Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Hè Để Nhớ - Mary Balogh

Anh - một tử tước đang chạy trốn bản thân - quyết định chọn một cô vợ để buộc ông bố dẹp bỏ ý đồ bắt anh lấy một người mà anh không còn muốn lấy nữa. Và vì lấy vợ mà không cần tình yêu ấy, anh quyết định chọn một quý cô "đoan trang nhất, cao quý nhất và ... buồn tẻ nhất"(!). Nàng - là người được chọn vì đáp ứng hoàn hảo các tiêu chuẩn ấy. Rồi nàng phát hiện ra ý đồ của anh, nhưng nàng đã quyết định làm người hứa hôn giả của anh để giúp anh thực hiện ý định, bù lại anh phải tặng cho nàng "một mùa hè để nhớ". Nàng đã phải nhớ mãi mùa hè ấy... vì những điều anh đã làm... *** Phòng thay quần áo của Lauren thình lình có vẻ đông đúc hơn dù nàng vừa mới đẩy cô hầu đầy nước mắt ra khỏi trước đó năm phút. Cô nàng ngốc nghếch cứ sụt sịt và chảy nước mắt suốt cả tiếng đồng hồ thay quần áo cho cô chủ và làm tóc cho nàng. Trong đời cô chưa bao giờ hạnh phúc hơn, cô đã nói thế khi thiểu não nấc lên và dù cô hoàn toàn chẳng vui tí nào khi không được gặp mẹ, sống ở hạ Newbury, được thường xuyên, thì cô vẫn rất hồi hộp được dời đến Alvesley và gọi ngài Ravensberg là ông chủ. Anh là quý ông tử tế nhất, đẹp trai nhất mà cô từng thấy. Lauren phải cho phép vì sự thật là hôm nay là ngày mà những xúc cảm có thể trở nên rất cao trào. Hôm nay là ngày cưới của nàng. Dì Clara là người đầu tiên vào phòng thay đồ của nàng. Lauren không ăn sáng với tất cả khách khứa trong phòng ăn. Một chiếc khay được mang lên phòng nàng, chất đầy những món ăn ngon lành, những món nàng ưa thích. Nàng không ăn nổi lấy một miếng. Dì Clara ôm lấy nàng nhẹ nhàng, để hai người họ không bị ép nghẹt thở bởi bộ trang phục lộng lẫy cho ngày cưới của mình. "Lauren," bà nói. Đấy là tất cả những gì bà có thể nói, rồi bà mỉm cười. Oh, phải, hôm nay là ngày của xúc động. Lauren biết dì rất vui mừng cho nàng. Bà đã buồn rầu kinh khủng khi biết tin hủy hôn, đã bị thuyết phục là cuối cùng cháu gái mình đã tìm thấy hạnh phúc khi ở Alvesley. Bà thực sự đã khóc – Neville và Lily đã phải an ủi bà – khi Lauren và Kit bước vào phòng khách ở tu viện khá trễ trong buổi chiều mưa một tháng trước. Họ không cần phải nói một lời nào. Mọi người biết ngay là họ đã giảng hòa với nhau. Thật là ngượng ngùng bối rối. Quá rõ như ban ngày tại sao họ lại ở dưới bãi biển quá lâu đến thế. Gwen là người tiếp theo vào phòng. "Oh," cô nói, dừng lại ở ngưỡng cửa, "em mới đẹp làm sao, Lauren. Chưa từng người nào chị biết – có lẽ trừ Elizabeth – có thể làm biến mất vẻ mộc mạc giản dị và làm cho mình thanh lịch và tao nhã đến thế. Vài người chúng ta trở nên vừa lùn vừa béo mất rồi." Lauren bật cười với niềm vui sướng thực sự. Gwen thấp người và tròn trịa hấp dẫn, nhưng lùn và béo mập là từ cuối cùng mà người ta có thể sử dụng để mô tả về cô. Rồi tử tước Whitleaf – em họ Peter – gõ nhẹ vào cửa và ló đầu vào, mặt đỏ bừng đầy háo hức khi Gwen mở cửa ra. "Oh, em nói nhé!" cậu thốt lên. "Chị đẹp lộng lẫy, chị họ. Em vừa ở nhà thờ về. Em nghĩ em sẽ thò đầu vào, chào buổi sáng tốt lành và chúc phúc cho chị, vì em là người thân duy nhất hiện diện từ bên nhà nội của chị. Em hy vọng thế không phải là láo xược. Vũ hội đêm qua rất là vui, đúng không?" Lauren vội băng qua phòng dùng cả hai bàn tay mình nắm lấy hai bàn tay cậu. "Vũ hội rất vui," nàng nói. "một phần lớn vì em đã đến và cuối cùng chị cũng gặp được em. Em đã làm cho niềm hạnh phúc của chị trở nên trọn vẹn." "Oh, em bảo mà!" cậu kêu lên, trông rất vui. "Nhưng em nên ra thôi." Cậu nhìn thấy Gwen đứng bên cửa và cúi chào cô. "Tôi có thể cảm ơn cô lần nữa không, thưa cô, vì lòng tốt vô cùng của cô khi dành phòng mình cho tôi đêm qua?" Chẳng còn phòng nào ở tu viện hay ngôi nhà thừa kế hay quán trọ. Gwen đã ngủ trên chiếc giường phụ trong phòng thay quần áo của dì Clara. Và rồi, chưa đầy hai phút sau khi cậu rời khỏi, Neville và Lily xuất hiện. "Chúng tôi chỉ muốn ghé qua xem Lauren trên đường ra nhà thờ thôi." Lily nói như xin lỗi. "Oh, Lauren, em đẹp tuyệt vời. Tôi rất hạnh phúc cho em. Rất hạnh phúc." Cô ôm lấy Lauren, chẳng bận tâm đến mối nguy hiểm cho bộ trang phục lộng lẫy của họ - và có thể thấy rõ do tình trạng cồng kềnh của cô. Lauren ôm lại cô. "Tôi yêu quý chị, Lily," nàng thì thầm. "Tuyệt quá, tôi cũng nghĩ thế," Lily nói, không chút nao núng. "Nếu không phải vì tôi, thì hôm nay sẽ không phải là ngày cưới của em, đúng không?" Lily đầy tin tưởng nói toạc ra tất cả. Rồi đến phiên Neville. Như dì Clara, anh không nói gì cả - không kể cả tên nàng. Nhưng anh vòng tay ôm chặt lấy nàng sát vào lòng. Nàng cũng vòng tay quanh người anh và nhắm mắt lại. Neville. Neville yêu dấu thân thương của nàng. Người anh trai thân thương nhất, thân yêu nhất mà một người phụ nữ từng có. Nàng biết – dù họ không nói ra điều đó – là ngày hôm nay có ý nghĩa nhiều với anh biết bao nhiêu. Hôm nay là ngày mà cuối cùng anh cũng nhìn thấy nàng được hạnh phúc trọn vẹn, là ngày cuối cùng anh cũng có thể để cho tội lỗi khủng khiếp của mình ra đi. "Hạnh phúc nhé," anh nói, khi cuối cùng cũng thả nàng ra và mỉm cười với nàng. "Hứa với anh nhé?" "Em hứa." nàng mỉm cười lại. "Em yêu anh ấy, anh biết mà." "Nếu chúng ta không đi ngay, Neville," dì Clara nói, "cô dâu sẽ phải lôi chúng ta tới nhà thờ. Như thế hổ thẹn lắm." Họ đều bật cười, và dì Clara là người sau cùng, chần chừ nhìn Lauren khi bước ra với Neville và Lily. Lauren còn lại một mình với Gwen. Nàng quay lại nhìn cô, nụ cười nhạt dần đi. "Có lẽ," nàng nói. "Em đã nên đề nghị tổ chức đám cưới ở Alvesley." Gwen hiểu ngay. Sao nàng không thể? Họ có các chị em gái và bao bạn bè suốt hai mươi ba năm qua. "Không," cô nói. " Sự đứng đắn và dũng khí của em đã không làm em gục ngã hơn một năm rưỡi qua, Lauren. Giờ chúng cũng không thể làm gì em được." Cô hầu của Lauren vỗ nhẹ vào cửa và thò đầu vào nhìn quanh. Cô vẫn còn nước mắt. Nam tước Galton đang đợi cô Edgeworth và quý cô Muir ở sảnh dưới, cô ta thông báo. Mọi thứ đều làm nhớ lại... Lần đó là vào cuối mùa xuân – tháng ba. Lần này là cuối tháng mười. Thời tiết đẹp hơn, mát mẻ nhưng có nắng. Cây cối quanh ngôi nhà thừa kế và dọc theo lối đi ngắn trước khi xe ngựa ra đến cổng công viên và chạy vào trong làng đến nhà thờ ở phía bên kia được trang hoàng bằng tất cả màu sắc lộng lẫy huy hoàng của mùa thu. Lối vào được trải thảm bằng những chiếc lá rơi. Bãi cỏ của làng lố nhố người. Đám người dầy đặc tụm lại quanh cửa và sân nhà thờ. Con đường bao quanh bãi cỏ xếp hàng dài những cỗ xe ngựa không người đủ loại. Những người đánh xe đứng vẩn vơ quanh đó, trố mắt ra nhìn với vẻ thích thú, những bộ chế phục màu sắc phân biệt họ với những người trong làng. Ah, phải, làm nhớ lại sự sợ hãi. Đứng bên trong hành lang nhà thờ vài phút sau đó trong khi Gwen khom người vuốt phẳng viền áo và sắp xếp đuôi áo cho nàng, Lauren có thể cảm nhận được những nhóm người đầy trong nhà thờ chỉ ngay bên kia tầm nhìn của nàng. Cha sở đang chờ ở tay vịn bàn thờ. Kit và Syd cũng vậy. Nàng có hình dung được tất cả những người đứng bên ngoài, đợi tiếng chuông nhà thờ ngân vang để báo nghi lễ đám cưới đã hoàn tất, đợi tóm được cái nhìn thoáng qua của cô dâu và chú rể khi họ từ nhà thờ đi ra, vừa mới cưới xong. Và nàng cũng gần như có thể cảm thấy người đàn bà ăn vận tồi tàn, chạy bổ nhào lên lối đi trong sân nhà thờ vào trong hành lang và phớt qua Lauren để vội vàng vào trong nhà thờ để làm cho thế giới sụp đổ đến tận cùng. Ông ngoại đang đợi một cách kiên nhẫn, mỉm cười yêu thương với nàng. Nàng nghĩ chắc chắn nàng sẽ ngất xỉu. Tệ hơn, nàng thấy cáu gắt kinh khủng. Sự hoảng loạn quắp lấy những bờ mép của sự kiểm soát. Rồi Gwen nhìn lên nàng – và đứng thẳng lên nắm lấy tay nàng, siết nhẹ trong tay mình. "Lauren," cô dịu dàng nói, "hiện giờ mọi chuyện đã qua rồi mà. Quá khứ đã qua rồi. Tương lai đang đợi em. Ngày hôm nay – là ngày cưới của em. Ngày cưới thực sự của em." Cây đàn lớn bắt đầu dạo nhạc. Ông ngoại chìa cánh tay ra. Và họ bước vào trong nhà thờ, vào trong lối đi dài dằng dặc giữa giáo đường. Trong vài phút nàng có thể nhìn thấy mọi thứ, như thể nó luôn được khắc trong tâm trí nàng. Những gương mặt quay lại nhìn nàng bước tới gần, phần lớn đều thân quen, đa số đều mỉm cười. Nàng thậm chí còn nhìn thấy từng người một – Joseph, dám nháy mắt với nàng, Claude và Daphne Willard, dì Sadie và chú Webster, công tước Bewcastle và quý ngài Rannulf Bedwyn, Elizabeth, công tước Portfrey, em họ Peter, bà nội Kit, gật đầu và cười rạng rỡ, Lily và Neville, dì Clara, ông bà bá tước Redfield. Nhưng chỉ vài phút thôi. Rồi mắt nàng tập trung vào điểm cuối lối đi, nơi có một người đang đứng đợi nàng. Anh không cao bằng cha sở đang đứng một bên anh hay Sydnam đứng ở phía bên kia. Nhưng anh đẹp trai không tin được và ăn vận tao nhã tuyệt vời trong chiếc áo khoác đuôi tôm vừa vặn màu đen, chiếc quần ống túm satin màu ngà và chiếc áo gi lê thêu bằng vải lanh và đôi vớ trắng tinh. Đăng ten vòng quanh cổ và cổ tay anh. Kit! Anh trông rất long trọng và trang nghiêm. Nhưng không! Khi đến gần hơn, Lauren có thể nhìn thấy đôi mắt anh mỉm cười. Không phải với vẻ vui tươi và ranh ma thông thường, và là cái gì đó lấy hết hơi thở của nàng dù nàng biết không hề nghi ngờ gì trong suốt cả tháng nay là anh yêu nàng. Anh viết thư hàng ngày từ Alvesley – đôi khi hai lần một ngày, có một lần viết những ba lần một ngày – để nói với nàng điều đó, thường là với thứ ngôn từ cầu kỳ hoa mỹ kỳ quặc ác liệt mà anh biết là sẽ làm cho nàng phì cười. Đôi mắt anh kéo nàng lại với anh. Chúng làm nàng thấy ấm nồng từ đầu đến ngón chân, chúng nhìn như nuốt lấy nàng, làm nàng thấy mình đẹp, được khao khát và rất được thèm muốn. Đôi mắt anh tôn thờ nàng. Đột nhiên nàng tự hỏi là mình có đang mỉm cười không và nhận ra là có. Nàng cũng sợ hãi như thường bị trong suốt những đêm mất ngủ, trong suốt lúc thay quần áo cho đám cưới, trong suốt thời gian đến nhà thờ và đứng trong hành lang. Ngay cả bây giờ nàng cũng sợ, ngay cả bây giờ khi ông nội đang trả lời những câu hỏi của đức cha và trao bàn tay nàng vào tay Kit, là điều gì đó sẽ xảy ra. Đám cưới – đám cưới của nàng – đang diễn ra, nàng nhận ra điều ấy, nhưng nàng vẫn không thể chú tâm vào nó được. Nàng nghĩ hoàn toàn có thể nàng sẽ ngất đi mất thôi. Anh chưa bao giờ thấy nàng đẹp hơn. Chiếc áo dài satin trắng tỏa sáng lung linh không hề trang trí cầu kỳ ngoại trừ viền gấu và vòng quanh đuôi áo, ở mép tay áo ngắn và viền quanh cổ, cổ áo được viền theo kiểu vỏ sò thanh nhã và trang trí bằng chỉ thêu bạc và hàng trăm – có lẽ hàng ngàn – những viên ngọc trai nhỏ xíu. Chiếc mũ, đôi giày mềm, đôi găng tay dài đều màu trắng, chiếc mũ được tô điểm với chiếc khăn trùm bằng ren tốt nhất, dài qua mặt nàng. Chỗ có màu duy nhất là sợi dây ruy băng màu tím dưới ngực áo, đuôi kéo dài đến tận gấu áo, và bó hoa nhỏ màu tím với những chiếc lá xanh sẫm nàng cầm trong một bàn tay. Anh chưa bao giờ nghĩ ngày cưới là ngày hạnh phúc nhất trong đời mình. Anh luôn nghĩ rằng những đám cưới – nếu trừ đêm tân hôn – đều chán ngắt mệt mỏi, một việc khá là rối rắm với đàn ông. Nhưng hôm nay anh phải thừa nhận rằng người ta đã nói điều gì đó về sự rập khuôn xưa cũ. Thật ra là, nhiều điều. Ban đầu nàng trông khá là giống Lauren Edgeworth tượng đá ngày xưa. Nhưng rồi, khi mắt nàng tập trung vào anh và nàng bước tới gần hơn, nàng mỉm cười. Trái tim anh loạn nhịp. Lại một sự rập khuôn nữa. Có lẽ đám cưới là dịp để nhân cách hóa những sự rập khuôn. Anh đã không gặp nàng cả tháng qua. Và hôm qua anh khó khăn lắm mới đến được gần nàng. Hôm nay... phải, hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong đời anh. Rồi anh nhìn thấy sự sợ hãi khủng khiếp sau nụ cười của nàng và cảm nhận được sự đông cứng trong bàn tay nàng. Không chỉ là vì căng thẳng hồi hộp. anh biết nàng đủ rõ, Chúa ơi, để hiểu điều đó. Và dĩ nhiên – dĩ nhiên rồi! Anh đã suy nghĩ về tính thích hợp của nhà thờ Newburry – quang cảnh đám cưới đầu tiên của nàng – cho lễ cưới của họ. Nhưng anh đã kết luận là tốt hơn cho nàng nếu tổ chức đám cưới ở đây, để có thể để cho các bóng ma được yên nghỉ. Anh thật ngu xuẩn – ngốc nghếch ngu si – không nhận ra là phần này của ngày sẽ là sự thử thách khủng khiếp thế nào đối với nàng. Anh cố gắng mang lại sự an toàn cho nàng bằng bàn tay anh, bằng đôi mắt anh. Anh cố bao bọc sự an toàn của tình yêu của anh quanh nàng. Anh không chú tâm vào đám cưới nữa. "Ta yêu cầu và giao trách nhiệm cho cả hai con," cha xứ nói khi Kit tập trung trở lại – và anh có thể thấy Lauren cũng đột nhiên lắng tai nghe, "là hai con phải trả lời vào ngày phán xét đáng sợ này, khi những bí mật của tất cả những trái tim được phơi bày, là nếu ai trong hai con biết bất cứ điều gì cản trở lý do hai con không thể kết hợp với nhau hợp pháp vào đời sống vợ chồng, thì hai con phải thú nhận bây giờ; vì ta đảm bảo với các con rằng những cặp vợ chồng đến với nhau theo những cách khác mà không phải được lời của Chúa cho phép, sẽ không được Thiên Chúa kết hợp, và hôn nhân cũng sẽ không là hợp pháp." Bàn tay nàng đông cứng trong tay anh. Không, tình yêu của anh, không ai phá vỡ sự im lặng này đâu. Không có sự ngăn trở nào cả. Trong thời khắc này tất cả đã qua rồi – tất cả nỗi sợ hãi phi lý đó. Dũng cảm lên, tình yêu của anh. "Người phụ nữ này chưa từng kết hôn chứ?" Đã qua rồi. Đã qua rồi. Nàng thả lỏng ngay tức khắc và mỉm cười rạng rỡ với anh. Không có sự cản trở nào cả. Sớm – rất sớm thôi – họ sẽ là chồng và vợ. Kết hợp với nhau thành một cho đến khi cái chết chia lìa họ. Anh vén tấm mạng ra khỏi gương mặt nàng, gập nó qua vành mũ của nàng. Anh mỉm cười với đôi mắt nàng. Tình yêu của anh. Nữ bá tước của anh. Vợ anh. Sự khiếp sợ - sự khiếp sợ ngu xuẩn – đã được lãng quên. Ký tên vào sổ đăng ký, chuông nhà thờ rung lên từng hồi vui tươi báo cho thế giới bên ngoài, tiếng đàn vang lên tưng bừng hân hoan, cặp vợ chồng mới cưới quay bước lại trên lối đi giữa giáo đường, mỉm cười với tất cả họ hàng và bạn bè, và mọi người cũng cười lại với họ. Nhưng vài sự tụ tập không thể chờ đợi được. Những người họ hàng của cả hai gia đình và vài người khác len ra ngoài và tự trang bị cho mình trước khi Kit và Lauren bước ra ánh nắng mặt trời và người trong làng bùng lên chúc mừng, gần như tất cả mọi người đã tụ tập ở cửa ra vào và cỗ xe ngựa để mở - trang hoàng phong phú với những dây ruy băng và những dải giấy màu trắng – cỗ xe sẽ chở họ đến tu viện cho bữa tiệc cưới. Những người họ hàng đã xếp hàng dọc theo hai bên lối đi của sân nhà thờ, ai nấy đều cười toe toét đầy hiểm độc, người nào cũng được trang bị hàng đống lá cây khô. "Hmm," Kit nói khi Lauren cười rạng rỡ với mọi người xung quanh. Không gì có đủ sức làm hỏng niềm hạnh phúc ngày cưới của nàng. "Chúng ta sẽ co mình lại vào giữa đám đông và hy vọng thoát khỏi tầm nhìn của họ vài phút nhé? Hay là chúng ta chạy băng qua?" "Rất không đàng hoàng," nàng nói, "nếu làm hỏng niềm vui của họ." "Không đàng hoàng." Anh cười nhăn với nàng. "Vậy để nó xảy ra vậy. Nhưng họ sẽ thất vọng nhiều nếu chúng ta chúi đầu xuống và chạy qua. Ta sẽ làm họ thất vọng chứ?" "Chắc chắn," nàng đồng tình, khoác tay anh và điềm tĩnh bước xuống lối đi trong sân nhà thờ với anh, mỉm cười và vẫy tay và bị tưới bởi những chiếc lá đầy màu sắc rực rỡ. Họ vẫy chào đám đông lần nữa khi Kit giúp nàng vào trong cỗ xe và rồi nhảy tót lên ngồi cạnh nàng. Người đánh xe quát lên ra lệnh với giọng hiền lành, và đám đông rẽ ra để họ đi qua, chiếc xe tròng trành chuyển động, và Kit ném tung ra hàng nắm tiền xu để sẵn trên ghế ngồi. Khách dự đám cưới bắt đầu tràn ra khỏi nhà thờ. Bàn tay Kit tìm bàn tay Lauren và ấm áp nắm chặt lấy nó. Họ nhìn nhau, mỉm cười khi cỗ xe chậm rãi chạy vòng qua bãi cỏ trước khi đi vào giữa hai cột cổng vào trong công viên. "Cuối cùng cũng được ở một mình với nhau," anh nói. "Hoặc là gần như một mình. Tháng vừa rồi thật dài vô tận." "Phải, nhưng nó qua rồi." Đôi mắt nàng lóng lánh những giọt nước mắt bất ngờ. "Và sáng nay cũng qua rồi." Anh siết bàn tay nàng chặt hơn. "Mọi việc đều hoàn hảo," anh nói. "Vợ anh ạ. Luôn luôn và mãi mãi là vợ anh, Lauren. Luôn luôn và mãi mãi là tình yêu của anh." "Tình yêu của em," nàng nhẹ nhàng lặp lại. Rồi nụ cười của nàng rạng rỡ hơn. "Ôi, Kit, em rất vui vì anh đã đánh nhau trong công viên hôm đó và em đi ngang qua. Em rất vui là anh đã có cuộc đánh cược quá quắt đó với bạn anh. Em rất vui-" Anh nghiêng đầu qua và hôn nàng. Từ sau lưng họ, một tràng la ó chúc mừng dậy lên. Và một tiếng huýt sáo lảnh lót. Tiếng chuông nhà thờ vang lên từng hồi vui vẻ. Mời các bạn đón đọc Mùa Hè Để Nhớ của tác giả Mary Balogh.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tìm Trong Nỗi Nhớ
Cuốn truyện này tuy hoàn toàn hư cấu nhưng “rất thật”. Những ai đã từng du học ở Liên Xô cũ hay nước Nga ngày nay có thể nhận ra một phần của mình trong đó. Sách xuất bản lần đầu tại Việt Năm năm 2003 và được giải của cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội Nhà văn Việt Nam. Về tác giả: Lê Ngọc Mai là cựu giảng viên khoa Văn tại Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội). Bảo vệ luận án Tiến sĩ về Văn học Nga tại Đại học Tổng hợp Lomonosov – Moskva. Là tác giả của các tiểu thuyết “Tìm trong nỗi nhớ” và “Trên đỉnh dốc”, và là dịch giả của nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn từ các thứ tiếng Nga, Ý, Pháp sang tiếng Việt, trong đó có: Chó hoang Dingo hay là câu chuyện mối tình đầu; Và nếu như đó là sự thật ... Người tình (Dumas); Ngôn từ (J.P Sartre, dịch cùng nhà văn Thuận). ... *** Đó là một ngày mùa hè nắng chói chang cách đây vừa đúng hai mươi năm. Chiếc xe commăngca dã chiến bạt sờn, sơn lở mà bố tôi mượn của cơ quan chở ba bố con tôi ra sân bay Nội Bài. Tôi lên đường đi học đại học ở Nga, bố và em trai đi tiễn. Đây là lần đầu tiên tôi rời Việt Nam. Mười tám tuổi, bốn mươi ba cân, hành lý là một chiếc vali lèn đầy quần áo và các mặt hàng tạp hóa. Son phấn Thái (xịn), kimono Nhật (rởm), áo phông nữ "cành mai", áo phông nam "cá sấu"..., mỗi loại xếp thành một xấp. Một đống quần lót "hoa hồng" xanh đỏ tím vàng với số lượng thừa thãi cho cả năm năm đại học. Hai bức tranh sơn mài màu sắc na ná như nhau, đỏ đỏ, xỉn xỉn, một bức "chăn trâu thổi sáo" và một bức "vịnh Hạ Long". Vài tấm tranh lụa, cái nào cũng tre, chim với thiếu nữ áo dài ( khi tre chim nhiều thì áo dài ít, khi tre, chim ít thì áo dài nhiều). Dăm gói bột nghệ, một lô dầu cao "Sao Vàng", mấy hộp "sâm quy bổ thận" (thành phần ghi ngoài vỏ hộp gồm nhiều loại cây thuốc nghe tên rất đáng nể, nhưng không thấy có sâm.) Số hàng hóa này không phải là dành cho tôi, tức là không phải để tôi dùng. Phần tôi, chỉ có vài bộ quần áo và hai tập từ điển Nga-Việt dày cộp. Còn lại, quần áo, son phấn, thuốc thang là để xuất khẩu sang thị trường Nga với mục đích đổi về bàn là, nồi hầm, ấm điện, tủ lạnh... Các tác phẩm nghệ thuật thì dành để khi có dịp dùng làm quà tặng thầy giáo, bạn bè (người Nga, tất nhiên, chứ người mình có ai treo những thứ này trong nhà.) Suốt cả tuần lễ trước ngày tôi lên đường, chiều nào sau giờ làm việc cô tôi cũng phải lăn lóc lượn đi lượn lại Hàng Ngang, Hàng Đào để kiếm cho đủ chủng loại, số lượng hàng hóa cần thiết. Cô nhất quyết dành cái công việc khổ sai này về phần mình vì không tín nhiệm bố con tôi." Lù đù như bố con mày, không mua nhầm hàng rởm thì cũng bị chúng nó chém cho, thôi cứ để đấy cô lo, cô có kinh nghiệm mua đồ cho thằng V. đi Hung năm ngoái rồi". Những túi to, bọc nhỏ mà cô hì hụi vác đến làm bố tôi phát hoảng: "Con L. C. đi học chứ có đi buôn đâu mà cô bắt nó tha đi nhiều thứ thế !" " Ai cũng mang đi như vậy cả, tội gì không mang", cô tôi gạt phắt. Đúng, ai cũng mang đi như vậy cả. Lúc kiểm tra ở hải quan, hơn ba chục cái vali của cả đoàn mở ra, cái nào cũng có ngần ấy thứ: "cành mai", "cá sấu", phấn "con bướm", xi líp "hoa hồng"... Mấy cậu bạn tôi, trong lúc xếp lại đồ đạc, vụng về làm tung ra ngoài xấp quần lót nữ màu sặc sỡ, mặt đỏ lựng lên ngang màu đỏ của bông hồng thêu trên quần lót (thời ấy khái niệm "đỏ mặt" còn tương đối thông dụng.) Trong vali của tôi có một thứ mà chắc chẳng ai trong đoàn cùng đi hôm ấy có. Không, không phải là một mặt hàng "độc" mang lậu qua hải quan. Đó chỉ là một tờ giấy đơn sơ với vài hàng chữ viết to, đường nét rắn rỏi, tự tay bố tôi viết và dán vào mặt trong của nắp vali cho tôi trước hôm tôi lên đường. "Tính con hay quên nên bố dán vào đây cho khỏi thất lạc, và để mỗi lần con mở vali ra thì lại thấy ngay", bố tôi bảo. Nội dung tờ giấy là những điều bố tôi căn dặn cô con gái lần đầu tiên đi học xa nhà. Ông đánh số cẩn thận, có bảy điều cả thảy. Hai mươi năm đã qua, chiếc vali cũ mòn và quê kệch của chuyến xuất ngoại đầu tiên đã bị quẳng từ lâu ra bãi rác, nhưng tờ giấy ấy thì đến giờ tôi vẫn giữ. Ố vàng, mép giấy chỗ sờn mỏng tang, chỗ cộm vệt hồ dán, nó nằm sâu trong một ngăn tủ của tôi, kẹp giữa cuốn sổ thơ thời sinh viên. Bây giờ đọc lại, thấy thương bố đến nao lòng. Nhưng ngày đầu tiên ở Matxcơva, lúc mở vali ra, đập vào mắt những lời dặn dò của bố, tôi chỉ thấy buồn cười. Từ khi mẹ tôi mất, mọi nỗi lo toan cho hai đứa con dồn cả lên vai bố tôi, ông đâm ra thành người kỹ tính. Con gái đã mười tám tuổi mà bố phải dặn chi li từ chuyện ăn, chuyện mặc. Mặc đủ ấm khi trời lạnh... (Ông già không yên tâm với cô con gái chủ trương ăn mặc vị nghệ thật, bất chấp thời tiết. "Mặc gì" luôn luôn là đề tài tranh luận nảy lửa giữa hai bố con, những sáng mùa đông trước giờ đi học, kể từ khi tôi bắt đầu trở thành một cô bé thích làm điệu, lớn lên giữa Hà Nội đói nghèo của thời bao cấp mà khái niệm "ấm" và khái niệm "đẹp" chẳng mấy khi may mắn đi đôi được cùng nhau.) Ăn uống điều độ... (chứ đừng thỉnh thoảng lại bỏ bữa ban ngày, lục cơm nguội ăn đêm, như hồi ôn thi đại học !) Chịu khó tập thể thao... (đây là điều mà cụ vẫn phàn nàn rằng con chẳng giống cha: bố thì hăng hái hết chạy lại bơi, con thì rảnh rỗi chỉ thích nằm dài ra đọc truyện.) Học tập là nhiệm vụ chính, không được để các hoạt động khác làm ảnh hưởng đến việc học... (Các hoạt động khác? Hẳn cụ muốn nói đến "hoạt động thương mại"? Nghe nói sinh viên Việt Nam ở Liên Xô và Đông Âu bây giờ buôn bán rầm rầm, bố tôi chỉ sợ con gái theo đuôi bạn bè mà xao lãng chuyện học. Nếu không có cô tôi vừa thuyết phục vừa trách móc thì bố tôi đã quyết không cho tôi mang đi những mặt hàng "chiến lược" kể trên . ("Dính vào chuyện buôn bán phức tạp lắm, nhà mình không có khiếu đi buôn !"). Tôi đang háo hức với chuyến đi, thấy bố bảo sao cũng sẵn sàng nghe vậy, nhưng cô tôi đã đưa ra một lý lẽ đơn giản: "Anh có lo được cho con L.C. không, mà không để nó tự lo cho nó? Mấy năm nữa nó học xong về nước, lấy chồng đẻ con, anh muốn nó cũng sống cực như anh bây giờ à?". Bố tôi lập tức đầu hàng, những rõ ràng trong lòng vẫn không yên.) Tuyệt đối tránh quan hệ yêu đương với người nước ngoài... A, đây mới là vấn đề mấu chốt ! "Tình không biên giới" là nỗi lo sợ ám ảnh hầu hết các ông bố bà mẹ có con đi du học thời bấy giờ. Đương nhiên, ở một cái xứ, một cái thời, mà việc cô con gái Hà Nội lấy chồng Nghệ Tĩnh đôi khi cũng đủ làm nên một bi kịch gia đình, thì chuyện dâu tây rể tây phải bị coi là đại họa. Vả lại, ai cũng biết rằng đi du học mà "lấy tây" thì chẳng còn đường về nước: đương sự bị coi như kẻ đào ngũ, bố mẹ mất con, gia đình mất danh dự. Đây mới là điều đáng sợ nhất đối với các bậc phụ huynh. Hai tiếng "lưu vong" thời ấy nghe giống như một án tù. Những trường hợp "lưu vong ái tình" trong giới lưu học sinh mới chỉ xảy ra hiếm hoi lẻ tẻ, nhưng cũng đủ để treo gương tày liếp. Cuộc đời luôn luôn có những biến động bất ngờ. Thế hệ của chúng tôi, lớp du học sinh ra đi vào những năm tám mươi, sẽ mở đầu cho một làn sóng lưu vong mới mà "ái tình" không phải là nguyên nhân và con đường duy nhất như các năm về trước. Nhưng vào thời điểm đó, đứng chen chúc trên sân bay Nội Bài, nhễ nhại mồ hôi trong cái oi ả của một ngày cuối tháng tám, không ai trong chúng tôi có thể ngờ trước được điều này. Vali đầy ắp hàng và đầu đầy ắp ước mơ, chúng tôi ra đi, để lại sau lưng mình quê hương mà sau này đối với nhiều người mãi mãi sẽ chỉ còn là một chốn để thương để nhớ. Đêm đầu tiên ở Matxcơva, trời cuối hè bắt đầu se lạnh. Mệt phờ người sau một chuyến bay dài và một lô thủ tục hành chính rắc rối, nhưng không sao ngủ được, tôi và T.H. ra đứng bên cửa sổ, nhìn xuống thành phố lấp lánh dưới ánh đèn. Choáng ngợp trước vẻ đẹp lộng lẫy của đêm Matxcơva, choáng ngợp vì nhiều cảm xúc mơ hồ, lẫn lộn, choáng ngợp với những dự cảm về một tương lai còn chưa rõ nét nhưng chính vì vậy mà lại có vẻ đẹp huyền bí đến nao lòng. Còn gì rạo rực hơn khi người ta mười tám tuổi, thả hồn bay bổng đến một vùng trời mà mọi mơ ước đều được phép, một vùng trời bí ẩn có cái tên gọi rất quyến rũ là Tương Lai. Mời các bạn đón đọc Tìm Trong Nỗi Nhớ của tác giả Lê Ngọc Mai.
Kế Hoạch Làm Bố
Một cái chết bất ngờ liên quan đến Tổng biên tập mới của “Người thời thượng” và Kỳ Tuấn đã quyết tìm ra câu trả lời theo cái cách không giống ai - “Làm bố”. Sự kiêu kỳ và quyến rũ đến từ Minh Thư đã khiến con tim anh xao xuyến, khi ý định chinh phục cô hết lần này đến lần khác thất bại, Kỳ Tuấn đã nghĩ đến âm mưu khác. Tuy nhiên, mọi chuyện đã đi theo chiều hướng khác khi anh nhận ra, tình yêu không phải trò chơi. Vì anh đã yêu thương cái gia đình nhỏ trong một phần “kế hoạch” của mình. Khi những mảng tối dần được hé lộ, câu trả lời chưa kịp có thì viễn cảnh mất đi người phụ nữ và đứa con trai nhỏ đang đến gần. Kỳ Tuấn sẽ phải trả giá ra sao cho Kế hoạch làm bố của mình? Nếu ông trời sắp đặt hai con người xa lạ, có ân oán và thù ghét nhau phải ràng buộc nhau vì một đứa trẻ? Thì đó gọi là duyên số hay cay đắng của định mệnh? Trong c uộc đời này đôi khi từ yêu thương mới nảy sinh chiếm đoạt hoặc chiếm đoạt  bởi vì yêu thương. Đâu cũng chỉ là một lí do nhưng một khi đã chấp nhận thì con người ta ắt hẳn cũng phải có những lí do cho riêng mình. Một cuộc hôn nhân đầy toan tính, có cả sự hiếu kỳ, thù hận lẫn nhau liệu có phải là một sai lầm. Kế hoạch kia của Kỳ Tuấn sẽ đưa anh đến bến bờ hạnh phúc hay là thứ dìm anh mãi mãi vào nỗi đau, vốn còn thậm tệ hơn cuộc sống nhàm chán của anh trước kia? Minh Thư sẽ làm thế nào để có thể chấp nhận con người kinh khủng kia, làm bố của con cô cũng tức sẽ là chồng của mình… "Có lẽ sống trong một không gian nào đó lâu ngày, người ta sẽ hình thành một thói quen, xa tức là sẽ nhớ"Nhưng…Cuộc hôn nhân của họ có được như thế không?Câu trả lời nằm ở cuối truyện! Mời các bạn đón đọc. Cảm nhận của đọc giả numb95:  "Kết thúc tuyệt lắm.Tình yêu đẹp ngày nào của Duy và Lâm giờ đây đã có 1 cái kết thật hạnh phúc, thật ý nghĩa. "Yêu nữa được không ?" là 1 cuốn truyện hay, có ý nghĩa nhất mình từng đọc. Mình ủng hộ truyện này đến cùng. Ủng hộ bạn nữa." cobemuadong_0502 : "những người đã đọc, đang đọc và sẽ đọc rất ngưỡng mộ bạn đấy... mình tin chắc điều đó cảm ơn bạn đã cho mình được đọc 1 truyện thú vị như thế " *** Buổi sáng bắt đầu, tại căng-tin tòa soạn tạp chí khá tên tuổi, tạp chí “Người thời thượng”. - Hôm nay sẽ ra mắt tổng biên tập mới! - Nghe đâu là người miền ngoài. - Hà Nội, Đà Nẵng hay Huế nhỉ? - Dù sao thì đó cũng là một cái giọng lạ lẫm ở cái đất Sài Gòn này. - Tôi đã nhìn lén sơ yếu lí lịch, đó là một phụ nữ. - Thế trẻ hay già? Độc thân hay đã kết hôn? Đẹp hay xấu? - Từ từ đã… có vẻ rất đẹp! Là dân du học, không phải là tuyển dụng mà được ông Minh, chủ tờ tạp chí này đích thân mời đấy. Tiếng đồn xôn xao. Vì là một tạp chí thời thượng nên những con người từ cấp cao tới cấp thấp, từ già hay trẻ, bé hay lớn đều chỉ quan tâm thứ duy nhất chính là “thời thượng”. Công việc đối với họ dường như chỉ là một trò chơi nhàn rỗi. Đó là lí do uy tín của tờ báo ngày càng đi xuống với những thông tin sai lệch, bài viết thiếu trau chuốt,… Không muốn tâm huyết cả đời bị đẩy vào vực thẳm, ông Âu Văn Minh, chủ tờ tạp chí này đã đích thân mời một tổng biên tập mới, có thể giúp ông quản lí khắt khe hơn lấy lại uy tín trước kia. Người duy nhất tâm huyết với nghề ở đây là Thái Kỳ Tuấn, chuyên viên thiết kế trang đầu của tờ tạp chí. Anh là đại diện rõ rệt nhất cho câu nói “có tài có tật” - làm việc thì rất có năng lực nhưng tính tình tự cao, tự đại và kiêu căng cũng khiến nhiều sếp khó bật Tuấn, làm anh chàng phải làm lính lác trong 7 năm công tác ở đây. Tuy nhiên, Kỳ Tuấn lại là một anh chàng giỏi thu hút mọi người, đặc biệt là phái nữ, rất trọng tình nghĩa và lạnh lùng. Tuấn vừa đặt túi xách xuống thì đã có cả đám con gái bu lại: - Anh Tuấn, uống cà phê nhé? - Thôi. Anh có việc một lát. - Anh Tuấn, bánh qui mà anh thích nè! Em làm đấy! - Ừ. Anh sẽ ăn. - Anh đã ăn sáng chưa? - Ăn rồi. Cảm ơn em. Là một anh chàng hào hoa chính hiệu nhưng Tuấn không ngã lòng với bất cứ ai trong cái tòa soạn của tờ tạp chí toàn những kiều nữ này. Với anh, Chúa đã phú cho anh những cái lợi thế như thế thì nên làm những việc lớn hơn thay vì chỉ thu hút những cô gái chỉ vì tách cà phê, đĩa bánh ngọt. Tuấn nhận được điện thoại của ông chủ, anh lên phòng riêng và gặp mặt: - Sếp gọi tôi? - Bắt đầu từ mai tôi sẽ không làm tổng biên tập nữa. Chiếc ghế này sẽ thuộc về người khác. - Tôi có nghe. Chỉ là chưa biết lí do. - Cậu nhìn xuống thử đi… Có ai thực sự chú tâm với công việc không? - Điều đó không phải lỗi của ông. - Nằm ở tôi cả đấy chứ. Tôi già rồi, tôi đã làm việc suốt hơn ba mươi năm qua rồi. Bây giờ là lúc tôi dành thời gian cho gia đình, đặc biệt là bà vợ già của tôi. Những chuyến du lịch châu Âu, châu Phi hay châu Mỹ chính là mục tiêu sắp tới của tôi… nhưng tôi không muốn từ bỏ tờ tạp chí này. - Tùy ông. Sao cũng được! Tôi chỉ là nhân viên. - Tôi tưởng cậu sẽ thắc mắc tại sao tôi không chọn cậu ngồi chiếc ghế này. - Tôi cũng không cần thiết phải biết. Tôi chưa đủ tài, chắc là vậy phải không? - Kỳ Tuấn, cậu nên biết là cậu hoàn toàn có thể. Chỉ một chút xíu nữa thôi! - Đó là gì? - Vì cái câu “Tùy ông, sao cũng được” mà cậu vừa thốt ra đấy. - Nếu tôi nói với ông tôi muốn là có được cái ghế này dù không cần phải thay đổi câu đó ông có tin không? Ông Minh chỉ mỉm cười và đứng dậy vỗ vai Tuấn rồi nói: - Chuyến bay đáp lúc 10 giờ. Còn khoảng một tiếng cho cậu chuẩn bị để đón tân Tổng biên tập về ra mắt đấy. - Tại sao lại là tôi? - Vì ngày hôm nay tôi vẫn là chủ. Còn cậu vẫn là nhân viên của tôi. Tuấn lầm bầm mấy câu rồi trở về bàn làm việc lấy chìa khóa xe và đi ra sân bay. Không quên mua một bó hoa hồng to thể hiện chất lịch thiệp lãng mạn. Chờ một lúc, một cô gái bước ra, tóc rất đẹp, có làn da trắng, ăn mặc rất phong cách và đeo kính râm. Tuấn nhìn lâu một chút rồi tiếp tục quay lại tìm, cô nàng đi ngang mặt anh và hỏi: - Đang tìm người à? Tuấn gật đầu rồi mỉm cười: - Nhưng rất tiếc người tôi tìm không phải là cô gái xinh đẹp như cô. Tôi cần tìm một cô nói giọng Bắc cơ. Cô nàng mỉm cười bỏ đi. Tuấn đứng gần một tiếng đồng hồ rồi anh phải tặc lưỡi quay trở về vì lúc đi gấp quá quên hỏi tên tuổi và làm cách nào để tìm gặp. Trời giữa trưa nắng mà lại không một giọt nước thấm giọng. Tuấn về tới tòa soạn, máy lạnh thổi vù vù làm anh cảm thấy dễ chịu, anh nghe có tiếng xôn xao từ phòng họp, Tuấn vừa định bước vào thì mọi người đã đi ra và gương mặt nhăn nhó. Tuấn hỏi: - Này, có chuyện gì thế? - Ra mắt sếp mới, tình hình căng đây. Chết mấy bà tám chuyên lo nhiều chuyện đỏng đảnh rồi. Tuấn đang gãi đầu nhăn nhó thì ông Minh bước ra và trách móc: - Cậu ra sân bay tán gái hay sao mà để sếp mới của cậu tự về tòa soạn luôn thế? Giỡn mặt với tôi hả? - Tôi đã đứng cả buổi. Có thấy ai đâu? Chào xã giao tôi cũng chỉ chào có một người mà! - Ý anh là chào tôi đấy hả? Tuấn quay lại nhìn, anh ngạc nhiên đến mức không còn nói được gì. Chính là cô nàng xinh đẹp Tuấn đã chào xã giao một câu ở sân bay. Anh chàng ú ớ: - Sao lúc nãy… cô nói giọng Nam…? Ôi trời ơi… - Cứ phải là người miền Bắc thì phải nói giọng Bắc sao? - Tôi không nghĩ cô tài đến mức có thể nhại giọng nhanh như thế. - Impossible is nothing. Nhớ câu đó khi làm việc với tôi nhé! Cô nàng nghiêm giọng rồi bỏ đi. Trước khi thang máy đóng lại, cô nàng nháy mắt với Tuấn: - Vui vì được biết anh. Hợp tác vui vẻ! Tuấn cay cú vì bị chơi một vố, ông Minh mỉm cười chép miệng: - Impossible is nothing. Tôi rất bất ngờ với câu nói này, không phải vì ý nghĩa của nó, mà là vì người nói câu đó. Và đó cũng là người tôi nghĩ đủ sức có thể giúp tôi. - Cô ta nói được nhưng chắc gì đã làm được? - Ít ra thì đã thắng cậu một keo rồi. - Tôi đã chiến hồi nào mà thua? - Ơ… đợi chiến mới thua à? Kỳ Tuấn nhếch mép cười nhìn dáng đi như người mẫu chuyên nghiệp của Minh Thư. Anh chàng thầm mỉm cười, một cơn gió thổi ngang làm mái tóc bồng bềnh của anh lay chuyển. Như một tiếng gọi tỉnh thức, Tuấn mỉm cười: - Đã đến lúc thay đổi thật rồi! Mời các bạn đón đọc Kế Hoạch Làm Bố của tác giả Nguyễn Hương.
Bà Ngoại Tôi Gửi Lời Xin Lỗi
Vẫn mang giọng văn hài hước và kỹ thuật thắt mở nút gây kịch tính nhà nghề, “Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi” của cùng tác giả cuốn “Người đàn ông mang tên Ove” chứa đựng mạch cảm xúc lạ thường về những mối quan hệ nhân quả của con người trong thế giới hiện đại. Có gì cổ xưa và quen thuộc như chuyện về một người bà ngoại? Người bà có rất nhiều câu chuyện để kể lại, và để đánh dấu chúng, dường như cần những mùi hương khác nhau. Cô bé bảy tuổi Elsa đã có bà ngoại, người chuyên kể những câu chuyện tưởng tượng cho cô, nhưng toàn là những câu chuyện liên quan đến những ký ức kỳ lạ của chính bà, một người phụ nữ lạ thường. Người ta sẽ gọi bà ngoại của Elsa là lập dị hay điên khùng, nhưng với Elsa, bà là một siêu anh hùng. Ai đã chứng kiến những hành vi kỳ quặc của bà ngoại họ rằng bà đã tán tỉnh cảnh sát, lái xe phạm luật, bắn súng sơn từ ban công trêu hàng xóm, thì Elsa đã hào hứng làm cổ động viên vì cô bé tìm thấy ở bà một người bạn để chia sẻ những điều thắc mắc của trẻ con. Tuy nhiên, ẩn dưới cái vỏ của những câu chuyện đầy màu sắc cổ tích, những hiệp sĩ, công chúa, những con rồng hay xứ sở mộng mơ mang những cái tên ám chỉ, lại là những con người thật, người đàn ông khỏe kỳ dị được gọi là Tim Sói, một con thú bí ẩn linh sói, một bà hàng xóm khó tính, một người đàn ông cục cằn khó gần, rồi ngay chính người mẹ hay căng thẳng cùng người bố trầm tính của Elsa… Họ đều là những nhân vật của cuộc đời bà ngoại, người đã phiêu lưu khắp nơi, để rồi lần lượt hé lộ câu chuyện kỳ lạ nhất về bà. Thông qua những lá thư bí ẩn chứa lời xin lỗi của bà, Elsa bắt đầu hành trình đi tìm sự thật, nghẹt thở và ma mị… *** Elsa không phóng ra băng tuyết. Elsa cũng không phải là nữ hoàng của vương quốc xa xôi nào cả. Elsa chỉ là một cô bé 7 tuổi, nhưng lại là cô-bé-7-tuổi-già-trước-tuổi. Bà ngoại không sống trong viện dưỡng lão. Bà ngoại cũng không rành mấy thứ gọi là Wikipedia. Bà ngoại chỉ là một bà cụ 77 tuổi, nhưng lại là bà-cụ-77-tuổi-trẻ-hơn-tuổi. Ban ngày, bà ngoại đưa đón Elsa dến trường, cùng cô bé tham gia vào những cuộc phiêu lưu kỳ lạ như trèo qua hàng rào để đột nhập vào sở thú, nhét những tờ báo miễn phí chật cứng trong thang máy, làm phiền những người hàng xóm bằng cách bắn sơn và treo pizza trước cửa nhà họ. Ban đêm, hai bà cháu chìm đắm trong xứ sở Mơ-màng-ngủ, nơi những câu chuyện cổ tích làu thứ nuôi sống tất cả các giống loài sinh sống ở 6 vương quốc kỳ diệu trong xứ sở ấy. Bà kể cho Elsa nghe về loài linh sói, về thiên thần biển, những con rồng, quái vật, bóng đêm, về “cô gái luôn nói không”, về người anh hùng Tim Sói,... Elsa chỉ ước bà ngoại sẽ mãi bên cô bé. Vì bà là siêu anh hùng của Elsa. Và mọi đứa trẻ lên bảy đều cần có một siêu anh hùng ở bên cạnh. Nhưng Elsa đã học được qua Wikipedia và tất cả “văn chương có chất lượng” rằng con người không có ai hoàn hảo, kể cả siêu anh hùng. Người ta có thể yêu quý ai đó suốt nhiều năm trời mà chẳng biết gì về họ hết. Thực hiện lời hứa cuối cùng của bà ngoại là sẽ chuyển những bức thư có chứa lời xin lỗi đến với tất cả những người bà quan tâm, Elsa lao vào một cuộc hành trình đầy ma mị và nghẹt thở, để rồi mãi chờ đợi bức thư xin lỗi dành cho chính mình.  Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi không phải là truyện cổ tích dành cho người lớn, nó là truyện cổ tích dành cho những người từng là trẻ con. Những câu chuyện thần tiên của bà ngoại trở nên thật hơn bao giờ hết bởi đó chính là sự kiện thật xảy ra xung quanh bà. Một cô bé 7 tuổi có lẽ phải mất nhiều năm mới hiểu được. Nhưng đừng quên Elsa không phải là một cô bé bình thường. Làm gì có đứa trẻ 7 tuổi nào có thể thuộc làu làu từng chi tiết trong Harry Potter, hay biết được cách tra Wikipedia với mỗi từ khó người lớn nói. Và quan trọng hơn, không có đứa trẻ nào chịu lắng nghe và tin vào câu chuyện thần tiên của người già như Elsa cả. Đọc cuốn sách, ta dường như hiểu được một sự thật quan trọng mà nhà văn Fredrik Backman muốn gửi gắm. Bà ngoại vốn không phải là một người kỳ quặc và lạ thường. Chính bà đã trở nên kỳ quặc và lạ thường để có thể hòa hợp với cô cháu gái. Bà nhắc nhở Elsa luôn giữ trong mình sự khác biệt và đừng để cho ai phải nhắc cô bé không được khác biệt. Vì chẳng có người tầm thường nào có thể thay đổi thế giới cả.  Mỗi linh hồn chết đi nhường lại sự sống cho một sinh linh nhỏ bé mới. Còn những câu chuyện cổ tích thì vẫn còn sống mãi nếu như vẫn có người kể lại và có người lắng nghe chúng. Bà ngoại không được dạy làm thế nào để không kể các câu chuyện, Elsa không được dạy làm thế nào để không nghe, còn chúng ta có lẽ không ai được dạy làm thế nào để không mỉm cười trước một cuốn sách đáng yêu như Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi. *** Fredrik Backman là blogger, nhà báo, nhà văn người Thụy Điển với các tác phẩm nổi tiếng đã được được dịch ra hơn 40 thứ tiếng như Người đàn ông mang tên Ove, Bà ngoại tôi gửi lời xin lỗi, Britt-Marie đã ở đây. Tác phẩm: Người Đàn Ông Mang Tên Ove Bà Ngoại Tôi Gửi Lời Xin Lỗi Britt-Marie Đã Ở Đây ... *** Ở cái tuổi lên bảy, mọi đứa trẻ đều cần có siêu anh hùng. Không thể khác được. Những ai không chấp nhận điều đó cần phải xem lại đầu óc của mình. Bà ngoại của Elsa thường nói như vậy. Elsa đã gần tám tuổi. Nó biết mình không giỏi làm một đứa bảy tuổi. Nó biết mình khác biệt. Thầy hiệu trưởng bảo là Elsa phải “thay đổi thái độ” để “chan hòa hơn với các bạn cùng tuổi”. Những người lớn khác luôn nhận xét rằng nó “quá già so với tuổi”. Elsa đoán đó chỉ là một cách nói để ám chỉ rằng nó là “một con bé phiền phức”, vì họ thường nói thế khi nó chỉnh lại cách phát âm chữ “déjà vu” hoặc những lỗi chính tả lặt vặt của họ. Giống như hầu hết những người lớn to đầu khác. Bởi vậy họ mới dùng chữ “già trước tuổi” để nói về Elsa, kèm theo một nụ cười gượng dành cho bố mẹ nó. Như thể đó là một căn bệnh, và Elsa làm gai mắt họ vì không tỏ ra ngờ nghệch như một đứa trẻ bảy tuổi. Đây là lí do tại sao nó không có người bạn nào ngoài bà ngoại. Bởi lẽ tất cả những đứa trẻ bảy tuổi ở trường đều ngớ ngẩn như những đứa trẻ lên bảy thường tỏ ra, trong khi nó thì khác. Elsa không nên để tâm đến những gì họ nói, bà của nó đã khẳng định như thế. Bởi những người giỏi nhất đều khác biệt, cứ nhìn các siêu anh hùng mà xem. Nếu những siêu năng lực của họ là bình thường thì mọi người ai cũng có siêu năng lực cả. Bà ngoại đã bảy mươi bảy, gần bảy mươi tám tuổi. Bà cũng không giỏi làm một bà già bảy mươi bảy tuổi cho lắm. Mọi người có thể thấy bà già vì khuôn mặt bà giống như tờ giấy báo bị vo tròn nhét vào trong giày cho khỏi ẩm mốc, nhưng không ai thấy bà trưởng thành đủ so với độ tuổi cả. “Trộm vía”, người ta thỉnh thoảng nói như vậy với mẹ Elsa. Sau đó, khuôn mặt họ sẽ trở nên đầy lo lắng hoặc rất giận dữ, và mẹ sẽ thở dài hỏi xem mình phải bồi thường bao nhiêu, chẳng hạn như khi bà hút thuốc làm kích hoạt hệ thống báo cháy ở bệnh viện và la lối rằng: “riết rồi bây giờ cái gì cũng phải đúng theo khuôn khổ” lúc bị các bảo vệ yêu cầu dập thuốc. Hoặc là lúc bà đắp một người tuyết trong tư thế nằm sóng xoài dưới ban công nhà bà Britt-Marie và ông Kent, mặc quần áo người lớn cho nó để làm người ta tưởng có ai đó bị rơi xuống đất. Hoặc là khi những người đàn ông đeo kính đến gõ cửa từng nhà trong khu phố để nói về Chúa, Jesus và thiên đường, còn bà thì mặc áo choàng ngủ phong phanh bắn súng sơn vào họ từ trên ban công. Không rõ bà Britt-Marie thấy phiền phức vì vụ bắn súng sơn hay vì bà ngoại của Elsa không mặc gì bên trong lớp áo choàng ngủ hờ hững, chỉ biết bà ta báo cảnh sát với cả hai lí do đó cho chắc ăn. Đó là những lúc mọi người thấy, trộm vía, bà ngoại rất trẻ so với tuổi tác. Họ cũng nói bà điên rồ. Nhưng thật ra bà là một thiên tài. Chỉ có điều bà đồng thời cũng rất gàn. Hồi trước, khi còn làm bác sĩ, bà đã nhận được các giải thưởng, được báo chí viết bài, và bà từng tới những nơi tệ hại nhất thế giới, khi mà những người khác đều đã bỏ đi. Bà đã cứu sống nhiều người và chống lại cái ác ở khắp nơi trên trái đất này. Như những gì các siêu anh hùng vẫn làm. Nhưng rồi một ngày nọ, người ta quyết định rằng bà đã quá già để đi giải cứu thế giới, dù Elsa nghi ngờ điều người ta thật sự muốn ám chỉ qua hai chữ “quá già” chính là “quá điên rồ”. Bà ngoại gọi kẻ đó là “xã hội” và nói rằng ngày nay chỉ vì mọi việc phải đúng theo khuôn khổ một cách chết tiệt mà bà không còn được phép phẫu thuật người khác. Rằng chủ yếu chuyện đó là do xã hội làm rùm beng quá mức về việc cấm hút thuốc trong phòng mổ, ai có thể làm việc trong những điều kiện như thế kia chứ? Thế nên bây giờ bà ngoại chủ yếu ở nhà để chọc điên bà Britt-Marie và mẹ. Bà Britt-Marie sống dưới bà ngoại một tầng lầu. Bà ta cũng sống dưới mẹ Elsa một tầng lầu, vì nhà mẹ ở sát vách nhà bà ngoại. Tức là Elsa cũng ở ngay bên cạnh bà ngoại, vì nó sống cùng mẹ. Ngoại trừ cứ hai tuần một lần, nó đến ở với bố và dì Lisette vào dịp cuối tuần. Và tất nhiên dượng George cũng là hàng xóm của bà ngoại, vì dượng sống với mẹ Elsa. Rối rắm thế đấy. Tuy nhiên, chúng ta hãy quay lại chủ đề chính: cứu người và làm người ta phát điên chính là những siêu năng lực của bà ngoại. Điều này có lẽ cũng biến bà thành một siêu anh hùng dị thường. Elsa biết chữ này vì con bé đã tra nó trên Wikipedia. Những người ở độ tuổi của bà ngoại gọi Wikipedia là “một bách khoa toàn thư trên mạng”, trong khi với Elsa, bách khoa toàn thư là “Wikipedia trên giấy”. Con bé đã tra cứu chữ “dị thường” ở cả hai nguồn đó, và nó được dùng để mô tả một thứ gì đó không hoạt động như lẽ ra nó phải thế. Đây cũng chính là một trong những điểm mà Elsa thích nhất ở bà ngoại. Nhưng có lẽ không phải hôm nay. Bởi lúc này đã một giờ rưỡi đêm, Elsa khá mệt mỏi và rất muốn quay về giường ngủ. Chỉ có điều nó không thể làm điều đó, vì bà ngoại đã ném phân vào cảnh sát. Chuyện này hơi phức tạp một chút.   Elsa nhìn quanh căn phòng nhỏ hình chữ nhật và há miệng ngáp to đến nỗi nhìn nó giống như đang cố nuốt chửng chính cái đầu của mình. - Cháu đã bảo bà đừng có leo rào. - Con bé vừa lẩm bẩm vừa xem giờ. Bà ngoại không đáp. Elsa tháo chiếc khăn quàng Gryffindor và đặt nó vào lòng. Con bé chào đời một ngày sau lễ Giáng sinh, bảy năm về trước (đúng hơn là gần tám năm). Cùng ngày hôm đó, các nhà khoa học người Đức đã ghi nhận vụ nổ tia gamma mạnh nhất của một ngôi sao từ có ảnh hưởng tới trái đất. Phải thừa nhận rằng con bé không biết sao từ là gì, ngoại trừ việc đó là một loại sao neutron. Và chữ đó trong tiếng Anh cũng hơi giống với “Megatron”, vốn là tên của một con robot hiểm ác trong bộ truyện Người máy biến hình. Những người không đọc nhiều văn chương có chất lượng vẫn gọi đó là một “thứ dành cho trẻ con”. Thật ra các Transformer là robot, nhưng theo lí thuyết người ta có thể coi họ là các siêu anh hùng. Elsa thích cả Người máy biến hình lẫn các ngôi sao neutron, con bé hình dung một “vụ nổ tia gamma” sẽ giống như lần bà ngoại làm đổ nước ngọt Fanta lên chiếc iPhone của cháu gái mình và cố làm khô nó bằng máy nướng bánh mì. Bà ngoại nói việc sinh ra vào một ngày như thế làm cho Elsa trở nên đặc biệt. Và “đặc biệt” là hình thức hay ho nhất của “khác biệt”. Bà ngoại đang mải chia thuốc rê thành nhiều phần trên cái bàn nhỏ trước mặt và cuộn chúng lại bằng thứ giấy vấn thuốc khô giòn. - Cháu đã nói bà đừng có trèo qua cái hàng rào đó! Bà ngoại hừ mũi và lục lọi trong cái túi xách quá khổ của mình để tìm chiếc bật lửa. Có vẻ như bà không hề coi chuyện này là nghiêm túc. Mà hình như bà chưa bao giờ coi bất cứ chuyện gì là nghiêm túc cả. Trừ phi bà muốn hút thuốc nhưng không thể tìm ra bật lửa. - Lạy Chúa, nó chỉ là một cái hàng rào cỏn con thôi mà! - Bà nói với giọng vô lo. - Có gì đâu mà phải bận tâm! - Bà đừng có nhắc đến Chúa với cháu! Bà là người đã ném phân vào cảnh sát. - Thôi đi. Cháu nói năng y hệt mẹ cháu vậy. Cháu có bật lửa không? - Cháu mới có bảy tuổi thôi! - Cháu định dùng cái đó để viện cớ đến khi nào đây? - Cho đến khi cháu không còn bảy tuổi nữa. Năm 2017, tác phẩm mới nhất của Backman mang tên Beartown lọt top 10 cuốn sách hay nhất của năm do Amazon bình chọn.
Miền Đất Hứa Của Tôi - Khải Hoàn Và Bi Kịch Của Israel
Miền đất hứa của tôi là cuộc phiêu lưu cá nhân của một người Israel, băn khoăn trước ngập tràn biến cố lịch sử trên quê hương mình. Đây là một hành trình vượt không gian và thời gian của một người sinh ra tại Israel, nhằm khám phá câu chuyện đại sự của dân tộc mình. Thông qua lịch sử gia đình, lịch sử cá nhân và các bài phỏng vấn sâu, Shavit đã cố gắng tiếp cận câu chuyện sâu xa hơn và những câu hỏi sâu sắc hơn về Israel, về sự định hình tương lai của người Do Thái. Đây là một trong những cuốn sách quan trọng và có tác động mạnh mà Ari Shavit viết nhằm phục hồi cảm giác về thực tính của Israel và say sưa với nó, để khôi phục lại sự hùng vĩ của một thực tế đơn giản trong cái nhìn đầy đủ về các sự kiện phức tạp. Miền đất hứa của tôi gây ngạc nhiên về nhiều mặt, nhất là việc nó tương đối ít chú trọng tới việc cung cấp cho người đọc các thông tin về chính trị. Shavit, nhà bình luận trong ban biên tập của Haaretz, có một tư duy độc lập, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ học thuyết nào. Ông viết không để ca ngợi hay đổ lỗi, dù trong quá trình ấy ông đã làm cả hai điều này, thay vào đó, với sự uyên bác và tài hùng biện; ông viết để quan sát và phản ánh. Đây là cuốn sách ít thiên vị nhất về Israel. Một cuốn sách Phục quốc Do Thái nhưng không bị kích động bởi chủ nghĩa phục quốc. Nó nói về toàn thể trải nghiệm Israel. Shavit đắm mình trong toàn bộ lịch sử của đất nước mình. Dù một số  sự kiện trong đó làm ông tổn thương, song không gì là xa lạ đối với ông. Ông đã viết một chương xuất sắc về chính trị gia tham nhũng nhưng đầy sức hút, Aryeh Deri, và sự trỗi dậy trên chính trường của tôn giáo dòng Sephardi tại Israel, qua đó minh họa rõ nét tầm hiểu biết của mình. Tuy nhiên thật may đây không phải là một cuốn hồi ký; nó là một cuộc điều tra được viết với văn phong gần gũi. Shavit khám phá xã hội của ông với sự tỉ mỉ của một người đàn ông cảm thấy bản thân mình gắn với số phận của nó, và ông không ngần ngại nói về sự tan rã của nước cộng hòa Israel trong những năm gần đây. Theo quan sát của ông “Trong vòng chưa đầy 30 năm, Israel đã trải qua bảy cuộc nổi loạn trong nước khác nhau: cuộc nổi dậy của người định cư, các cuộc nổi dậy hòa bình, cuộc nổi dậy vì tự do tư pháp, cuộc nổi dậy phương Đông, cuộc nổi dậy của dòng Chính thống cực đoan, cuộc nổi dậy của chủ nghĩa khoái lạc cá nhân và cuộc nổi dậy của người Israel gốc Palestine.” Ông lo lắng, có lẽ có phần hơi quá, rằng đất nước ông đang tan rã: “Quốc gia khởi nghiệp này phải tự khởi động lại”. Chắc chắn là không có tình tiết giảm nhẹ nào cho sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội mà ông mô tả, hoặc những xáo trộn hoàn toàn các chính sách định cư trong vùng lãnh thổ mà Israel có một mối quan tâm khẩn cấp và lâu dài trong việc di tản. Nhưng những lời khuyên và khích lệ của Shavit rằng “luận điểm cũ về nghĩa vụ và sự cam kết đã được thay thế bằng một luận điểm mới về sự phản kháng và chủ nghĩa khoái lạc”, và “thách thức trước mắt là thách thức giành lại quyền lực quốc gia”, là u ám và khắc nghiệt hơn so với giọng văn đầy nhiệt huyết và phóng khoáng trong cuốn sách. Và khái niệm “quyền lực quốc gia” thì đi kèm với những mối liên hệ không mấy hấp dẫn. Vùng đất hỗn loạn và ồn ào trong Miền đất hứa của tôi sẽ không thể được chữa lành chỉ với những cố gắng đơn thuần để đưa nó trở lại bình thường như trước đây. *** NHỮNG DẤU CHẤM HỎI Những gì tôi còn nhớ được là nỗi sợ hãi. Nỗi sợ hãi mang tính sinh tồn. Nơi tôi lớn lên - Israel giữa thập niên 1960 - đầy nghị lực, nhiệt huyết, và hy vọng. Nhưng tôi luôn cảm thấy đằng sau những ngôi nhà đẹp đẽ với bãi cỏ phía trước nhà của tầng lớp thượng lưu thành phố quê hương tôi là một đại dương tăm tối. Tôi lo sợ có ngày đại dương tăm tối đó sẽ trào dâng và nhấn chìm tất cả chúng tôi. Một trận sóng thần như trong thần thoại sẽ đập vào bờ và cuốn Israel của tôi đi. Nó sẽ thành một Atlantis(1) nữa, chìm sâu dưới đáy biển. Một sáng tháng 6 năm 1967, khi tôi chín tuổi, tôi đến bên cha dang cạo râu trong nhà tắm. Tôi hỏi ông, liệu người Ả-rập có thắng không. Liệu người Ả-rập có chinh phục Israel của chúng ta hay không? Liệu họ có ném tất cả chúng ta xuống biển không? Vài ngày sau, Chiến tranh Sáu ngày(2) bắt đầu. Tháng 10 năm 1973, tiếng còi báo động của thảm họa bắt đẩu rền rĩ. Tôi đang bị cúm, phải nằm trên giường sau buổi trưa ngày lễ Yom Kippur(3) yên tĩnh, khi những chiếc phản lực F-4 đang xé nát bầu trời. Chúng bay ở độ cao 500 feet(4) trên mái nhà chúng tôi hướng đến kênh đào Suez, chống lại lực lượng xâm lược Ả-rập bất ngờ đánh chiếm Israel. Nhiều chiếc, trong đó đã không bao giờ trở lại. Lúc đó tôi 16 tuổi, sững sờ khi nghe tin quân đội Israel thua trận tại sa mạc Sinai và Cao nguyên Golan. Trong 10 ngày kinh hoàng này, dường như nỗi sợ hãi ban sơ của tôi đã được chứng minh. Israel đang nguy nan. Những bức tường của Ngôi đền Thứ ba(5) của người Do Thái đang rung lắc. Tháng 1 năm 1991, Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất bùng nổ. Tel Aviv bị tên lửa SCUD của Iraq bắn phá. Có người còn lo lắng về khả năng Israel bị tấn công bằng vũ khí hóa học. Trong nhiều tuần, người dân Israel mang theo mặt nạ phòng độc khi đi lại. Thi thoảng, khi có cảnh báo là đầu đạn tên lửa đã được bắn ra, chúng tôi liền đeo mặt nạ chui vào những căn phòng bịt kín. Mặc dù sau đó hóa ra không phải, nhưng có điều gì đó khủng khiếp về thứ nghi lễ kỳ quái này vẫn đọng lại. Tôi lắng nghe âm thanh còi báo động, và hoang mang nhìn vào đôi mắt kinh hãi của người thân nhốt trong những chiếc mặt nạ chống độc do Đức sản xuất. Tháng 3 năm 2002, một làn sóng khủng bố làm Israel lo lắng. Hàng trăm người chết khi những đối tượng đánh bom cảm tử Palestine tấn công các xe buýt, câu lạc bộ đêm, và trung tâm mua sắm. Một đêm, khi tôi đang viết bài nghiên cứu về Jerusalem thì nghe một tiếng nổ lớn. Tôi nhận ra chắc là ở quán bar trong khu nhà tôi. Tôi chộp lấy tập giấy viết và lao ra phố. Ba chàng trai – ngồi trong quán trước những vại bia vơi một nửa - đã chết. Một phụ nữ nhỏ nhắn chết gục trong góc. Những người bị thương thì đang gào thét và khóc lóc. Khi nhìn vào địa ngục xung quanh trong ánh đèn sáng rực của quán bar đã nổ tung, tôi - một nhà báo - tự hỏi: Cái gì sẽ đến? Chúng tôi có thể chịu đựng được sự điên rồ này bao lâu nữa? Liệu có lúc nào sinh lực sống đầy tự hào của người Israel chúng tôi sẽ phải đầu hàng các thế lực gây chết chóc đang cố gắng hủy diệt mình? Chiến thắng quyết định trong cuộc chiến năm 1967 đã xua tan những nỗi sợ trước chiến tranh. Sự phục hồi vào các thập niên 1970 và 1980 đã chữa lành vết thương sâu của năm 1973. Tiến trình hòa bình thập niên 1990 đã hàn gắn thương tích năm 1991. Sự thịnh vượng cuối thập niên 2000 đã che đậy nỗi kinh hoàng của năm 2002. Chính xác là do ít hiểu biết, nên người Israel chúng tôi cứ khăng khăng tin vào bản thân, tin vào quốc gia-dân tộc và tương lai của mình. Nhưng qua nhiều năm, nỗi sợ hãi câm lặng của tôi vẫn không bao giờ qua di. Dù bàn bạc hay biểu đạt nỗi sợ hãi này là điều kiêng ky, nhưng nó vẫn luôn đeo bám tôi mọi nơi. Các thành phố của chúng tôi dường như được xây trên cát trượt. Nhà ở của chúng tôi dường như không bao giờ vững chắc hoàn toàn. Ngay cả khi dân tộc tôi trở nên mạnh mẽ và giàu có hơn, tôi vẫn cảm thây nó dễ bị tổn thương. Tôi nhận ra chúng tôi thường xuyên bị nguy hiểm đe dọa. Vâng, cuộc sống của chúng tôi tiếp tục sôi động, giàu có, và hạnh phúc về nhiều mặt. Israel tạo nên một cảm giác an toàn xuất phát từ thành công về vật chất, kinh tế, và quân sự. Sinh lực sống hằng ngày của chúng tôi thật thần kỳ. Nhưng vẫn luôn tồn tại nỗi sợ, rằng một ngày nào đó cuộc sống thường nhật sẽ tê liệt như ở Pompeii(6). Quê hương yêu dấu của tôi sẽ vụn nát khi đội quân Ả-rập khổng lồ hoặc lực lượng Hồi giáo hùng mạnh vượt qua hàng phòng thủ và xóa sổ sự tồn tại của nó. Những gì tôi còn nhớ được là sự chiếm đóng. Chỉ một tuần sau khi tôi hỏi cha, liệu các nước Ả-rập có chinh phục Israel không, thì Israel đã chinh phục những vùng đất người Ả-rập cư trú ở Bờ Tây và Gaza. Một tháng sau, cha mẹ, em trai và tôi bắt đầu một chuyến đi gia đình đến các thành phố bị chiếm đóng là Ramallah, Bethlehem, và Hebron. Đi qua nơi nào chúng tôi cũng thấy dấu tích của những chiếc xe jeep, xe tải và xe quân sự Jordan bị cháy. Những lá cờ trắng đầu hàng treo trên hầu hết các ngôi nhà. Một số con phố bị chặn lại bằng những xác xe hơi Mercedes đen vốn sang trọng nhưng đã biến dạng do xe tăng Israel nghiến lên. Nỗi sợ hãi hiện ra trong đôi mắt những dứa trẻ Palestine bằng và ít tuổi hơn tôi. Cha mẹ chúng xem ra đã bị đánh bại và bẽ mặt. Trong vài tuần, người Ả-rập hùng mạnh đã biến thành nạn nhân, còn người Israel bị nguy cấp lại trở thành kẻ chinh phục. Quốc gia Do Thái giờ đây hân hoan chiến thắng, tự hào và say sưa với cảm giác cuồng nhiệt về sức mạnh. Khi tôi ở tuổi vị thành niên, mọi thứ còn tốt đẹp. Chúng tôi hiểu chung chung rằng việc chiếm đóng quân sự là nhân đạo. Israel hiện đại đã mang đến sự tiến bộ và phồn vinh cho các vùng đất Palestine. Giờ đây, những người láng giềng lạc hậu của chúng tôi đã có điện, nước máy, và sự chăm sóc y tế mà họ chưa bao giờ có trước đây. Họ cần phái nhận thức được rằng cuộc sống của họ chưa bao giờ tốt đến vậy. Chắc chắn họ biết ơn vì những gì chúng tôi dành cho họ. Và khi hòa bình được thiết lập, chúng tôi sẽ trả lại phần lớn các lãnh thổ đã chiếm đóng. Nhưng lúc này, mọi thứ trên Đất Israel đều ổn cả. Trên khắp đất nước, người Ả-rập và Do Thái chung sống, bình yên, và sung túc. Chỉ khi đi lính tôi mới hiểu được có điều gì đó không ổn. Sáu tháng sau khi gia nhập lữ đoàn dù ưu tú của Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF),(7) tôi được điều động đến chính những thành phố bị chiếm đóng mà mình đã đi qua lúc còn bé 10 năm trước. Giờ thì tôi bị phân công làm những nhiệm vụ bẩn thỉu: kiểm tra, quản thúc tại gia, giải tán biểu tình bằng bạo lực. Điều làm tôi tổn thương nhất là đột nhập vào những ngôi nhà, lôi các chàng trai ra khỏi giường ấm nệm êm đi thẩm vấn lúc nửa đêm. Thứ quái quỷ gì đang xảy ra thế này, tôi tự hỏi. Tại sao tôi lại bảo vệ tổ quốc mình bằng cách hành hạ những thường dân đã bị tước đoạt quyền và tự do? Tại sao Israel của tôi lại chiếm đóng và đàn áp dân tộc khác? Vì vậy, tôi trở thành người phản chiến. Trước tiên, với tư cách một người hoạt động xã hội trẻ tuổi và sau là nhà báo, tôi đã hăng hái đấu tranh chống lại sự chiếm đóng. Trong thập niên 1980, tôi phản đối việc thiết lập các khu định cư trên lãnh thổ Palestine. Thập niên 1990, tôi ủng hộ sự thành lập nhà nước Palestine do Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO)(8) lãnh đạo. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, tôi tán thành việc Israel đơn phương rút khỏi Dải Gaza. Nhưng hầu hết các chiến dịch chống lại sự chiếm đóng mà tôi tham gia cuối cùng đều thất bại. Gần nửa thế kỷ sau chuyến đi đầu tiên của gia đình tôi ở Bờ Tây bị chiếm đóng, Bờ Tây vẫn bị chiếm đóng. Như khối u ác tính, chiếm đóng trở thành một phần không tách rời trong sự tồn tại của nhà nước Do Thái. Nó cũng đổng thời trở thành một phần không tách rời trong cuộc đời tôi với tư cách một người Israel. Mặc dù tôi phản dối sự chiếm đóng, nhưng tôi cũng chịu trách nhiệm về sự chiếm đóng này. Tôi không thể phủ nhận sự thật hoặc chạy trốn sự thật là dân tộc mình đã trở thành một dân tộc đi chiếm đóng. Mãi đến vài năm trước, tôi đột nhiên nhận ra rằng nỗi sợ hãi mang tính sinh tồn liên quan đến tương lai dân tộc mình không tách rời tổn thương về đạo đức liên quan đến chính sách chiếm đóng của đất nước mình. Một mặt, Israel là dân tộc duy nhất ở phương Tây đi chiếm đóng dân tộc khác. Mặt khác, Israel là dân tộc duy nhất ở phương Tây bị đe dọa sự tồn tại. Cả sự chiếm đóng lẫn sự đe dọa đều khiến tình trạng của Israel trở nên đặc biệt. Đe dọa và chiếm đóng trở thành hai trụ cột trong tình trạng của chúng tôi. Phần lớn các nhà quan sát và phân tích phủ nhận tính hai mặt này. Những người cánh tả đề cập sự chiếm đóng và không chú ý đến sự đe dọa, trong khi những người cánh hữu chú tâm vào sự đe dọa và bỏ qua sự chiếm đóng. Nhưng sự thật là nếu không kết hợp cả hai yếu tố trong một thế giới quan, thì không thể hiểu hết Israel hay cuộc xung đột Israel-Palestine. Bất kể cách tư duy nào không gắn với hai điểm cốt lõi này, chắc chắn đều không đầy đủ và vô dụng. Chỉ có cách tiếp cận thứ ba mới thực tế, xem xét cả việc đe dọa và chiếm đóng, biết phải trái và nhìn nhận đúng lịch sử Israel. Tôi sinh năm 1957 tại thành phố đại học Rehovot. Cha tôi là nhà khoa học, mẹ là nghệ sĩ, và trong số những người sáng lập ra tổ chức Zion(9) có các cụ của tôi. Giống như phần lớn thanh niên Israel, tôi đi nghĩa vụ quân sự ở tuổi 18, tham gia lực lượng nhảy dù, và khi hoàn thành nghĩa vụ, tôi học triết tại Đại học Hebrew ở Jerusalem, nơi tôi tham gia phong trào hòa bình và sau đó là phong trào nhân quyến. Từ năm 1995, tôi viết cho tờ báo tự do hàng đầu của Israel, Haaretz. Mặc dù tôi luôn ủng hộ hòa bình và ủng hộ giải pháp hai quốc gia,(10) nhưng tôi dần nhận thấy những khiếm khuyết và thành kiến của phong trào hòa bình. Hiểu biết của tôi về sự chiếm đóng và đe dọa khiến tiếng nói của tôi có phần khác với mọi người trên truyền thông. Là người phụ trách chuyên mục, tôi thách thức các giáo điều của cả cánh hữu lẫn cánh tả. Tôi biết rằng không có câu trả lời đơn giản cho Trung Đông, và cũng không có giải pháp tình thế cho mâu thuẫn Israel-Palestine. Tôi nhận ra tình huống của Israel là vô cùng phức tạp, có lẽ thậm chí còn bi thương nữa. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, Israel đã hành động hiệu quả. Khủng bố lắng xuống, công nghệ cao bùng nổ, cuộc sống hằng ngày sôi động. Về mặt kinh tế, Israel đã trở thành mãnh hổ. Để tồn tại, đất nước này đã trở nên mạnh mẽ, đầy sinh lực, sáng tạo và thích hưởng thụ. Nhưng đằng sau ánh sáng rực rỡ của câu chuyện thành công phi thường, lo lắng đang dâng trào. Mọi người bắt đầu lên tiếng hỏi những câu mà suốt đời tôi đã luôn tự hỏi. Giờ không chỉ là chính trị phe tả hay phe hữu nữa. Cũng không chỉ là thế tục đối lập với tôn giáo. Có điều gì đó sâu xa hơn đã xảy ra. Nhiều người Israel không an lòng với Israel mới nổi. Họ tự hỏi liệu mình còn thuộc về quốc gia Do Thái nữa hay không. Họ đã mất niềm tin vào khả năng chịu đựng của Israel. Một số đã lấy hộ chiếu nước ngoài; một số gửi con đi du học. Tầng lớp thượng lưu nhìn thấy một lựa chọn khác bên cạnh lựa chọn Israel. Dù phần lớn người Israel vẫn yêu quê hương và mừng vui với phúc lành của dân tộc, nhưng nhiều người đã mất niềm tin vững chắc vào tương lai đất nước. Khi thập niên thứ hai của thế kỷ 21 bắt đầu, có năm vấn đề khác nhau gây hoài nghi về khát vọng sống tham lam của Israel: quan niệm rằng xung đột Israel-Palestine có thể không giải quyết được trong tương lai gần; lo ngại rằng quyền bá chủ chiến lược khu vực của Israel bị thách thức; e sợ rằng tính hợp pháp của nhà nước Do Thái bị xói mòn; quan ngại rằng xã hội Israel vốn đã biến đổi sâu sắc giờ lại bị phân chia và phân cực, nền tảng dân chủ-tự do của đất nước đang sụp đổ; và nhận thức rằng chính phủ yếu kém của Israel không thể giải quyết triệt để những thách thức nghiêm trọng như chiếm đóng và rạn nứt xã hội. Mỗi vấn đề ở đây đều ẩn chứa một mối đe dọa đáng kể, nhưng ảnh hưởng chung của chúng còn gây ra nỗi sợ hãi khủng khiếp hơn. Nếu hòa bình không khả thi, liệu chúng tôi có chống lại được một xung đột kéo dài một thế hệ khi ưu thế về chiến lược bị đe đọa, tính hợp pháp đang mất dần, bản sắc dần chủ đang rạn nứt, và những mâu thuẫn nội bộ đang chia rẽ chúng tôi? Trong khi vẫn đổi mới, quyến rũ và mạnh mẽ, Israel đã trở thành một quốc gia bị nghi ngờ. Cảm giác lo lắng cứ lơ lửng trên mảnh đất này, như cái bóng lớn của một ngọn núi lửa sắp phun trào. Đây chính là lý do tôi dấn thân vào chuyến đi này. Sáu mươi lăm năm sau khi thành lập, Israel quay lại những câu hỏi chủ chốt. Một trăm lẻ sáu năm sau khi ra đời, chủ nghĩa Zion giờ dang đối mặt với những mâu thuẫn cơ bản của mình. Thách thức giờ đây vượt xa vấn đề chiếm đóng, và củng sâu sắc hơn hẳn vấn đề hòa bình. Điều mà tất cả chúng tôi phải đối mặt là câu hỏi về ba khía cạnh của Israel: Tại sao? Là gì? Sẽ thế nào? Câu hỏi này về Israel không thể trả lời bằng các bài bút chiến. Vì rất phức tạp, nên nó cũng không tự trở thành vấn đề để tranh cãi và phản đề được. Cách giải quyết duy nhất là kể câu chuyện về Israel. Đây chính là điều tôi cố gắng làm trong cuốn sách này. Theo cách riêng và qua lăng kính chủ quan, tôi đã cố gắng nhìn nhận sự tồn tại của chúng tôi trong một tổng thể, theo cách tôi hiểu. Cuốn sách này là cuộc phiêu lưu cá nhân của một người Israel, bối rối trước biến cố lịch sử ngập tràn trên quê hương mình. Đây là một chuyến đi trong không gian và thời gian của một người sinh ra tại Israel, nhằm khám phá câu chuyện rộng lớn của dân tộc mình. Thông qua lịch sử gia đình, lịch sử cá nhân, và các bài phỏng vấn sâu, tôi sẽ cố gắng nói đến câu chuyện rộng hơn và câu hỏi sâu hơn về Israel. Điều gì đã xảy ra trên quê hương tôi trong hơn một thế kỷ, đưa chúng tôi đến nơi mình đang sống? Chúng tôi đã đạt được điều gì ở đây và vấp phải sai lầm nào ở đây, và chúng tôi đang hướng tới đâu? Cảm giác lo âu sâu sắc của tôi có cơ sở không? Nhà nước Do Thái có thật sự lâm nguy không? Có phải người Do Thái chúng tôi đang mắc kẹt trong một bi kịch tuyệt vọng, hay chúng tôi vẫn có thể hồi sinh, tự cứu mình, và lấy lại được đất đai mà chúng tôi vô cùng yêu quý? (1) Atlantis là hòn đảo hư cấu được nói đến trong tác phẩm của triết gia Hy Lạp cổ đại Plato viết khoảng năm 360 trước công nguyên (TCN). Mặc dù sống trong một xã hội văn minh, nhưng con người ở đây trở nên tham lam, nhỏ nhen, suy đồi về đạo đức, nên các vị thần đã nổi giận, dùng lửa và động đất nhấn chìm Atlantis xuống biến sâu. Lưu ý: Toàn bộ chú thích trong sách là của người dịch, trừ các chú thích ghi rõ (BT) là của người biên tập. (2) Chiến tranh diễn ra từ 5-10/6/1967 giữa Israel và các quốc gia Ả-rập lân cận là Ai Cập, Jordan, và Syria. Israel chiến thắng áp đảo (nhờ yếu tố bất ngờ, kế hoạch chiến đấu sáng tạo) giành quyến kiểm soát Dải Gaza, bán đảo Sinai của Ai Cập, Bờ Lây và Đông Jerusalem của Jordan và Cao nguyên Golan của Syria. (3) Còn gọi là Ngày chuộc tội/Ngày lễ sám hối. Là ngày lễ thiêng liêng nhất trong năm của Do Thái giáo. Đế chuộc tội và ăn năn, người Do Thái dành 25 giờ ăn chay, chuyên tâm cầu nguyện và thường xuyên tham gia các nghi lễ ở giáo đường Do Thái. (4) 500 feet tương đương 152,4 m. (5) Trong lịch sử người Do Thái, Ngôi đền Thứ nhất do vua Solomon xây dựng vào khoảng thế kỷ 10 TCN, sau đó bị phá hỏng vào khoảng năm 587 TCN. Ngôi đền thứ hai được xây dựng vào năm 516 TCN và lai bị phá hỏng vào khoảng năm 70 sau CN. Ngôi đền Thứ ba chưa dược xây dựng. Nó vẫn nằm trong mong ước của người Do Thái. (BT) (6) Pompeii, thành phố La Mã cổ đại bị phá hủy và chôn vùi hoàn toan khi núi lửa Vesuvius phun trào năm 79, tình cờ được khám phá năm 1748 (sau 1.700 năm) nham thạch đã xóa sạch mọi sự sống, hơn 2.000 người chết, hơi nóng khủng khiếp khiến cơ thế họ ngừng hoạt động gần như ngay lập tức. (7) Viết tắt của “Israel Defense Forces”. (8) Palestine Liberation Organization, thành lập năm 1964 Hội nghị Thượng đỉnh Ả-rập năm 1974 công nhận PLO là “đại diện hợp pháp và duy nhất của nhân dân Palestine.” Năm 1993, PLO đã công nhận nhà nước Israel và Israel đã công nhận PLO là đại diện hợp pháp của nhân dân Palestine. (9) Zion là một phong trào chính trị ủng hộ sự phát triển nhà nước Israel; đây cũng là tên ngọn đồi phía đông thành phố Jerusalem, từng là trung tâm văn hóa-chính trị cúa người Do Thái dưới thời Vua David. Sau khi Vương quốc Judea thất thủ năm 70, Zion trở thành biểu tượng cho hy vọng phục quốc của người Do Thái. (10) Giải pháp cho cuộc xung đột Israel-Palestine, thành lập hai nhà nước của hai dân tộc: nhà nước Palestine độc lập tồn tại cùng nhả nước Israel ở bờ Tây sông Jordan.   Mời các bạn đón đọc Miền Đất Hứa Của Tôi- Khải Hoàn Và Bi Kịch Của Israel của tác giả Ari Shavit.