Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Sống Thử

SỐNG THỬ Nguyễn Nhật Thương dtv-ebook.com Ngoại Truyện 1 Tiếng chuông báo thức vang lên inh ỏi cả căn phòng nhỏ, tôi đưa tay lên khẽ dụi đôi mắt của mình rồi lay nhẹ chị Ly đang nằm ở bên cạnh: - Chị ơi, đến giờ rồi kìa, dậy đi! Ly nghe vậy cũng cựa mình một cái rồi mở mắt: - Thôi, hôm nay tao nghỉ làm, lâu lắm rồi mày mới về đây, nghỉ một hôm tao với mày đi chơi thả ga. Tôi nghe vậy lại nhìn chị bật cười: - Điên à, khó khăn lắm mới xin được một công việc tử tế, đi làm đầy đủ cho người ta không có cái nói/ - Tao làm cả năm cả tháng chứ không có làm 1 ngày, nghỉ thì đâu chết ai. - Thôi, đi làm đi, với cả hôm nay em cũng muốn đến một vài công ty thử xin việc xem như thế nào. - Sao mày mới về mà đã lo xin việc rồi? Nghỉ ngơi cho thoải mái đã, việc thì lúc nào xin chẳng được. - Thì cũng phải lo trước chứ, đâu phải mình cứ đến xin một cái là người ta nhận liền đâu. Thôi, chị dậy đi, tối nay chúng ta sẽ đi nhậu một bữa là được chứ gì. Tôi vừ nói vừa ngồi dậy kéo chị Ly, chị thấy vậy cũng chỉ liếc xéo tôi một cái rồi thở dài: - Được rồi, mày không phải xua đuổi, tao tự đi. Nói rồi chị cũng ngồi lên bước xuống giường rồi đi vào nhà tắm làm vệ sinh cá nhân. Chị Ly đã đổi nơi trọ của mình cũng được một năm rồi, có lẽ nơi cũ kia nó có quá nhiều ký ức mà chỉ có thể rời khói đó mới cảm thấy nhẹ lòng được. Bây giờ chị cũng đã xin được 1 công việc bán giày dép cho một cửa hàng trong chợ, lương không quá cao nhưng cũng được thêm doanh thu mỗi tháng nên cũng khá ổn. Chị quay trở ra đi đến tủ thay quần áo rồi nói với tôi: - Mày đưa tao đến chợ rồi lấy xe mà đi cho tiện. - Vậy chiều em đến đón chị hả? - Sao nữa? Không lẽ mày để tao đi bộ vệ? - Hay để gọi anh Hoàng đến đón? - Hoàng gì mà Hoàng, tao với lão đây không có liên quan gì cả. Một năm trước chị Ly chuyển nơi ở, một phần cũng là chuyện nyaf. Tôi còn nhớ tối hôm đó chị khóc lóc gọi điện cho tôi, sau chuyện vợ anh Hoàng đến làm ầm ĩ ở xóm chị thì đấy là lần đầu tiên chị nhắc về anh ấy với tôi. Ly nói Hoàng và vợ đã ly dị, nguyên do chỉ là giữa hai vợ chồng có mâu thuẫn đã quá sâu sắc, chú không phải là do chị cố tình xen vào gia đình nhà người khác. Nhưng có lẽ vợ của Hoàng có nhiều cái bất mãn, nên thời gian đấy luôn tìm đến chị để làm ầm ĩ, Ly cũng một phần vì đó mà mới chuyển đi nơi khác. - Anh ấy bây giờ độc thân, chị cũng độc thật, tại sao không cho nhau cơ hội nhỉ? Ly nghe vậy lại nhìn sang tôi: - Thế sao mày không cho lão Duy cơ hội? Câu nói của chị làm tôi sững người lại, mỗi lần nhắc đến anh là tôi không thể nào vô cảm được: Cũng như ngày hôm qua gặp được anh giữa con phố đông đúc ấy, tôi đã phải tự dặn lòng mình rất nhiều mới có thể bình thản mỉm cười với anh đơn giản như một người quen rồi người đi. Tôi cứ nghĩ đủ bản lĩnh để trở về đây thì sẽ chẳng còn điều gì trở ngại nữa nhưng rồi cuối cùng đối diện với anh, tim tôi vẫn nhói lên 1 cảm giác khó tả, một chút đau đớn, một chút day dứt, và một chút của người đã cũ. - Em và Duy khác, làm sao có thể giống chị với Hoàng được. - Tao thấy chẳng có gì khác cả. Ngày ấy mày và lão cũng vì hoàn cảnh gia đình, tao và Hoàng cũng vậy. Khi đấy mày vì mất đứa bé, tổn thương quá lớn nên không dám đối diện. Tao cũng vì sự day dứt khi chen chân làm kẻ thứ ba nên cũng không dám tiếp tục nữa. Nhưng mày biết không, bây giờ nếu tao tiến đến với Hoàng sẽ vĩnh viễn bị xem là kẻ phá hoại gia đình người khác, người đời mỉa mai. Còn mày và Duy, tất cả các rào cản đều biến mất rồi. Nghe chị nói vậy bàn tay tôi bất giác lại đưa lên bụng mình, nếu lần đó đứa bé không sao thì có lẽ giờ này tôi đang cùng nó chơi đùa. Tôi cũng chưa từng hận anh vì chuyện đó, chỉ trách bản thân mình không đủ khả năng làm mẹ nhưng sự mất mát ấy quá lớn, có lẽ điều đấy khiến tôi không dám mở vết thương của mình ra xem lại nó: - Không ai đi tiếp trên lối mòn cũ cả. - Vậy sao? Nếu vậy sao mày không yêu Kiệt đi. Tao thấy anh ấy tốt lắm, giúp mày trả nợ, giúp mày xử lý con Trang, không quay trở lại Pháp chỉ đơn giản vì mày khi đó còn chông chênh, và giờ hai năm rồi, anh vẫn đang đợi mày. Đấy, con người mới, đường đi mới, sao mày không chọn? Lời chị nói làm tôi bỗng nhiên cảm thấy day dứt, đứng dậy đi vào nhà vệ sinh mà trả lời qua loa: - Kiệt quá tốt, em cảm thấy mình không xứng. Chị Ly lúc này cũng tiến lại chỗ tôi mà nói vọng vào: - Một khi đã yêu thì không có chuyện xứng và không xứng ở đây. Mày đừng lấy cái đó ra để bao biện cho việc mày vẫn đang còn yêu Duy. Không hiểu sao tôi nghe đến đấy lại cảm thấy trong lòng có chút bực bội, vệ sinh cá nhân xng quay ra nhìn chị mà gắt nhẹ chị: - Thôi, di làm nào, nói rõ nhiều. - Ơ con này, mày cáu bẩn cái gì? Là tao nói đúng quá à? - Đúng cái gì mà đúng, chị còn không đi nữa là muộn đấy. Nói rồi tôi cũng đi lại trang điểm qua loa, chỉnh trang quần áo một chút, hồ sơ xin việc cũng mang sẵn cầm ở tay rồi xách túi đi ra ngoài. Ly thấy vậy cũng không nói thêm gì nữa trở ra khóa cửa lại rồi chúng tôi cùng lên xe rời đi. Chị đưa tôi đến chợ rồi xuống xe: - Này, đi cẩn thận nhé, phố xá dạo này đông lắm, vài thằng thanh niên trẩu tổ lái nên chậm chậm mà đi thôi. Buổi trưa tao ăn cơm ở quầy luôn, không về đâu nên mày không phải đón, ra tạm quán bình dân nào mà ăn nhé. Tôi cầm lấy chiều khóa xe từ tay chị rồi nói: - Em biết rồi, chị dặn gì mà như mẹ dặn con thế. - Chẳng không à? Còn hơn mẹ ấy chứ, thôi đi đi, tao vào đây. Nói rồi chị quay người trở vào, tôi cũng lên xe lái đi thẳng. Phố xa bây giờ đông thật, ô tô đi đầy đường, xe máy lại chen chúc nhau, dừng ở các ngã tư đèn xanh đèn đỏ bây giờ phải kéo lên những vài phút, ấy thế mà vẫn có nhiều thằng trẻ trâu, đầu không mũ nón cứ vượt ầm ầm. Tôi đi dọc dọc vài khu phố, thật ra ở đây xin việc vốn không khó, nơi nào cũng cần nhân lực nhưng đa số là các cửa hàng quần áo, những công việc part time ngoài giờ cho sinh viên, rồi quán café, quán ăn...có đến ti tỉ việc để xin làm. Nhưng tôi muốn tìm một công việc phải khá ổn định, lương không cần cao nhưng cũng phải thỏa đáng, công việc không cần quá nhàn hạ nhưng hạn chế việc phát sinh làm ngoài giờ hay tăng ca, bởi sau ngày làm việc mệt mỏi tôi muốn bản thân có thời gian để chăm chút cho mình, tận hưởng cuộc sống. Đi lòng vòng vài con phố, vô tình thấy được một thông báo tuyển dụng của một nhà hàng khá đẹp mắt trông có vẻ là mới khai trương, không hiểu sao tôi lại có hứng thú rẽ vào, dù sao với chuyên ngành quản trị kinh doanh, tôi không tin vào đây tôi lại không có một vị trí để làm. Dựng xe gọn lại một chỗ, chú bảo vệ thấy tôi liền tươi cười nói: - Cứ để đó chú dắt cho, đến xin việc hả? Tôi nghe vậy cũng nhìn chú cười mà gật đầu một cái: - Dạ. - Ừ, vào trong đi, ở quầy lễ tân có cái cô trẻ trẻ tên Phương, cháu lại đưa hồ sơ cho cô ấy là được. - Vâng, cháu cảm ơn! Nói rồi tôi cũng đi vào bên trong, không gian nhà hàng này rất rộng, cách bố trí cũng khá ưa nhìn, nội ngoại thất bắt mắt, nhìn qua cũng biết là hàng chất lượng. Từ đèn, rồi những chậu hoa cảnh, đến vị trí đặt bàn ghế rất hợp lý, tạo cho người ta bước vào có cảm giác thoải mái nhưng vẫn không kém phần sang trọng. Đôi mắt dừng ở quầy lễ tân, tôi theo đó tiến lại, nhìn thấy một người phụ nữ khá đứng tuổi nhưng còn nét trẻ, nhìn cái thẻ cài ngực của chị thấy cái tên Đỗ Trúc Phương tôi mới mỉm cười một cái rồi lại gần: - Chào chị, em thấy ở ngoài kia có dán thông báo tuyển dụng, không biết bên mình còn cần không ạ? Chị ta nghe vậy cũng lịch sự mỉm cười rồi nhẹ nhàng nói: - Em có mang theo hồ sơ không? - Dạ, có! Nói rồi tôi cũng đưa bộ hồ sơ cho chị ta, chị Phượng nhận lấy mở ra xem một hồi rồi cất lại: - Hiện tại sếp không có ở đây, em cứ để hồ sơ lại, có gì chị sẽ liên lạc sau nhé. Tôi nghe vậy cũng gật đầu một cái: - Dạ, vậy có gì chị liên lạc với số điện thoại em ghi trong hồ sơ nhé, em xin phép. Nói rồi tôi cũng chào chị ta một cái mà quay trở ra ngoài, đi lại phía xe thì chú bảo vệ khi nãy lên tiếng: - Sao rồi, có xin được không? Tôi nhìn ông cười một cái: - Dạ, cháu mới đưa hồ sơ, còn phải đợi người ta xem xét nữa. Ông đi lại chỗ tôi dắt chiếc xe quay đầu ra nối nói: - Ừ, nói chung ở đây cũng dễ xin thôi mà, chú cũng mới đến làm được vài ngày, vào nói cái họ nhận luôn. Chắc sếp cũng dễ tính. - Ơ thế chú chưa biết mặt sếp ạ? - Biết đâu, chú mới đến đây làm vài ngày, biết mỗi cô Phương đấy còn sếp hình như không thấy xuất hiện, chắc mở ra để thuê nhân viên làm thôi. Tôi nghe vậy cũng gật đầu cười một cái rồi chào ông mà đi lại xe, còn chưa kịp đội mũ vào thì một chiếc ô tô dừng lại ngay trước đầu xe của tôi khiến tôi có chút khó chịu mà nghĩ thầm trong đầu: "Mẹ nó, có cái dốc để đi xuống mà nó lại chắn đi, cứ nghĩ ô tô là muốn đỗ ở đâu cũng được chắc". Tôi đợi cho cái người trong xe bước xuống là sẽ định lên tiếng nói, chỉ là cánh cửa mở ra, người bước xuống đấy làm tôi sững người. Vẫn là màu trắng quen thuộc của chiếc áo sơ mi, cũng quần âu đen đồng bộ như vậy, anh vẫn chẳng thay đổi gu thời trang của mình, nhưng kỳ lạ chẳng hiểu sao tim tôi vẫn như ngày ấy bỗng nhiên đập nhanh hơn một nhịp thì phải. Phan Bá Duy, thì ra tôi vẫn chưa thể nào bình tâm được với anh. Anh từng bước đi lại phía tôi, kéo đến cả một không khí căng thẳng, bởi vì lần gặp này cũng quá bất ngờ, khiến tôi không kịp phản ứng nên chỉ đứng yên ở đấy nhìn gương mặt của người đàn ông trước mắt. - Hôm qua nhìn thấy em, còn chưa kịp có lời chào. Bây giờ thật tốt quá, em khoẻ không? Tôi nghe vậy cũng nhìn anh cười gượng gạo một cái rồi trả lời: - Vẫn tốt. - Thời gian qua em đã ở đâu vậy? Tôi có đến tìm Ly và xuống nhà nhưng mọi người đều nói là không biết. Có gì lạ đâu, bởi vì mọi người đều đã bị tôi căn dặn từ trước rồi, nếu dám nói đia chỉ, tôi chắc chắn sẽ biến mất không một vết tích. - Chỉ là đến một thành phố khác để thay đổi bản thân, mọi người không biết cũng là vì tôi không nói, tôi cần yên tĩnh một thời gian. - Lần này trở lại em có đi nữa không? - Không nói trước được. Cảm thấy ở cạnh anh khiến tôi có chút lúng túng nên cũng vội dắt xe định đi sang hướng khác mà rời đi: - Tôi còn có việc phải đi trước. Khi tôi vừa mới rời được một bước, Duy bỗng nhiên đưa tay ra giữ lấy cánh tay tôi lại làm tôi có chút bất ngờ nhìn sang anh, cái giây phút đối diện nhau ở khoảng cách này, người đàn ông ấy lại làm tôi dao động bởi giọng nói trầm ổn: - Hai năm trước tôi bở lỡ em, khoảng thời gian đấy tôi cứ nghĩa đã đánh mất cuộc đời mình. Gặp lại hôm nay, trời bỗng nhiên nở nắng đẹp......tôi có thể theo đuổi em được không? Tôi cảm nhận được hai bên má đang trở nên nóng bừng, tim cũng đập nhanh dữ dội, có chút bối rối khẽ gạt tay anh ra mà dắt xe đi rồi nói: - Đồ điên! Dứt lời tôi cũng cố gắng rời khỏi đấy nhanh một chút, không khí vừa rồi thật sự khiến tôi không thể nào bình tĩnh được. Không hiểu sao nghe những lời anh nói sống mũi tôi lại trở nên cay, tôi cũng cảm nhận được đôi mắt đã long lanh nước, ngồi lên chiếc xe mà rời đi cũng chẳng muốn quay đầu nhìn lại. Nếu như là hai năm trước, nói đúng hơn là nếu như việc đau lòng của hai năm trước không xảy ra, khi nghe được những lời đấy, tôi có thể sẽ mỉm cười mà gật đầu, chỉ là sự mất mát quá lớn ấy khiến tôi đến bây giờ vẫn không thể nào bình tâm tiếp nhận được. Thời gian hai năm qua ở một nơi khác, tôi không ngày nào là không mường tưởng đến chuyện nếu đứa bé còn thì bây giờ sẽ như thế nào, gặp lại anh chỉ khiến tôi nghĩ đến những điều tồi tệ khi ấy cho dù tôi tự biết bản thân mình đối với anh vẫn chưa thể nào dứt. Chỉ là bây giờ, lý trí đã ở trên con tim rồi. Tôi vừa đi vừa thơ thẩn suy nghĩ, tiếng chuông điện thoại vang lên mấy lần mới sực tỉnh mà nghe thấy liền vội dừng xe ở bên mép đường rồi nghe máy: - Alo! - Em là Lê Bích Huyền phải không? - Dạ. - Ừ, chị là ở bên nhà hàng em mới gửi hồ sơ xin việc đấy. - A, vâng. Sao vậy chị? - Ừ, em được nhận rồi nhé, có thể đến làm việc bất cứ lúc nào. Tôi nghe vậy lại cảm thấy kinh ngạc, vừa mới đó mà được nhận rồi, cứ nghĩ phải ít nhất vài ngày hay một tuần. - Dạ, vậy để em thu xếp một chút, hai, ba ngày nữa sẽ đến làm được không chị. - Được em, vậy nhé. Hôm nào làm chị sẽ nói rõ về phần công việc của em. - Dạ Nói rồi tôi cũng tắt máy, vẫn còn đứng ngây ở đấy vì chưa tin mình được nhân nhanh đến như vậy. Lúc này chuông điện thoại lại tiếp tục vang lên, tôi nhìn cái tên được lưu trên màn hình ròi liền bắt máy: - Anh gọi đúng lúc thế, tâm trạng đang tốt. - Sao? Có chuyện gì thế? - Tối anh em mình đi nhậu một bừa nhé, hôm nay em xin được việc nên sẽ mời. - Xin việc rồi sao? Vội thế? - Vâng, nhưng mà mình muốn làm khi nào cũng được anh. - Thế công việc là làm gì? - Tốt thì là quản lý, không thì là kế toán cho nhà hàng, hôm nào đi làm em mới nhận việc. - Làm nhà hàng à? Sao không xin công việc nào nhẹ nhàng một chút, anh có người quen làm ở.... - Kiệt, như vậy là được rồi, em cảm ơn nhưng em muốn tự lực cánh sinh, không muốn dựa dẫm hay nhờ vả ai nữa. Tôi lên tiếng cắt ngang câu nói của anh, đâu bên kia bỗng im lặng một hồi rồi mới lên tiếng: - Được rồi, tối nay mấy giờ thế? Anh đến đón hai chị em nhé. - Ok, khoảng 7h nhé, có gì em sẽ gọi. - Ừ. Nói rồi tôi cũng tắt máy, lại phóng xe đi lượn lờ một vài chỗ, ngó nghiêng phố phường, ghé vào vài quán mua sắm đôi chút. Chị Ly buổi trưa không về tôi cũng chỉ về phòng pha một gói mì tôm ăn tạm rồi gọi điện về cho bố: - Bố và thằng Tí đã ăn cơm chưa? - Vừa mới ăn xong. - Con hôm nay xin được việc ở trên thành phố rồi. Chắc mai sẽ về thu xếp đồ đạc rồi chuyển lên đây. - Xin rồi sao? Công việc gì thế? Tôi nghe vậy cũng hiểu được sự lo lắng của ông, trong lòng cũng chẳng có gì tức giận: - Làm quản lý của một nhà hàng thôi. - Làm nhà hàng sao? Môi trường có tốt không con? - Bố yên tâm, 2 năm qua bố không hề nghĩ gì, tai sao bây lại lo lắng như vậy? - Huyền à, bố không phải không tin tưởng con, bó chỉ sợ có nhiều chuyện khiến con nhớ lại sẽ lại đau lòng. Tôi lại khẽ cười một cái rồi trả lời ông: - Mọi chuyên, con đã quên từ lâu rồi. Thôi, bố nghỉ trưa đi, ngày mai con sẽ về. - Ừ. À mà Huyền này. - Sao ạ? - Cô Sáu nó nói con Na nó lên đấy vừa học vừa làm, có nhờ bố bảo con, xem xem nó ở đâu thử liên lạc, có gì thì giúp đỡ nó một tí nhé. - Vâng, con biết rồi. Nói rồi tôi cũng tắt máy, thả mình xuống chiếc giường một cách thoải mái, tính ra tôi cũng chẳng ưa con Na hay cô Sáu, chỉ là hai năm qua những tổn thương kia còn xóa đi được thì dù sao hai người bọn họ cũng là người nhà, tôi có thể bỏ qua được. Không phải vì dè chừng họ, mà vì tôi muốn tâm mình thoải mái mà sống. Khi trời đã đổ về chiều, tiếng chuông điện thoại đánh thức tôi dậy, nhìn thấy là số chị Ly mới giật mình để ý đến giờ rồi bắt máy: - Em đây, ngủ quên mất, bây giờ em ra đón chị nhé. - Đón gì nữa mày, tao bắt xe ôm về rồi. Đợi mày ra đón thì tôi nay ở phòng pha mì tôm ăn à. Tao gọi mấy cuộc thấy không nghe lo có chuyện gì thôi, sở soạn đi, tao về luôn đấy. - Vâng. Tôi tắt máy rồi vội vàng đi vào nhà vệ sinh tắm rửa một chút, không hiểu sao hôm nay lại ngủ miên man đến không biết trời đát nữa như vậy. Quay trở ra ngoài đi đến phía gương trang điểm qua loa thì chị Ly cũng về đến phòng, tôi thấy vậy liền lên tiếng: - Em hẹn anh Kiệt rồi, anh ấy bảo đến đón hai chị em mình. - Ừ, chứ uống rượu rồi, tao cũng ngại lái xe lắm. Chị vừa nói vừa lao vào nhà vệ sinh, nước xối xả ở trong đấy một lúc rồi đi ra, phải nói là chị sở soạn cực nhanh, vài phút là đã phấn son, quần áo tươm tuốt. Kiệt cũng đã gọi cho tôi nói anh ấy đang chờ ở đầu ngõ, tôi và chị trở ra khóa cửa rồi đi ra ngoài, thấy chiếc xe quen đấy là liền mở cửa ngồi lên. Chúng tôi đi đến một quán nhậu khá bình thường, thật ra ăn uống ở những nơi như thế này nó thoải mái hơn rất nhiều so với nấy cái nhà hàng sang trọng kia. Ngồi vào bàn gọi lên vài món rồi thêm vài chai rượu Vodka X, đúng là xa nghề lâu rồi nhưng đi đâu ăn uống tôi đều có thói quen gọi rượu của công ty. Uống đôi ba chén, chị Ly lúc này lên tiếng: - Thế hôm nay xin được việc ở đâu rồi? Tôi nghe vậy cũng trả lời chị: - Nhà hàng MISS. - MISS? Tao nghe cái tên này quen quen, nghe ai nói qua rồi thì phải. - Nó nằm ở đường ...đấy, em vô tình đi qua, bắt mắt với cái tên nên mới vào xin, MISS - BỎ LỠ, nghe nó có cảm giác kiều gì ấy. - Thôi thôi, mày lại bắt đầu phân tích tâm lý học đi. Uống đã nào. Mời các bạn đón đọc Sống Thử của tác giả Nguyễn Nhật Thương.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nàng Công Chúa Gỗ Đàn Hương - Loretta Chase
Nỗi buồn phải rời khỏi đất nước Ấn Độ thân yêu sau năm năm tuyệt vời đã dịu đi đáng kể khi Amanda Cavencourt nhận một món quá có ý nghĩa từ người bạn thân yêu nhất của cô: bức tượng nàng công chúa tạc từ gỗ đàn hương. Tuy nhiên ngay đêm đó, bức tượng đã bị đánh cắp bởi một tên đạo chích khét tiếng tên là Chim ưng. Amanda tự hỏi tại sao một gã đàn ông được chính phủ giao cho những nhiệm vụ nguy hiểm và tinh vi nhất lại có thể thực hiện một vụ trộm nhỏ nhặt thế này. Bị tò mò bởi sự bí ẩn và lời đồn đại về sự quyến rũ và đẹp trai chết người của Chim ưng, Amanda lên kế hoạch lần theo dấu tên trộm táo tợn. Tên trộm đẹp trai cũng phát hiện ra một nàng Amanda mưu mẹo không kém. Quả là một sự tương xứng hoàn hảo! *** Loretta Chase tên thật là Loretta Lynda Chekani, sinh năm 1949 tại Hoa Kỳ. Bà là một trong những nhà văn nổi bật nhất của dòng tiểu thuyết lãng mạn ở Mỹ. Loretta Chase có bằng Cử nhân Văn chương của trường đại học Clark University, nơi bà theo học khoa Tiếng Anh và tham gia thêm lớp nghệ thuật thị giác. Sau khi rời trường đại học Clark, Loretta Chase viết kịch bản cho chương trình tự giới thiệu của các công ty. Nhờ công việc này mà bà gặp gỡ và yêu một nhà sản xuất chương trình, người sau này trở thành chồng bà. Sự kết hợp này là động lực và nguồn cảm hứng để Loretta Chase viết nên rất nhiều tác phẩm lãng mạn thuộc hàng best-seller của tạp chí New York Times. Bà đã giành được nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải RITA Award cho Tác giả Lãng mạn Xuất sắc nhất nước Mỹ. *** Hai người đàn bà quấn sari đứng trong lối đi đầy cỏ vetiver. Dưới anh trăng khu vườn trở thành một xứ sở thần tiên nhuộm màu bạc và bóng tối. Mùi hương hoa khêu gợi theo làn gió nhẹ, ấm áp tìm đến bên họ. "Đêm của Anumati," Rani nói. "Đã đến lúc kết thúc câu chuyện chưa kể của ta." "Bà bắt con đợi đủ lâu rồi," Amanda nói. "Con đã ở đây được gần một tháng." "Gần một tháng ở đây, năm tháng trên tàu, và con vẫn khóc." Rani quay bước khỏi lối đi. "Chúng ta phải tìm một người yêu để lau khô nước mắt cho con." "Con có khá đủ tình yêu rồi, cám ơn người." Amanda theo công chúa trở lại trong phòng. "Cần một chút mê li quý giá để đền bù cho sự điên rồ kia." "Đó là vì con chưa đưa anh ta vào giường," Rani lạnh nhạt đáp lại. "Nhưng thật vô ích để nói với con về những chuyện này. Con đã lẫn lộn các khái niệm về tội lỗi." Khi họ ngồi lên những tấm nệm, công chúa ra hiệu cho một người hầu mang hookah vào. Thêm một ra hiệu nữa, mọi người hầu đều biến mất. Hai người họ hàng lặng lẽ hút một lúc, âm thanh duy nhất trong căn phòng là tiếng sùng sục của tẩu. "Ta đã dối con," cuối cùng Rani nói. "Ta là một kẻ nói dối siêu hạng. Kỹ năng này đã cứu sống ta nhiều lần. Những lần khác thì nó đem lại cho ta những gì ta muốn. Tuy nhiên đêm nay ta sẽ không cố gắng nói dối nhiều quá." Amanda bật cười. "Tại sao thế, xin cảm ơn, thưa Mẹ?" ... Mời các bạn đón đọc Nàng Công Chúa Gỗ Đàn Hương của tác giả Loretta Chase.
Con Bạc - Fyodor Mikhailovich Dostoevsky
Tiểu thuyết "Con Bạc" nằm trong khuôn khổ seri "cuộc đổ bộ của chàng Dostoievski" trong hình dạng ba cuốn sách bìa giống hệt nhau, chỉ khác nhau tên sách, bao gồm: Con Bạc, Người Chồng Vĩnh Cửu, Chàng Ngốc Hữu Ích". Ba đầu sách này thuộc tủ sách được “Quỹ Hỗ Trợ Quảng Bá Văn học Nga-Văn học Việt Nam” tài trợ xuất bản hồi 2015 nhưng hai năm qua chỉ lưu hành nội bộ, nay NXB Văn học mới in đại trà cho quần chúng nhân dân được đọc. Với nguyên mẫu trực tiếp của một con người đã phát triển đa dạng, nhưng nhiều mặt lại chưa hoàn chỉnh, không tin gì, nhưng lại không dám không tin, chống lại quyền lực nhưng lại sợ quyền lực. Anh ta tự huyễn hoặc mình rằng ở nước Nga anh ta chẳng có việc gì làm và vì thế anh ta chỉ trích gay gắt những người từ trong nước Nga kêu gọi ngoại kiều Nga về nước. ...Vấn đề chính là ở chỗ tất cả những tinh túy cuộc sống của anh ta: sức mạnh, niềm hăng say, lòng dũng cảm lại đổ vào trò chơi rulet. Anh ta là con bạc, nhưng không phải con bạc tầm thường, cũng như tên hiệp sĩ keo bẩn của Pushkin không phải là tên keo bẩn tầm thường. Anh là nhà thơ có đẳng cấp riêng biệt, nhưng vấn đề là ở chỗ chính anh lại xấu hổ với thơ anh, bởi vì anh cảm thấy sâu sắc cái thấp hèn của loại thơ ấy, mặc dù nhu cầu phiêu lưu đã làm tăng phẩm giá cho anh trong con mắt của chính anh. Toàn bộ câu chuyện là chuyện anh chơi rulet ở các sòng bạc đến năm thứ ba. *** Fyodor Mikhailovich Dostoevsky (1821- 1881), sinh ngày 11.11.1821, là nhà văn nổi tiếng người Nga. Cùng với Gogol, L. Toystol, ông được xem là một trong ba văn hào vĩ đại của Nga thế kỉ 19. Dostoevsky sinh tại thành phố Moscow, là con trai thứ hai trong 7 người con của ông Mikhail, một bác sĩ quân y được biệt phái qua phục vụ tại Bệnh Viện Maryinski chuyên chữa trị các người nghèo. Ông Mikhail là một con người cứng rắn, thẳng thắn trong khi bà mẹ lại có bản tính trái ngược, bà ta rất thụ động, tử tế và rộng lượng. Các sự kiện của gia đình quý tộc xa xưa này với cha mẹ có một vùng đất và hơn một trăm nông nô, đã là hình ảnh của các nhân vật với các bản tính thái cực trong các cuốn tiểu thuyết của Dostoevsky sau này. Trong thời gian Fyodor đi học xa nhà, ông Mikhail đã bị giết chết do các nông nô trong vùng nổi loạn và hình ảnh giết người bất ngờ và tàn bạo này luôn luôn ám ảnh Fyodor Dostoevsky khiến cho các tác phẩm của ông thường dùng đề tài là các tội ác. Và vào cuối cuộc đời, cái chết của người cha đã là căn bản cho tác phẩm danh tiếng Anh Em Nhà Karamazov. Fyodor Dostoevsky rất yêu thích văn chương. Vào tuổi 25, Fyodor đã cầm bút, sáng tác ra cuốn tiểu thuyết đầu tiên với tên là Những kẻ bần hàn xuất bản vào năm 1846. Đây là một câu chuyện tình cảm mô tả một cách bóng bẩy các cảnh tàn phá của kiếp nghèo. Cuốn truyện này đã được các nhà phê bình khen ngợi, đặc biệt là Vissarion Belinsky, và nhà văn trẻ tuổi Dostoevsky được gọi là một "Gogol mới", tác phẩm của ông trở nên bán chạy nhất, bởi vì từ xưa tới nay chưa có một nhà văn người Nga nào cứu xét một cách kỹ càng sự phức tạp tâm lý của các cảm xúc bên trong tâm hồn con người. Fyodor Dostoevsky đã dùng tới phương pháp phân tích tâm lý để tìm hiểu các hoạt động rất tinh tế của tâm lý mọi người. Sau tác phẩm Những kẻ bần hàn , Fyodor Dostoevsky sáng tác ra cuốn Con người kép đề cập tới sự phân đôi cá tính và đây là căn bản dùng cho nhân vật Raskolnikov của đại tác phẩm Tội Ác và Trừng Phạt. Qua tác phẩm này, Fyodor Dostoevsky được toàn thế giới công nhận là một trong các Đại Văn Hào của nước Nga, được xem là người sáng lập hay là người báo trước cho chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ 20. Tác phẩm tiêu biểu: Những kẻ bần hàn (1846) Con người kép (1846) Đêm trắng (1848) Ghi chép từ Ngôi nhà chết (1862) Những kẻ tủi nhục (1861) Con bạc (1867) Hồi Ký Viết Dưới Hầm (1864) Tội ác và trừng phạt (1866) Gã Khờ (1868) Lũ người quỷ ám (1872) Anh em nhà Karamazov (1880) Là Bóng Hay Là Hình ***   Ý tưởng viết truyện Con bạc xuất hiện từ mùa thu năm 1863. Ngày 18 tháng Chín năm 1863 từ Roma, Dostoievski viết cho N.N. Strakhov “Tình tiết câu chuyện là thế này: có một người Nga ở nước ngoài. Ông hãy hình dung rằng vấn đề ngoại kiều Nga được bàn nhiều trên báo chí. Tất cả sẽ được phản ánh trong truyện của tôi. Nói chung là tôi sẽ mô tả thời điểm hiện tại (với khả năng có thể) của đời sống của đất nước chúng ta. Tuy nhiên, tôi lấy nguyên mẫu trực tiếp của một con người đã phát triển đa dạng, nhưng nhiều mặt lại chưa hoàn chỉnh, không tin gì, nhưng lại không dám không tin, chống lại quyền lực nhưng lại sợ quyền lực. Anh ta tự huyễn hoặc mình rằng ở nước Nga anh ta chẳng có việc gì làm và vì thế anh ta chỉ trích gay gắt những người từ trong nước Nga kêu gọi ngoại kiều Nga về nước. ‹…› Vấn đề chính là ở chỗ tất cả những tinh túy cuộc sống của anh ta: sức mạnh, niềm hăng say, lòng dũng cảm lại đổ vào trò chơi rulet. Anh ta là con bạc, nhưng không phải con bạc tầm thường, cũng như tên hiệp sĩ keo bẩn của Pushkin không phải là tên keo bẩn tầm thường. (Nói chung đó không phải là việc so sánh tôi với Pushkin. Tôi nói chỉ để làm rõ thôi). Anh là nhà thơ có đẳng cấp riêng biệt, nhưng vấn đề là ở chỗ chính anh lại xấu hổ với thơ anh, bởi vì anh cảm thấy sâu sắc cái thấp hèn của loại thơ ấy, mặc dù nhu cầu phiêu lưu đã làm tăng phẩm giá cho anh trong con mắt của chính anh. Toàn bộ câu chuyện là chuyện anh chơi rulet ở các sòng bạc đến năm thứ ba”. Mùa hè năm 1865, bị xiết nợ dữ dội, Dostoievski buộc phải bán cho “chủ nợ” và cũng là “con người khá tồi tệ” F.T. Stellovski quyền xuất bản toàn tập sáng tác của mình. Thế nhưng trong hợp đồng có một khoản mục đặc biệt, Dostoievski kể trong bức thư gửi A.V. Korvin Krukovskaia ngày 17 tháng Sáu năm 1866, trong đó tôi hứa với ông ta rằng muốn in toàn tập thì tôi phải chuẩn bị xong một cuốn tiểu thuyết không dưới mười hai tay sách, và nếu tôi không kịp nộp vào ngày 1 tháng Mười một năm 1866, hạn chót, thì ông ta, Stellovski, có quyền được tiếp tục in trong chín năm liền không phải trả tiền, và tôi còn nghĩ ra rằng ông ta được in cả những gì tôi sẽ viết ra mà không phải trả một đồng nhuận bút nào nữa”. Đang say sưa viết Tội ác và hình phạt, Dostoievski chưa bắt tay vào viết tiểu thuyết mới cho đến đầu tháng Mười năm 1866. Khi thời hạn hoàn thành cam kết chỉ còn chưa đầy một tháng, ông bắt buộc phải mời người phụ nữ viết tốc ký Anna Grigorievna Snitkina (sau này là vợ ông) để đọc cho cô chép cuốn tiểu thuyết trong vòng 26 ngày, từ ngày 4 đến hết ngày 29 tháng Mười. Có thể cho rằng đến trước thời điểm này Dostoievski đã chuẩn bị được những bản nháp hoặc những phương án tỉ mỉ cho tác phẩm, cho nên mới có thể xây dựng được Con bạc trong thời gian ngắn đến thế. Trong hồi ký của mình bà A.G. Dostoievski kể về quá trình viết cuốn Con bạc. Trước ngày bà đến làm việc, Dostoievski đã có các phác thảo, sau đó từ 12 giờ đến 4 giờ chiều mỗi ngày, nghỉ ngơi rất ít, ông đọc cho bà ghi tốc ký, rồi khi về nhà, bà giải mã và viết lại cho sạch đẹp. Những phần bản thảo Con bạc mà bà viết tay và sau trở thành bản thảo cho thấy rằng trước khi đem nộp cuốn tiểu thuyết cho nhà xuất bản Dostoievski lại một lần nữa sửa chữa bản thảo. Ngày 1 tháng Mười một năm 1866 bản thảo được nộp cho Stellovski với tựa đề Ruletenburg (có nghĩa là Thành phố rulet). Nhưng nhà xuất bản yêu cầu ông phải đổi tên sách thành “một cái tên gì đó, nghe có vẻ Nga hơn” (xem thư của Dostoievski gửi V.I. Gubin ngày 8 tháng Năm 1871). Dostoievski đồng ý và rồi tác phẩm được in trong Toàn tập Dostoievski do F. Stellovski ấn hành tại Saint Petersburg (1866) với nhan đề Con bạc. Trong hổi ký của mình bà Dostoievskaia A.G. (Moskva, 1871) có viết: “… Trung tâm câu chuyện là “con bạc”, một trong những mẫu người Nga hải ngoại. Bên cạnh đó là gia đình một tướng quân người Nga, cũng là hải ngoại. Đó là một gia đình ngẫu nhiên đã tách khỏi nếp sống truyền thống sau cuộc cải cách nông dân, vấn đề này ở những tác phẩm về sau Dostoievski có những phần nghiên cứu đáng kể. Trong chuyến đi đầu tiên sang châu Âu năm 1862 ông đã quan sát nhiều gia đình Nga kiều và đã viết trong bài Ghi chép mùa đông về những ấn tượng mùa hè. Theo thống kê của tờ Người đưa tin Nga số tháng Mười năm 1862, thì chỉ riêng năm 1860 đã có hơn hai trăm ngàn người Nga đi ra nước ngoài…” Có một điều thú vị là chủ đề “người Nga ở nước ngoài” cũng đã được I.S. Turgenev khai thác, mặc dù ở khía cạnh khác, trong tác phẩm Khói (1867), được viết và được xuất bản gần như đồng thời với Con bạc của Dostoievski. Những diễn biến của câu chuyện tình của nhân vật lúc làm việc trong gia đình tướng quân với tư cách gia sư và cô con gái nuôi của tướng quân là Polina có nhiều điều được lấy ra từ những quan hệ phức tạp giữa Dostoievski với Apollinariya Prokohevna Suslova. Trong một bức thư Dostoievski đã viết về cô: “Cô ấy đòi hỏi mọi người đủ thứ, cái gì cũng phải hoàn hảo, không tha thứ bất kỳ một thiếu sót nào…” (thư gửi N.P. Suslova ngày 19 tháng Tư năm 1865). Những lời này có thể hoàn toàn phù hợp với Polina. Một số tình tiết liên quan đến Polina, như việc cô bị anh chàng người Pháp De-Grie quyến rũ, việc cô muốn trả anh ta một khoản tiền, đều có nguồn gốc từ cuộc đời của A.P. Suslova và được Dostoievski hư cấu thêm (xem Suslova A.P. Những năm tháng gần Dostoievski. Moskova, 1928). Tác giả Con bạc còn có một niềm đam mê giống như nhân vật của mình, Aleksei Ivanovich, đó là thói đánh bạc. Về thú chơi rulet, trong những chuyến đi của mình Dostoievski thường vẫn kể lại cho những người thân. Trong một bức thư gửi từ Paris cho V.D. Konstant đề ngày 20 tháng Tám năm 1863, kể về lúc thắng bạc ở Viesbaden, Dostoievski viết: “… trong suốt bốn ngày này tôi chỉ chú mục vào các con bạc. Số người đặt tiền có tới mấy trăm. Thật tình mà nói, biết chơi thì chỉ có vài người thôi. Tất cả đều thua cháy túi vì không biết chơi. Hai người thắng là một bà người Pháp và một huân tước người Anh, họ chơi giỏi, không hề thua, ngược lại, nhà cái suýt vỡ trận. Tôi nói điều này, xin đừng bảo rằng vì vui sướng mà tôi quá lời, tôi không bị thua vì tôi biết mánh lới để không thua, mà lại thắng cuộc. Mánh lới ấy tôi biết, thật là dễ hiểu và đơn giản, đó là biết tự kiềm chế một phút, dù ở bất kỳ thời điểm nào của cuộc chơi, không được nóng vội. Vấn đề chỉ có thế…” “Lý thuyết” chơi rulet của tác giả trong bức thư trích dẫn trên đây trùng hợp với lý thuyết của nhân vật Aleksei Ivanovich, đặc biệt là trong chương cuối. Bà A.G. Dostoievskaia nhớ lại rằng trong quá trình viết tác phẩm, khi bàn đến số phận của các nhân vật, thì “Fiodor Mikhailovich hoàn toàn đứng về phía “con bạc” và nói rằng có nhiều tình cảm và ấn tượng của anh ta là chính ông đã trải nghiệm. Ông khẳng định rằng ông có thể có được cá tính mạnh, chứng minh được cá tính bằng chính cuộc đời mình, nhưng ông lại không có sức mạnh để chiến thắng đam mê chơi trò rulet”. Hình tượng “con bạc” của Dostoievski có lịch sử văn học lâu đời. Trong văn học thế giới, danh sách những tác phẩm khai thác chủ đề này có thể kể ra không bao giờ hết. Chính Dostoievski đã nói đến mối quan hệ giữa tác phẩm của ông với các tác phẩm của Pushkin. Ngoài Những bi kịch nhỏ phải kể đến Con đầm Pích. Giữa Con đầm Pích với Con bạc có những chi tiết gần nhau. Tuy nhiên Germann của Pushkin chỉ có một say mê duy nhất là làm giàu để có quyền lực đối với mọi người. Còn Aleksei Ivanovich thì vừa thắng được hai trăm ngàn đã lập tức tiêu hết. Dostoievski coi đó là biểu hiện của nét tính cách Nga thuần túy. Khi xây dựng hình tượng Aleksei Ivanovich, Dostoievski cho thấy đã có những mối liên hệ với hình tượng “Dubrovski” của Pushkin. Troekurov gọi Dubrovski là “gia sư” với hàm ý miệt thị. Aleksei Ivanovich cũng tự gọi mình là “gia sư”, một cách tự ti trong những trường hợp muốn nhân mạnh vị thế phụ thuộc của mình. Trong truyện của Pushkin (chương XI) và trong Con bạc từ “gia sư” đều được viết theo kiểu phiên âm sang tiếng Pháp là “outchitel”. Cũng như nhiều tác phẩm khác của giai đoạn này, Con bạc có liên quan đến các bài báo chính luận của Dostoievski những năm 1861-1864, đặc biệt là bài Ghi chép mùa đông về ấn tượng mùa hè. Vấn đề chủ đạo là ở chỗ trong tác phẩm, Dostoievski muốn đối lập nước Nga hiện đại với châu Âu. Nhiều hình tượng trong tiểu thuyết dường như là bản minh họa cho những kết luận của Dostoievski trên mặt báo và trong tổng kết chuyến đi đầu tiền của ông ra nước ngoài. Aleksei Ivanovich là hình ảnh độc đáo của những thanh niên mà Dostoievski nói đến trong Ghi chép mùa đông…, những người này, cũng như Chatski, không tìm được con đường sự nghiệp ở Nga, đã đi sang châu Âu để “tìm một cái gì đó”. Nhân vật này được đối lập với nam tước Vurmergelm và De-Grie. Con bạc không muốn cúi đầu trước thần tượng Đức và không muốn dấn thân vào việc kiếm tiền… Theo Dostoievski, tính cách của những người Pháp, Đức, Anh trong quá trình phát triển lịch sử của đất nước họ đã được “định hình” rõ rệt, còn tính cách dân tộc của Nga thì lại đang trong quá trình phát triển, từ đó mà có “tính không định hình” của Aleksei Ivanovich và Polina, cũng từ đó mà người Nga có hoài bão sâu sắc muốn khắc phục tính thiến giao trong các hình thái xã hội phương Tây, và ông nhìn thấy tính ưu việt lịch sử của nước Nga, tiền đề để trong một thời gian ngắn nữa nước Nga sẽ tìm được những con đường tiến tới những lý tưởng cao cả của toàn nhân loại. Về mặt này, đóng vai trò quan trọng là hình tượng tiêu biểu: “bà già” Antonida Vasilevna. De-Grie và mademoiselle Blanche là những nhân vật mà Dostoievski châm biếm. Khi đặt tên cho tên hầu tước tự phong chuyên lèo lá và cho vay cắt cổ De-Grie, bằng cái tên của nhân vật hào hiệp trong tiểu thuyết thế kỷ mười tám Manon Lescaut[1], Dostoievski đã châm biếm mức độ xuống cấp đạo đức của giai cấp tư sản Pháp. Hình ảnh ngài Astley người Anh, là người chiếm được cảm tình của cả Aleksei Ivanovich, cả “bà già” và cả Polina, làm ta nhớ đến các nhân vật hào hiệp và tốt bụng trong các tiểu thuyết mà Dostoievski rất yêu thích của Dickenst[2] và Thackeray.[3] Hình tượng ngài Astley được tác giả xây dựng không cần nhiều chi tiết là phù hợp với quan niệm trong giới dân chủ Nga về người Anh. Saltykov Schedrin trong bài Đời sống xã hội của chúng ta (tháng Năm 1863) đã viết rằng một người Anh đi du lịch “thì ở đâu cũng tự hào, tự tin, ở đâu cũng mang đến một kiểu mẫu riêng với tất cả các mặt mạnh yếu của nó”. Con bạc đã nhiều lần được đưa lên sân khấu. Năm 1916, S.S. Prokofiev dựa vào tiểu thuyết này đã viết một vở opera và đã được trình diễn trong nhà hát hoàng cung Saint-Petersburg. Còn về bút pháp của Dostoievski thì đã có biết bao nhiêu người bàn đến, tựu trung lại, ai cũng cúi đầu bái phục và tôn ông là bậc thầy về phân tích tâm lý nhân vật. Sách của ông hay về tình tiết thì ít, mà hay về nội tâm thì nhiều. Tác phẩm này không phải ngoại lệ. Người dịch  (Theo tư liệu của E.I. Kiko) Mời các bạn đón đọc Con Bạc của tác giả Fyodor Mikhailovich Dostoevsky.
Ảo Vọng - Pearl S. Buck
Pearl Buck, nữ nhà văn Mỹ, được tặng giải thưởng Nobel Văn học vì các tác phẩm mô tả cuộc sống đa diện mang tính sử thi của người dân Trung Quốc trong những biến động dữ dội đầu thế kỉ XX và vì những kiệt tác tự truyện. Bà là nhà hoạt động xã hội tích cực, được coi là một chiếc cầu nối văn hóa Đông-Tây. Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 15 tuổi, bà được gửi trọ học tại một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi, cha mẹ cho Pearl Buck về Mỹ, học tại Trường Đại học Randolph Macon (tiểu bang Virginia). Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo tại miền Bắc Trung Hoa. Từ năm 1922, bà dạy ở Đại học Nam Kinh và Kim Lăng. Năm 1925, Pearl Buck bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Gió Đông, Gió Tây (do chạy loạn Quốc dân đảng, năm 1930 mới xuất bản được). Sau đó hàng loạt tiểu thuyết nổi tiếng khác về đề tài Trung Quốc ra đời, như Đất Lành, Những Người Con Trai, Một Nhà Chia Rẽ, Người Mẹ, Những Đứa Trẻ Chậm Lớn… trong đó tiểu thuyết Đất Lành được nhận giải Pulitzer năm 1931. Năm 1933, bà được Đại học Yale tặng bằng Cử nhân Văn chương Danh dự. Năm 1938, bà được Đại học West Virginia và Đại học St. Lawrence trao tặng bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Trong Thế chiến II, Pearl Buck viết nhiều sách báo chính luận chống chủ nghĩa phát xít. Những năm 50, bà xuất bản một số tác phẩm về đề tài gia đình và xã hội Mỹ, kí bút danh I. Sedge. Năm 1951, Pearl Buck được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ. Năm 1955, bà li dị chồng và tục huyền với giám đốc một hãng quảng cáo. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ.” *** Ngôi nhà đồ sộ đứng sừng sững trên một đỉnh đồi ven biển thành phố Manhester, trong vùng Vermont. Đó là một trang viên cũ kỹ xây cất từ một thế kỷ nay, trước khi người đàn bà cuối cùng của dòng họ Winsten qua đời, và trước ngày người con gái của bà, cô Elinor kết hôn với ông William Asher. Dù ngôi nhà từ đó đã qua tay chủ khác, vẫn được người trong vùng gọi bằng tên cũ ngày xưa. Ông William đâu bận tâm về điều đó. Đánh mất danh hiệu của mình trong một ngôi nhà đã mang tên người khác, đó là điều ông không nghĩ đến. Ông thích ngôi nhà vì nó là như vậy. Nhờ có tâm hồn quảng đại mà ông giữ được bản lĩnh thoát mọi ảnh hưởng khách quan, và vui vẻ hòa mình vào sự nghiệp của bà Elinor. Tại Long Island còn có một ngôi nhà của dòng họ Asher, ông William có thể giữ nó lại với tư cách là con trai duy nhất trong gia đình, song ông đã bán đi sau ngày cha mẹ ông qua đời mà không hối tiếc. Ông đã trải qua những mùa hè dịu dàng và xanh mượt, thời thơ ấu tại xứ Vermont, nên ông đã làm quen và ưa thích thành phố Manchester với những ngọn đồi yên tĩnh bao quanh. Ngôi nhà của dòng họ Winsten rất kiên cố và rộng mênh mông, các thế hệ đã nối tiếp nhau sinh sống ở đó, không phải sửa sang gì thêm. Người sáng lập, ông Adam Winsten, từ đầu thế kỷ 19, trước khi qua đời đã tự cho mình có trách nhiệm phải có đủ chỗ cho con cái ông: tất cả 12 đứa, trong đó có 9 đứa đã đến tuổi trưởng thành. Mặc dù ông có ý mở rộng thêm ra mãi, các cháu ông vẫn cảm thấy thiếu chỗ ở, và thiên cư gần hết về hướng Tây. Nhờ mỏ vàng và thiếc lộ, các cháu ông đã làm giàu nhanh chóng, đến độ về sau họa hoằn mới nhớ đến nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Trong thế kỷ trước, dòng họ Winsten, người này kế tiếp người kia, cho đến đời ông Adam Winsten, là người cuối cùng có vóc dáng của cây du khô héo trong mùa đông, và là thân sinh của cô Elinor. Không đứa nào trong các con ông muốn giữ một gia cư quá rộng như thế, đến nỗi kẻ đến xin giúp việc trong nhà, chỉ nhìn thấy những mái nhà vô tận, cũng tự động rút lui. Các con trai và con dâu của ông từ chối giữ lại bà già nấu ăn, tên là Bertha, vì bà đã ở quá lâu năm trong nhà. Dần dần tất cả đều bỏ đi, trừ cô Elinor, người con út, mẹ cô và bà Emma, người chị em bạn dì già yếu, là ba người sống luôn luôn ở đó. Trong thời gian ấy, hết mùa hè nọ đến mùa hè kia, ông William ngày một say mê cô Elinor tha thiết. Họ đã kết hôn cách rất đơn giản ít lâu sau khi bà Winsten qua đời: Bà này đã bị sốc mạnh trong một buổi chiều xuân, khi bà cố sửa những bụi hoa hồng rậm rạp của bà. Sau đám cưới của họ, bà Emma tuyên bố ý định về sống ở New York. Bà luôn ước mơ điều ấy, và với số tiền bà Winsten quá cố đã để lại cho bà, đủ để bà thực hiện ước vọng đó. Cô Elinor và cậu William thừa hưởng ngôi nhà. William rất ưa thích ngôi nhà này, vì ông yêu mến xứ sở này. Trước kia ông thường tiếc rẻ vì trong mùa hè chỉ đến đó chốc lát với gia đình thôi. Ông mở một văn phòng nhỏ ở Manhester, cạnh cổng trường luật Harvard, và ông tiếp tục giữ nó vì lý do tình cảm, mặc dù hiện tại và nhiều năm về sau, là một luật sư nổi tiếng, văn phòng chính của ông đặt tại New York. Ông đã do dự khi chọn giữa Boston và New York, nhưng dòng họ Asher đến từ New York và tiếp tục đời sống luật sư ở đó, tạo nên một liên hệ mật thiết giữa xưa và nay. ... Mời các bạn đón đọc Ảo Vọng của tác giả Pearl S. Buck.
Emily ở trang trại Trăng Non - Lucy Maud Montgomery
“Mọi người không bao giờ đúng khi nói tôi là Anne. Nhưng trên một số phương diện, họ sẽ đúng nếu cho rằng tôi là Emily.” - Lucy Maud Montgomery Khi biết tin cha chỉ còn sống được vài tuần nữa, Emily quyết tâm dành toàn bộ khoảng thời gian ít ỏi hai cha con còn được bên nhau để yêu thương cha bằng tất cả trái tim, khiến hai tuần cuối đời của ông Douglas Starr trở thành những ký ức đẹp và quý báu nhất. Nhưng, Emily ngây thơ, mơ mộng và dạt dào tình cảm sẽ sống thế nào khi hai tuần ấy đã qua đi, khi cô đã mồ côi cả cha lẫn mẹ lúc mới mười một tuổi, khi phải rời mái nhà nhỏ bé ấm cúng giữa thung lũng lòng chảo để đến với trang trại Trăng Non rộng mênh mông và quá xa lạ, với những người họ hàng đã căm ghét cha cô và chối bỏ mẹ cô, với những tâm hồn khô khan quá giàu lòng kiêu hãnh và những trái tim đã quá quen khép cửa? Đẹp, xúc động, giàu tính nhân văn và phảng phất màu sắc bí ẩn, Emily ở trang trại Trăng Non là tiểu thuyết thiếu nhi dành cho mọi lứa tuổi, một tác phẩm kinh điển của nền văn học Canada đủ sức chinh phục trái tim độc giả trên khắp thế giới - một cuốn sách vẫn vẹn nguyên sức hút bất chấp sự tàn phá khốc liệt của thời gian. *** Lucy Maud Montgomery (30/1/1874 – 24/4/1942), được biết đến rộng rãi dưới tên L.M. Montgomery. Bà là nhà văn người Canada nổi tiếng với sê-ri truyện viết về cô bé Anne tóc đỏ (hai trong số đó đã được dịch ra tiếng Việt). Bà tiếp tục viết 20 cuốn tiểu thuyết cùng với khoảng 500 truyện ngắn và thơ. Lucy Maud Montgomery sinh ngày 30/1/1874 tại Cliffon (nay là New England), thuộc đảo Hoàng Tử Edward, Canada. Mẹ của bà là Clara Woolner Macneill Montgomery mất vì bênh lao khi bà mới 21 tháng tuổi. Bố của bà, Hugh Montgomery, gửi bà cho ông bà ngoại chăm sóc. Mặc dù sống với ông bà nhưng tuổi thơ của bà khá đơn độc, vì vậy bà thường tạo ra một thế giới tưởng tượng xung quanh để vơi đi nỗi cô đơn, và từ đó trí tưởng tượng phong phú của bà được phát triển. Tháng 11 năm 1890, Lucy Maud Montgomery viết bài đầu tiên cho một tờ báo địa phương ở Charlottetown là Daily Patriot. Năm 1883, bà được nhận vào trường đại học Prince of Wales ở Charlottetown. Năm 1895 và 1896, bà theo học khoa văn tại trường đại học Dalhousie ở Halifax, Nova Scotia. Bộ Emily gồm có: Emily ở trang trại Trăng Non Emily Trên Dải Cầu Vồng Emily Và Ngôi Nhà Không Còn Tuyệt Vọng Mời các bạn đón đọc Emily ở trang trại Trăng Non của tác giả Lucy Maud Montgomery.