Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Quận Chúa Nổi Loạn - Alexandre Dumas

Nếu như bạn đã từng đọc Ba người lính ngự lâm, 20 nǎm sau và Cái chết của ba người lính ngự lâm - những tác phẩm đồ sộ, tiêu biểu đã hầu như bộc lộ hết tài nǎng của Alexandre Dumas thì đến với Những quận chúa nổi loạn của ông, các bạn sẽ được thấy một thế giới đầy màu sắc với những tính cách tiêu biểu của phụ nữ : ghen tuông, tò mò, cay độc nhưng cũng đầy nữ tính.  Những tình tiết gay cấn, những diễn biến bất ngờ của một mối tình tay ba cay nghiệt, éo le giữa nữ tử tước De Cambes, tiểu thư Nanon với một chàng nam tước hào hoa, đa tình mà dũng cảm đã lôi cuốn người đọc kể từ trang đầu tiên cho tới trang cuối cùng của cuốn sách. Xin mời các bạn đón đọc Những quận chúa nổi loạn để một lần nữa chiêm nghiệm tài nǎng của một bậc lão sư phù thuỷ chế tạo tình tiết - Alexandre Dumas.  *** Dumas Davy De La Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas. Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con lai ngoài giá thú của Hầu Tước Alexandre Antoine Davy De La Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở thành Tổng Chỉ Huy Trưởng trong Quân Đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hưng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung Điện Hoàng Gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử Tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: Cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: “Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời” (rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti De La vie du passé), “nơi một nghĩa địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh...” (dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres) • Các Tác Phẩm Những Tội Ác Trứ Danh (1839 -1841); Ba Người Lính Ngự Lâm (1844); Hai Mươi Năm Sau (1845); Những Quận Chúa Nổi Loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845); Kỵ Sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử Tước De Bragelonne (Cái chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm, Mười Năm Sau Nữa - 1848); Hoa Tulip Đen (Bông Uất Kim Hương Đen - 1850) *** Trên đường đến Libourne. một thành phố nhộn nhịp soi mình bên dòng sông nước chảy xiết của con sông Dordogne. giữa hai làng Fronsac và Saint Michel la Riviere. trước kia có một ngôi làng xinh xắn với những bức tường trắng và những mái ngói đỏ. nằm khuất quá nửa dưới hàng cây bạch phong. và dẻ gai. Con đường từ Libourne đến Saint André de Cubzac chạy qua giữa những ngôi nhà nằm thẳng hàng đối diện với nhau. và là những quang cảnh duy nhất của ngôi làng đó. Đằng sau các ngôi nhà ấy. cách độ khoảng một trăm bước chân. là dòng sông đang uốn khúc với chiều rộng và độ chảy xiết báo hiệu rằng biển đang kề cận. Những cuộc nội chiến đã đi ngang qua đấy: Thoạt đầu nó đã xô ngã cây cối. sau đó đuổi dân cư ra khỏi nhà của họ. và những ngôi nhà này. nằm phơi mình trước những cơn cuồng phong thịnh nộ và vì không thể bỏ chạy như cư dân của mình. nên từ từ xụp đổ trên đám cỏ dại. biểu lộ sự phản kháng theo cách riêng của chúng trước cảnh tàn phá của những cuộc nội chiến. rồi dần dần đất như được tạo ra để chôn vùi tất cả đã phủ lên những xác nhà xưa kia từng là nơi vui vẻ và nhộn nhịp. cuối cùng cỏ mọc lên trên tất cả mặt đất giả tạo kia. và ngày nay. người lữ khách rong ruổi trên con đường cô quạnh sẽ không bao giờ ngờ được - khi trông thấy những đàn gia súc đông đảo như vẫn thường thấy Ở vùng Mi di. đang gặm cỏ trên những khoảng đất lồi lõm - rằng mục đồng và đàn chiên kia đang dẫm trên một bãi tha ma nơi an nghỉ của cả một ngôi nhà. Nhưng. vào thời mà chúng ta đang nói đến. nghĩa là khoảng tháng 5 năm 1650. đấy là một ngôi làng với vùng thảo mộc sung túc. khách lạ đi ngang qua sẽ cảm thấy ưa thích những nông dân đang bận rộn tháo cột ngựa khỏi lưỡi cày. những người dân chài đang kéo lưới bên bờ sông. nặng trĩu những con cá trắng. hồng của dòng sông Dordogne. và những người thợ rèn đang mệt nhọc gõ mạnh xuống đe trong lò rèn sáng lên từng hồi bởi những đám tàn lửa bắn ra từ cây búa. Thế những điều có thể làm cho người khách thích thú hơn cả, nhất là khi đường dài mang đến cho những kẻ vốn thích rong ruổi cái đói muôn thuở. thì sẽ là cách ngôi làng ấy khoảng năm trăm bước chân. một ngôi nhà thấp và dài. chỉ gồm một tầng trệt và một tầng lầu. mà những đám khói tỏa ra từ ống khói và mùi xào nấu bay ra từ các cửa sổ. cho biết rõ hơn một tấm tôn đỏ vẽ hình cái đầu bê vàng chóe treo lơ lửng trước tầng lầu rằng người khách. cuối cùng đã đến được một nơi nghỉ chân. Tại sao lữ quán Con Bê Vàng lại Ở cách làng. theo như người ta kể lại với tôi. năm trăm bước chân thay vì nằm kề với những ngôi nhà xinh xắn khác dọc theo hai bên đường? Trước hết. dù lạc lõng giữa một nơi hẻo lánh như thế. vị chủ nhân. về mặt nấu nướng. là một nghệ sĩ bậc thầy. Thế nhưng. nếu ông ta đến cư ngụ hẳn trong làng. ông ta có thể sẽ bị lẫn lộn với vài tên chủ quán hạng bét mà nếu bị buộc phải nhìn nhận đó là những đồng nghiệp. ông ta vẫn không thể nào chấp nhận họ như những tay ngang hàng. vì thế khi tách riêng ra ông ta sẽ lôi kéo sự chú ý của những kẻ sành điệu và những người này sau một lần được thưởng thức tài nghệ của ông. sẽ kháo với nhau rằng: Khi nào bạn đi từ Libourne đến Saint André Cubzac hoặc từ Saint André Cubzac đến Libourne. đừng quên ghé lại ăn sáng. ăn trưa hoặc ăn tối tại quán Con Bê Vàng cách làng Matifou khoảng năm trăm bước chân. Và thế là những kẻ sành điệu ghé lại. hài lòng ra về. gởi đến những tay sành điệu khác. cứ như thế. ông chủ quán khôn ngoan dần dần góp được một gia tài. và điều này không ngăn cản ông ta. một chuyện hiếm hoi. vẫn giữ cao giá trị ẩm thực của mình. chứng tỏ rằng. như chúng ta đã nói. Biscarros là một nghệ sĩ thực thụ. Và vào một buổi chiều tháng 5 ấm áp. khi thiên nhiên đã bừng dậy Ở vùng Mi di cũng như đã bắt đầu bừng dậy Ở Miền Bắc. những làn khói dày đặc và những hương vị thơm ngon hơn những ngày bình thường tỏa ra từ các ống khói và các cửa sổ của lữ quán Con Bê Vàng. trong khi đó nơi bậc thềm. đích thân mét Biscarros. mặc toàn trắng như thông lệ của các thầy tế thần của mọi thời đại và mọi đất nước. đang dùng đôi bàn tay cao quý của mình vặt lông mấy con chim cút và đa đa dành riêng cho một trong những bữa tiệc sang trọng mà ông ta biết rành cách tổ chức và có thói quen. luôn luôn là do tình yêu của ông ta đối với môn nghệ thuật ấy. tự tay mình chăm chút đến mọi chi tiêu. Ngày đã gần tàn. dòng sông Dordogne nơi một đoạn quanh co khúc khuỷu vẫn thường thấy trên suốt khoảng đường của nó. tách ra khỏi con đường khoảng lộ độ một phần tư dặm để băng qua dưới chân đồi lũy Vayres. đã bắt đầu trắng xóa dưới những tàn lá sẫm tối. Ĩ nh mịch và u ám trải dài trên cánh đồng cùng với cơn gió nhẹ của chiều tối. những người nông dân trở về nhà cạnh mấy con ngựa đã tháo cày. những người dân chài với mớ lưới còn nhiều nước. những tiếng động trong làng đang tắt dần và sau tiếng búa cuối cùng báo hiệu một ngày làm việc đã chấm dứt. tiếng hót đầu tiến của chim họa mi bắt đầu vang lên từ một bụi cây gần đó. Sau những nốt nhạc đầu tiến thoát ra từ cổ họng của nhạc sĩ tí hon. mét Biscarros cũng bắt đầu hát theo. và hậu quả của sự tranh chấp đó cộng với sự chăm chú làm việc của ông chủ quán khiến ông ta chẳng nhận thấy một nhóm sáu kỵ sĩ vừa mới xuất hiện nơi đầu làng Matifou và đang tiến về phía lữ quán. Nhưng một tiếng kêu hoảng hốt vang lên từ một cửa sổ tầng trên. và tiếng cánh cửa sổ đóng sập lại vội vàng khiến cho người chủ quán nổi tiếng nghệch mũi nhìn lên và thế là ông thấy ngay người kỵ sĩ đi đầu nhóm đang tiến thẳng về phía ông. Tiến thẳng không phải từ chính xác cho lắm. chúng tôi xin được sửa lại. bởi vì người đó cứ khoảng hai mươi bước lại dừng lại. ném ra hai bên những ánh mắt dò xét. xúc xạo các thân cây, đường mòn. và bụi rậm. một tay giữ trên đầu những cây súng dài để sẵn sàng tấn công cũng như tự vệ và thỉnh thoảng lại ra hiệu cho các bạn đồng hành lập lại y hệt mọi cử động của y. từ từ tiến đến. Kế đó. y lại dấn lên thêm vài bước nữa với cùng động tác dè dặt như trước. Bicarros đưa mắt nhìn theo người kỵ sĩ. mà cung cách khác thường làm cho ông ta chú ý đến nỗi suốt khoảng thời gian đó. ông ta cứ giữ khư khư túm lông đang nắm giữa những ngón tay cái và ngón trỏ. - Chắc là một ngài đang muốn tìm quán của mình đây - Biscarros tự nhủ - Tôn ông này có lẽ bị cận thị. tấm biển Con Bê Vàng của mình mới được sơn lại và trông nổi bật hẳn lên kia mà. Nào. ta chường mặt ra thôi. Và mét Biscarros đến đứng ngay giữa đường. vẫn không ngừng vặt lông con vật với những động tác đầy quan trọng và uy nghiêm. Cử chỉ ấy đạt ngay kết quả mà lão chờ đợi. vừa trông thấy ông ta. người kỵ sĩ liền tiến thẳng đến và lịch sự giở nón chào: - Xin lỗi mét Biscarros - Người đó nói - ông có thấy từ hướng nào một nhóm chiến sĩ bạn tôi có thể đang tìm tôi không? Chiến sĩ. nói vậy cũng hơi quá. những người có mang gươm thì đúng hơn. nói cho chính xác là những người có vũ trang. nói như vậy đúng với ý nghĩ của tôi hơn. ông có thấy một nhóm người có vũ trang không? ... Mời các bạn đón đọc Những Quận Chúa Nổi Loạn của tác giả Alexandre Dumas.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đồi Gió Hú - Emily Bronte
Tên Ebook: Đồi Gió Hú Tác giả:  Emily Bronte   Dịch giả:  Dương Tường Thể Loại: 100 Cuốn sách giá trị nhất thế giới, Tiểu Thuyết, Kinh điển, Văn học phương Tây   Nhà xuất bản liên kết:  Văn học   Ebook: http://www.dtv-ebook.com   Ebook Đồi Gió Hú full prc, epub Tóm tắt tác phẩm Đồi Gió Hú, câu chuyện cổ điển về tình yêu ngang trái và tham vọng chiếm hữu, cuốn tiểu thuyết dữ dội và bí ẩn về Catherine Earnshaw, cô con gái nổi loạn của gia đình Earnshaw, với một gã đàn ông thô ráp và điên rồ mà cha cô mang về nhà rồi đặt tên là Heathcliff, được trình hiện lên trên cái nền những đồng truông, quả đồi nước Anh cô quạnh và ban sơ không kém gì chính tình yêu của họ. Từ nhỏ đến lớn, sự gắn bó của họ ngày càng trở nên ám ảnh. Gia đình, địa vị xã hội và ghen tuông tột độ cùng hủy diệt họ, vậy nên toàn bộ thời gian hai con người yêu nhau đó đã sống trong thù hận và tuyệt vọng, mà cái chết chỉ có ý nghĩa khởi đầu. Một khởi đầu mới để hai linh hồn mãnh liệt đó được tự do tái ngộ, khi những cơn gió hoang vắng và điên cuồng tràn về quanh các lâu đài trong Đồi gió hú Đồi Gió Hú là c uốn tiểu thuyết duy nhất của Emily Bronte, là cuốn sách đã tới tay công chúng với nhiều lời bình trái ngược vào năm 1847, một năm trước khi nữ tác giả qua đời ở tuổi ba mươi. Thông qua mối tình giữa Cathy và Heathcliff, với bối cảnh đồng quê Yorkshire hoang vu trống trải,  Đồi Gió Hú đã tạo nên cả một thế giới riêng với xu hướng bỏ qua lề thói, vươn tới thi ca cũng như tới những chiều sâu tăm tối của lòng người, giúp tác phẩm trở thành một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất, bi thương nhất mà con người từng viết về nỗi đam mê nồng cháy.  Nhận định  "Trên một thế kỷ này, diễn đàn thế giới vẫn còn nhắc tới Emily Bronte và tiểu thuyết  Đồi gió hú, một viên kim cương trong kho tàng văn học Anh"  - Dương Tường Không khó để lý giải tại sao khi ra đời, Đồi gió hú đã gây nên một cơn chấn động dữ dội đến vậy trong giới phê bình cũng như về phía độc giả. Bởi sau hai thế kỷ, sự mãnh liệt và cuồng dại của tình yêu, dục vọng, âm mưu, tội ác...vẫn còn khiến người đọc ngày nay phải ngỡ ngàng. Nổi lên giữa bức tranh của núi đồi, nhà thờ đổ nát, nông trang hoang tàn, của gió, của đá, của những con người chết yểu  ấy là chân dung hai nhân vật chính Catherine Earnshaw và Heathcliff, một tiểu thư đài các, xinh đẹp nhưng nổi loạn, một gã con hoang độc ác man dại, từ nhân hình đến nhân tính  đã bị sự khinh miệt  khổ cực và thù hận biến thành thú vật. Thành công của Emily Bronte, và cũng là điểm khiến bà bị độc giả đương thời khó chấp nhận, có lẽ là việc đã khắc họa sống động hai con người với lối suy nghĩ, hành sử và một tình yêu đi ngược hoàn toàn với những chuẩn mực đạo đức đương thời. Emily Bronte, khi viết về tình yêu của họ, từ những ngày còn thơ bé lang thang bên nhau, cho đến khi bị chia cắt bằng hôn nhân của Catherine Earnshaw, và tới lúc được đoàn tụ bằng cái chết, không hề đứng trên quan điểm đạo đức thông thường để phán xét, trái lại, bà tập trung toàn bộ trí lực, tài năng, và niềm đam mê khác thường để miêu tả và phân tích những diễn biến tâm lý, những biểu hiện khác nhau của hai kẻ tình nhân luôn bị ám ảnh bởi  những cảm xúc yêu đương điên dại, mãnh liệt.  Nhã Nam "Đồi gió hú được đẽo tạc trong một xưởng hoang dại bằng những dụng cụ đơn sơ, từ chất liệu mộc mạc. Nhà điêu khắc thấy một khối đá granit trên một cánh đồng hoang quạnh quẽ: nhìn kỹ chàng thấy từ tảng đá, có thể tạo một cái đầu như thế nào, man rợ, đen đúa, hung hãn, một dáng hình được đắp nặn với ít nhất là một yếu tố của hùng vĩ-sức cường. Chàng đã làm việc với một cái đục thô sơ và không theo mẫu nào ngoài thị ảnh từ những suy tư của chàng. Với thời gian và lao động, khối đá mang hình người. Và kia, nó sừng sững đứng, đồ sộ, đen đúa và cau có, nửa tượng, nửa núi đá: là tượng thì khủng khiếp và giống như quỷ; là núi đá thì hầu như đẹp, vì nó có màu xám dịu và mặc lớp rêu của đồng hoang và đám thạch nam với những chùm hoa hình chuông và hương thơm ngạt ngào của nó, vẫn thủy chung mọc sát dưới chân gã khổng lồ ấy " - Charlotte Bronte "Đồi gió hú là tiểu thuyết duy nhất của Emily Bronte, người đã chết ngay sau khi tác phẩm được xuất bản, ở tuổi ba mươi. Một câu chuyện u sầu vùng Yorkshire về một mối tình mạnh mẽ hơn cả cái chết, cũng là cái nhìn dữ dội về dục vọng siêu hình mà trong đó, cả thiên đường, địa ngục, thiên nhiên và xã hội cùng gắn bó mãnh liệt. Độc nhất, huyền bí, với một văn phong phi thời, tiểu thuyết đã trở thành tác phẩm kinh điển của văn học Anh"  - The Oxford University Press "Không có mấy lời văn về tình yêu thuyết phục hơn, bớt phần bi lụy hơn Đồi gió hú. Đây là câu chuyện về một đứa trẻ khốn khổ bị bỏ rơi đem lòng yêu con gái cha nuôi mình, cũng là câu chuyện về những hành xử hung bạo và khổ đau khởi nguồn từ những khát khao ngang trái họ dành cho nhau...Tựa như Emily Bronte có thể mở toang những gì thuộc về con người, và lấp đầy những khoảng trống không thể nhìn ra được bằng một luồng gió mạnh của cuộc đời" - Virginia Woolf Mời các bạn đón đọc Đồi Gió Hú của tác giả Emily Bronte.
Không gia đình - Hector Malot
“Tôi là một đứa trẻ người ta nhặt được.   Tuy vậy, cho đến năm lên tám, tôi vẫn tưởng tôi có mẹ cũng như mọi đứa trẻ khác, vì mỗi khi tôi khóc thì luôn luôn có một người đàn bà dịu dàng ôm tôi vào lòng, âu yếm ru, khiến cho nước mắt tôi ngừng chảy. Và khi tôi lên giường ngủ, cũng có một người đàn bà đến hôn tôi. Và khi gió rét tháng chạp trát những bông tuyết vào cửa kính trắng xóa, bà ấy vừa ấp ủ chân tôi trong đôi bàn tay trìu mến của bà, vừa hát cho tôi nghe một bài hát mà giờ đây tôi vẫn còn nhớ điệu và lõm bõm vài lời ca…” *** Đó là những lời thì thầm của cậu bé Rêmi, một lời thì thầm ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng nhưng chất chứa  niềm khát khao yêu thương.   Và, đó cũng là những lời tâm sự cảm động của cậu bé Rêmi, mở đầu cho tiểu thuyết “Không Gia Đình” của nhà văn Pháp - Hecto Malot. Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2009   “Không Gia Đình” kể về một em bé không cha mẹ, không họ hàng thân thích, đi theo một đoàn xiếc chó, khỉ, rồi cầm đầu đoàn ấy đi lưu lạc khắp nước Pháp, sau đó bị tù ở Anh, cuối cùng tìm thấy mẹ và em. Rêmi đã lớn lên trong gian khổ, em đã chung đụng với mọi hạng người, sống khắp mọi nơi. Em đã lao động mà sống, lúc đầu dưới quyền điều khiển của một ông già từng trải và đạo đức, cụ Vitali, về sau tự lập không những lo cho mình, còn bảo đảm việc biểu diễn và sinh sống cho cả một gánh hát rong. Đã có khi em và cả đoàn lang thang mấy hôm liền không có chút gì trong bụng. Đã có khi em xuýt chết rét. Đã có khi em bị lụt ngầm chôn trong giếng mỏ mười mấy ngày đêm. Đã có khi em mắc oan bị giải ra trước tòa án và bị ở tù. Và cũng có khi em được nuôi nấng đàng hoàng, ấm no... nhưng dù ở đâu Rêmi vẫn giữ cho mình lòng tốt và sự hy sinh. Cuối cùng, qua bao gian khổ, Rêmi gặp được gia đình thật sự, trả ơn cho những người đã giúp đỡ mình trong lúc cơ hàn, và sống hạnh phúc.   Bên cạnh Rêmi còn có chú bé nghệ sĩ Matchia khôn ngoan, linh lợi, tháo vát, tận tình với bạn; Con chó Capi không như người và rất có nghĩa; Con khỉ Giôlicơ liến láu và đáng thương…   Không Gia Đình với những câu chuyện cảm động rơi nước mắt về tình yêu thương con người sâu sắc trong những hoàn cảnh gian nan nhất, tình bạn được đề cao, tình hữu ái giữa những người cùng khổ như Rêmi và Matchia, với gia đình trồng hoa, và một tình yêu chớm nở tinh khôi cùng cô bé câm Lise. Đáng suy nghĩ nhất là lòng tốt của Rêmi dành cho mọi người. Vẫn là một chú bé có vui, có buồn, giận hờn và căm ghét nhưng luôn chân thành và vô tư. Không Gia Đình làm sống lại những hành trình thơ bé mà mỗi chúng ta từng có và từng quên lãng Tác phẩm đã ca ngợi sự lao động bền bỉ, tinh thần tự lập, chịu đựng gian khó, khích lệ tình bạn chân chính. Ca ngợi lòng nhân ái, tình yêu cuộc sống, ý chí vươn lên không ngừng… Ngoài cuộc hành trình đầy gian nan, vất vả của cậu bé Rêmi và những người bạn trong gánh xiếc, truyện còn diễn tả nhiều cảnh thiên nhiên, nhiều cảnh sinh hoạt hấp dẫn ở nông thôn và thành thị, giúp người đọc hứng thú như chính mình cũng đang tham gia cuộc hành trình đó.   Không Gia Đình của Hecto Malot - nhà văn chuyên viết tiểu thuyết Pháp, là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông đã được giải thưởng của Viện Hàn lâm văn học Pháp. Từ hơn một trăm năm nay, tác phẩm này đã trở thành người bạn thân thiết của thiếu nhi và tất cả những người yêu mến trẻ em khắp thế giới. Không Gia Đình vì thế đã vượt qua biên giới nước Pháp và tồn tại lâu dài với thời gian.   Với độ dày 430 trang được in trên nền giấy đẹp, Không Gia Đình giúp chúng ta hiểu thêm về cuộc sống khó nhọc của người lao động và những phẩm chất tốt đẹp của họ và hơn cả là ý chí kiên cường, lòng yêu cuộc sống và trọng ân tình.   Không Gia Đình mang đến một bài học quý giá cho mỗi chúng ta về tình yêu thương giữa con người với con người. Để những ai “có gia đình” suy ngẫm, làm sao sống cho tốt, xứng đáng với cái may mắn mà số phận ban cho. Mời các bạn đón đọc Không Gia Đình của tác giả Hector Malot.  
Chiến Tranh và Hòa Bình
CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH là một bộ tiểu thuyết sử thi được nhà xuất bản Russki Vestnik in lần đầu từ năm 1865 đến 1869. Đây là tác phẩm phản ánh một giai đoạn bi tráng của toàn xã hội Nga, từ giới quý tộc đến nông dân, trong thời đại Napoleon.   CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH không chỉ là một trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của Lev Tolstoy mà còn cả của nhân loại với hơn 580 nhân vật, trong đó những nhân vật lịch sử và những nhân vật hư cấu đã cùng nhau khắc họa lại một giai đoạn lịch sử hào hùng của nước Nga.   CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH đã thể hiện một cách trọn vẹn nhất tư tưởng của Lev Tolstoy về sự vô nghĩa của chiến tranh và khắc họa được những tính cách điển hình của con người, đất nước Nga. *** Chiến tranh và hòa bình (tiếng Nga: Война и мир, Voyna i mir) là một bộ tiểu thuyết sử thi của Lev Nikolayevich Tolstoy, được nhà xuất bản Russki Vestnik in lần đầu từ năm 1865 đến 1869. Đây là tác phẩm phản ánh một giai đoạn bi tráng của toàn xã hội Nga, từ giới quý tộc đến nông dân, trong thời đại Napoléon, và được coi là một trong hai kiệt tác chính của Tolstoy (tác phẩm thứ hai là Anna Karenina). Chiến tranh và hòa bình cũng đồng thời được đánh giá là một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất của văn học thế giới. Chiến tranh và hòa bình mở đầu với khung cảnh một buổi tiếp tân, nơi có đủ mặt các nhân vật sang trọng của giới quý tộc Nga tại kinh kỳ Sankt-Peterburg. Bên cạnh những câu chuyện thường nhật của giới quý tộc, người ta bắt đầu nhắc đến Hoàng đế Napoléon I và cuộc chiến tranh chống Pháp sắp tới mà Nga sắp tham gia. Trong số những tân khách hôm ấy có công tước Andrei Bolkonsky - một người trẻ tuổi, đẹp trai, giàu có, có cô vợ Liza xinh đẹp mới cưới và đang chờ đón đứa con đầu lòng. Và một vị khách khác là Pierre người con rơi của lão bá tước Bezoukhov, vừa từ nước ngoài trở về. Tuy khác nhau về tính cách, một người khắc khổ về lý trí, một người hồn nhiên sôi nổi song Andrei và Pierre rất quý mến nhau và đều là những chàng trai trung thực, luôn khát khao đi tìm lẽ sống. Andrei tuy giàu có và thành đạt nhưng chán ghét tất cả nên chàng chuẩn bị nhập ngũ với hy vọng tìm được chỗ đứng của một người đàn ông chân chính nơi chiến trường. Còn Pierre từ nước ngoài trở về nước Nga, tham gia vào các cuộc chơi bời và bị trục xuất khỏi Sankt-Peterburg vì tội du đãng. Pierre trở về cố đô Moskva, nơi cha chàng đang sắp chết. Lão bá tước Bezoukhov rất giàu có, không có con, chỉ có Pierre là đứa con rơi mà ông chưa công nhận. Mấy người bà con xa của ông xúm quanh giường bệnh với âm mưu chiếm đoạt gia tài. Pierre đứng ngoài các cuộc tranh chấp đó vì chàng vốn không có tình cảm với cha, nhưng khi chứng kiến cảnh hấp hối của người cha lúc lâm chung thì tình cảm cha con đã làm chàng rơi nước mắt. Lão bá tước mất đi để lại toàn bộ gia sản cho Pierre và công nhận chàng làm con chính thức. Công tước Kuragin không được lợi lộc gì trong cuộc tranh chấp ấy bèn tìm cách dụ dỗ Pierre. Vốn là người nhẹ dạ, cả tin nên Pierre rơi vào bẫy và phải cưới con gái của lão là Hélène, một cô gái có nhan sắc nhưng lẳng lơ và vô đạo đức. Về phần Andrei chàng quyết định gởi vợ cho cha và em chăm sóc sau đó gia nhập Quân đội Nga. Khi lên đường Andrei mang một niềm hy vọng là có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống cũng như công danh trên chiến trường. Chàng tham chiến trận đánh Austerlitz - nơi Napoléon I đã đánh tan nát quân Liên minh Nga - Áo, bản thân chàng thương nặng, bị bỏ lại chiến trường. Khi tỉnh dậy chàng nhìn thấy bầu trời xanh rộng lớn và sự nhỏ nhoi của con người, kể cả những mơ ước, công danh và kể cả Napoléon I - vốn là một thần tượng của chàng. Andrei được đưa vào trạm quân y và được cứu sống. Sau đó, chàng trở về nhà chứng kiến cái chết đau đớn của người vợ trẻ khi sinh đứa con đầu lòng. Cái chết của Lisa, cùng với vết thương và sự tiêu tan của giấc mơ Toulon - cầu Arcole đã làm cho Andrei tuyệt vọng. Chàng quyết định lui về sống ẩn dật. Có lần Pierre đến thăm Andrei và đã phê phán cách sống đó. Lúc này, Pierre đang tham gia vào hội Tam điểm với mong muốn làm việc có ích cho đời. Một lần, Andrei có việc đến gia đình bá tước Rostov. Tại đây, chàng gặp Natalia (Natasha) con gái gia đình của bá tước Rostov. Chính tâm hồn trong trắng hồn nhiên và lòng yêu đời của nàng đã làm hồi sinh Andrei. Chàng quyết định tham gia vào công cuộc cải cách ở triều đình và cầu hôn Natasha. Chàng đã được gia đình bá tước Rostov chấp nhận, nhưng cha chàng phản đối cuộc hôn nhân này. Bá tước Bolkonsky (cha của Andrei) buộc chàng phải đi trị thương ở nước ngoài trong khoảng thời gian là một năm. Cuối cùng, chàng chấp nhận và xem đó như là thời gian để thử thách Natasha. Chàng nhờ bạn mình là Pierre đến chăm sóc cho Natasha lúc chàng đi vắng. Natasha rất yêu Andrei, song do nhẹ dạ và cả tin nên nàng đã rơi vào bẫy của Anatole con trai của công tước Vassili, nên Natasha và Anatole đã định bỏ trốn nhưng âm mưu bị bại lộ, nàng vô cùng đau khổ và hối hận. Sau khi trở về Andrei biết rõ mọi chuyện nên đã nhờ Pierre đem trả tất cả những kỷ vật cho Natasha. Nàng lâm bệnh, người chăm sóc và thông cảm cho nàng lúc này là Pierre. Vào lúc này, nguy cơ chiến tranh giữa Pháp và Nga ngày càng đến gần. Cuối năm 1811, quân Pháp tiến dần đến biên giới Nga, quân Nga rút lui. Đầu năm 1812, quân Pháp tiến vào lãnh thổ Nga. Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Nga bùng nổ. Vị tướng già Mikhail Koutouzov được cử làm Tổng tư lệnh quân đội Nga. Trong khi đó, quý tộc và thương gia được lệnh phải nộp tiền và dân binh. Pierre cũng nộp tiền và hơn một ngàn dân binh cho quân đội. Andrei lại gia nhập quân đội, ban đầu vì muốn trả thù tình địch, nhưng sau đó chàng bị cuốn vào cuộc chiến, bị cuốn vào tinh thần yêu nước của nhân dân. Trong trận Borodino, dưới sự chỉ huy của vị Nguyên soái Koutouzov quân đội Nga đã chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, với kết quả là chiến thắng lớn lao về mặt tinh thần. Andrei cũng tham gia trận đánh này và bị thương nặng. Trong lán quân y, chàng gặp lại tình địch của mình cũng đang đau đớn vì vết thương. Mọi nỗi thù hận đều tan biến, chàng chỉ còn thấy một nỗi thương cảm đối với mọi người. Chàng được đưa về địa phương. Trên đường di tản, chàng gặp lại Natasha và tha thứ cho nàng. Và cũng chính Natasha đã chăm sóc cho chàng cho đến khi chàng mất. Sau trận huyết chiến ở Borodino, quân Nga rút khỏi Moskva. Quân Pháp chiếm được Moskva nhưng có tâm trạng vô cùng lo sợ. Pierre trở về Moskva giả dạng thành thường dân để ám sát Napoléon. Nhưng âm mưu chưa thực hiện được thì chàng bị bắt. Trong nhà giam, Pierre gặp lại Platon Karataev, một triết gia nông dân. Bằng những câu chuyện của mình, Platon đã giúp Pierre hiểu thế nào là cuộc sống có nghĩa. Quân Nga bắt đầu phản công và tái chiếm Moskva. Quân Pháp rút lui trong hỗn loạn. Nước Nga thắng lợi bằng chính tinh thần của cả dân tộc Nga chứ không phải do một cá nhân nào, đó là điều Koutouzov hiểu còn Napoléon thì không. Sau chiến thắng, Koutouzov muốn cho nước Nga được nghỉ ngơi chứ chẳng muốn can thiệp thêm gì vào tình hình châu Âu. Trên đường rút lui của quân Pháp, Pierre đã trốn thoát và trở lại Moskva. Chàng hay tin Andrei đã mất và vợ mình cũng vừa mới qua đời vì bệnh. Chàng gặp lại Natasha, một tình cảm mới mẻ giữa hai người bùng nổ. Pierre quyết định cầu hôn Natasha. Năm 1813, hai người tổ chức đám cưới. Bảy năm sau, họ có bốn người con. Natasha lúc này không còn là một cô gái vô tư hồn nhiên mà đã trở thành một người vợ đúng mực. Pierre sống hạnh phúc nhưng không chấp nhận cuộc sống nhàn tản. Chàng tham gia vào những hội kín - đó là các tổ chức cách mạng của những người tháng Chạp. *** Vài lưu ý trong ấn bản eBook này Tên phiên âm đã được chuyển thành tên riêng tiếng Anh dựa trên bản của Huy Hoàng phát hành năm 2017 & bản của Delphi Classics, Complete Works of Leo Tolstoy, xuất bản năm 2012; Những câu in nghiêng được chú thích bằng tiếng Pháp được loại bỏ vì quá nhiều và không ảnh hưởng đến cốt truyện; Lỗi chính tả, hiển nhiên, cũng được sửa theo bản mới; Bìa eBook được lấy trên internet.   amylee tve-4u.org Ngày 10 tháng 09 năm 2022 Những đóng góp cho eBook được hoàn thiện thuộc về: cailubietdi, Anan Két, machine, soloshevcento, amylee v.v. *** LỜI GIỚI THIỆU   Tôi là người học trò nhỏ của nhà văn vĩ đại Tolstoy Hồ Chí Minh   Nguyễn Du từng lo không biết ba trăm năm sau có ai khóc mình không... Nhưng như Tố Hữu viết: Tiếng đàn xưa đứt ngang dây Hai trăm năm lại càng say lòng người   L. Tolstoy cũng đã từng băn khoăn: “Thú thật tôi hoàn toàn không biết một trăm năm sau liệu có ai đọc tác phẩm của tôi không...” (thư ông gửi cho nhà nghiên cứu người Anh William Roston ngày 27-12-1878). Lenin vĩ đại của chúng ta đã giải đáp được nỗi băn khoăn đó: “Tolstoy đã mất rồi và nước Nga trước cách mạng đã chìm vào dĩ vãng. Nhưng trong di sản của ông thì có cái không chìm vào dĩ vãng, có cái thuộc về tương lai. Di sản đó, giai cấp vô sản Nga đón lấy và nghiên cứu nó.” Chiến tranh và hòa bình của L. Tolstoy chính là loại tác phẩm thuộc về tương lai. Trong những ngày đánh trả mãnh liệt cuộc chiến tranh phá hoại man rợ bằng không quân của đế quốc Mỹ xâm lược, trên miền Bắc, sinh viên Việt Nam vẫn viết những đề tài nghiên cứu về chiến tranh nhân dân, về con đường đi tìm lý tưởng của Andrew Bolkonski, Pierre Bezukhov trong tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình. Aragon cho biết: Đã có một thời ở Pháp, người ta không thể đi trên xe lửa mà không thấy những người đọc Chiến tranh và hòa bình của Tolstoy. Cuốn tiểu thuyết này có lẽ là tác phẩm lớn nhất chưa từng thấy, được người Pháp say mê vào những năm 1942-1943. Năm 1943, một nhà thơ lớn, một người cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu dịch nửa đầu Chiến tranh và hòa bình ở trong tù. Và kỳ diệu thay, năm 1943, giữa lòng thành phố Leningrad anh hùng đang bị giặc Đức vây hãm ngặt nghèo, Chiến tranh và hòa bình được in lại với số lượng 100.000 cuốn! Năm 1960, một nhà văn Pháp đã nói rất hay về sức sống của tác phẩm Tolstoy: “Khi đọc lại Chiến tranh và hòa bìnhtôi cảm thấy trước mắt tôi không phải là một giai đoạn đã qua mà là bí mật đã mất.”   CON SƯ TỬ CỦA VĂN HỌC NGA   L.N. Tolstoy sinh năm 1828 trong một gia đình quý tộc lâu đời tại trại ấp Yasnaya Polyana (ở gần khu Tula, cách Moskva 200 km về phía nam). Ông bắt tay vào viết bộ Chiến tranh và hòa bình năm 35 tuổi, sau khi cưới vợ được một năm, vào lúc ông cảm thấy hạnh phúc, sung sức cả về trí tuệ lẫn tinh thần. Lúc ấy ông đã bước vào làng văn được mười một năm, có vốn sống và vốn văn hóa khá là phong phú. Trại ấp Yasnaya Polyana đẹp tuyệt vời đã trở thành cái nền thiên nhiên kỳ thú trong tác phẩm Thời thơ ấu. Bạn đọc cũng có thể thấy hình bóng của nó qua những trang miêu tả trại ấp Lysaya Gora trong Chiến tranh và hòa bình. Đến cuối đời Tolstoy, Yasnaya trở thành nơi gặp gỡ của nhiều danh nhân Nga và thế giới với nhà văn vĩ đại, và đó cũng là nơi Tolstoy đã yên giấc ngàn thu. Nhiều bà con thân thích của Tolstoy đã trở thành một phần những nguyên hình, những nguyên mẫu để ông dựa vào đó vẽ nên những nhân vật sinh động trong Chiến tranh và hòa bình. Tolstoy học ở đại học Kazan hai năm rồi bỏ dở, năm 1847 ông trở về Yasnaya Polyana. Từ năm 1851 ông đi Kafka rồi nhập ngũ, chính tại Kafka Tolstoy đã bắt đầu bước vào hoạt động văn học. Tác phẩm đầu tay Thời thơ ấu của ông (1852) được hoan nghênh nhiệt liệt. Ông viết tiếp Thời niên thiếu (1854) và Thời thanh niên (1857). Năm 1856, nhà phê bình dân chủ cách mạnh Chernyshevsky đánh giá cao hai tập đầu trong tác phẩm bộ ba tự thuật này, nêu lên một số đặc điểm của tài năng Tolstoy và tiên đoán: “Chúng tôi nói trước rằng tất cả những gì Tolstoy hiện nay đã đem đến cho văn học chúng ta chỉ là bảo đảm cho những gì ông ta sẽ hoàn thành...”. Sau khi giải ngũ (1856), Tolstoy lo toan nhiều đến việc cải thiện đời sống cho nông dân trong trại ấp của mình. Ông mở trường dạy cho con em nông dân, tự mình viết sách học vỡ lòng, làm giáo viên, ra tạp chí giáo dục mang tên “Yasnaya Polyana”. Khi làm thẩm phán hòa giải ở huyện nhà, Tolstoy bảo vệ quyền lợi nông dân nên bị địa chủ căm ghét. Ông đã đề ra một số dự án cải cách để giải phóng nông nô trong trại ấp của mình (có 330 nông nô) nhưng không thực hiện được. Tolstoy đã sáng suốt tỏ ý “không tin một lời nào” trong bản tuyên ngôn giải phóng nông nô đầy giọng ban ơn hứa hẹn suông của Nga hoàng Alexander II tháng Hai năm 1861. Từ lúc còn trẻ ông đã quan tâm thật sự đến đời sống nhân dân, đã dần dần “am hiểu một cách kỳ diệu nước Nga nông thôn, đời sống của địa chủ và của nông dân” (Lenin). Truyện ngắn Buổi sáng của một địa chủ (1856) của Tolstoy thể hiện những suy nghĩ bước đầu của ông về mỗi quan hệ địa chủ – nông dân. Đó là bức tranh sinh động về cuộc sống tăm tối, bị đè nén của nông dân Nga. Tolstoy ra nước ngoài hai lần (1856-1857 và 1860-1861), đi thăm nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội, giáo dục phương Tây. Chính tại London, ông đã gặp gỡ nhà cách mạng Nga nổi tiếng A.Gercen buộc phải lưu vong. Tolstoy phê phán lối sống ích kỷ tàn nhẫn của giai cấp tư sản phương Tây trong bút ký Luserne (1857). Nhưng cũng chính trong bút ký này Tolstoy đã bộc lộ sự bế tắc của mình trong việc giải quyết những mâu thuẫn xã hội gay gắt diễn ra hàng ngày quanh ông. Ông nêu lên “tinh thần toàn thế giới” như một nguyên tắc tinh thần đạo đức vĩnh cửu chi phối toàn bộ cuộc sống của loài người. Trước khi viết Chiến tranh và hòa bình, Tolstoy đã luyện bút qua nhiều truyện về binh lính và truyện chiến đấu. Ông có mặt từ tháng Mười một năm 1854 đến tháng Tám năm 1855 tại Sevastopol tức là gần suốt thời gian cuộc chiến đấu anh hùng chống quân Anh, Pháp, Thổ trong cuộc chiến tranh Krym (1853-1856). Chính Tolstoy đã cùng binh sĩ chiến đấu dũng cảm tại pháo đài 4 “thần kỳ”. Mời các bạn đón đọc Chiến Tranh và Hòa Bình của tác giả Lev Tolstoy.
Thép Đã Tôi Thế Đấy - Nikolai Alexeevich Ostrovsky
Tên Ebook: Thép Đã Tôi Thế Đấy (full prc, epub) Tác giả: Nhi-Ca-Lai A-Xtơ-Rốp-Xki Thể Loại: Tiểu Thuyết, Sách Hay, Văn học Nga   Dịch giả: Thép Mới, Huy Vân   Nhà xuất bản: NXB văn học   Ebook: http://www.dtv-ebook.com   Ebook Thép Đã Tôi Thế Đấy full prc, epub Giới thiệu về nội dung:   “Thép đã tôi thế đấy” là cuốn tiểu thuyết do Nikolai Alexeev-ich Ostrovsky viết trong thời kỳ Stalin. Cuốn tiểu thuyết đã được dịch ra 70 thứ tiếng và in ra ở hơn 80 nước, trong đó có Việt Nam. Thép đã tôi thế đấy có một địa vị đặc biệt trong lịch sử văn học Liên Xô và nền văn học tiên tiến thế giới. Cách mạng tháng Mười thắng lợi, cuộc chiến đấu vĩ đại chưa từng có bao giờ của nhân dân lao động trên một dải đất Liên bang Xô Viết rộng lớn hàng ngày đề ra và đòi hỏi không biết bao nhiêu là anh hùng. Nhân dân Liên Xô, nhân loại tiến bộ chờ đợi văn học phản ánh và đào sâu cho mình hình ảnh con người anh hùng mới ấy. Lần đầu tiên trong văn học, N. A-xtơ-rốp-xki thu gọn được hình ảnh con người mới trong nhân vật Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin. Pa-ven không những khác hẳn với những anh hùng của các thời đại trước. Khác hẳn với những tác phẩm văn nghệ của những năm đầu cách mạng, thường ca ngợi lòng dũng cảm vô tổ chức, tả sức mạnh tràn trề, lớn khỏe của quần chúng như một sức mạnh bộc phát, tự nhiên. Thép đã tôi thế đấy cho ta thấy từng con người trong một quần chúng rộng lớn nẩy nở như thế nào, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Thép đã tôi thế đấy ghi lại cả một quá trình tôi thép, bước đường gian khổ trưởng thành của thế hệ thanh niên Xô viết đầu tiên.   Đọc Thép đã tôi thế đấy trước hết truyền cho chúng ta lòng ham sống và ham chiến đấu. Đấy là bản chất giai cấp của Pa-ven. Đấy là bản chất thanh niên của Pa-ven. Đấy là phẩm chất cách mạng mà Đảng và đấu tranh thực tế đã xây dựng cho anh. Không phải ngọn lửa rơm sốc nổi hay cái ngang tàng của chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Một tinh thần ham sống và ham chiến đấu có nghĩa lý nhất, có cơ sở nhất. Không gì mạnh bằng lòng tin tưởng của Pa-ven ở những mục đích chiến đấu của mình. Pa-ven say mê đem toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, hy sinh cá nhân của mình một cách nồng nhiệt lãng mạn, không bao giờ do dự, không hề tính toán, tất cả vì sự nghiệp giai cấp, vì hạnh phúc nhân loại. Không hiểu mục đích đấu tranh của Pa-ven, đảng tính đấu tranh của Pa-ven thì chỉ cảm thấy đời Paven đau khổ. Không, Paven không cảm thấy đau khổ, Pa-ven chỉ nghĩ đến khắc phục thống khổ. Pa-ven luôn luôn vui sướng vì anh luôn luôn đấu tranh và luôn luôn thắng lợi. Đó là chủ nghĩa lạc quan của Pa-ven. Đó là sức mạnh, đó là hạnh phúc của Pa-ven.   Thép đã tôi thế đấy là một khúc ca tươi đẹp của đời sống. Mỗi trang sách như cuốn thêm máu chảy trong người đọc, nâng cao thêm nhiệt tình cách mạng, thúc giục chiến đấu, thúc giục công tác. Thép đã tôi thế đấy giải quyết cho chúng ta nhiều vấn đề nhân sinh quan mới, dạy chúng ta biết yêu biết ghét một cách chính xác và sâu mạnh, khơi lên ở chúng ta những tình cảm lớn, xây dựng cho chúng ta một quan niệm về tình yêu trong sáng. Thép đã tôi thế đấy còn là một kho báu kinh nghiệm công tác cách mạng rất thực tế để nhìn cho sáng hơn nhiều vấn đề mới mà cuộc sống đề ra cho mỗi tập thể và mỗi con người, để thực hiện “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.   Mời bạn đón đọc Thép Đã Tôi Thế Đấy của tác giả Nhi Ca Lai A Xtơ Rốp Xki.