Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Em

Bạn sẽ làm gì khi một cô nhà văn xinh đẹp, gợi cảm bước vào hiệu sách nơi bạn làm việc? Joe Goldberg đã làm cái điều mà bất cứ ai trong tình cảnh đấy cũng sẽ làm: Google tên của cô.  Chỉ có một Guinevere Beck duy nhất ở thành phố New York này, người sở hữu một tài khoản Facebook và viết Tweet gần như mỗi ngày. Joe biết được mọi thứ mà anh cần biết về cô: bạn cô ấy chỉ gọi cô ấy là Beck, cô ấy học Đại học Brown, sống trên phố Bank và sẽ đi đến một quán bar ở Brooklyn tối nay để kiếm tìm một cuộc hẹn “ngẫu nhiên” hoàn hảo.  Từ kẻ đeo bám trở thành bạn trai, Joe biến mình thành người đàn ông hoàn hảo của Beck, đồng thời lặng lẽ dùng mọi cách – kể cả giết người - loại bỏ những chướng ngại vật, sắp xếp những sự kiện để Beck luôn “an toàn” trong vòng tay anh.  Cuốn tiểu thuyết là một cú tát giáng thẳng vào thực tế thời đại kỹ thuật số siêu kết nối; là lời cảnh tỉnh rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể dễ dàng bị theo dõi và thao túng bởi một kẻ vô hình. *** EM (YOU) là cuốn tiểu thuyết đã được chuyển thể thành phim và có thể xem trên Netflix. Nhưng ngay cả với những ai đã xem qua bộ phim này, cuốn tiểu thuyết này vẫn rất đáng đọc, vì nó một lần nữa tái hiện bầu không khí mê hoặc mà điên rồ, thậm chí còn sắc nét hơn của câu chuyện. Ngay cả khi đã biết được các tình tiết sẽ diễn ra, cuốn sách vẫn mới mẻ và hấp dẫn để đọc đến trang cuối cùng. EM bắt đầu câu chuyện của mình tại một hiệu sách, nơi Joe - nhân vật chính - làm việc, gã là một kẻ bán sách. Và rồi Beck - một cô gái tóc vàng bước vào, xinh đẹp như một quả đào chín mọng, nàng là một nhà văn trẻ. Joe đã yêu Beck ngay từ cái nhìn đầu tiên, và anh đã lên kế hoạch cưa cẩm cô như bất kỳ chàng trai nào phải lòng một cô gái. Như xem cô ấy đăng gì trên Twitter, tìm hiểu xem cô ấy nhà ở đâu, tò mò bạn trai cũ của cô ấy là ai, kết thân với các cô bạn gái thân của cô ấy… EM sẽ dễ dàng đánh lừa các độc giả ngây thơ ở những chương đầu tiên khi nghĩ rằng đây là khởi đầu của một chuyện tình lãng mạn. Một anh chàng bán sách tinh tế thật đẹp đôi với một cô nàng nhà văn trẻ ngọt ngào. Mà thực ra đúng là đã có một chuyện tình nở hoa trong cuốn sách, nồng nàn men say như rượu ủ lâu năm. Tác giả Caroline Kepnes đã dùng những lời lẽ đầy mật ngọt để kể câu chuyện của mình. Như một viên kẹo của mụ phù thuỷ, quá sặc sỡ, quá thơm tho, không thể cưỡng lại. Nhưng khi lớp bọc đường bên ngoài đã trôi đi hết, sẽ dần lộ ra lõi nhân bên trong là kịch độc. Hoá ra loài hoa ái tình ấy là hoa ăn thịt, rượu quý ấy cũng đã hoà lẫn với độc dược tự bao giờ. Joe có lẽ là mẫu bạn trai ao ước của nhiều cô gái khi tinh tế, dịu dàng, sẵn sàng làm bánh kếp bằng cái muôi đỏ vì bạn gái mình thích thế. Joe kéo Beck ra khỏi những mối quan hệ xấu như gã bạn trai tồi, cô bạn thân muốn kiểm soát. Joe thúc đẩy Beck làm việc mà cô cần phải làm - thực sự viết cho xong một cuốn sách thay vì viết Twitter mỗi giờ và email mỗi ngày cho những chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Joe muốn bảo bọc Beck và làm cho cuộc sống của cô tốt hơn. Nhưng ấy là khi Joe không trộm điện thoại để đọc các email của Beck. Lẻn vào nhà cô để thó một món đồ riêng tư làm kỷ niệm. Tốt nhất là Joe đừng có một cái lồng - theo đúng nghĩa đen - dưới tiệm sách của mình, nơi gã bảo vệ những cuốn sách quý và cả người cần hắn bảo bọc. Bởi ranh giới giữa bảo bọc và giam cầm đôi khi rất mong manh. Nhẹ nhàng ở các chương đầu, nhưng nhịp điệu càng về sau càng nhanh dần, khiến người đọc khó lòng bỏ cuốn sách xuống trước khi biết được kết thúc cuối cùng. Như thể họ đang là Beck, cũng đang gấp rút bỏ chạy khỏi một bóng ma rình rập, hay vẫy vùng thoát khỏi một cái lồng. Họ nóng lòng muốn được biết kết thúc của chính mình trong cuộc đào thoát ấy, hay chính xác hơn là kết thúc của Beck. Và nếu trốn thoát, có lẽ họ thầm dặn lòng sẽ không bao giờ bước chân vào một cái hiệu sách nào nữa, hoặc chớ có yêu một gã bán sách. *** Em bước vào hiệu sách, một tay giữ trên cánh cửa để chắc chắn cửa không bị đóng sầm lại. Em mỉm cười, có phần ngượng nghịu vì xinh đẹp quá, móng tay em trơn nhẵn và em đang mặc một chiếc áo len cổ chữ V màu be, rất khó đoán em có đang mặc áo ngực hay không nhưng tôi nghĩ rằng em hoàn toàn không mặc gì ở bên trong cả. Em trông “ngoan” tới mức cực kỳ khêu gợi, đôi môi em khẽ lẩm bẩm với tôi “chào anh” trong khi phần lớn mọi người chỉ lướt qua, nhưng có phải thật em không, trong chiếc quần bò màu hồng trễ cạp, kiểu vải sợi gai màu hồng như trong truyện Mạng nhện của Charlotte, và em ơi em từ đâu đến? Em đơn giản và hoàn hảo, như cô nàng Natalie Portman bé bỏng của tôi trong đoạn cuối của bộ phim Closer, khi cô - với vẻ mặt ngây thơ - đi cùng thằng cha xấu tính người Anh về nhà ở Mỹ. Em “đến nhà” của tôi, cuối cùng thì em cũng đến, vào một buổi sáng thứ Ba, lúc 10:06. Mỗi ngày tôi đi từ nhà ở Bed-Stuy đến hiệu sách tại phía Đông1 thành phố này. Mỗi ngày tôi kết thúc ca làm, gói ghém đồ đi về mà chưa bao giờ thấy một ai như em. Nhìn em xem: hôm nay em bước vào thế giới của tôi. Tôi chợt thấy rùng mình và muốn uống một viên thuốc rối loạn lo âu, nhưng thuốc lại đang ở dưới tầng mà thực ra tôi cũng không muốn uống viên thuốc ấy. Tôi không muốn đi xuống. Tôi muốn ở đây để tập trung ngắm em cắn những móng tay trần, không sơn màu của mình và quay đầu sang trái; à không, em đang cắn cái mảng màu hồng kia, mở to đôi mắt, quay sang bên phải; à lại không nữa, em không thích đọc sách tiểu sử, không đọc cả sách self-help (may quá, tạ ơn Chúa), và đi chậm lại đôi chút khi tới kệ chứa tiểu thuyết.   Tuyệt. Tôi để cho em biến mất sau những kệ sách – Tiểu thuyết xếp theo vần từ F tới K. Em không phải kiểu các “nữ thần” bất an về bản thân mà phải đi tìm kiếm Faulkner vì em sẽ không bao giờ đọc hết cũng như không bao giờ nên bắt đầu đọc sách của ông; sách của Faulkner khó nhằn và có khả năng sẽ làm đông cứng đêm hứng tình của em, nếu sách cũng có thể đông cứng được. Faulkner chỉ có duy nhất một giá trị là để thuyết phục em hãy nhập vai vào cuộc tình một đêm khi em thề rằng em không bao giờ chơi kiểu qua đường ấy. Nhưng em sẽ không phải kiểu con gái như thế đâu. Em không thuộc tầng lớp sẽ đọc Faulkner và với chiếc quần bò trễ cạp kia của em thì em thừa tiệc tùng ham vui cho những cuốn sách của Stephen King nhưng lại quá thiếu thời thượng để đọc những cuốn của Heidi Julavits… cuối cùng em sẽ mua sách của tác giả nào đây? Em hắt xì hơi một cái, ầm lên, và tôi tưởng tượng ra ngay sự ồn ã của em khi em ở trên giường. “Chúa phù hộ!”2 tôi nói toáng lên.   Em khúc khích cười và quay lưng lại, cô nàng dâm đãng này. “Anh cũng thế nhé, anh bạn.” Anh bạn. Em đang thả thính tôi, và nếu tôi là cái loại mất dạy hay lên Instagram, tôi sẽ chụp lại những tấm thẻ từ F đến K, chỉnh màu thật đẹp rồi viết lên đó: “F--K3, tuyệt quá, tôi đã tìm thấy em.”   Bình tĩnh nào Joe. Bọn con gái không thích kiểu con trai táo bạo như thế đâu. Tôi phải tự nhắc bản thân mình như thế. Cảm ơn Chúa đã đưa một khách hàng khác đến và thật khó để đọc vị thằng cha này với cuốn sách chẳng có gì bất ngờ của Salinger trên tay gã – thật thế, việc này vẫn luôn luôn chẳng dễ dàng gì. Thằng cha này, gì đây nhỉ, phải đến ba mươi sáu tuổi rồi, mà chỉ đọc đến Franny và Zooey thôi sao? À không, hãy nhìn vào thực tế chút đi. Hắn ta sẽ không đọc nó. Đấy chỉ là cuốn đặt lên trên để che đi cuốn sách của Dan Brown đang nằm dưới đáy giỏ mà thôi. Thời gian làm việc ở hiệu sách đã giúp tôi hiểu rằng phần lớn mọi người trên thế giới này cảm thấy tội lỗi khi thể hiện con người thật của bản thân. Tôi lấy cuốn sách của Dan Brown cho vào túi trước, như thể nó là ấn phẩm ấu dâm và bảo thằng cha kia rằng Franny và Zooey chỉ là đồ bỏ. Hắn ta chỉ gật đầu, còn em vẫn ở trong khu vực F-K bởi vì tôi vẫn thấy chiếc áo len màu be của em thấp thoáng sau những kệ sách. Nếu em kiễng chân lên một chút, tôi sẽ có thể nhìn thấy chút bụng của em hở ra. Nhưng em lại không làm thế. Em lấy một cuốn sách và ngồi xuống ghế, xem ra em định sẽ ngồi ở đấy cả tối. Có thể như thế sẽ giống Natalie Portman trong phim Where the Heart Is, bộ phim chuyển thể không thành công từ cuốn sách của Billie Letts – thuộc chiếu trên so với thể loại phim đó – và tôi sẽ tìm thấy em ở tâm điểm của bóng đêm. Chỉ có điều, em sẽ không có bầu còn tôi thì không phải là thằng khốn kiếp trong bộ phim ấy. Tôi sẽ đến, ngả vào em và nói, “Xin lỗi làm phiền quý cô, nhưng chúng ta đang gần sát sạt vào nhau đấy,” và em sẽ ngẩng lên, mỉm cười, “Đâu có, em đâu có sát sạt gần.” Em hít một hơi và thì thào. “Em đang rất đón chờ anh mà. Anh bạn.” “Này!” Salinger-Brown càu nhàu. Hắn vẫn còn ở đây sao? Hắn vẫn còn ở đây. “Tôi lấy hóa đơn được chưa?” “À phải, xin lỗi nhé.” Hắn giật lấy hóa đơn từ tay tôi. Không phải hắn ta ghét tôi đâu. Hắn ta ghét chính bản thân hắn đó. Nếu mọi người đều có thể tự chăm sóc cảm xúc cá nhân thì phòng dịch vụ chăm sóc khách hàng sẽ vận hành dễ dàng hơn nhiều. “Mày biết không, thằng nhóc? Mày cần phải vượt qua bản thân mày. Mày chỉ làm việc ở một hiệu sách thôi. Mày không xuất bản những cuốn tiểu thuyết này. Mày không hề viết sách và nếu mày có tí ti gì gọi là khá khẩm trong việc đọc sách thì có thể mày đã chẳng làm việc ở một hiệu sách như thế này. Vì thế, hãy bỏ ngay cái thái độ đánh giá người khác ở trong mắt mày và chúc tao một ngày tốt lành đi!” Thằng cha kia có thể nghĩ ra bất cứ cái gì trên đời để nói với tôi nhưng hắn vẫn chỉ là một thằng khốn nạn không dám thừa nhận mình mua sách của Dan Brown. Em xuất hiện với nụ cười từa tựa Portman, rõ là em đã nghe thấy tiếng thằng chó chết kia vừa nói. Tôi nhìn em. Em nhìn thằng kia và hắn thì vẫn đang đợi tôi. “Chúc ông một ngày tốt lành, thưa ông.” Tôi nói và hắn biết thừa rằng tôi cũng chẳng có lòng thành gì, thái độ dành cho một người lạ thì chỉ đến thế thôi. Khi hắn đi rồi, tôi gào toáng lên với hắn nhưng thực ra là để em nghe cho rõ: “Đọc Dan Brown vui nhé ông ơi!” Em đi tới, cười ngặt nghẽo, và cảm ơn Chúa, lúc này đang là buổi sáng, chúng ta đang chết cứng trong một buổi sáng mà không có ai quanh đây làm phiền chúng ta cả. Em đặt cái giỏ đựng sách lên quầy thanh toán và hỏi khẽ: “Thế anh sẽ phán xét cả em nữa phải không?” “Anh là thằng khốn nạn phải không?” “Ừm… không sao, em đoán đó chỉ là do tâm trạng nhất thời của anh thôi.” Em thật ngọt ngào. Em biết cách nhìn thấy phần tốt đẹp nhất bên trong mỗi người. Em đang khen tôi. “Thật ra…” Tôi nói, tôi nghĩ tôi nên im lặng và tôi cũng muốn im lặng, nhưng em lại ra hiệu cho tôi, muốn tôi nói tiếp. “Thằng cha đó chính là lý do mà những con quái thú không nên biến mất.” Em chăm chú nhìn tôi. Em có vẻ tò mò khiến tôi muốn biết nhiều hơn về em, nhưng vì tôi không thể hỏi nên tôi tiếp tục nói. “Ai cũng luôn luôn muốn đấu tranh cho những điều tốt đẹp hơn, gầy đi năm cân, đọc thêm năm cuốn sách, đi đến bảo tàng, mua một đĩa nhạc cổ điển để nghe và thích thú tận hưởng nó. Nhưng thực ra những gì người ta mong muốn ở sâu thẳm bên trong là ăn bánh donut, đọc tạp chí và mua những đĩa nhạc pop. Còn sách á? Quên nó đi. Hãy mua Kindle. Em có biết tại sao Kindle lại thành công như thế không?” Em phá lên cười và lắc đầu, em đang lắng nghe tôi ở chính cái đoạn mà phần lớn mọi người khác sẽ tỏ ra chán nản và tiếp tục cúi đầu vào điện thoại. Nhìn em thật xinh đẹp khi em hỏi, “Là tại vì sao cơ?” “Anh sẽ cho em biết tại sao. Internet đã mang phim khiêu dâm đến tận nhà…” Tôi mới dùng từ phim khiêu dâm, thật là một từ ngu xuẩn, nhưng em vẫn yên lặng lắng nghe, em đúng là một cô nàng búp bê đáng yêu đấy. “Thế là em không cần ra ngoài và nỗ lực để có được nó nữa. Em sẽ không cần phải nhìn thẳng vào mắt của cậu con trai ở quầy hàng, người mà bây giờ đã biết em thích xem các cô gái bị tét mông khi ở trên giường. Nhìn thẳng vào mắt nhau là thứ khiến chúng ta trở thành con người trong xã hội văn minh.” Đôi mắt như hai hạt hạnh nhân của em nhìn tôi và tôi nói tiếp, “Em đã bị lộ tẩy rồi.” Em không đeo nhẫn cưới trên tay, còn tôi tiếp tục nói, “Con người mà.” Trông em rất kiên nhẫn, còn tôi thì lẽ ra phải im đi nhưng tôi lại không thể làm thế được. “Và Kindle ý mà, Kindle mang đến tất cả những thứ mà em cần phải nỗ lực mới có được khi em đọc, tức là làm chính xác như những gì mà Internet đã làm với phim khiêu dâm. Không cần phải gò bó hay cân đối cái gì nữa. Em có thể đọc tiểu thuyết Dan Brown cả ở nơi công cộng lẫn những chốn riêng tư. Và thế là văn minh nhân loại kết thúc. Nhưng…” “Lúc nào cũng có một chữ NHƯNG nhỉ,” em nói và tôi đoán em đến từ một gia đình giàu sang phú quý, nơi mà những con người thân thiện thường trao cho nhau những cái ôm yêu thương và nắm tay hát quanh đống lửa trại. “Nhưng khi không còn chỗ nào để mua các bộ phim hoặc mua album, tất cả sẽ quay trở lại với sách. Khi những tiệm bán băng đĩa biến mất, những thằng mọt sách đứng trông tiệm băng đĩa, đọc lại những câu thoại của Tarantino, chiến đấu vì Dario Argento và ghét những người thuê phim Meg Ryan về xem cũng sẽ không còn nữa. Loạt hành động đó, tức là sự tương tác giữa người bán và người mua, là một sự tương tác hai chiều rất quan trọng mà loài người chúng ta có được. Tất nhiên em không thể giao tiếp hai chiều như thế mà lại không bao giờ hiểu nhầm, em hiểu ý anh chứ?” Tôi cũng không biết liệu em có hiểu được ý tôi không nhưng em đã không bảo tôi ngừng lại giống như tất cả mọi người vẫn làm, em chỉ gật đầu. “Hừm.” “Đấy thấy không, tiệm băng đĩa thực sự là một nơi rất công bằng. Nó mang đến sức mạnh cho mấy thằng mọt sách – Người ta thực sự mua Taylor Swift sao? – mặc dù sự thật là mấy thằng đó sẽ “xóc lọ” với hình Taylor Swift khi về nhà.” Đừng nói đến Taylor Swift nữa. Chẳng biết em đang cười với tôi hay đang cười vào mặt tôi nữa? “Dù sao thì...” Tôi nói, và tôi định sẽ im lặng nếu em bảo tôi làm thế. “Dù sao thì?” Em hỏi, và em muốn tôi nói tiếp. “Vấn đề là thế này, mua một vật dụng gì đó là một trong những điều cực kỳ cơ bản mà chúng ta làm. Thằng cha lúc nãy không đến đây để mua Dan Brown hay Salinger. Thằng cha đó tới đây để thú tội.” “Thế anh là linh mục à?” “Không. Anh là nhà thờ.” “Amen.” Em nhìn xuống giỏ sách của em và tôi như một kẻ cô độc loạn trí khi cũng nhìn vào chiếc giỏ. Điện thoại của em. Em không nhìn thấy, nhưng tôi nhìn thấy. Tôi như vỡ lẽ ra. Chiếc điện thoại có ốp bảo vệ màu vàng. Điều này chứng tỏ em chỉ tự chăm sóc bản thân khi mọi thứ bắt đầu đi quá giới hạn. Tôi cược là em chỉ uống thuốc khi cơn cảm lạnh kéo dài tới ngày thứ ba. Tôi cầm điện thoại của em lên và giả vờ đùa. “Em lấy trộm cái này của gã kia phải không?” Em lấy lại điện thoại của mình và cẩn trọng nói. “Em và chiếc điện thoại này…” Em nói. “Em là một người mẹ tồi.” Mẹ. Em thật sự là gái hư, đúng thế đấy. “Ừ.” Em mỉm cười và bây giờ tôi có thể chắc chắn em không mặc áo lót bên trong. Em lấy những cuốn sách ra khỏi giỏ, đặt giỏ lên sàn nhà và nhìn tôi như thể tôi không có khả năng đánh giá bất cứ điều gì mà em làm từ khoảng cách xa như thế. Núm vú của em nổi lên trên áo. Em đã không che chắn chúng lại cẩn thận. Em thấy đám kẹo dẻo xoắn mà tôi để ở quầy thanh toán. Em chỉ tay vào đó như thể em đang đói lắm. “Em lấy một cái được không?” “Được.” Tôi nói, và tôi có cảm giác như mình đã bón cho em ăn vậy. Tôi cầm cuốn sách đầu tiên của em lên, Kỳ nghỉ không thể tin được4 của tác giả Spalding Gray5. “Thú vị đấy!” Tôi nói. “Phần lớn mọi người đều hiểu được những đoạn độc thoại của ông ấy. Đây là một cuốn sách tuyệt hay, nhưng không phải là kiểu sách mà mọi người đi loanh quanh xem xét và mua, đặc biệt là một phụ nữ trẻ không có ý định tự sát giống như số phận của tác giả.” “Ồ, đôi khi chúng ta sẽ có cảm giác muốn vùi mình ở một nơi nào đó tăm tối, anh hiểu cảm giác đó chứ?” “Ừ.” Tôi nói. “Anh hiểu chứ.” Nếu chúng tôi còn ở thời thiếu niên, hẳn là tôi sẽ hôn em mất. Nhưng hiện tại, tôi đang trong bộ dạng của một nhân viên bán hàng, đeo một cái bảng tên trên ngực và chúng ta đã đi quá thời điểm vàng của thanh xuân rồi. Những bước đi trong đêm không phù hợp với lúc ban ngày, khi ánh nắng vẫn đang chảy trên cửa sổ. Chứ chẳng nhẽ tiệm sách lại phải tăm tối mới đúng ư? Tự chú thích với bản thân: Cần bảo ông Mooney làm chỗ này tối om lại. Bằng rèm cửa. Hoặc bất cứ cái gì. Tôi cầm cuốn sách thứ hai của em lên, Những Nhân Vật Tuyệt Vọng6, tác phẩm của một trong những tác giả yêu thích nhất của tôi, Paula Fox. Đây là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng có thể em mua nó bởi em đọc được trên một trang blog ngu xuẩn nào đấy rằng tác giả là bà ngoại của Courtney Love. Tôi không dám chắc chắn rằng em mua Paula Fox bởi vì em thật sự phù hợp với tác giả này, hay là bị ảnh hưởng từ khẳng định trong bài luận của Jonathan Franzen.   Em sờ tay vào ví tiền. “Bà ấy là một tác giả tuyệt vời đúng không? Nếu bảo bà ấy không xứng đáng thì giết em đi còn hơn, bất kể bài luận của Franzen có viết gì về bà ấy đi nữa, anh công nhận không?” Cảm ơn Chúa. Tôi mỉm cười. “Bờ biển phía Tây7.”   Em quay mặt nhìn đi hướng khác. “Em chưa có dịp đến đó.” Tôi nhìn em và em giơ hai tay lên trời như đầu hàng. “Đừng bắn em nhé.” Em khúc khích cười và tôi mong rằng em cũng đang ham muốn. “Khi nào có dịp em sẽ đọc Bờ biển phía Tây, còn Những Nhân Vật Tuyệt Vọng thì em đã đọc cả tỉ lần rồi. Cuốn này em mua cho một người bạn.” “Ừ.” Tôi đáp, và những chiếc đèn đỏ nhấp nháy tín hiệu nguy hiểm trong lòng tôi. Cho một người bạn. “Có thể việc này sẽ chỉ lãng phí thời gian thôi. Anh ấy sẽ chẳng đọc đâu. Nhưng ít ra thì tác giả cũng đã bán được thêm một cuốn sách rồi, phải không ạ?” “Phải.” Có thể anh ta là anh trai, hoặc bố hay gã hàng xóm đồng tính của em, nhưng tôi biết anh ta là bạn của em. Tôi quệt ngón tay vào máy tính. “Tổng cộng là ba mươi mốt đô-la lẻ năm mươi mốt.” “Ôi trời ơi, nhiều thế cơ. Đó, đấy chính là lý do Kindle thống trị thế giới đấy.” Em nói trong khi mở chiếc ví màu hồng da lợn hiệu Zuckerman ra và đưa tôi chiếc thẻ thanh toán, mặc dù em có đủ tiền mặt trong ví để trả cho chỗ này. Em muốn tôi biết tên của em và tôi thì không ngốc đến nỗi không đoán được ý đó, nên tôi quẹt thẻ của em và để cho sự yên lặng giữa hai chúng tôi tự dưng trở nên ầm ĩ - đó là lý do hôm nay tôi đã không bật nhạc và tôi cũng không thể nghĩ ra bất cứ thứ gì để nói. “Xong rồi đây.” Tôi đưa cho em tờ hóa đơn. “Cảm ơn anh.” Em khẽ lẩm nhẩm trong miệng. “Hiệu sách này thật tuyệt.” Em ký vào hóa đơn với cái tên Guinevere Beck. Tên em như một bài thơ và bố mẹ em có lẽ là những kẻ ngớ ngẩn, giống phần lớn những cặp bố mẹ khác trên đời này. Guinevere? Làm ơn đi. “Cảm ơn, Guinevere.” “Anh gọi em là Beck được rồi. Guinevere nghe hơi dài và tức cười lắm, anh có thấy thế không?” “Beck à, em không giống cái tên của em chút nào. Mà này, album Midnite Vultures8 tuyệt thật đấy.”   Em cầm lấy túi đựng sách của mình lên, mắt vẫn không rời khỏi tôi bởi vì em muốn tôi biết em đang nhìn tôi đắm đuối. “Chắc chắn rồi, Goldberg.” “Đừng, gọi anh là Joe được rồi. Goldberg nghe hơi dài và tức cười lắm, em có thấy thế không?” Chúng tôi phá lên cười và dường như em cũng muốn biết tên tôi y như cách tôi muốn biết tên em vậy, hoặc là em chẳng buồn để ý đến cái thẻ tên gắn trên áo tôi. “Em có chắc là em không muốn lấy cuốn Bờ biển phía Tây luôn bây giờ không?” “Nghe có vẻ điên rồ nhưng quả thực là em đang tiết kiệm. Em sẽ để nó vào danh sách đọc lúc dưỡng già.” “Ý em là danh sách những việc nhất định phải làm?” “Không không, không phải. Hai cái này là hoàn toàn khác nhau. Danh sách đọc lúc dưỡng già là một danh sách những thứ anh dự định đọc và xem khi anh vào ở trong viện dưỡng lão ấy. Danh sách việc nhất định phải làm giống như là… như là đến thăm Nigeria hay nhảy khỏi máy bay vậy. Còn danh sách đọc lúc dưỡng già giống kiểu đọc cuốn Bờ biển phía Tây, xem Pulp Fiction và nghe album mới nhất của Daft Punk cơ.” “Anh không thể tưởng tượng ra được lúc em ở trong viện dưỡng lão.” Em đỏ mặt. Em như Charlotte trong truyện Mạng nhện của Charlotte vậy, còn tôi thì thật sự muốn được yêu em. “Anh không định chúc em một ngày tốt lành sao?” “Chúc em ngày tốt lành, Beck.” Em mỉm cười. “Cảm ơn anh, Joe.” Em đã không đến đây vì những cuốn sách, Beck ạ. Em không cần thiết phải gọi tên tôi. Em cũng không cần phải mỉm cười, hay lắng nghe hay đối xử tử tế gì với tôi cả. Nhưng em đã làm như thế. Chữ ký của em còn ở trên tờ hóa đơn đây. Đây không phải một giao dịch chuyển khoản và cũng không phải là một mã số ghi nợ. Cái này hoàn toàn thật. Tôi ấn ngón tay cái vào đoạn mực còn tươi trên tờ hóa đơn và dấu mực từ chữ ký Guinevere Beck của em in hằn trên ngón tay tôi rồi. Mời các bạn đón đọc Em của tác giả Caroline Kepnes & Hoài Anh (dịch) & Trà Fiew (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Mẹ - Pearl S. Buck
Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ; Những mảnh hồn sầu xứ. Mời các bạn đón đọc Người Mẹ của tác giả Pearl S. Buck.
Ngài Đại Tá Chờ Thư - Gabriel García Márquez
G. Garcia Marquez  nói : Trên thực tế mỗi nhà văn chỉ viết có một cuốn sách. Cuốn sách tôi đang viết là cuốn sách nói về cái cô đơn.  Trong tác phẩm của ông, cái cô đơn được biểu hiện như là mặt trái của sự đoàn kết, như là sự tách mình khỏi cộng đồng xã hội của con người, hay nói khác đi, đó là những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ của con người trong xã hội tư bản. Đó là những típ người đã tha hoá xuống hạng người - thú, người - công cụ - những loại người ở mức dưới Người...  *** Gabriel Garcia Márquez (sinh năm 1927) tại Aracataca, một thị trấn bên bờ biển Caribê, thuộc miền Bắc Columbia, ông là nhà văn nổi tiếng người Colombia. Ngoài viết văn ông còn là một nhà báo và một nhà hoạt động chính trị. Ông được biết đến với các tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả, Mùa thu của vị trưởng lão, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Trăm năm cô đơn... Gabriel Garcia Márquez sinh ra và lớn lên tại một gia đình trung lưu gồm 11 người con và ông là anh cả. Những năm đầu tiên học tại đại học Quốc gia Colombia Márquez đã bắt đầu tham gia viết báo và bắt đầu những tác phẩm văn học đầu tiên gồm 10 truyện ngắn nổi tiếng. Sau khi học được năm kỳ, ông quyết định bỏ học rồi chuyển về Barranquilla thực sự bước vào nghề báo và viết tiểu quyết đầu tay La hojarasca (Bão lá). Trong năm 1955, ông tới Thụy Sỹ làm đặc phái viên của tờ El Espectador. Sau đó qua Ý học tại Trung tâm thực nghiệm điện ảnh rồi sang Paris sinh sống trong điều kiện vật chất vô cùng khó khăn. Trong thời gian này ông viết cuốn tiểu thuyết La mala hora (giờ xấu), đồng thời tách từ cuốn này viết nên El coronel no tiene quien le escriba (Ngài đại tá chờ thư). Năm 1982 ông nhận giải Nobel văn học cho những cống hiến của mình. Sau đó ông vẫn tiếp tục sáng tác và có nhiều tác phẩm giá trị, ngày càng khẳng định được tên tuổi trên văn đàn thế giới. *** Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: - Ký sự về một cái chết đã được báo trước (tiểu thuyết), Nguyễn Mạnh Tứ dịch, NXB Văn Học, 1983. - Ngài đại tá chờ thư (tập truyện), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Mạnh Tứ dịch, NXB Văn Học, 1983; 2001. - Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Hải Phòng - NXB Đồng Nai, 1987. - Giờ xấu (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Thanh Niên, 1989; NXB Văn Học, 2001. - Tướng quân giữa mê hồn trận (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 1990; NXB Hội Nhà Văn, 1999.  - Mười hai truyện phiêu dạt (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1995; NXB Văn Học, 2004. - Tình yêu thời thổ tả (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 1995; 2000. - Trăm năm cô đơn (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Quốc Dũng dịch, NXB Văn Học, 1986; 1992; 1999; 2000. - 36 truyện đặc sắc (tập truyện ngắn), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 2001. - Tin tức về một vụ bắt cóc (tiểu thuyết), Đoàn Đình Ca dịch, NXB Đà Nẵng, 1998; NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001. - Những người hành hương kì lạ (tập truyện ngắn), Phan Quang Định dịch, NXB Thanh Niên, 2002. - Tuyển tập truyện ngắn, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 2004. - Sống để kể lại (hồi kí), Lê Xuân Quỳnh dịch, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2005. - Ông già và đôi cánh khổng lồ, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tập truyện ngắn nước ngoài chọn lọc, NX B Quân Đội Nhân Dân, 1998; Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh, NXB Hội Nhà Văn, 1999. - Làng này không có kẻ trộm, Quà Tết, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004. - Dấu máu em trên tuyết (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 1997. - Máy bay của người đẹp ngủ, Gió Bắc, Mùa hè hạnh phúc của bà Phorớt, Thánh bà, Người bạn Mutit của tôi, Thưa Tổng thống - chúc ngài thượng lộ bình an, Dấu máu em trên tuyết, Nguyễn Trung Đức dịch; Giấc ngủ trưa ngày thứ ba, Nguyễn Kim Thạch dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh, NXB Hội Nhà Văn, 1999. - Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong cuốn Thời cơ của Matraga, NXB Mũi Cà Mau, 1986; Những truyện ngắn nổi tiếng thế giới, NXB Hội Nhà Văn, 1999. - Buổi chiều tuyệt vời của Bantaxa, Dương Tường dịch; Thần chết thường ẩn sau ái tình, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999. - Biển của thời đã mất, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999; Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004. - Bà Maria Dos Przeres, Đoàn Đình Ca dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000. - Đôi mắt chó xanh, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004. - Thần chết thường ẩn sau ái tình, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 2004. *** Êrênhđira đang tắm cho bà nội thì cơn gió bất hạnh của đời cô cũng bắt đầu nổi lên. Căn nhà khổng lồ, tường đã lở vôi, vốn đã xiêu vẹo trong cảnh cô đơn của hoang mạc, rùng mình ngay từ cơn gió giật đầu tiên. Nhưng Êrênhđira và người bà đã quen với những nguy hiểm của thiên nhiên hung bạo ấy, cho nên cả hai người, đang ở trong buồng tắm, cái buồng tắm được trang trí bằng những chiếc lông công bện lại và bằng những bức khảm nổi thường dùng trong các nhà tắm thời các Hoàng đế Xêda – hầu như không nhận ra được sức gió mạnh tới mức nào.   Bà già, trần truồng và khổng lồ như một con cá voi, nằm trong chậu tắm bằng đá hoa cương. Cô cháu vừa xấp xỉ tuổi mười bốn, dáng người mảnh khảnh và quá ngây thơ so với tuổi của mình. Với cử động thong thả mang vẻ kính cẩn, cô cháu tắm cho bà mình bằng thứ nước lá thơm mà cứ mỗi bận dội nước xong, lá bám vào cái lưng nần nẫn, lá bám vào mái tóc ngã màu cước, lá bám trên đôi vai vạm vỡ có xăm hình nhăng nhít với vẻ giễu cợt của các thủy thủ.   - Đêm qua bà nằm mơ thấy mình đang chờ thư – người bà nói.   Êrênhđira, vốn chỉ nói khi thật cần thiết, hỏi bà:   - Bà nằm mơ vào hôm nào cơ?   - Vào ngày thứ Năm!   - Vậy là một lá thư buồn bã ạ! Nhưng có lẽ không khi nào nó tới, bà đừng lo!   Khi tắm xong cho bà già, cô cháu dắt bà mình vào phòng riêng. Bà già béo ục ịch tới mức mỗi bận đi lại bà phải vịn vào vai cô cháu hay chống một cái ba-toong giống hệt cây gậy của Đức giáo chủ. Nhưng trong những cử chỉ nặng nề ấy của bà già, người ta vẫn nhận ra cái vẻ oai phong của lối sống vương giả đã hết thời. Trong căn phòng bày biện có phần hơi bừa bãi y hệt sự bày biện trong toàn căn nhà, Êrênhđira phải mất hai giờ liền mới trang điểm xong cho bà nội mình. Trước tiên cô cháu gỡ từng sợi tóc một, xức nước hoa và chải mượt mái tóc cho bà sau đó mặc cho bà bộ váy hoa sặc sỡ. Cuối cùng cô tô điểm cho bà: thoa phấn da mặt, tô môi son, đánh má hồng, tô móng tay. Khi trang điểm xong cho bà mình như trang điểm cho con búp bê có cỡ người thực, Êrênhđira dẫn bà ra vườn hoa, cái vườn hoa nở toàn hoa sặc sỡ y hệt màu hoa trên váy áo bà, rồi để bà ngồi trên chiếc ghế có tay dựa y như chiếc ngai vàng của các đấng Quân vương, một mình lặng lẽ nghe đĩa hát. ... Mời các bạn đón đọc Ngài Đại Tá Chờ Thư của tác giả Gabriel García Márquez.
Narcisse và Goldmund - Hermann Hesse
Tập tu ở tu viện Mariabronn, Narcisse nổi bật bởi năng lực trí tuệ và văn hoá của mình. Người ta giao phó cho thầy cậu học sinh Goldmund mà thân sinh cậu ta muốn định phận làm một tu sĩ: để chuộc tội cho cuộc sống xáo động trong quá khứ của thân mẫu cậu. Narcisse kết bạn với chú em thông minh ấy. Thầy cảm nhận khuynh hướng của cậu không phải ở tu viện, và giúp cậu chọn con đường đi. Từ ấy, Goldmund lao vào sống lang thang: trải qua các cuộc phiêu lưu tình ái, cậu tha thiết bắt gặp được tiện mạo lý tưởng của người phụ nữ "Êva vĩnh cửu", gương mặt thần tượng có thể thay cho thân mẫu cậu đã qua đời. Goldmund trải qua mọi nỗi gian truân, phạm nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nay đây mai đó. Không phải Goldmund không ý thức về bản ngã, các điều đối lập nhau trong tâm hồn và xúc cảm của mình. Trong một giờ khắc suy tư tỉnh táo và sâu lắng, cậu quyết định trở thành một nhà điêu khắc: nghệ thuật là phương sách để tìm cái đẹp. Tuy vậy, cậu lại ra đi, cuốn hút theo cuộc sống lang thang... Narcisse và Goldmand kết thân với nhau; tư chất, lối sống, số phận của họ khác nhau, nhưng họ có những điểm gặp để hiểu và yêu quý nhau, để bổ sung cho nhau, khi còn trẻ cũng như về sau này.  *** Văn hào lỗi lạc người Đức Hermann Hesse sinh ngày 2/7/1877 tại Đức. Cha mẹ ông đều là những nhà truyền giáo từng làm nhiệm vụ ở Ấn Độ, còn ông ngoại là nhà nghiên cứu nổi tiếng về Ấn Độ, bởi vậy tư tưởng của Hesse chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo. Cảnh gia đình trí thức ngoan đạo với sự pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau ảnh hưởng rất sâu đậm trong con người nhà văn Hermann Hesse. Tâm hồn ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông - Tây để đi tìm một nhân loại thuần khiết, một nhân loại sống trong cảnh bình yên. Hermann Hesse khởi nghiệp sáng tác bằng thơ ca năm 1898, với tập thơ "Romantische Lieder" (Các bài hát lãng mạn). Tuy nhiên, tên tuổi ông được biết đến nhiều hơn qua các tiểu thuyết "Peter Camenzind", "Demien", "Steppenwolf" (Sói đồng hoang), "Siddhartha" và "Das Glasperlenspiel" (Trò chơi với chuỗi hạt cườm). Con đường sáng tác của Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn của cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng, có trách nhiệm đối với xã hội ở thế kỷ XX, ước mơ và tin chắc vào tương lai tốt đẹp hơn của con người. Hermann Hesse đã từng viết : "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này". Cuộc đời ông đã trải qua vô vàn những thăng trầm đau đớn, nhưng ông vẫn miệt mài sáng tạo. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. *** M ùa hè trôi qua, hoa phù dung, cúc lam, hoa cây đen và cúc sao tàn rơi, ếch nhái trong ao im tiếng, lũ cò bay lên cao, chuẩn bị ra đi. Bấy giờ Goldmund lại trở về. Một chiều mù sương, cậu trở về, không vào tu viện mà đi thẳng đến cổng vào gian xưởng của mình. Cậu đi bộ, không có ngựa nữa. Erich hoảng hốt khi thấy thầy bước vào. Chú thợ bạn nhận ra ngay thầy qua cái nhìn đầu tiên, con tim chú nhưng muốn bay ra đón thầy, nhưng dường như đây là một người hoàn toàn khác lạ: Một Goldmund giả, già đi nhiều năm, bộ mặt gần như tàn tạ, đầy phong trần, héo hon, nhăn nheo, bệnh hoạn, đau khổ, nhưng không để lộ mình đang đau đớn mà điểm một nụ cười nhân từ và kiên nhẫn. Goldmund kéo lê bước chân vật vã và dường như rất uể oải, mệt nhọc. Cậu Goldmund biến dạng và không ai nhận ra ấy chăm chăm nhìn chú thợ bạn trẻ với một con mắt kỳ lạ. Chuyến trở về của cậu rất kín đáo; cậu ứng xử như mình vừa ở căn phòng bên cạnh, như thể mới chốc lát vừa rồi, cậu đã ở đây. Chìa bàn tay cho người học trò, cậu không nói gì, không chào hỏi, chỉ bảo: “Ta cần ngủ”, có vẻ rất mệt nhọc. Cậu cho Erich đi nơi khác và sang phòng của mình ở bên cạnh gian xưởng. Nơi đây, cậu dỡ mũ và đánh rơi xuống đất, cởi giày và lại bên chiếc giường. Trong góc phòng, dưới lớp rào che, cậu nhận ra pho tượng Đức Mẹ Đồng Trinh của mình, ra một dấu hiệu tỏ ý bạn bè nhưng không dở lớp vải che và không chào hình ảnh ấy. Ngược lại, cậu xuất hiện ở khung cửa sổ nhỏ, nhìn thấy Erich ở ngoài sân đang bối rối, và cậu lên tiếng réo gọi: - Erich, cháu không cần báo với bất cứ ai là ta đã trở về. Ta đang rất mệt. Từ bây giờ đến mai, còn thời gian. Sau đó, cậu để nguyên quần áo đang mặc, nằm lăn ra giường. Hồi lâu, không ngủ được, cậu ngồi dậy, nặng nề bước lại gần bức tường có treo một chiếc gương soi và đưa mắt nhìn vào đó. Cậu qua sát chăm chú lão Goldmund từ trong gương nhìn cậu: Một bộ mặt quen biết nhưng lại như xa lạ, đối với cậu nó dường như không thực sự hiện hữu, và cậu không hề cảm thấy có chút quan hệ nào. Cậu chỉ nhớ những bộ mặt khác từng quen biết: Một ít vì thầy Niklaus, một chút về vị hiệp sĩ già ngày trước đã ra lệnh may cho cậu một bộ áo quần đung thời trang, cũng có phần thánh Jacques trong ngôi nhà thờ, vị thánh Jacques cao niên, nhiều râu, dưới chiếc mũ khách hành hương có vẻ rất già, rất già và da xạm, tuy vậy vẫn toát ra một ấn tượng vui vẻ và nhân từ. ... Mời các bạn đón đọc Narcisse và Goldmund của tác giả Hermann Hesse.
Chiếc Cầu Trên Sông Drina - Ivo Andritch
Chiếc cầu danh tiếng xây trên sông Drina ở Vichégrad để nối xứ Bosnie với xứ Serbie, cả hai thời đó đều là những tỉnh trong đế quốc Thổ, mới là nhân vật chính trong bộ cố sự chép từ thế kỷ XVI tới năm 1914 đó. “Công trình kiến trúc quí báu, đẹp tuyệt vời” kia trong xứ hẻo lánh ấy làm cho người ta ngạc nhiên và giúp cho tác phẩm có tính cách nhất trí: Chương nào cũng chép một cố sự liên quan tới “chiếc cầu trên sông Drina” Chiếc cầu đó được xây 1571, chương 3 và 4 chép việc xây cầu, những khổ dịch, và đau khổ ghê gớm mà tên hiểm ác Abidaga, người tin cẩn của quan tể tướng, bắt dân chúng chịu âm mưu phá cầu do Radislav tổ chức bị phát giác, Radislav bị bắt giam rồi bị xử tử xóc xiên (cuộc hành trình này thật rùng rợn, bút pháp tả chân thành tàn nhẫn) Nhưng mọi thứ biến cố - hết thảy đều liên quan tới chiếc cầu trên sông Drina - nối tiếp nhau xảy ra trong những thế kỷ sau: nạn lụt, loạn lạc, bệnh dịch, và trên cầu đặt lính canh gác, kiểm tra mọi người qua cầu, vụ tự tử của thiếu nữ diễm lệ Fata, để tránh khỏi một cuộc ép duyên… Bố cố sự dài này xen lẫn nhiều truyện tình cảm hoặc khôi hài, hấp dẫn từ đầu tới cuối. Như trong tập Cố sự Travnik, biến cố lịch sử ghép vào những sự biến cố gia đình. Tác giả là một học giả mà cũng là một nghệ sĩ, mô tả tâm lý rất dài. *** Ivo Andrić là nhà văn Nam Tư đoạt giải Nobel Văn học năm 1961. Ivo Andrić sinh ở làng Dolac, gần Travnik, Bosna và Hercegovina, khi đó thuộc Đế chế Áo-Hung. Tên là Ivan nhưng mọi người thường gọi là Ivo. Bố mất năm Ivo lên 2, mẹ phải đưa con đến ở nhờ một bà dì. Thời trẻ Ivo Andrić sống ở Bosnia nên ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều tầng lớp đại chúng của nhiều sắc tộc, nhiều tôn giáo, nhiều nền văn hóa khác nhau vùng Balkan. Ông học triết học tại các đại học ở Zagreb, Viên và Kraków. Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra khiến ông phải nghỉ học; sau đó bị bỏ tù do hành động chống Đế quốc Áo. Năm 1923, Ivo Andrić nhận học vị tiến sĩ tại trường Đại học Graz, làm việc tại Bộ ngoại giao Nam Tư. Chức vụ cuối cùng mà ông nắm giữ là Tham tán tại Đại sứ quán Nam Tư ở Berlin. Khi Đức xâm lược Nam Tư năm 1939, Ivo Andrić trở lại Beograd cho tới hết Chiến tranh thế giới thứ hai, sau đó tiếp tục sống ở thủ đô Nam Tư. Ivo Andrić bắt đầu sự nghiệp văn chương với vai trò là nhà thơ: năm 1918 ra đời tập thơ Ex ponto (Từ biển), và hai năm sau là tập Немири Lo lắng. Sau đó, ông tập trung viết truyện ngắn. Cuốn đầu tiên là Пут Алије Ђерзелеза (Chuyến đi của Alija Djerzelez), xuất bản năm 1920, được coi là một trong những tác phẩm nổi trội trong cuộc đời sáng tác của Ivo Andrić. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, ông gần như bị quản thúc tại nhà; không thể tham gia cuộc kháng chiến chống phát xít, ông tập trung sáng tác. Năm 1941 - 1945 ông viết bộ sách có tên gọi chung "Bộ ba Bosna" với ba tiểu thuyết trở thành kiệt tác, На Дрини ћуприја (Nhịp cầu trên sông Drina), Травничка хроника (Sử biên niên Travnicka) và Госпођица (Tiểu thư); trong đó nổi tiếng nhất là Nhịp cầu trên sông Drina, kể về cuộc chiến giữa những người Do Thái giáo, Hồi giáo và Kitô giáo trong lịch sử mấy trăm năm của Bosna. Ivo Andrić đạt tới đỉnh cao danh tiếng sau chiến tranh và trở thành một trong những nhà văn hàng đầu của Liên bang Nam Tư (mà Bosna là một trong sáu thành viên), vào Đảng Cộng sản và giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Nam Tư. Năm 1948, ông giới thiệu cuốn Nove pripovetke (Những câu chuyện mới) viết về vấn đề con người xã hội lúc bấy giờ, về tâm lý của con người trong chiến tranh, về thời kì hậu chiến. Năm 1960, ông cho xuất bản tuyển tập truyện ngắn Lica (Những gương mặt). Ivo Andrić cũng viết một số khảo luận, trong đó nổi bật là Zapisi o Goji (Những ghi chép về Goya). Năm 1961 ông được nhận giải Nobel vì tài năng nghệ thuật sử thi "cho phép đặt ra những vấn đề và những số phận con người gắn với lịch sử đất nước một cách đầy đủ nhất". Ông mất năm 1975 ở Beograd. Tác phẩm: Ex ponto (Từ biển, 1918), tập thơ Немири (Lo lắng, 1919), tập thơ Пут Алије Ђерзелеза (Chuyến đi của Alija Djerzelez, 1920), tiểu thuyết Pripovetke (Truyện ngắn, 3 tập, 1924, 1931, 1936), truyện ngắn На Дрини ћуприја (Nhịp cầu trên sông Drina, 1945), tiểu thuyết Травничка хроника (Sử biên niên Travnicka, 1945), tiểu thuyết Госпођица (Tiểu thư, 1945), tiểu thuyết Nove pripovetke (Những câu chuyện mới, 1948), tập truyện Проклета авлија (Khu vườn bị nguyền rủa, 1954), truyện vừa Lica (Những gương mặt, 1960), tuyển tập truyện Zapisi o Goji (Những ghi chép về Goya, 1961), tiểu luận Омерпаша Латас (Omer-Pasha Latas, in sau khi mất vào năm 1977) *** Bối cảnh của truyện này là xứ Bosnie – Herzégovine, nhưng trong vài chương xứ Serbie cũng thường được nhắc tới; mà những xứ đó, đa số độc giả chưa được biết, nên chúng tôi giới thiệu ít hàng dưới dây để độc giả dễ hiểu truyện. Chúng ta thường nghe nói đến Nam Tư Lạp Phu (tiếng Pháp là Yougoslavie có nghĩa là xứ của dân tộc Slave phương Nam, mà Slave trỏ một giống người ở Trung Âu, nhất là Đông âu như dân tộc Ukraine, Serbie, Croatie, Nga, Bảo Gia Lợi …) và Thống chế Ti to, vị anh hùng Nam tư theo chế độ cộng sản. Ông có tinh thần quốc gia mạnh mẽ, ngày càng xích gần lại với Tây Âu. Bosnie – Herzégovine và Serbie nay là hai trong sáu tiểu bang của Liên bang Cộng hòa Nhân dân Nam Tư, bốn tiểu bang kia là Croatie, Slovénie, Monténégro, Dalmatie. Liên bang đớ nằm trên bờ vịnh Adriatique, phía Tây ngó qua Ý, phía Đông Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, phía Bắc giáp Áo, phía Nam giáp Hy Lạp; dân số năm 1954 khoảng 17 triệu, kinh đô là Belgrade, trên tiểu bang Serbie. Bosnie – Herzégovine và Serbie là hai tiểu bang giáp nhau, rộng nhất, dân số mỗi tiểu bang năm 1954 khoảng bốn triệu. Cả hai đều nhiều núi, từ thế kỷ XIX trở về trước nguồn lợi canh là canh nông và mục súc. Kinh đô của Bosnie – Herzégovine là Sarajevo, của Serbie là Belglade. Dân hai xứ đều là giống Slave, hiện nay khoảng một phần ba theo Hồi giáo, hai phần ba theo Ki tô giáo. Lịch sử của họ rất gian truân, có lẽ nhờ vậy mà họ anh dũng và có tinh thần quốc gia mạnh. Mới đầu họ lệ thuộc La Mã, qua thế kỷ VII mới thành lập những tiểu quốc gần như độc lập: Bọsnie – Herzégovine, Serbie. Họ phải chống với những dân tộc ở chung quanh: Hi Lạp, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi. Thế kỷ IX họ theo Ki tô giáo. ... Mời các bạn đón đọc Chiếc Cầu Trên Sông Drina của tác giả Ivo Andritch.