Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lời Cầu Hôn Mùa Đông (Devil in Winter) - Lisa Kleypas

Nói về series Wallflowers, thì điểm nổi bật nhất là cả dòng series này đều lấy bối cảnh nước Anh thời kỳ công tước hầu tước…. Series nói về mấy chị em bạn thân đến tuổi chống-lầy nên phải tham dự hết thảy vũ hội để tìm cơ hội vớ được một con mồi sáng giá. Dậm lên mặt hàng đống phấn, mặc áo nịt bụng chặt muốn lòi ruột, đóng giả một cô nàng yếu đuối,… Họ sử dụng hết mọi kế sách để thực hiện mục tiêu vàng: Lấy được một anh chồng. Mặc dù họ bị gán ghép vào vai Những bông hoa bên lề, trong số họ cũng có người gần ngưỡng bị đưa vào danh sách Ế, nhưng phải nói là mấy ” bà cô” này đều không phải hạng xoàng đâu nha. Không phải tất thảy họ đều thuộc hàng Mỹ nữ khuynh nước khuynh thành, nhưng ở họ có những nét đẹp mà hầu hết các cô gái ở buổi vũ hội không có để khi một chàng hầu tước vô tình bắt gặp nụ cười của một bông hoa đứng bên lề vũ hội lại ngẩn ngơ nhớ mãi. Không phải cô nào cũng bắt được con mồi sáng giá như ý định ban đầu của họ, có cô đau khổ khóc ròng vì từ vị trí đi săn chồng cô lại trở thành món ngon để cho con sói máu lạnh danh tiếng trác táng xơi tái…. *** Đôi nét về tác giả: Lisa Kleypas sinh năm 1964, là một trong những tác giả Mỹ nổi tiếng nhất của dòng tiểu thuyết lãng mạn lịch sử và đương đại. Năm 1985, sau khi tốt nghiệp trường Đại học Wellesley với tấm bằng cử nhân khoa học chính trị, Lisa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay. Cũng trong khoảng thời gian đó, cô đăng quang danh hiệu Hoa hậu bang Massachusetts và tham gia cuộc thi Hoa hậu Mỹ. Nhìn chung hầu hết tác phẩm của Lisa Kleypas đều có những kết thúc rất hậu, truyện của bà mang phong cách nhẹ nhàng là chính, tuy nhiên bà cũng theo đuổi dòng trinh thám một ít. Bà được xem là một trong những tác giả dòng lãng mạng có những cuốn sách bán chạy nhất, tác phẩm của bà được bán trên toàn thế giới và dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Các tác phẩm của cô đã được dịch sang 14 thứ tiếng, nằm trong danh sách bán chạy trên toàn thế giới và đem lại cho cô rất nhiều giải thưởng. Hiện cô đang sống ở Washington cùng chồng và hai con. Bộ Wallflowers gồm có: - Again The Magic - Bí mật Đêm hè - Chuyện Xảy ra giữa Mùa Thu - Lời Cầu Hôn Mùa Đông (Devil in Winter) - Scandal in Spring - A wallflower christmas *** Luân Đôn, 1843 Sebastien, Lord St. Vincent, nhìn chăm chú vào người phụ nữ trẻ vừa mới đột nhập vào cơ ngơi của anh ở Luân Đôn, và nhận ra có lẽ mình đã thực hiện một cố gắng vô ích vào tuần trước tại điền trang Stony Cross Park khi bắt cóc nhầm nữ thừa kế. Mặc dù cho đến gần đây, bắt cóc không nằm trong danh sách dài thườn thượt những hành vi xấu xa đặc trưng của Sebastien, lẽ ra anh phải khôn ngoan hơn thế. Xem xét kỹ, Lillian Bowman là một lựa chọn ngu ngốc, tuy vào lúc đó cô ta có vẻ là đáp án hoàn hảo cho vấn đề nan giải của Sebastian. Gia đình cô ta giàu có, trong khi Sebastian có tước danh và đang trong tình trạng eo hẹp tài chính. Hơn nữa Lillian hứa hẹn sẽ là một đối tác thú vị trong phòng ngủ, với vẻ đẹp của mái tóc đen nhánh và tính khí sôi nổi, nồng nhiệt. Anh lẽ ra nên chọn một con mồi ít khí thế hơn. Lillian Bowman, một nữ thừa kế người Mĩ mạnh mẽ, đã kịch liệt chống lại những kế hoạch của anh cho đến khi được giải cứu bởi vị hôn phu của cô ta, Ngài Westcliff. Jenner, một sinh vật như con cừu non đang đứng trước mặt anh đây, hoàn toàn không hề giống với Lillian Bowman. Sebastian nhìn nàng với một sự khinh miệt được che dấu, cân nhắc về những gì mà anh biết về nàng. Evangeline là đứa con duy nhất của Ivo Jenner, người sở hữu sòng bạc nổi tiếng ở Luân Đôn, và một người mẹ đã bỏ trốn cùng ông ta—chỉ để nhanh chóng nhận ra sai lầm của mình. Mặc dù mẹ của Evangeline đến từ dòng dõi đoan chính, cha nàng lại còn hơn cả một kẻ cặn bã đáng khinh. Tuy phả hệ của nàng chẳng có gì vẻ vang, Evangeline có thể trở thành một sự kết hợp kha khá nếu không kể đến cái tính bẽn lẽn khập khiễng của nàng, với hậu quả là việc nói lắp bắp tra tấn người khác. Sebastian đã nghe những người đàn ông rất nghiêm túc nói rằng họ thà mặc một cái áo sơ-mi đầy gai cho đến khi da họ rướm máu còn hơn là cố trò chuyện với nàng. Thế là theo lẽ tự nhiên, Sebastian đã cố gắng hết sức để làm ngơ nàng mọi lúc có thể. Việc đó chẳng có khó khăn gì. Nàng Jenner cả thẹn có thói quen trốn trong góc phòng. Họ chưa bao giờ thật sự trò chuyện trực tiếp với nhau—một hoàn cảnh rất phù hợp với cả hai người họ. Nhưng giờ thì chẳng thể nào ngó lơ nàng được. Vì lí do nào đó Miss Jenner đã thấy phù hợp trong việc không mời mà đến tại ngôi nhà của Sebastian vào một giờ khuya khoắt khiếm nhã. Để khiến cho hoàn cảnh gây tổn hại hơn, nàng còn không có người đi kèm—và trải qua hơn nửa phút một mình với Sebastian đã đủ để huỷ hoại bất cứ cô gái nào. Anh sống sa đoạ, không có ý thức về luân lý, và tự hào một cách ngang ngạnh về điều đó. Anh xuất sắc trong những việc mình đã lựa chọn—việc của một kẻ quyến rũ suy đồi—và anh đã lập ra một chuẩn mực mà rất ít kẻ trác táng nào khác có thể theo kịp. Thả lỏng người dựa vào ghế, Sebastian quan sát Evangeline Jenner tiến tới bằng một vẻ uể oải đánh lừa. Căn phòng thư viện khuất trong bóng tối chỉ trừ một ngọn lửa nhỏ trong lò sưởi, ánh sáng lung linh nhẹ bập bùng trên gương mặt nàng. Nàng trông không nhiều hơn hai mươi tuổi, nước da tươi tắn, đôi mắt nàng tràn đầy nét trong sáng không bao giờ thất bại trong việc khơi dậy sự khinh miệt của anh. Sebastian chưa bao giờ xem trọng hay ngưỡng mộ sự ngây thơ. Tuy với tư cách là một quý ông buộc anh phải đứng lên khỏi ghế, anh lại thấy chẳng có lí do gì phải thể hiện cử chỉ lịch sự trong hoàn cảnh này. Thay vào đó, anh ra hiệu về chiếc ghế khác ở bên cạnh lò sưởi với cái vẫy tay lơ đễnh. “Cứ ngồi nếu cô thích,” anh nói. “Mặc dù tôi sẽ không lên kế hoạch ở lại lâu nếu tôi là cô. Tôi rất dễ bị nhàm chán, và tiếng tăm của cô thì không phải là của một người trò chuyện sắc sảo.” Evangeline không cau mày vì sự thô lỗ của anh. Sebastian không thể không tự hỏi kiểu giáo dục nào lại làm cho nàng hoàn toàn quen thuộc với việc bị xúc phạm, trong khi bất cứ cô gái nào khác cũng sẽ đỏ mặt và rưng rưng nước mắt. Hoặc nàng là một cây đậu hóm hỉnh, hoặc nàng có thần kinh vững vàng đáng nể. Cởi bỏ áo khoác ngoài, Evangeline vắt nó lên một cánh tay vịn của chiếc ghế bọc nhung, và ngồi xuống mà không tỏ vẻ duyên dáng hay giả tạo. Hoa-bên-lề, Sebastian nghĩ, nhớ lại rằng nàng không chỉ là bạn của Lillian Bowman, nhưng còn là bạn của cả em gái Lillian: Daisy, và Annabelle Hunt. Cả nhóm bộ tứ đã ngồi ngoài rìa của rất nhiều vũ hội và dạ tiệc vào mùa hội vừa qua, một băng những hoa-bên-lề đến cuối đời. Nhưng có vẻ như vận xui của họ đã thay đổi, bởi vì Annabelle cuối cùng đã có thể chộp được một người chồng, và Lillian thì chỉ vừa bới được Ngài Wescliffe. Sebastian nghi ngờ may mắn của họ sẽ lan truyền đến con người vụng về này.  Mặc dù anh rất muốn hỏi về mục đích của nàng đến viếng thăm, Sebastian e là điều đó sẽ khởi đầu một hiệp của những tràng lắp bắp tra tấn cả hai người họ. Anh buộc mình phải kiên nhẫn chờ đợi, Sebastian quan sát nàng trong ánh sáng nhảy nhót của lò sưởi, và khá ngạc nhiên khi nhận ra nàng thu hút. Anh chưa bao giờ thật sự nhìn thẳng vào nàng. Anh chỉ có cảm giác thoáng qua về một cô gái tóc đỏ vụng về nhếch nhác với dáng điệu kém cỏi. Nhưng nàng lại xinh xắn. Khi Sebastian chăm chú quan sát nàng, anh ý thức được một sự căng thẳng nhẹ đang hình thành trong các thớ thịt của mình, những sợi lông nhỏ đang dựng đứng lên sau cổ anh. Anh vẫn ngồi thả lỏng trên ghế, tuy vậy, những đầu ngón tay anh hơi ấn vào tấm khăn nhung trải bàn. Anh thấy thật lạ là mình chưa bao giờ nhận thấy nàng trong khi có rất nhiều thứ đáng để nhận thấy. Tóc nàng có một sắc đỏ tươi thắm nhất mà anh từng được chiêm ngưỡng, nó dường như hấp thụ sức sống từ ngọn lửa, sáng bừng lên với luồng hơi nóng rực rỡ. Vòm cong mảnh mai của lông mày và đôi mi dày có màu nâu đỏ đậm, trong khi làn da nàng là của một người tóc đỏ thật sự, trắng và hơi có tí tàn nhang trên mũi và hai gò má. Sebastian thấy những nốt tàn nhang ánh vàng trải rộng như pháo hoa mùa lễ hội thật thú vị, lác đác như thể được phất ra từ cây đũa thần của một nàng tiên thân thiện. Nàng có đôi môi mọng với sắc hồng tự nhiên, và đôi mắt xanh lam to, tròn...tuyệt đẹp nhưng là đôi mắt vô cảm, như đôi mắt của một con búp bê bằng sáp. “Tôi nh-nhận được tin rằng bạn tôi, Cô Bowman giờ đã là Nữ bá tước Westcliffe,” Evangeline nói với một thái độ cẩn trọng. “Cô ấy và ngài bá tước đã kết hôn ở Gr-Gretna Green sau khi ngài ấy...giải quyết ngài.” “Đánh tôi thành một cục bột nhão thì sẽ là một lựa chọn từ ngữ chính xác hơn,” Sebastian nói thoải mái, biết rằng nàng không thể không nhận thấy những vết bầm đã nhạt màu trên quai hàm anh từ trận đòn thích đáng của Westcliffe. “Cậu ấy có vẻ không chấp nhận chuyện đó tốt lắm, việc tôi mượn vị hôn thê của cậu ấy.” “Ngài b-bắt cóc cô ấy,” Evangeline điềm tĩnh phản bác. “Mượn ám chỉ rằng ngài có ý định trả cô ấy lại.” Sebastian cảm thấy môi anh cong lên trong một nụ cười thật sự đầu tiên sau một khoảng thời gian dài. Nàng không phải là một kẻ ngốc nghếch, rõ ràng rồi. “Bắt cóc vậy, nếu cô muốn cụ thể hơn. Có phải đó là lí do mà cô đến thăm không, Cô Jenner? Để thông báo tin tức về cặp đôi hạnh phúc đó à? Tôi mệt mỏi vì chủ đề này rồi. Tốt hơn là cô nên sớm nói điều gì đó thú vị, nếu không tôi e là cô sẽ phải rời đi.” “Ngài m-muốn Cô Bowman vì cô ấy là một người thừa kế gia tài,” Evangeline nói. “Và ngài cần phải kết hôn với ai đó có tiền.” “Đúng vậy,” Sebastian thoải mái thừa nhận. “Cha tôi, ngài công tước, đã không thành công trong trách nhiệm duy nhất của đời mình: giữ cho gia sản bất khả xâm phạm để có thể truyền lại cho tôi. Mặt khác, trách nhiệm của tôi lại là sống thảnh thơi trong sự lười biếng phóng đãng và chờ cho ông ấy chết. Cho đến nay tôi đã thực hiện công việc của mình rất xuất sắc. Ngược lại, tước công thì lại không. Ông đã làm hỏng việc sắp xếp các khoản tài chính của gia đình, và hiện tại ông ấy đang ở trong tình trạng nghèo khó không thể tha thứ được, và còn đáng trách hơn, lại rất khỏe mạnh.” “Cha tôi giàu có,” Evangeline nói không có chút cảm xúc. “Và đang hấp hối.” “Chúc mừng cô,” Sebastian ngắm kĩ nàng. Anh không nghi ngờ Ivo Jenner có một gia sản đáng kể từ câu lạc bộ của ông ta. Sòng bạc Jenner’s là nơi những đức ông của Luân Đôn đến đánh bạc, thưởng thức đồ ăn ngon, rượu mạnh, và gái điếm rẻ tiền. Không gian nơi đó là sự phung phí pha lẫn với một mức độ xoàng xĩnh dễ chịu. Gần hai mươi năm trước, Jenner’s đã được xếp hạng thứ hai sau Craven’s huyền thoại - sòng bạc lớn nhất và thành công nhất nước Anh. Mặc dù vậy, khi Craven’s bị thiêu rụi và người sở hữu nó không cho xây dựng lại, câu lạc bộ Jenner’s đã thừa hưởng những khách hàng giàu có, và đã đứng lên vị trí dẫn đầu. Không phải là nó có thể được so sánh với Craven’s. Một câu lạc bộ phản ánh rất nhiều về cá tính và phong cách của người sở hữu nó, cả hai thứ đó Jenner đều thiếu sót. Derek Craven, không phải bàn cãi, từng là một người đàn ông của công chúng. Ivo Jenner, ngược lại, là một gã thô lỗ cơ bắp, một cựu đấm bốc thủ chưa bao giờ xuất sắc ở bất cứ thứ gì, nhưng bởi một sự sắp đặt thần kì nào đó của định mệnh đã trở thành một người đàn ông kinh doanh thành đạt.  Và đây là con gái của Jenner, đứa con duy nhất của ông ta. Nếu nàng đang sắp đưa ra lời đề nghị đúng như Sebastian nghĩ, thì anh không có đủ khả năng để từ chối. “Tôi không muốn những l-lời chúc tụng của ngài,” Evangeline trả lời câu nhận xét trước đó của anh. “Cô muốn gì, bé con?” Sebastian hỏi dịu dàng. “Nếu cô vui lòng, hãy nói vào vấn đề chính đi. Chuyện này đang trở nên chán ngắt.” “Tôi muốn ở bên cha tôi trong những ngày c-cuối đời của ông. Gia đình bên mẹ tôi không cho tôi đến gặp ông. Tôi đã cố bỏ trốn đến câu lạc bộ, nhưng họ luôn luôn bắt được tôi, và rồi tôi bị trừng phạt. Lần này thì tôi s-sẽ không trở lại với họ. Họ đã lên một kế hoạch mà tôi muốn tránh bằng mọi giá—kể cả bằng mạng sống của mình, nếu cần thiết.” “Và kế hoạch đó là?” Sebastian uể oải giục. “Họ đang cố ép tôi kết hôn với một trong những người anh họ của tôi. Mr. Eustace Stubbins. Anh ta c-chẳng quan tâm gì đến tôi, mà tôi cũng không quan tâm gì đến anh ta...nhưng anh ta tình nguyện làm một con tốt trong âm mưu của gia đình tôi.” “Để nắm giữ gia sản của cha cô trong tay sau khi ông ta chết?” “Vâng. Lúc đầu tôi đã xem xét ý tưởng đó, bởi vì tôi nghĩ Anh Stubbins và tôi có thể có ngôi nhà của riêng mình...và tôi đã nghĩ...cuộc sống có thể chịu đựng được nếu tôi có thể sống xa bọn họ. Nhưng Anh Stubbins đã nói với tôi rằng anh ta không có ý định chuyển đi đâu cả. Anh ta muốn ở lại dưới mái nhà của gia đình...và tôi không nghĩ là tôi có thể sống sót ở nơi đó lâu hơn nữa.” Đối mặt với sự im lặng có vẻ thờ ơ của anh, nàng lặng lẽ nói thêm, “Tôi tin là họ có ý g-giết tôi sau khi đã có được tiền của cha tôi.” Ánh mắt Sebastian không rời khỏi khuôn mặt nàng, anh giữ cho giọng mình nhẹ nhàng. “Họ mới khinh suất làm sao. Tại sao tôi lại phải quan tâm?” Evangeline không rơi vào bẫy của anh, chỉ hướng về anh cái nhìn chăm chăm điềm tĩnh, thể hiện tính ngoan cố bẩm sinh mà Sebastian chưa bao giờ gặp ở một phụ nữ trước đây. “Tôi đang đề nghị ngài kết hôn với tôi,” nàng nói. “Tôi muốn có sự bảo vệ của ngài. Cha tôi bệnh quá nặng và quá yếu để có thể giúp tôi, và tôi sẽ không trở thành một gánh nặng cho bạn bè của mình. Tôi tin là họ sẽ đề nghị cho tôi ẩn náu, nhưng nếu được như thế tôi cũng sẽ luôn luôn phải đề phòng, lo sợ những người họ hàng có thể bắt tôi đi và buột tôi làm theo ý họ. Một phụ nữ chưa kết hôn có rất ít quyền lợi, cả trong xã hội và trước pháp luật. Điều đó không c-công bằng...nhưng tôi không đủ khả năng để đi đánh nhau với những cối xay gió. Tôi cần một ng-người chồng. Ngài cần một người vợ giàu có. Và chúng ta đều tuyệt vọng như nhau, điều đó khiến tôi tin rằng ngài sẽ đồng ý với lời đ-đề nghị của tôi. Nếu như vậy, thì tôi sẽ muốn đến Gretna Green ngay tối nay. Ngay bây giờ. Tôi chắc là lúc này những người họ hàng của tôi đã bắt đầu tìm kiếm rồi.” Sự tĩnh lặng nặng nề ngập trong không trung khi Sebastian đánh giá nàng với một cái nhìn thiếu thiện cảm. Anh không tin tưởng nàng. Và sau cuộc bắt cóc thất bại tuần trước, anh không có ý định lặp lại kinh nghiệm đó lần nữa. Dù vậy, nàng vẫn đúng về một điều. Sebastian thật sự đang tuyệt vọng. Như những người chủ nợ sẽ thừa nhận, anh là một người đàn ông thích mặc quần áo sang trọng, ăn uống ngon lành, điều kiện sống tốt. Khoản trợ cấp hàng tháng mà anh nhận được từ công tước sẽ sớm bị cắt giảm, và chỉ mới tháng trước anh còn không có đủ tiền trong tài khoản. Đối với một người đàn ông không có sự phản đối nào với việc chọn lựa con đường dễ dàng, lời đề nghị này đúng là của trời cho. Nếu nàng thật sự sẵn sàng thực hiện nó. “Của được cho thì không nên kén chọn,” Sebastian nói thẳng thừng, “nhưng cha cô đang hấp hối đến mức nào? Một vài người còn lê lết nhiều năm trên giường bệnh của mình. Tôi luôn nghĩ đó là một phong cách rất tệ, khi khiến cho mọi người phải chờ đợi.” “Ngài sẽ không phải đợi lâu,” là câu trả lời nổi cáu của nàng. “Tôi đã được bảo là ông sẽ chết trong khoảng hai tuần nữa, có lẽ vậy.” “Có gì chắc chắn là cô sẽ không thay đổi ý định trước khi chúng ta đến được Gretna Green không? Cô biết tôi là loại người nào rồi đấy, Cô Jenner. Có cần tôi nhắc nhở cô rằng tôi đã cố gắng bắt cóc và cưỡng hiếp một trong những người bạn của cô vào tuần trước?” Cái nhìn của Evangeline hướng thẳng về phía anh. Không giống như đôi mắt anh, với một sắc lam nhạt, mắt của nàng là những viên ngọc saphire xanh thẫm. “Ngài có cố cưỡng hiếp Lillian không?” nàng căng thẳng. “Tôi đã đe dọa như thế.” “Ngài sẽ thực hiện lời đe dọa đó chứ?” “Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ bị buột phải làm thế trước đây, nhưng như cô đã nói, tôi đang tuyệt vọng. Và trong khi chúng ta đang nói về chuyện này...có phải cô đang đề nghị một hôn nhân vì lợi ích, hay chúng ta sẽ ngủ với nhau trong vài dịp?” Evangeline làm ngơ câu hỏi đó, vẫn dai dẳng. “Liệu ngài có e-ép buộc cô ấy hay không?” Sebastian nhìn nàng chằm chằm với vẻ châm biếm hiển nhiên. “Nếu tôi nói không, Cô Jenner, thì làm sao mà cô biết tôi có nói dối hay không? Không. Tôi sẽ không cưỡng hiếp cô ấy. Câu trả lời này có phải là thứ cô muốn? Cứ tin nó đi vậy, nếu nó khiến cô thấy an toàn hơn. Giờ, với câu hỏi của tôi...” “Tôi sẽ ng-ngủ với ngài một lần thôi,” nàng nói, “để khiến cho hôn nhân này hợp pháp. Không bao giờ có lần sau đó.” “Tuyệt thật,” anh thì thầm. “Rất hiếm khi tôi lại thích ngủ với một phụ nữ nhiều hơn một lần. Đúng là sự nhàm chán cấp tốc, sau khi điều mới lạ đã ra đi. Hơn nữa, tôi sẽ không bao giờ làm một kẻ trưởng giả và đi thèm muốn vợ mình. Mà đã thèm muốn vợ thì có nghĩa là sẽ không được giữ một người tình. Tất nhiên là còn có vấn đề phải sinh cho tôi một người kế vị...nhưng chừng nào mà cô còn kín đáo, tôi không quan tâm cái đếch gì nó là con của ai.” Nàng còn không hề chớp mắt. “Tôi sẽ muốn một p-phần trong di sản được để lại cho tôi qua một ủy thác. Một ủy thác rộng rãi. Khoản lợi nhuận sẽ chỉ của riêng tôi mà thôi, và tôi sẽ sử dụng nó theo ý của mình-mà không phải báo cáo cho ngài về mọi việc tôi làm.” Sebastian giờ đã hiểu rằng nàng không hề ngốc nghếch, mặc dù tật nói lắp sẽ khiến cho nhiều người nghĩ khác. Nàng đã quen với việc bị xem thường, bị ngó lơ, bị bỏ qua một bên...và anh đoán chừng nàng sẽ lấy điều đó làm lợi thế cho mình bất cứ khi nào có thể. Việc này khiến anh thích thú. “Tôi phải là một kẻ ngốc mới tin tưởng cô,” anh nói. “Cô có thể quay lưng lại với thỏa thuận của chúng ta vào bất cứ lúc nào. Và cô phải là một kẻ ngu ngốc hơn nữa mới đi tin tôi. Bởi vì một khi chúng ta đã kết hôn, tôi có thể còn xử tệ với cô hơn cả những gì gia đình phía mẹ cô có bao giờ mơ tới.” “T-thà rằng đó là một người tôi chọn,” nàng đáp lại nghiêm nghị. “Là ngài thì tốt hơn là Eustace.” Sebastian phì cười vì điều đó. “Câu đó không nói lên nhiều điều tốt về Eustace lắm.” Nàng không đáp trả lại nụ cười của anh, chỉ hơi sụm người trên ghế, như thể một sự căng thẳng nặng nề đã rời bỏ nàng, và nhìn anh chằm chằm với một vẻ yên phận cam chịu.    Ánh mắt họ gặp nhau, và Sebastian cảm thấy một cú sốc nhận thức kì lạ chảy rần rật từ đầu đến chân. Với anh, việc bị một phụ nữ kích thích chẳng có gì mới mẻ. Từ lâu anh đã nhận ra mình là một người đàn ông thiên về thể xác hơn những người khác, và rằng một vài phụ nữ nhen nhóm ngọn lửa trong anh, thổi bùng lên khát vọng đến một mức độ bất bình thường. Không hiểu vì sao cô gái vụng về, nói lắp bắp này lại là một trong số họ. Anh muốn ngủ với nàng. Những hình ảnh vụt hiện lên từ trong trí tưởng tượng xáo động của anh, về cơ thể nàng, về những đường cong và làn da mà anh còn chưa được nhìn thấy, sự căng tròn của mông nàng khi anh khum nó trong hai bàn tay. Anh muốn hương thơm của nàng tràn vào mũi, thấm vào da anh...mái tóc dài của nàng lướt qua cổ và ngực anh...Anh muốn làm những điều không thể nói nên lời với miệng nàng, và với miệng anh. “Vậy điều đó đã được quyết định,” anh thì thầm. “Tôi chấp nhận lời đề nghị của cô. Còn rất nhiều thứ phải bàn, tất nhiên, nhưng chúng ta sẽ có hai ngày cho đến khi đến được Gretna Green.” Anh đứng lên từ chiếc ghế và vươn vai, nụ cười của anh phảng phất khi anh nhận thấy ánh mắt của nàng lướt nhanh khắp người anh. “Tôi sẽ cho chuẩn bị xe ngựa và bảo người hầu thu xếp hành lý. Chúng ta sẽ đi trong khoảng một tiếng nữa. Tiện đây, nếu cô có quyết định rút lại thỏa thuận bất cứ lúc nào trong chuyến hành trình của chúng ta, tôi sẽ thắt cổ cô.” Nàng liếc anh vẻ chế giễu. “Ngài sẽ không phải quá căng thẳng về điều đó nếu ngài đã không thử làm thế với một nạn nhân miễn cưỡng vào t-tuần trước.” “Nói hay lắm. Vậy chúng ta có thể miêu tả cô như một nạn nhân tình nguyện?” “Một nạn nhân hăng hái,” Evangeline nói ngắn gọn, trông như thể nàng muốn rời khỏi ngay lập tức. “Kiểu yêu thích nhất của tôi,” anh nhận xét, và cúi người lịch sự trước khi anh sải bước rời khỏi thư viện.  ... Mời các bạn đón đọc tập mở đầu của bộ sách Wallflowers: Devil in Winter của tác giả Lisa Kleypas.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cỏ - Claude Simon
Với Cỏ, sự phân hóa không mang tính tổng thể quy mô như ở Con đường Flandres mà xuất hiện trong cái thường nhật gần gũi của cuộc đời. Một bà lão 84 tuổi, đúng hơn là một cô gái già, nằm chờ chết trong một gian phòng tối tăm lạnh lẽo toát mùi nước Cologne rẻ tiền và mùi hoa tàn úa quen thuộc. Bà lão đợi chết, đang chết, bận bịu với cái chết, tập trung vào cái chết trong cô đơn, ngạo nghễ, cho dù bà không hay biết gì nữa, không nói năng, không cử động. Bà không còn ai để khóc cho mình ngoài người em trai, có lẽ, cũng đã già với tấm thân nặng nề in đậm dấu ấn thời gian. Đó là một cái chết bình thường của một người con hình thường đã sống một cuộc đời đơn điệu trong sự cần cù, giản dị, đượm phần khắc khổ, đạo hạnh. Qua những hồi tưởng miên man, đứt đoạn của Louise, người cháu dâu, đó là một người con có hiếu, một người chị hết lòng với em, đã giúp em thực hiện giấc mơ của người cha mù chữ suốt đời còng lưng trên mảnh đất: trở nên người có học thức và mang học thức của mình truyền thụ cho kẻ khác. Kết quả là người em đã trớ thành một giáo sư đại học, đã lập gia đình, có con, có dâu, nói chung có một địa vị xã hội đáng kể trong khi người chị gương mẫu kia vẫn một đời sống ở tỉnh lẻ với nghề giáo viên khiêm tốn. Những giờ phút hấp hối của người cô chồng là dịp để Louise ôn lại, ráp lại những mảnh vụn làm nên một số phận, đó cũng là thời gian của tấn bi kịch riêng nơi nàng: ý định cùng người yêu về sống tại một thành phố lạ và quá trình gãy đổ của nó, tất cả diễn ra âm thầm nhưng khốc liệt làm sao! Có thể nói, nhân vật trung tâm ở đây là thời gian, thời gian chi phối tất cả, hiện thân nơi tất cả: từ sự nảy nở và mục rữa của hoa trái đến tiếng mưa rơi, tiếng nước róc rách qua những đồng có, những cánh rừng, những thung lũng… Ðặc biệt sự tàn phá của nó nơi thân xác con người có lẽ khóc liệt hơn cả: thân xác bị gặm mòn bởi từng khoảnh khắc trôi qua của bà lão, thân xác biến dạng vì tuổi tác của người em trai, thân xác xấu xí núp sau những trang phục loè loẹt, giả tạo của bà vợ…: con người “chứng kiến sự tan rã của mình ngay khi còn sống”. Qua lần vách ngăn, Louise đã theo dõi tấm bi hài kịch của đôi vợ chồng già, từ cơn ghen ấp ủ suốt 40 năm của người vợ tới cuộc giằng co xô xát vừa thô bạo vừa tha thiết, tội nghiệp của hai người, trong đó có tiếng khóc, tiếng vỗ về..., đó phải chăng là cố gắng sau cùng của sự sống chống lại ám ảnh của cái chết? Nhưng đó là một cố gắng vô vọng, một cách nào đó lừa dối chính mình. Còn Louise? Cái chết của người cô chồng, người duy nhất trong gia đình nàng có cảm tình, là con dao cắt đứt mọi ràng buộc giữa nàng với nhà chồng: “Giờ đây cô sắp chết, vậy chẳng còn gì nữa”. Nàng sẽ làm lại cuộc đời tại một thành phố với người yêu, điều lẽ ra nàng phải thực hiện từ lâu. Nhưng tại sao nàng trù trừ, không dứt khoát khi ý đồ đã có cơ hội thực hiện? Nàng trù trừ không phải vì hối hận mà có lẽ vì chính tâm hồn nàng cũng rã rời, mệt mỏi, bị nhiễm độc bởi bầu không khí nồng nặc mùi vị của cái chết, của sự băng hoại ở chung quanh, ở sát kề bên thân thể. Nàng không giải thích hay không thể giải thích được. Nàng nghĩ: “Mình đã chết”, và ý nghĩ đó vang vọng trong nàng như một điệp khúc lạnh lùng, ghê rợn. Trước lời hẹn hò của người yêu về chuyến đi, nàng chỉ buông những tiếng “vâng, dạ…” hững hờ và rỗng tuếch. Và nàng biết nàng sẽ không tới, đồng thời cũng biết chàng biết rõ điều đó, và chính chàng cũng sẽ không tới. Nàng tự hỏi tất cả phải chăng chỉ là một sự dối trá, tự đánh lừa? Nói khác đi, tình yêu ở đây cũng chỉ là một sự thất bại thấy trước, như tình yêu giữa nàng và Georges, giữa đôi vợ chồng già kia (bố mẹ chồng của nàng). Khi xem một tấm ảnh cũ rơi ra từ mớ kỷ vật của người đang hấp hối, Louise đã tưởng tượng một cuộc tình nên thơ trong sáng nhưng bất thành của cô gái già trọn đời sống độc thân. Đó là một hình ảnh đẹp hiếm thấy về tình yêu trên những trang sách của Claude Simon: một cái gì gần như không có trong hiện thực.   Cũng như hầu hết các tác phẩm khác, Cỏ có bối cảnh làm nền là chiến tranh, ở đây là giai đoạn đen tối của nước Pháp năm 40. Claude Simon luôn trở về với chiến tranh như một bi kịch lớn của lịch sử cuốn hút những thân phận riêng lẻ, bé nhỏ. Điều này giải thích phần nào cái nhìn bi quan về con người trong một thế giới đổ vỡ, băng hoại, trong đó mọi cố gắng đều vô ích khi nó chỉ còn một đặc quyền là tan biến vào hư vô, “đặc quyền chết”. Ở đây, một phần nào, Claude Simon là người tiếp nối trào lưu triết học và văn học hiện sinh trước đó với Heidegger, Sartre, Camus… Trong bối cảnh của một thế giới hao hụt, tàn lụi như thế, con người nhận ra sự tha hóa của mình, nhận ra sự hiện diện của mình chỉ là một sự vô nghĩa (non - sens). Nó chỉ còn cách buông xuôi, thỏa hiệp với chính sự thất bại của mình, một lần cho tất cả. Nhưng đó không phải là giải pháp mà là sự bế tắc của mọi giải pháp.   Thể hiện một sự tan rã mang tính tổng thể nói trên đòi hỏi một thủ pháp nghệ thuật, một chất liệu ngôn từ tương xứng. Ta biết rằng điều cốt yếu ở Claude Simon không phải là kể một câu chuyện có đầu có đuôi với tình tiết, diễn biến hợp lý. Ông thường phá hủy trình tự thời gian và làm đảo lộn tất cả: thời gian chỉ còn là những mảnh vụn chất chồng hỗn độn lên nhau. Thời gian con người đã sống qua, khi tái hiện đã không còn là nó nữa. Nhà văn tìm kiếm một thời gian khác, bằng chữ viết của mình. Thật không ngoa khi nói rằng mỗi tác phẩm của ông chỉ là sự dàn trải của một câu văn duy nhất, không khởi đầu, không kết thúc, nó đứt đoạn và không ngừng sinh sôi nảy nở, nó bất chấp mọi qui luật và trật tự thường tình, nó mặc tình rong chơi giữa cái thực và cái hư, hiện tại và quá khứ. Viết là chất chồng những chữ, trong đó một chữ làm nẩy sinh một câu, một câu làm nẩy sinh một câu khác, một trang sách và cả một quyển sách trong cuộc vận hành liên tục, bất tận với những độc thoại nội tâm, những hồi tưởng, những mơ tưởng chen vào những mô tả, kể lể..., tất cả lẫn lộn vào nhau, tạo thành một tổng thể ở dạng nguyên sinh, và người đọc sẽ nhận ra ở đó một ý nghĩa, đúng hơn, chính cái tổng thể rối rắm phức tạp đó - một bức thảm muôn màu – tự nó hình thành một ý nghĩa sẽ được người đọc cảm nhận theo cái cách của mình. Với ông đề tài thực của tiểu thuyết chính là cuốn tiểu thuyết đang hình thành dưới ngòi bút nhà văn, dưới con mắt người đọc. Người đọc không còn bình yên trong cuộc hành trình hứa hẹn nhiều bất trắc cũng như chính nhà văn, qua những hình tượng những ngôn từ ngổn ngang kia cũng không ngớt dò dẫm, lắng nghe, kiếm tìm. Con đường vùng Flandres kết thúc, thật ra không có gì kết thúc ở đây: tác giả bỏ lửng nhân vật của mình trong trạng thái hoài nghi, mơ hồ (về chính những gì đã trải qua, nhớ lại). Cuộc phiêu lưu của Louise trong Cỏ kết thúc trong trạng thái lững lờ (sự chối từ ở đây không phải là một chọn lựa mà là một cách buông xuôi), khi nàng ngã người lên thảm cỏ, thân thể như tan lẫn vào cành lá, đất cát, khí trời, vào niềm yên ả của đêm thâu (la paix nocturne). *** Claude Eugène-Henri Simon (10 tháng 10 năm 1913 – 6 tháng 7 năm 2005) là nhà văn Pháp đoạt giải Nobel Văn học năm 1985.   Claude Simon sinh ở Antananarivo, Madagascar, là con trai của một sĩ quan đã hy sinh khi Thế chiến thứ nhất mới bắt đầu. Cùng với mẹ và ông bà ngoại, Simon về Perpignan (Pháp) và bắt đầu đi học. Simon tốt nghiệp trường trung học Stanislas ở Paris, sau học ở Đại học Oxford và Đại học Cambridge (Anh). Ông mơ trở thành họa sĩ nhưng phải từ bỏ ý định này sau một thời gian theo học hội họa và quay sang viết văn.   Năm 1936, Claude Simon sang Barcelona tham gia đội quân tình nguyện quốc tế chiến đấu chống lại tướng Francisco Franco. Trong Thế chiến thứ hai, ông chiến đấu trên nhiều mặt trận và bị quân Đức bắt làm tù binh năm 1940. Sau khi trốn thoát khỏi trại tù binh, Simon trở về tham gia phong trào Kháng chiến ở thị trấn Perpignan.   Thành công đầu tiên trong văn học của Claude Simon đến vào năm 1945 sau khi xuất bản tiểu thuyết Le tricheur (Kẻ lừa đảo). Tác phẩm thời kì này viết theo lối trần thuật truyền thống, chịu ảnh hưởng của Fyodor Mikhailovich Dostoevsky, William Faulkner, Marcel Proust và triết học chủ nghĩa hiện sinh.   Từ giữa thập niên 1950 trở đi Claude Simon bắt đầu tìm tòi, đặt khởi đầu cho trào lưu Tiểu thuyết mới với đặc trưng là cốt truyện “hiện thực” trở thành thứ yếu, còn trung tâm chuyện kể là những miêu tả và các hình tượng không kết gắn với nhau về mặt thời gian, tất cả các cảm xúc đồng hiện trên một bình diện như trên một bức tranh. Năm 1960 Simon kí tên vào “Tuyên ngôn 121” của các trí thức Pháp ủng hộ phong trào đòi độc lập cho Algérie. Tiểu thuyết La route de Flandres (Những con đường xứ Flandres) cũng được xuất bản vào năm này đã mang lại cho ông giải thưởng của tạp chí Express năm 1961. Có thể nhận thấy trong tác phẩm này sự đứt đoạn giữa các sự kiện và ngôn ngữ mô tả chúng - một kĩ thuật mới trong phong cách tiểu thuyết - thể hiện kiếp người vô nghĩa, những đoạn đời không lối thoát, hoặc chỉ dẫn đến cái chết mà thôi. Tiểu thuyết Histoire (Lịch sử, 1967) được trao giải thưởng Meditri. Năm 1973 ông được phong học vị danh dự của Đại học Miền Đông nước Anh.   Từ thập niên 1980, Claude Simon trở về quê Perpignan, vừa viết văn vừa trồng nho. Với tiểu thuyết Les Géorgiques (Đồng nội, 1981), Simon bắt đầu xa rời phong cách thử nghiệm trong các cuốn sách trước đây của ông. Năm 1985 Simon được trao giải Nobel vì “sự kết hợp trong sáng tác của ông các nguyên tắc của thơ và hội họa”, vì “nhận thức sâu sắc về vai trò của thời gian trong mô tả con người”.   Năm 1989, nhà văn 76 tuổi cho ra đời tiểu thuyết L'acacia (Cây keo hoang) được đánh giá cao; cùng với Les Géorgiques là hai tác phẩm tự thuật độc đáo, trong đó lịch sử và hư cấu, quá khứ và hiện tại đan quyện vào nhau trong một hình thức kể chuyện vừa hư vừa thực. Claude Simon mất ở Paris năm 2005.   Tác phẩm:   - Le tricheur (Kẻ lừa đảo, 1945), tiểu thuyết   - La corde raide (Dây căng, 1947), tiểu thuyết   - Gulliver (1952), tiểu thuyết   - Le sacre du printemp (Mùa xuân đăng quang, 1954), tiểu thuyết   - Le vent (Gió, 1957), tiểu thuyết   - L'herbe (Cỏ, 1958), tiểu thuyết   - La route de Flandres (Con đường xứ Flandres, 1960), tiểu thuyết   - Le palace (Cung điện, 1962), tiểu thuyết   - La chevelure de Bérénice (Mái tóc Berenice, 1965), truyện ngắn   - Histoire (Lịch sử, 1967), tiểu thuyết   - La bataille de Pharsale (Trận Pharsale, 1969), tiểu thuyết   - Orion aveugle (Chòm Thiên Lang mờ tối, 1970), tiểu luận   - Les corps conducters (Những thân xác dẫn đường, 1971), tiểu thuyết   - Triptyque (Bức họa tam bình, 1973), tiểu thuyết   - Leçon de chose (Bài học vạn vật, 1975)   - Les Géorgiques (Đồng nội, 1981), tiểu thuyết   - L'acacia (Cây keo hoang, 1989), tiểu thuyết   - La Jardin des plantes (Vườn bách thảo, 1997), tiểu thuyết     Mời các bạn đón đọc Cỏ của tác giả Claude Simon.
Dưới Ánh Sao Thu - Knut Hamsun
Dưới ánh sao thu (Under høstjernen) của Knut Hamsun, Nguyễn Thành Nhân dịch từ bản tiếng Anh Under the Autumn Star của W. W. Worster. *** Knut Hamsun tên thật là Rnud Pedersen, (04.8.1859 - 19.02.1952) nhà văn Na Uy đoạt giải Nobel Văn học năm 1920. Ông là nhà văn làm đổi mới văn xuôi Na Uy và là người luôn cố gắng thể hiện đời sống tâm hồn vô thức.   Năm 1890, tác phẩm Sult (Đói) của ông được xuất bản, gây chấn động lớn trong văn giới bấy giờ với một bút pháp lạ lùng sâu thẳm, mô tả rất xác thực, tinh vi, nhưng đôi khi cũng khá hài hước những cảm xúc và ý tưởng của một nhà văn trẻ đang hồi khốn khó. Có lẽ đây là tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc nhất cho giới phê bình học giả cũng như bạn đọc toàn cầu kể từ ngày nó ra đời cho tới nay. Tác phẩm này cũng đã được dựng thành phim hai lần. Lần thứ nhất năm 1966, do Henning Carlsen (sinh 1929) nhà sản xuất phim lừng danh người Đan Mạch đạo diễn; lần thứ hai năm 2001 do đạo diễn, biên kịch người Mỹ Maria Giese đạo diễn. Từ đó trở đi, bút lực của ông ngày càng dồi dào sung mãn. Về mặt bút pháp, ông là một trong những nhà văn cùng thời khác như James Joyce (1882-1941), Marcel Proust (1871-1922) và Virginia Woolf (1882-1941)… đã khai thác một cách tài tình thủ pháp Dòng ý thức ; hình thành nên trào lưu văn học hiện đại. Nếu không xét tới quan điểm chính trị của Knut Hamsun – vốn đã trăm phần trăm sai trái, không có gì cần bàn cãi nữa (có lẽ bản thân Knut Hamsun cũng đã nhận ra những sai lầm của ông trong quãng thời gian cuối đời), có thể khẳng định đa phần những di sản văn học mà ông để lại cho nhân loại là vô cùng quý báu. Và người đọc chúng ta có thể tri ân ông ở khía cạnh này. Một số tác phẩm: - Den Gaadefulde. En kjærlighedshistorie fra Nordland (Con người bí ẩn, dưới tên Knud Pedersen, 1877), tiểu thuyết - Bjørger (dưới tên Knud Pedersen Hamsund, 1878), tiểu thuyết  - Fra det moderne Amerikas Aandsliv (Cuộc sống tinh thần của xã hội Mỹ hiện đại, 1889), tiểu luận  - Sult (Đói, 1890), tiểu thuyết  - Fra det ubevidste sjaceleliv (Từ cuộc sống vô thức của tâm hồn, 1890), tiểu luận  - Mysterier (Những điều bí ẩn, 1892), tiểu thuyết  - Redaktør Linge (Biên tập viên Linge, 1893)  - Ny Jord (Đất mới, hoàn tất năm 1893)  - Pan (Quý ngài, 1894), tiểu thuyết  - Ved Rigets Port (Nơi cổng vương quốc, 1895), kịch  - Livets Spil (Trò đời, 1896)  - Aftenrøde. Slutningspil (Hoàng hôn, 1898), kịch  - Victoria. En kjærlighedshistorie (Victoria, 1898), tiểu thuyết  - Munken Vendt. Brigantines saga I (1902), kịch thơ  - Det vilde Kor (Bản hợp xướng hoang dã, 1904), thơ  - Under Høststjærnen. En Vandrers Fortælling (Dưới ngôi sao mùa thu, 1906), tiểu thuyết  - Benoni (1908), tiểu thuyết  - En Vandrer spiller med Sordin (Kẻ lang thang chơi đàn không dây, 1909), tiểu thuyết  - Den sidste Glæde (Niềm vui cuối cùng, 1912), tiểu thuyết  - Børn av Tiden (Những đứa con của thế kỉ, 1913), tiểu thuyết  - Segelfoss By (Thị trấn Segelfoss, 2 tập, 1915), tiểu thuyết  - Markens Grøde (Nhựa của đất, 2 tập, 1917), tiểu thuyết  - Konerne ved Vandposten (Những người đàn bà bên giếng, 2 tập, 1920), tiểu thuyết  - Siste Kapitel (Chương cuối, 2 tập, 1923), tiểu thuyết  - Landstrykere (Những kẻ lang thang, 2 tập, 1927), tiểu thuyết  - August (Tháng Tám, 2 tập, 1930), tiểu thuyết  - Ringen sluttet (Vòng vây đã khép, 1936), tiểu thuyết  - Paa gjengrodde Stier (Theo lối mòn hoang, 1949) *** Tôi lê bước tới đường Raadhusgaten, và đứng một hồi cạnh trạm xe ngựa, quan sát lối vào khách sạn Victoria. Nhưng dĩ nhiên nàng đã ra ngoài thăm mấy người bạn. Tôi nhắm mắt đưa chân vào khách sạn, nói chuyện với người gác cửa. Phải, Fruen đang ở trong phòng số 12, tầng một. Vậy bà ta không ra ngoài thăm bạn sao? Không. Có phải bà ta chỉ ra ngoài chốc lát không? Fruen không hề nói thế. Tôi lại bước ra đường; những người đánh xe vung vẫy những tấm da phủ chân, mời mọc tôi hạ cố. Tôi chọn một cỗ xe và trèo vào. “Tới đâu ạ?” “Cứ ở yên tại chỗ. Tôi thuê anh theo giờ.” Những gã đánh xe đi quanh xì xào, kẻ bàn thế này, người tán thế kia: ông ta đang theo dõi khách sạn; ra ngoài để bắt ghen vợ ông ta đang hẹn hò với một thương gia đi du lịch nào đó. Phải, tôi đang theo dõi chỗ này. Có ánh đèn trong một hai căn phòng, và đột nhiên tôi chợt nghĩ ra rằng có thể nàng đang đứng ở một ô cửa sổ và trông thấy tôi. “Chờ chút,” tôi nói với người đánh xe, và lại đi vào khách sạn. “Phòng số 12 ở đâu?” “Tầng một.” “Nhìn ra đường Raadhusgaten phải không?” “Vâng.” “Vậy đó phải là em gái của tôi,” tôi nói, bịa đặt đôi điều để chuồn qua người gác cửa. Tôi đi lên cầu thang, và để không cho mình có cơ hội quay lại, tôi gõ cửa ngay khoảnh khắc tôi nhìn thấy con số. Không trả lời. Tôi gõ lần nữa. “Có phải hầu phòng không?” từ trong phát ra một giọng nói. Tôi không thể đáp phải; giọng tôi sẽ phản bội tôi. Tôi thử xoay nắm cửa – cửa đã bị khóa. Có lẽ nàng e rằng tôi có thể tới; có thể nàng đã nhìn thấy tôi ở bên ngoài. “Không, đây không phải là người hầu phòng,” tôi nói, và tôi có thể nghe những từ run rẩy một cách lạ lùng ra sao. Sau đó tôi đứng lắng nghe hồi lâu; tôi có thể nghe tiếng ai đó di chuyển bên trong, nhưng cửa vẫn đóng. Rồi có hai hồi chuông ngắn từ một trong những căn phòng dưới sảnh. Hẳn đó là nàng, tôi tự nhủ; nàng đang cảm thấy khó chịu, và đã ấn chuông gọi người hầu phòng. Tôi bước xa khỏi cửa, để tránh bất kỳ sự lúng túng nào cho nàng, và, khi người hầu phòng tới, tôi bước ngang qua như thể đang đi xuống thang. Lúc ấy người hầu phòng nói, “Phải, hầu phòng đây,” và cửa mở. “Không, không,” người hầu phòng nói; “chỉ có một quý ông đang xuống thang.” Tôi nghĩ tới việc lấy một phòng ở khách sạn, nhưng ý tưởng này khiến tôi khó chịu; nàng không phải là một bà vợ bỏ trốn để hẹn hò với những thương gia đi du lịch. Khi xuống tới dưới, tôi nhận xét với người gác cửa rằng hình như Fruen đang nằm nghỉ. ... Mời các bạn đón đọc Dưới Ánh Sao Thu của tác giả Knut Hamsun.
Đừng Nói Mãi Mãi - Linda Howard
Đây là cuốn sách tình yêu của Linda Howard - người từng đạt giải thưởng Career Achievement Award dành cho các tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn xuất sắc nhất. Đừng nói mãi mãi là câu chuyện về Maxwell Conroy - Phó giám đốc điều hành tại tập đoàn Spencer Nyle. Anh chàng đào hoa này được giao nhiệm vụ tiếp cận thư ký Claire Westbrook của hãng Hợp kim Bronson để tìm mọi thông tin, nhằm chuẩn bị cho cuộc thâu tóm của tập đoàn. Với vẻ ngoài đẹp trai và trí tuệ lạnh lùng, Maxwell Conroy tin tưởng công việc này sẽ nhanh chóng kết thúc. Nhưng nhiệm vụ của Max đã vấp phải khó khăn bởi Claire Westbrook không hề giống như những người phụ nữ khác anh từng gặp. Sống độc thân sau cuộc chia tay đầy đau đớn vì người chồng cũ phản bội, Claire đã thề sẽ xây dựng cuộc sống độc lập về vật chất và tình cảm. Cô không hẹn hò, mất niềm tin với đàn ông, đặc biệt là những người đẹp trai và quyến rũ như chồng cũ. Đối mặt với một người phụ nữ dường như miễn nhiễm với đàn ông này, Max lại chính là người bị quyến rũ và trót đem lòng yêu Claire. Cuối cùng, tình yêu của Max và Claire sẽ ra sao? Liệu Claire có dễ dàng tha thứ cho Max và đón nhận hạnh phúc từ anh? *** Linda Howard tên thật là Linda S. Howington. Cô sinh ngày 3/8/1950 tại tiểu bang Alabama thuộc miền Nam Hoa Kỳ. Cô là một trong những tiểu thuyết gia thuộc trường phái lãng mạn nổi tiếng thế giới. Các tác phẩm của cô thường xuyên lọt vào danh sách những cuốn sách bán chạy nhất do tạp chí New York Times bình chọn. Năm 2005, cô đạt giải Career Achievement Award - giải thưởng dành cho các tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn xuất sắc nhất. Linda Howard nói rằng từ lâu sách đã đóng một vai trò to lớn trong cuộc đời bà, dù là để đọc hay viết. Tác giả tiểu thuyết lãng mạn đầu tiên bà đọc là Margaret Mitchen và kể từ đó trở đi bà đọc rất nhiều với tất cả đam mê. Trong những năm gần đây, mối quan tâm của bà tập trung chủ yếu vào dòng tiểu thuyết lãng mạn, bởi bà “dễ dàng thấy chán chuyện giết người, bạo lực và chính trị”. Sau hai mươi mốt năm viết truyện chỉ để mua vui cho mình, rốt cuộc Howard đã gom đủ dũng cảm để gửi một tiểu thuyết tới nhà xuất bản - và lập tức thành công. Nhà văn gốc Alabama giờ đã trở thành người nhiều lần xuất hiện trong danh sách tác giả sách bán chạy nhất của tờ New york Times. Tuyển Tập Linda Howard gồm có: Against The Rules (Tiếng Việt) Almost Forever (Tiếng Việt) An Independent Wife (Tiếng Việt) Angel Creek (Tiếng Việt) Băng Đá Bluebird Winter (Tiếng Việt) Cầu Vồng Lúc Nửa Đêm Con Gái Của Sarah Con Trai Của Bình Minh Đêm Định Mệnh Duncan's Bride (Tiếng Việt) Đường Về Nhà Giã Từ Nước Mắt Hẹn Hò Theo Kiểu Của Em Kill And Tell (Tiếng Việt) Lời Dối Gian Chân Thật Những Điều Hào Nhoáng Núi Tình Quý Bà Miền Tây Quý Ông Hoàn Hảo Sắc Màu Hoàng Hôn The Cutting Edge (Tiếng Việt) Thiên Sứ Tử Thần Thiêu Hủy Tội Ác Trong Mơ Trăng Xanh Tưởng Chừng Mãi Mãi Vịnh Kim Cương *** Claire nặn ra một nụ cười cứng nhắc với nữ tiếp viên hàng không khi cô ta đến rót thêm trà cho cô. Họ sẽ hạ cánh xuống Heathrow trong vòng một tiếng nữa. Cô mừng vì chuyến bay dài và chán ngán đã đến hồi kết, nhưng lòng không khỏi hồi hộp bất kể khi nào nghĩ đến việc gặp gỡ gia đình Max. Cô đã nói chuyện trên điện thoại với mẹ anh và cảm nhận được sự ấm áp từ những lời chúc mừng của bà, nhưng cô vẫn tự hỏi làm sao mình vượt qua được thử thách gặp mặt họ thực sự. Cô đã học thuộc lòng tên của anh trai và em gái anh, cũng như tên tuổi vợ hay chồng họ và đàn con, nhưng đó mới chỉ là những cái tên đầu tiên. Trong danh sách còn có các cô dì, chú, bác, thông gia quyến thuộc, ông bà nội ngoại, ông bà trẻ cũng như con cái và vợ hoặc chồng họ. Một gia đình lớn như thế vượt ngoài kinh nghiệm bản thân cô. Bà Alma và ông Harmon đang ngồi ngay trước mặt họ. Hôm nay là đúng một tuần trước đám cưới và bà Alma làm việc với những danh sách luôn kè kè bên mình suốt cả chuyến đi. Vợ chồng Martine và Steve cùng mấy đứa trẻ sẽ bay sang trong ba ngày nữa, tiếp theo đó là các vị khách còn lại. Rome và Sarah có tham dự cùng Missy và Jed. Sarah đã gợi ý để bọn trẻ ở nhà cùng cô trông trẻ nhưng Claire đã yêu quý chúng đặc biệt tới mức rất muốn chúng tới dự. Rốt cuộc đám cưới của cô đã đầy rẫy bọn nhóc rồi; thêm hai đứa nữa có là gì? Rome và Sarah sẽ mang theo một người bạn trẻ tên là Derek Taliferro, cậu là sinh viên đang về nghỉ hè và giành rất nhiều thời gian với nhà Matthew. Claire mới gặp Derek hai lần nhưng đã thích cậu ngay, một việc vốn không bình thường với cô. Cô thường cẩn trọng hơn nhiều với người lạ, nhưng ở Derek có một điều gì đó làm cô dễ chịu. Cậu đẹp trai khác thường với mái tóc xoăn đen và đôi mắt nâu vàng bình thản làm cô cảm động tận tâm can, trong khi đáng lẽ vẻ đẹp trai của cậu phải làm Claire cảnh giác ngay từ đầu. Nhưng cậu thanh niên cao và đầy cơ bắp này lại toát lên vẻ bình tĩnh và đĩnh đạc vô cùng, cậu cũng hết sức dịu dàng với bọn trẻ, đứa nào cũng yêu thích cậu, và bản năng Claire bảo cô tin vào cậu. Dù còn ít tuổi nhưng Derek đàn ông hơn cả những người gấp đôi số tuổi của cậu. Max và Rome đối xử với cậu ngang hàng trong khi bản thân họ cũng đâu phải người bình thường. Claire liếc nhanh Max, tự hỏi anh có chút nghi ngại nào với đám cưới khi nó đã gần kề hay không, nhưng cô không đọc được gì từ khuôn mặt anh. Dù đã trải qua biết bao nhiêu giờ đầy đam mê trong vòng tay anh, đôi khi cô vẫn cảm thấy như anh là một người lạ, một người lạ đẹp trai và khó hiểu luôn dành cho cô ham muốn của anh, nhưng không phải là ý nghĩ. Anh luôn niềm nở, quyến rũ, chu đáo nhưng lúc nào cô cũng cảm thấy như anh còn che giấu điều gì. Cô yêu anh sâu sắc nhưng vẫn phải giữ kín tình yêu đó, bởi dường như anh không muốn kiểu yêu hết mình đó từ phía cô. Anh muốn có sự bầu bạn, cơ thể cô bên dưới anh mỗi đêm, nhưng dường như anh không muốn cảm xúc của cô. Anh không đòi hỏi điều đó nên cũng không cho đi điều đó. Claire nhận ra đó mới chính là căn nguyên thực sự cho nỗi bất an của mình. Cô có thể đối mặt với cả một đội quân họ hàng dễ dàng nếu biết chắc tình cảm của Max. Tất cả những người ấy sẽ theo dõi cô, đánh giá cô y như tình huống cô từng gặp phải hồi cưới Jeff. Làm sao cô có thể hòa hợp với một gia đình như thế, với quá nhiều thành viên và sống cách xa nhau nhưng lại gắn bó khăng khít một cách kỳ lạ? Cô chưa bao giờ dễ dàng kết bạn và dường như cả gia đình anh đều là những người nồng nhiệt và hướng ngoại. Làm sao họ hiểu được khó khăn của cô trong việc nhiệt tình chào đón mọi người? Liệu họ có nghĩ cô lạnh lùng và không thân thiện không? Hai bàn tay Claire lạnh băng và cô phải siết chặt chúng với nhau hòng làm chúng ấm lên. Tín hiệu thắt dây an toàn đã bật sáng trên đầu họ và ngực Claire thắt lại khiến cô phải thở từng hơi ngắn và nông. Max không để ý thấy sự lo lắng của cô; anh đang mong đợi được gặp gia đình mình, sự háo hức khiến đôi mắt anh sáng như đá quý đặt trên một cái đầu tượng thần bằng vàng. ... Mời các bạn đón đọc Đừng Nói Mãi Mãi của tác giả Linda Howard.
Đứa Con Người Yêu - Pearl S. Buck
Một phong thư mang một con tem lạ - con tem Triều Tiên - với tên người gửi là Kim, đã đến với thượng nghị sĩ Christoper Winters vào lúc ông đang tranh cử chức Thống Đốc tiểu bang tại Hoa Kỳ. Ông vội chuồi nó xuống dưới đống thư tín để che mắt vợ. Quá khứ đột nhiên hiện ra trong tâm trí ông. Kim là đứa con của ông và cô Kim Sương, một cô gái Triều Tiên mà ông thực sự yêu một cách nào đó... trong chiến tranh. Đứa bé vừa tròn một tháng tuổi thì Trung úy Chris được gọi về Mỹ. Kể từ đó, với Laura, vợ ông, Chris đã sống một cuộc sống vô cùng hạnh phúc và hầu như quên hết... Ban đầu Chris có ý đinh giấu vợ, nhưng sau nhiều đêm suy nghĩ ông đã thú thật với bà. Vô cùng hốt hoảng, Laura bay đi Séoul để tìm đứa bé và bà đã gặp nó cùng với Kim Sương trong một phòng trà. Bé Kim, con trai một quân nhân Mỹ, đã bị cộng đồng người Triều Tiên ruồng bỏ và nó đang hát tại một phòng trà. Với sự đồng ý của Kim Sương Laura đã đưa thằng bé về Mỹ... *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ; Những mảnh hồn sầu xứ. Khi người con gái lên núi *** Chris đợi Laura và bé Kim tại phi trường Los Angeles. Chàng xinh trai biết bao! Laura thầm nghĩ. Không phải bà đã quên điều đó, nhưng vì bà đã quen nhìn một loại đàn ông xinh trai khác mà ông Chu là tiêu biểu. Bây giờ bà có cảm tưởng rằng thế giới này chia thành hai loại đàn ông và đàn bà mà Kim Christopher thì đứng một mình ở giữa cô độc. Không, nó không cô độc vì bà đã chấp nhận nó kể từ khi nó cất tiếng đầu tiên gọi bà bằng mẹ. Nó đã dứt bỏ mọi quá khứ để theo bà, Sương là một người đàn bà tế nhị và có giáo dục: cái chi phiếu mà bà đã đưa cho nàng, khoảng năm Rgàn đô la, nàng chỉ liếc mắt trông qua và để xuống bàn mà không gấp lại bỏ ngay vào túi. Tại phi trường, nàng đã dặn dò bé Kim từng li từng tí, chẳng sót điều gì. Nàng nói : - Con hãy vâng lời cha con. Con cũng phải vâng lời bà Winters bởi vì bà là vợ yêu quý của cha con. Con ráng nhớ lời mẹ dặn. Khi cha con bước vào phòng, con phải lễ phép đứng dậy. Con hãy chăm lo học hành hằng ngày để cha con được vui lòng. Ban sáng, con hãy mang trà lại cho cha con trước tiên. Trong bữa ăn, con phải đợi cha con bắt đầu ăn trước. Con hãy nhớ tất cả những gì mẹ đã dặn con nhé! Nàng tỏ cho Laura biết, nàng là một người khéo dạy con. Kim Christopher chăm chú nghe, không nói gi. Hơn nữa nó đã lẳng lặng mãi cho đến khi phi cơ cất cánh. Chi khi đó mới quay sang Laura và cất tiếng gọi "Mẹ!". Bà đã mỉm cười cùng nó, nhưng hai mắt bà rưng rưng ngấn lệ. Bây giờ đã về đến Mỹ quốc, Kim Christopher nhìn cha nó. Nó nghiêng mình chào và im lặng chờ đợi. Cha nó nói : - À con. Có vẻ ngượng nghịu, ông ngắm nhìn đứa bé - đích thực là con trai của ông, không nghi ngờ gì nữa - với những đường nét giống nhau đến thế thì làm sao chối cãi được? Tim ông bắt đầu đập mạnh hơn. Ông ngắm nhìn Kim Christopher và thương yêu nói : - Con cao lớn lắm! ... Mời các bạn đón đọc Đứa Con Người Yêu của tác giả Pearl S. Buck.