra những lề luật mới, những cách áp dụng mới. Nagayama. Đại diện cho khuynh hướng đạo đức cá nhân. Câu châm ngôn phát biểu cho quan niệm đạo đức này như ông ta đã nói với Kazu là “Tôi làm việc tôi làm.” Vấn đề Chánh trị. Ông đưa ra hai loại chánh khách: loại chánh khách lý tưởng (Noguchi) và loại chánh khách theo chủ nghĩa Hiện thực – Realism (Yamazaki). Mishima chứng minh sự thất bại của các chánh khách lý tưởng và ca tụng cái đẹp của những chánh khách theo thuyết Hiện thực với nỗ lực tạo ra những “phép lạ chánh trị” và chấp nhận đường lối ma giáo của đối thủ. Đã lao mình vào chánh trường thì phải chấp nhận sự phản bội, tàn bạo của đối phương. Chấp nhận không phải để đi theo, nhưng để nỗ lực bằng đường lối chân chánh ngõ hầu lật ngược thế cờ. Điều đó gọi là những phép lạ chánh trị. Những người chủ trương đường lối đó được gọi là theo Hiện thực chủ nghĩa. Chúng ta thấy Hiện thực có nhiều điểm giống với chủ thuyết Machiavelli nhưng hoàn toàn khác hẳn về căn bản. Vấn đề Gia đình. Tác giả Sau bữa tiệc chủ trương con người cần có một gia đình. Nhưng nếu vợ chồng lấy nhau mà không hợp tánh tình, quan điểm thì nên ly dị. Theo ông nếu không tìm thấy hạnh phúc khi sống chung với nhau thì “chim nào nên trở về tổ nấy”. Như thế là hay hơn cả. Tiếc rằng trong cuốn tiểu thuyết này, vợ chồng Noguchi không có con, nên vấn đề ly dị dễ dàng. Nhưng nếu trong trường hợp có con, không biết tác giả sẽ giải quyết thế nào cho êm đẹp cả. Trong khi đang dịch cuốn truyện này, một người bạn có bảo tôi: “Tiểu thuyết đã hết thời. Bây giờ người ta có phương tiện đi du lịch rộng rãi, nên không cần đọc truyện. Cuộc sống thực tế có phần còn sôi động, gay cấn hơn tiểu thuyết.” Khi đọc xong cuốn truyện của Mishima, chúng tôi thấy tiểu thuyết vẫn là thế giới riêng biệt khác hẳn cuộc sống thực tế. Cuộc sống hàng ngày ví như địa hình, địa vật bên ngoài, và tiểu thuyết là tấm hoạ đồ của địa hình, địa vật đó. Nhiều khi nhờ có bản đồ mà ta tìm ra lối đi bên ngoài. Tiểu thuyết vẫn là một phương tiện suy tư và giáo dục, là một công trình căn bản của truyền thông trong lúc hai phạm vi âm thanh và hình ảnh chỉ là những phương tiện phụ thuộc rút ra từ tiểu thuyết. Không tin, các bạn cứthửđọc cuốn truyện này xem. Saigon, ngày 25 tháng 4 năm 1974 Dịch giả Mời các bạn đón đọc Sau Bữa Tiệc của tác giả Yukio Mishima & Tuyết Sinh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nơi Ấy Có Anh - Granty (Born)
Nơi ấy có anh - Với một tuổi thơ bất hạnh, phải sống trong một gia đình mà chỉ toàn nuớc mắt, mãi đến khi tình yêu đầu đời chớm nở, cô mới cảm nhận đuợc vị hạnh phúc, nhưng rồi mọi thứ đâu như người ta vẫn uớc mong... *** Bút danh : Granty ( Mọi người vẫn luôn gọi là Born) Ngày sinh: 29/07 ( cung Sư tử ) Sở thích: đọc truyện tranh, viết tiểu thuyết, … Facebook: https://www.facebook.com/granttylove.tran Được độc giả gán cho cái danh “Ác hơn mẹ Cám” sau khi viết tác phẩm đầu tay của mình là “Sẽ để em yêu anh lần nữa” Đề tài sáng tác chủ yếu là tình yêu giữa nam và nữ, xen vào đó là tình bạn, tình cảm gia đình. Luôn là những đề tài lấy từ cuộc sống bên ngoài khi vô tình bắt gặp, mang giá trị hiện thực nhiều hơn hư ảo, thích tô đậm hoàn cảnh nhân vật một cách khắc nghiệt. Khiến các nhân vật của mình trở nên đáng thương, để có thể bán xô chậu, khăn giấy cho đọc giả hứng nước mắt. Đặc biệt thích đặt mình vào vị trí từng nhân vật và diễn tả cảm xúc của họ một cách chân thật, chứ không giấu diếm. *** Buổi chiều mát mẻ, mặt trời tuy chưa xuống núi nhưng ánh nắng không hề gay gắt, dưới một mảnh vườn nhỏ có hai bóng hình một lớn, một nhỏ đang ngồi .....nhổ cỏ. - Ba, con mỏi chân quá hà, mình nghỉ chút nha ba - Giọng một cậu nhóc nhỏ mếu máo nhìn người đàn ông còn khá trẻ bên cạnh mình. Người ba ngó dáo dát về hướng ngôi nhà có màu xanh êm dịu kia rồi gật đầu nói nhỏ: - Ừ, con lại ghế ngồi một chút đi. Ba trông chừng mẹ cho . Thằng bé vui mừng nhảy cẩng lên vỗ tay: - Hoan hô, được nghỉ rồi. Con cám ơn ba. - Đừng la lớn, mẹ con nghe được, lại phạt cha con mình nữa thì khổ - Người cha đưa tay ra dấu cho đứa con nhỏ giọng, rồi đưa mắt nhìn vào nhà, thấy cánh cửa nhà vẫn khép chặt thì thở phào, vội vàng nhanh tay nhanh chân nhổ đám cỏ đang lấn lướt mấy luống rau xanh của nhà họ. - Ba ơi, con đói bụng - Đứa bé lại lần nữa mếu máo kêu lên. - Uống nước đỡ đi con, lát nữa mẹ hết giận rồi vào ăn cơm - Người ba dỗ dành con trai. - Con uống cả ba ly nước luôn rồi nhưng vẫn thấy đói - Thằng bé xụ mặt buồn xo đáp. - Hay là con cứ giả vờ bị đau bụng đi, ba bế con vào, con cứ khóc ầm lên, mẹ thế nào cũng xót con mà tha thứ cho hai cha con mình - Người cha bất đắc dĩ phải dạy con mình nói dối để được tha thứ. Đứa con ngoan ngoãn gật đầu ( cái thằng này, bình thường không chịu ngoan, xúi dại thì lại ngoan ngoãn làm theo) Người cha lập tức phủi tay bế con trai vào nhà kêu vợ: - Bà xã, em mau xem xem, con mình bị đau bụng rồi nè. Nó cứ ôm bụng suốt. Ngân Hằng khẽ đặt con dao sắc thịt xuống bàn, chậm rãi rửa tay sạch sẽ sau đó sờ trán con trai, rồi hỏi: - Con đau ở đâu? - Đau nhiều nơi lắm - Thằng bé cố giả đau nói: - Chỗ này có đau không? - Ngân Hằng sờ nắn phần bụng của thằng bé hỏi. - Dạ đau lắm. - Chỗ này thì sao.... - Dạ đau.... - Còn chỗ này.... - Cũng đau ạ. - Không được rồi. Mẹ nghĩ con bệnh rất nặng, cần đến bác sĩ lấy cây kim to chích thuốc thôi - Ngân Hằng lắc đầu bảo. Thằng bé nghe xong thì tái mặt, nó nhìn ba nó từ nãy giờ không không dám lên tiếng. Mếu máo kêu nhỏ một tiếng: - Ba, con không muốn đi bệnh viện đâu ba. - Lâm Thiên Phong, con đứng lên cho mẹ - Ngân Hằng bỗng đập mạnh lên bàn quát lớn. Lâm Phong và con trai lập tức đứng lên, cả hai cha con không dám hé răng một lời. - Anh đứng tránh ra, để em nói chuyện với con. Tội dạy con nói dối, em sẽ xử lý sau. - Bà xã, anh biết lỗi rồi, tại anh thấy con trai bị mệt quá nên mới.... - Lâm Phong ảo não nói. - Thiên Phong. Nói cho mẹ biết , mẹ phạt con là đúng hay sai. - Dạ đúng. - Nói xem, con phạm phải tội gì đáng bị phạt hả? - Con đem sâu đến lớp hù các bạn nữ. - Tại sao con làm vậy? Thiên Phong quay đầu nhìn ba mình, Ngân hằng cũng trừng mắt nhìn Lâm Phong. Lâm Phong vội vã thanh minh ngay. - Không phải anh xúi con làm bậy đâu. - Ba bảo không được bán đứng bạn bè - Thiên Phong cúi đầu đáp. Lâm Phong vội vàng đến bên con trai bảo: - Con trai à, đều mà bạn con dạy là điều xấu, con không nên học theo, mau nói ra đi nếu không mẹ con sẽ giận đó. - Là chú Sơn Hải và chú Bảo Duy ạ - Thiên Phong liền đáp. Lâm Phong liền ho sù sụ, thầm than trời, biết thế không xúi Thiên Phong nói ra làm gì. Đúng như Lâm Phong dự đoán, Ngân Hằng lập tức gọi điện thoại cho hai cô bạn thân của mình. Lát sau, Lâm Phong nhận được điện thoại trách mắng của hai người bạn: - Tại sao ông không quản lí vợ mình cho chặt hả, có biết tụi này đều bị vợ phạt rồi hay không hả. - Chấp nhận đi - Lâm Phong cũng gào đáp trả - Mình cũng đang chịu phạt đây nè. Đúng là con dại cái mang mà. - Đúng là mũi dại lái chịu đòn - Bảo Duy cũng than thở. Cúp máy, Lâm Phong cùng Thiên Phong lò mò đến gần vợ, mỗi người một bên. Người lay kẻ lắc tay Ngân hằng gọi khẽ: - Bà xã.... - Mẹ.... ... Mời các bạn đón đọc Nơi Ấy Có Anh của tác giả Granty (Born).
Những Ngõ Phố - Tô Hoài
Những Ngõ Phố của Tô Hoài vẽ nên bức tranh sinh động, nhiều màu sắc về con người và những ngõ phố Hà Nội. Ở ngõ phố ấy có cô gái nhảy quyết tâm làm lại cuộc đời bằng việc gánh cát thuê, có người vợ đang phải chống chọi lại với những sợ hãi tủi nhục vì chồng mình là lính ngụy, có cuộc sống đơn sơ của đôi vợ chồng sống bằng nghề nhặt rác... Những con người ấy, trong ngõ phố ấy, đã tạo nên ngõ phố của những nhọc nhằn nhưng tràn ngập niềm vui, đầy ắp tình người và mang đậm chất Hà Nội. Hà Nội những năm 50-60 với đạn bom khói lửa. Hà Nội thời kháng chiến với bao nhọc nhằn, khốn khó nhưng thấm đẫm tình người. Hà Nội với những con người kiên cường bất khuất, sẵn sàng bám trụ để bảo vệ mảnh đất quê hương. Hà Nội, nơi những con đường, ngõ phố,đã đi vào lịch sử như một mình chứng cho một thời kỳ đấu tranh của dân tộc. Cuộc sống bình dị nhưng rất đổi hào hùng của con người Hà Nội đã được tái hiện một cách sinh động và chân thật trong Những ngõ phố. *** Cảm quan hiện thực đầy tinh tế về cuộc sống đời thường cộng vốn hiểu biết giàu có về phong tục và đời viết không ngừng nghỉ đưa nhà văn Tô Hoài lên vị trí không thể nhầm lẫn. Ông gần như là nhà văn cuối cùng thuộc thế hệ những người cầm bút sinh ra và lớn lên trong quãng thời gian dân tộc chuyển mình giành lấy độc lập, chống đế quốc, và xây dựng lại đất nước trải dài trong suốt thế kỷ 20. Như tất cả những đồng nghiệp cùng trang lứa, ông lập tức đối diện với một hiện thực lịch sử “ngoại cỡ” đối với các quy mô tự sự theo cung cách truyền thống, khiến sự lựa chọn về đề tài và bút pháp phải là quyết liệt và dứt khoát ngay từ đầu. *** Những chiếc xe ba gác nối nhau chở lợn ở lò mổ Phà Đen đến các chợ. Người chạy rầm rập, vác cả từng con lợn trắng nhễ nhại vào lẳn xuống quầy giữa chợ đương còn ồn ào.   Chỉ một lúc những tiếng động hối hả cuối cùng trong năm đã nhạt dần, rồi im. Các chợ Khâm Thiên, chợ Đuổi, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, cảnh chen lấn quanh quầy thịt lợn lúc nãy đã tan hết. Năm mới từ từ đến trên những bước tiếng giày, tiếng guốc đi thong thả khác lúc nãy, người ta bắt đầu chơi đón giao thừa. Đêm ba mươi năm ấy, vừa sôi nổi, vừa dùng dắng. Đôi khi chần chừ. Tùy ở mỗi người vội vã hay ung dung, ở người thành phố hay người đợi tàu dòng dài ngoài ga Hàng Cỏ về Tết xa. Từ năm về Hà Nội, Tết nào Trử cũng ở lại ăn Tết không về nhà. Trử cũng không nghĩ mình chưa có vợ. Trữ chỉ nhớ, mình còn có một người chị ruột. Không biết lưu lạc đâu, còn sống không. Khi nhỏ, ở bộ đội, rồi ở cơ quan trên Việt Bắc về. Trử đã có một chương trình chơi giao thừa. Trử nghĩ thế. Phong phú và linh hoạt đấy. Người ta ăn mặc tinh tế. Đóng cái áo đại cán cài khuy cổ, hay “bị” để ý. Chợ Giời ở bờ hồ Thiền Cuông, ra đấy sắm Tết. Có hai vạn, vừa tậu được cái áo vét tím nhã nhặn. Thêm ba nghìn tiền chữa, đã biến được cái áo vừa phom. Tiện quá. Càng khuya, người các phố càng đổ ra, chen chân trong làn sương và khói hương chảy lùa dưới những hàng cây hai bên hè nhộn nhịp đêm tất niên. Người đông nghịt đi vòng hồ. Năm gần đây, cả đêm bị thiết quân luật. Tối đến, vùng hồ Hoàn Kiếm chỉ trắng nhởn bóng điện bóng nước. Không có người. Hà Nội giải phóng, đền Ngọc Sơn trở lại nền nếp người đi giao thừa lễ đền và quanh hồ, nô nức người đi chơi suốt đêm. Chân cầu Thê Húc, đống đá Tháp Bút, sang đền Bà Kiệu, lồi lõm những cây gạo, cây si, cây đa, dãy đèn le lói như đom đóm bám bờ ao đêm hè. Những ông thầy xem thẻ, đoán số, xem bói, không biết từ xó nào mò ra, xúm xít, nhấp nhem trong hốc tối. Tiếng xuýt xoa khấn khứa, tiếng đồng tiền gieo quẻ rè rè... Bao nhiêu ông thầy còn tiếc rẻ cố ăn mày lộc thánh được lúc nào hay lúc ấy dường như trôi cả về chỗ này. Người ta có cảm tưởng đâu đâu ở chợ Sắt dưới Hải Phòng, ở cây đa Cửa Quyền, ở đền Hàng Trống, ở đền Quan Thánh, các gốc đa, gốc đề, gốc si, gốc đại um tùm không còn ai ngõi đến cửa thầy, các thầy lần mò đến đây. ... Mời các bạn đón đọc Những Ngõ Phố của tác giả Tô Hoài.
Mai Mối Cho Tối Nếu Em Có Thể - Susan Elizabeth Phillips
Cuộc sống với Annabelle gói gọn trong hai tiếng THẢM HỌA: từ công việc, tình cảm cho đến bộ tóc đỏ bất trị! Nhưng cơ hội đổi đời đã tới: cô tiếp quản công ty mai mối từ người bà đã khuất. Tất cả những gì cô phải làm là thuyết phục bằng được anh chàng độc thân nóng bỏng nhất Chicago trở thành khách hàng của mình. Tại sao một đại diện thể thao đẹp trai, mạnh mẽ và giàu có như Heath Champion lại cần đến bà mối, nhất là một thảm họa biết đi như Annabelle? Đúng, cô thú vị, cô có một vẻ hấp dẫn kỳ quặc. Nhưng cái Heath đang tìm kiếm là biểu tượng thành công cuối cùng - một người vợ hoàn hảo. Và người ta có cần một bà mối ngoại hạng để tìm được một người vợ ngoại hạng? Gợi cảm, sắc sảo và hài hước - Mai mối cho tôi nếu em có thể thỏa mãn những kỳ vọng của độc giả đối với tiểu thuyết của một nhà văn đã năm lần được vinh danh trong giải RITA - giải thưởng uy tín của Mỹ nhất cho dòng tiểu thuyết lãng mạn. *** Bộ sách Chicago Stars gồm có: It Had to Be You (Vì đó là em) [Chicago Stars #1] - Susan Elizabeth Phillips Heaven, Texas [Chicago Stars #2] - Susan Elizabeth Phillips Nobody's baby but mine [Chicago Stars #3] - Susan Elizabeth Phillips Dream a Little Dream [Chicago Stars #4] - Susan Elizabeth Phillips This Heart of Mine [Chicago Stars #5] - Susan Elizabeth Phillips Mai mối cho tôi nếu em có thể [Chicago Stars #6] - Susan Elizabeth Phillips *** Susan Elizabeth Phillips sinh tại Ohio (Hoa Kỳ), tốt nghiệp ngành Nghệ thuật Sân khấu tại Đại học Ohio, rồi dạy kịch nghệ và tiếng Anh tại một trường phổ thông cho đến khi sinh con đầu lòng và trở thành bà nội trợ. Từng cùng bạn thân Claire Lafkowitz hợp tác viết một tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, nhưng sau đó Phillips độc lập sáng tác và thu được thành công rực rỡ. Các tiểu thuyết của bà đều nằm trong danh sách bestseller của tờ USA Today và New York Times. Bà là tác giả duy nhất năm lần đoạt giải Sách của năm và chủ nhân giải Thành tựu trọn đời do Hội các nhà văn lãng mạn Mỹ trao. Hiện bà sống tại ngoại ô Chicago với chồng và hai con trai lớn. *** Pippi giơ chiếc máy ghi âm lại gần môi và hét lên. “Alô! A lô! A lô!” “Nó hoạt động rồi,” Heath nói từ chiếc ghế xô pha ở phía bên kia căn phòng giải trí đa phương tiện. “Cháu có thể nói nhỏ hơn một chút được không?” “Tên tôi là Victoria Phoebe Tucker…” con bé thì thầm. Và rồi quay lại với âm lượng bình thường của nó. “Tôi năm tuổi, và tôi sống tại khách sạn Plaza.” Con bé lén nhìn Heath một cái, nhưng anh vừa xem bộ phim Eloise với nó, và anh chỉ mỉm cười. “Đây là chiếc máy ghi âm của hoàng tử và chú ấy nói tôi phải trả lại.” “Chết tiệt, đúng là cháu phải trả lại.” Đáng lẽ con bé sẽ xem trận đấu của đội Bít Tất với anh trong lúc câu lạc bộ sách gặp nhau trên gác, nhưng con bé thấy chán. “Chú hoàng tử vẫn còn giận vì tất cả những chiếc điện thoại tôi lấy khi tôi mới chỉ có ba tuổi,” con bé nói vào trong máy ghi âm. “Nhưng tôi chỉ là một đứa bé, và mẹ đã tìm thấy hầu hết và trả chúng lại.” “Không phải tất cả.” “Vì tôi không thể nhớ được đã để chúng ở đâu!” con bé tuyên bố, ném cho anh cái nhìn thách thức của một tiền vệ nhỏ tuổi. “Cháu nói điều đó khoảng một triệu lần rồi.” Lờ anh đi, con bé tập trung vào những gì nó đang làm. “Đây là những điều tôi yêu. Tôi yêu mẹ và bố và Danney, bác Phoebe và bác Dan và tất cả những anh chị em h của mình và hoàng tử khi chú ấy không nói về những chiếc điện thoại và Belle và tất cả mọi người trong câu lạc bộ sách trừ Portia, vì bác ấy không để tôi cầm hoa khi bác ấy cưới Bodie vì họ chạy tốn với Vegas Heath cười lớn. “Họ chạy trốn.” “Họ chạy trốn,” con bé lặp lại. “Và Belle không muốn Portia tham gia câu lạc bộ sách, nhưng bác Phoebe cố nài vì bác ấy nói Portia cần…” con bé không thể nhớ được, và con bé nhìn Heath. “Tình bạn với những người phụ nữ không có tính cạnh tranh,” anh nói với một nụ cười. “Và, như thường lệ, bác Phoebe đã đúng. Chính vì thế, bằng sự sáng suốt của mình, chú đã thuyết phục bác Phoebe trở thành cố vấn của Portia.” Pippi gật đầu và tiếp tục nói chuyện phiếm. “Hoàng tử quý Portia. Portia từng là bà mối, nhưng giờ bác ấy làm việc cho chú ấy, và hoàng tử nói bác ấy là người đại diện thể thao chết tiệt giỏi nhất chú ấy từng biết, và, nhờ bác ấy, bộ phận thể thao mới của phụ nữ đang ngày càng phát triển.” “Cô ấy là đại diện thể thao giỏi thứ ba,” anh nói. “Sau Bodie và chú. Và không được nói chết tiệt.” Con bé lún sâu hơn vào chiếc ghế bành lớn, bắt tréo hai bàn chân giống y hệt anh. “Hoàng tử trả cho Portia rất nhiều tiền vì món quà cưới dành cho Annabelle. Mẹ nói đó là món quà ngớ ngẩn, nhưng Belle nói hoàng tử đã tặng thứ cô ấy thích nhất trên đời, và giờ Portia cho Belle lời khuyên trong việc làm thế nào để trở thành bà mối.” Con bé nhăn trán. “Chú tặng cho Belle cái gì làm quà cưới thế?” “Dữ liệu từ công ty cũ của Portia.” “Chú nên tặng cô ấy một con chó con.” Heath cười lớn, rồi cáu kỉnh nhìn chiếc ti vi. “Đừng có lúc nào cũng xoáy bóng chứ, đồ ngốc!” “Tôi không yêu đội Bít Tất,” Pippy nhấn mạnh. “Nhưng tôi yêu bác sĩ Adam và Delaney vì họ để tôi cầm hoa trong đám cưới, mẹ của Belle khóc và nói Belle là bà mối giỏi nhất trên thế giới. Tôi yêu Rosemary vì cô ấy kể chuyện và trang điểm cho tôi. Bây giờ Rosemary cũng đang ở trong câu lạc bộ sách thì Rosemary cũng sẽ ở trong câu lạc bộ, vì Rosemary cũng cần có bạn nhiều như Portia, và rồi Belle nói cô ấy quá hạnh phúc để có thể tiếp tục gi lại sự say đắng xưa.” “Cay đắng.” “Đây là những gì tôi không yêu.” Con bé lại len lén nhìn về phía Heath. “Tôi không yêu Trevor Granger Champion. Thằng bé có chiếc bỉm to tướng ở bẹn.” “Lại bắt đầu rồi đây.” Heath chuyển cái gối tựa trong tay lên vai anh. Con bé bỏ chiếc máy ghi âm xuống, bò ra khỏi cái ghế bành to, và trèo lên trên xô pha cạnh anh, săm soi em bé đang ngủ với vẻ khó chịu. “Trevor nói với cháu nó ghét vì chú bế nó suốt. Nó nói nó muốn chú đặt…nó…xuống!” Vì Trevor chỉ mới sáu tháng, Heath nghi ngờ khả năng ngolf ngữ của thằng bé cao đến thế, nhưng anh tắt tiếng ti vi đi và hướng sự chú ý sang cô bé năm tuổi đang ghen tị. “Chú tưởng chúng ta đã nói về chuyện này rồi.” Con bé dựa vào anh. “Nói lại với cháu đi.” Anh vòng cánh tay rảnh rỗi quanh vai con bé. Pip không hài lòng trừ phi tất cả những người đàn ông trong thế giới tự do hoàn toàn chịu sự sai khiến của con bé, điều con bé rất hay làm. “Trev chỉ là em bé. Em ấy rất tẻ nhạt. Em ấy không thể chơi với chú như cháu được.” “Và em ấy là thằng bé khóc lóc to tướng.” Heath cảm thấy nhu cầu phụ tử ủng hộ tính nam nhi của con trai mình. “Chỉ khi em ấy đói bụng thôi.” Pippy nâng đầu lên. “Cháu nghe thấy họ di chuyển trên lầu. Cháu nghĩ đã đến lúc ăn tráng miệng rồi.” “Cháu chắc không muốn xem nốt trận đấu với chú chứ?” “Thực tế đi nào.” Đó là câu nói mới nhất của con bé, và nó sử dụng câu này mỗi khi bố mẹ nó không có mặt. ... Mời các bạn đón đọc Mai Mối Cho Tối Nếu Em Có Thể của tác giả Susan Elizabeth Phillips.
Lỡ Yêu Người Hoàn Hảo - Susan Elizabeth Phillips
Bằng câu chuyện hài hước, tác giả chứng minh rằng những người tính cách trái ngược luôn tạo sức hấp dẫn với đối phương. Tình đầu hay tình cuối / 9 bí quyết để trở thành nhà văn ăn khách Câu chuyện bắt đầu bằng việc Lucy Jorik chuẩn bị kết hôn với Ted Beaudine - ngài thị trưởng trẻ tuổi, điển trai, tài năng và giàu có của thị trấn Wynette. Đó là người đàn ông hoàn hảo được tất cả phụ nữ trong thị trấn ngưỡng mộ. Đám cưới sẽ diễn ra tốt đẹp nếu không có sự xuất hiện của Meg Koranda - cô bạn thân chuyên gây rắc rối của Lucy. Meg đến Wynette để tham dự đám cưới của Lucy với vai trò phù dâu. Nhưng ngay từ lần đầu tiên gặp Ted, bằng linh cảm của một người bạn thân Meg đã một mực quả quyết rằng anh chàng này chẳng hợp với Lucy chút nào. Vốn mê Ted như điếu đổ, nhưng chẳng hiểu tại sao Lucy lại nghe theo lời khuyên của Meg và hủy bỏ hôn lễ vào phút chót. Từ đây, Meg chính thức trở thành kẻ thù của Ted và cả thị trấn Wynette - nơi tôn sùng thị trưởng của họ không khác nào một vị thánh. Lúc này, một rắc rối khác tiếp tục xảy đến với Meg. Vì muốn cô con gái ba mươi tuổi của mình tự lập, dừng việc rong chơi vô bổ suốt ngày và dựa dẫm vào người khác, bố mẹ Meg đã khóa các tài khoản của cô. Nợ tiền phòng, bị Ted gây khó dễ, cộng thêm việc không tìm được ai giúp đỡ, Meg đành phải ở lại Wynette làm công để trừ nợ. Từ một cô tiểu thư quen hưởng thụ, bỗng chốc Meg trở thành một nhân viên phục vụ phòng cỏn con và suốt ngày bị bắt nạt. Không còn cách nào khác cô đành nhẫn nhịn và chăm chỉ làm việc để sớm có tiền  quay trở lại Los Angeles.  Do hiểu nhầm Ted là một người đàn ông trăng hoa, nên Meg đã ghét cay ghét đắng anh chàng và suốt ngày tìm cách chơi xấu. Nhưng càng ở lâu bên Ted cô mới nhận ra anh là một người đàn ông tuyệt vời hơn cả những gì thiên hạ vẫn đồn đại. Tình yêu đã chớm nở giữa hai con người hoàn toàn trái ngược này. Đây cũng là lúc những rắc rối mới xảy đến. Đầu tiên là việc đám phụ nữ ở Wynette, đặc biệt là những cô nàng đang để ý đến Ted không thể chấp nhận được chuyện anh yêu Meg. Tất cả đều cho rằng Meg đã dùng thủ đoạn để quyến rũ ngài thị trưởng đẹp trai của Wynette. Họ tìm đủ mọi cách để chơi xấu Meg. Không chỉ có vậy, Spencer Skipjack - ông chủ lớn nhất trong dự án đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng ở Wynette cũng để ý đến Meg. Điều đó đồng nghĩa với việc Ted phải đứng giữa hai lựa chọn khó khăn là bảo vệ người con gái anh yêu hay nghĩ cho tương lai của thị trấn Wynette. Chỉ có dũng cảm đứng lên đương đầu với mọi khó khăn mới đưa họ đến một cái kết hạnh phúc. Susan Elizabeth Phillips không còn xa lạ với những độc giả yêu thích dòng văn học lãng mạn Mỹ. Các tác phẩm nổi tiếng của bà xuất bản ở Việt Nam gồm: Trời sinh quyến rũ, Tình đầu hay tình cuối, Con của riêng tôi, Mai mối cho tôi nếu em có thể, Vì đó là em... Các tiểu thuyết của Susan đều nằm trong danh sách best-seller của tờ USA Today và New York Times. Bà là tác giả 5 lần đoạt giải "Sách của năm" và từng nhận giải "Thành tựu trọn đời" do Hội các nhà văn lãng mạn Mỹ trao tặng. *** Bộ sách Wynette, Texas gồm có: Fancy Pants (Wynette, Texas, #1) Lady Be Good (Wynette, Texas, #2) Glitter Baby (Wynette, Texas, #3) First Lady (Wynette, Texas, #4) - Tình Đầu Hay Tình Cuối What I Did for Love (Wynette, Texas, #5) - Lỡ Yêu Người Hoàn Hảo Call Me Irresistible (Wynette, Texas, #6) The Great Escape (Wynette, Texas, #7) *** Lời tác giả Mỗi cuốn sách tôi viết đều có một đời sống độc lập, nhưng điều đó không ngăn cản các nhân vật trong tác phẩm này lang thang vào trong một tác phẩm khác. Rất nhiều người bạn cũ đã bước vào trong cuốn sách này - Francesca và Dallie Beaudine từ Fancy Pants; Nealy Case và Mat Jorik từ First Lady; Fleur và Jake Koranda từ Glitter Baby (Bé Cưng Lấp Lánh); Kenny Traveler và Emma (ối chà... Công nương Emma chứ) từ Lady Be Good, và cuốn này còn bao gồm cả câu chuyện tình yêu có một không hai của Torie và Dex nữa. Bạn có thể thấp thoáng bắt gặp hình ảnh Meg ngày xưa trong What I Did for Love (Tình đầu hay tình cuối) và gặp phiên bản thời trẻ của Ted trong cả Fancy Pants lẫn Lady Be Good. Và, phải, Lucy Jorik xứng đáng có một cái kết hạnh phúc. Khi viết những dòng chữ này, tôi đã đang làm việc cật lực với câu chuyện của cô ấy rồi. Tôi cần phải cảm ơn sự động viên của rất nhiều người, trong đó có biên tập viên và người bạn thân quyến rũ khôn cưỡng của tôi, Carrie Feron; đại diện lâu năm của tôi, Steven Axelrod, những người cổ vũ tuyệt vời của tôi ở Harper Collins, William Morrow và Avon Books. Đúng vậy, tôi biết rõ ràng tôi may mắn biết bao khi được tất cả các bạn cùng sát cánh bên tôi. Tôi không biết mình có thể làm gì nếu không có trợ lý tài năng Sharon Mitchell, người đã giúp hết thảy mọi chuyện được trôi chảy. Vô cùng cảm ơn cố vấn golf độc nhất vô nhị của tôi, Bill Phillips. Ngoài ra còn có Claire Smith và Jessie Niermeyer vì đã chia sẻ “Những câu chuyện từ xe đồ uống” của họ. Nhiệt liệt hoan hô những bạn văn thân thiết của tôi: Jennifer Greene, Kristin Hannah, Jayne Ann. Krentz, Cathie Linz, Suzette Van và Margaret Watson, cùng tràng pháo tay đặc biệt dành cho Lindsay Longford. Xin được gửi những cái ôm nồng nhiệt tới những người bạn tôi mới quen trên Facebook cùng tất cả những người ủng hộ tuyệt vời đã gửi tin nhắn cho tôi! SUSAN ELIZABETH PHILLIPS Mời các bạn đón đọc Lỡ Yêu Người Hoàn Hảo của tác giả Susan Elizabeth Phillips.