Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kinh Cầu cho Một Đứa Trẻ Không Ra Đời

Nhà văn Hung gốc Do thái Kertész Imre sinh ngày 9 tháng 11 năm 1929 tại Budapest- Hungary. Năm 1943, mới 14 tuổi, ông đã trải qua trại Auschwitz, rồi Buchenwald, những trại tập trung phát xít Đức dựng lên để lùa nhốt dân Do thái toàn cõi châu Âu, với mục đích thủ tiêu họ dần dần. Năm 1945, sau khi các trại tập trung được Hồng quân liên Xô giải phóng, Kertész Imre quay về Hungary. Ông làm nhiều nghề khác nhau: nhà báo, biên tập viên cho các báo và văn phòng Bộ công nghiệp, viết lời cho một số nhạc kịch, có lúc làm công nhân trong một thời gian ngắn. Từ 1953 trở đi, Kertész là nhà báo tự do, kiếm sống chủ yếu bằng công việc dịch thuật. Tiểu thuyết đầu tay của Kertész Imre, tác phẩm Không số phận viết trong 13 năm, sau nhiều chờ đợi và chối từ, năm 1975 mới được xuất bản tại Hungary. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là một thiếu niên, sau khi đã trải qua những kinh nghiệm sống hãi hùng, trong các trại tập trung của phát xít Đức trở về, cậu trở thành người lớn, một người lớn, vĩnh viễn không bao giờ có thể sống đời sống bình thường như những người khác, chính vì dấu ấn nạn nhân, từ chủ nghĩa bài Do thái, đã để lại sâu sắc trong tâm hồn cậu. Ngày 10 tháng 10 năm 2002, Kertész Imre nhận giải Nobel văn học với cuốn tiểu thuyết Không số phận. Ông trở thành nhà văn Hungary đầu tiên đoạt Nobel văn chương. Tác phẩm Không số phận đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới, và được chuyển thể thành phim năm 2005. Trong các tác phẩm khác viết sau này, Kertész Imre thường phân tích một cách độc đáo và sâu sắc, số phận của những con người, bị quy định như một bi kịch định mệnh trong các tình huống xã hội đặc thù, như trong xã hội Hungary nói riêng và trong lịch sử Đông Âu nói chung. Đó là các tác phẩm: Sự thất bại (1988), Lá cờ Anh (1991), Nhật ký khổ sai (1992) Kẻ khác (1997), Tính sổ (2003)… Tiểu thuyết Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời , viết năm 1990, thường được coi là câu trả lời tiếp nối của Không số phận. Giới phê bình và độc giả trong nước, đánh giá tác phẩm này là một trong những kiệt tác văn học Hungary- kể cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện- trong thập kỷ đầu tiên, khi Hungary trở lại thành một xã hội dân chủ. Ngay với tên cuốn sách, tác giả đã lưu ý bạn đọc đến một loại kinh cầu nguyện, thường sử dụng trong các buổi tang lễ, phúng những người đã mất: đó là kinh Kaddis trong tôn giáo Do thái. Cuốn tiểu thuyết được viết như một lời cầu nguyện, các ý tưởng nối tiếp nhau, dàn trải theo một nhịp điệu nhịp nhàng, Kertész Imre đã sử dụng lối viết độc đáo của văn học truyền thống Do thái khi xây dựng tác phẩm này. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là một người đàn ông Do thái, lấy một người vợ Do thái, nhưng ngay từ điểm xuất phát vào đời, người đàn ông này đã quyết định sẽ không có con. Trong một đêm giông tố của cuộc đời, nhân vật chính kể lại tại sao mình lại nhất quyết nói: "Không!” với người vợ (cũ) khi nàng muốn có con, muốn xây dựng tổ ấm với mình. Ông từ chối cơ hội sinh ra những đứa trẻ, từ chối cơ hội, để cuộc sống của mình tiếp nối với những thế hệ con, cháu. Ông chuẩn bị một cái chết từ từ cho mình, và quay lưng lại với cuộc sống. Cuộc đời của nhân vật, là một chuỗi phủ nhận những gì đang tồn tại với mình, và quanh mình. Nguyên nhân của sự phi lý này, chính là toàn bộ quá khứ, đã gây ra những vết thương, giết chết tâm hồn con người, mà Kertész Imre đã phân tích cực kỳ sâu sắc, trong những triết lý thiên tài, về những vết thương còn "mạnh hơn cả tri thức…” Đấy là hậu quả của một quá khứ tổng hợp, của một con người được nuôi dạy trong nền giáo dục thiên chúa giáo cực kỳ nghiêm khắc, của tuổi thơ bị mất, vì sự hà khắc của người cha, của những kinh nghiệm sống sót từng trải, thu thập từ trại tập trung của phát xít Đức. Đấy là toàn bộ sự hiện hữu bi kịch của một người Do thái, trong lịch sử bi thương của dân tộc Do thái. Tiểu thuyết kết thúc bằng kết quả lạc quan bất ngờ: người vợ ly hôn, nàng kết hôn với người khác, và sinh ra những đứa con. Cuộc sống, dù cay đắng bao nhiêu, vẫn tiếp tục đơm hoa kết quả. Người đàn ông- nhân vật chính của tác phẩm, là một nhà văn và một dịch giả - tuy lựa chọn con đường sống độc thân, nhưng với các tác phẩm và dịch phẩm của mình, vô hình chung vẫn kéo dài cuộc sống của chính mình bằng nghệ thuật và văn chương, bằng những giá trị đích thực từ một nền văn hóa tạo ra thế giới con người. Đây là giá trị vĩnh cửu của văn chương và nghệ thuật trong đời sống con người, được nhắc đến như ý nghĩa của tác phẩm. Giá trị nhân bản của tác phẩm, cùng với những triết lý, tuy rất”tự thân”, rất đặc thù của Kertész Imre, nhưng có nhiều tương đồng với những yếu tố triết học đương đại của thế kỷ XX, khiến tiểu thuyết Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời đã trở thành một trong những kiệt tác văn chương xuất sắc, trong văn chương hiện đại châu Âu, và thế giới. Là một dịch giả tiếng Đức nổi tiếng, tác phẩm của Kertész Imre chắc chắn chịu nhiều ảnh hưởng từ các nhà triết học Đức, Áo mà ông dịch như: Elias Canetti, Sigmund Frend, Hugo Von Hoffmannstahl, Friedrich Nietzsche, Jozseph Roth, Arthur Schnitzler, Ludwig Wittgenstein Để lần đầu tiên tác phẩm của Kertész Imre được xuất bản tại Việt nam, người dịch đã bỏ rất nhiều công sức, cố gắng mang lại cho bạn đọc Viêt nam một ấn phẩm dịch có chất lượng, với mong muốn, sau tiểu thuyết Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời , người dịch sẽ có dịp giới thiệu tiếp, những tác phẩm ưu tú khác, của nhà văn đoạt giải Nobel Hungary Kertész Imre, giúp bạn đọc tìm hiểu thêm một nền văn học châu Âu cực kỳ đặc sắc: văn học Hungary. Budapest 18-05-2008 Người dịch: Nguyễn Hồng Nhung "Không!” – tôi nói luôn và ngay tức khắc, không do dự và có thể nói, theo bản năng, bởi vì hoàn toàn hiển nhiên, những bản năng của chúng ta hoạt động chống lại chính những bản năng của chúng ta, nói cách khác, những bản năng đối kháng của chúng ta hoạt động thay cho những bản năng thuần tính, thậm chí không quá lời – tôi đang ví von, nếu điều này có thể coi như sự ví von, hoặc cũng vậy, nếu sự thật trần trụi và thảm hại có thể xem là sự ví von. – tóm lại, tôi đang kể cho nhà thông thái đi ngược về phía tôi, sau khi cả ông ta lẫn tôi cùng dừng lại trong cánh rừng sồi đang héo mòn và hổn hển thở có thể nghe thấy được, bởi mắc một căn bệnh, có thể là bệnh lao phổi, rừng cây sồi, hay gọi là cây gì nhỉ: xin thú thật, tôi yếu kém về môn thực vật, riêng cây thông thì tôi nhận ra ngay, do những lá kim nhọn của nó, và những cây sung dâu, bởi vì tôi thích chúng. Cái gì tôi thích, cho đến tận hôm nay, ngay cả bằng bản năng đối kháng, nếu không phải bằng cái cảm giác buốt nhói trong ngực, đau quặn ruột, muốn nhảy dựng lên, như khi tôi phát hiện ra những điều tôi thù ghét, nói thẳng ra là, với sự nhận biết cảm hứng, tôi vẫn nhận ra nó. Tôi không biết, ở tôi, tại sao mọi cái với nhau, luôn luôn khác, đơn giản hơn, nếu tôi biết tại sao tôi không biết. Bởi vì điều này giải thoát tôi khỏi vô số lời giải thích. Nhưng, có vẻ không thể chạy trốn khỏi những lời giải thích, chúng ta luôn luôn giải thích và phân trần, bản thân cuộc sống đòi chúng ta phải giải thích, đây là cái hiện tượng-, cảm giác phiền toái không thể cắt nghĩa, môi trường xung quanh chúng ta đòi lời giải thích, và sau cùng, chúng ta cũng đòi lời giải thích từ ngay bản thân chúng ta, rốt cuộc, chúng ta thành công tiêu diệt tất cả những gì có xung quanh chúng ta, kể cả bản thân mình, hay nói cách khác, chúng ta thành công thanh minh đến vỡ đầu – tôi giải thích cho nhà thông thái hiểu, bằng thái độ nói chuyện gượng ép mà đối với bản thân tôi thật kinh tởm, nhưng không thể chống lại, cái thái độ luôn xâm chiếm tôi khi không có gì để nói, và là thứ, tôi e rằng, cùng gốc rễ với các đồng tiền boa tôi trả trong các quán ăn, trên những taxi, khi đút lót những nhân viên hành chính chính thống, chính xác hơn, nửa chính thống, và tiếp nữa, bằng thái độ lịch sự quá ư tự dâng hiến bản thân, như thể tôi đang sám hối không ngừng vì sự tồn tại, vì sự hiện hữu của mình. Lạy Chúa! Chỉ đơn giản là tôi vào rừng dạo chơi – cho dù đây chỉ là một cánh rừng sồi còi cọc –, trong bầu không khí thoáng đãng – cho dù bầu không khí này đã ô nhiễm chút ít –, với mục đích làm thông thoáng cái đầu của mình, hãy nói như vậy, bởi vì nếu chúng ta không quan tâm vào ý nghĩa của từ ngữ, thì nghe như thế thật hay ho, còn giả sử chúng ta có quan tâm đi nữa, thì, các từ ngữ này cũng chẳng có ý nghĩa gì, như việc cái đầu của tôi không cần thiết phải làm thông thoáng, trái lại, tôi là người rất dễ bị trúng gió. Tôi đốt – đã đốt – thời gian của tôi ở đây, một cách tạm thời (lúc này tôi không lan man sang những điều ngoài đề tài mà từ này tiềm tàng), trong cái thung lũng của dãy núi miền trung nước Hung này, trong một căn nhà, hãy gọi là nhà nghỉ mát, tuy nó xứng đáng được coi là nơi làm việc (tôi vẫn luôn luôn làm việc, và không chỉ sự sống còn buộc tôi phải thế, bởi nếu tôi không làm việc, thì tôi tồn tại, và nếu tôi tồn tại, thì điều đó, tôi không biết, nó buộc tôi làm gì, thành ra tốt hơn, tôi cũng không nên biết, cho dù các tế bào, phủ tạng của tôi, chúng chắc mẩm rồi, chính vì vậy tôi làm việc không ngừng: chừng nào tôi còn làm việc, chừng ấy tôi còn hiện hữu, nếu như tôi không làm việc, có giời biết, tôi có còn hiện hữu hay không, nên, tôi cho là quan trọng, và tôi cũng lấy làm quan trọng, bởi vì đây là cả một mối tương quan nghiêm túc nhất giữa sự sống còn và công việc của tôi, điều này hoàn toàn rõ ràng). Tóm lại, trong một căn nhà, nơi tôi được thưởng cái quyền đến ở với đám trí thức đồng quan điểm hoành tráng, những kẻ mà tôi không có cách gì để tránh họ, tôi có nằm bẹp bất động trong phòng mình cũng vô ích – tiếng lách cách của cái máy chữ của tôi sẽ tố giác ngay nơi tôi ẩn nấp –, tôi vô ích rón rén đầu ngón chân trên hành lang, vẫn cần phải đi ăn, những lúc đó, bằng hiện thực tồn tại không thương tiếc, đồng loại cùng bàn xúm xít quây quần, cũng cần phải đi dạo, thế là ngay giữa rừng tôi đụng trán với tiến sĩ Obláth đi ngược lại, nhà thông thái với cái dáng dấp mập mạp thô thiển, trên đầu sùm sụp phi lý cái mũ lưỡi trai kẻ ca-rô màu nâu xám, trong cái áo khoác cháo lòng tay rộng, với cặp mắt ti hí và khuôn mặt rộng, béo tốt, nhàu nát, giống như bột mỳ chứa bột nở và quả thực đã phồng to, ngài đã tỉnh ngủ hẳn. Thông thái gia, đây là chức danh nghề nghiệp thị dân của ngài, bên cạnh đó, cũng nên biết thêm rằng, và điều này có thể chứng minh bằng danh mục có ghi trong chứng minh thư của ngài, tiến sĩ Obláth là nhà triết học, giống như Immanuel Kant, như Baruch Spinoza, hoặc như triết gia Herakleitos của xứ Ephesos, như bản thân tôi là nhà văn và dịch giả, nhưng tôi không đính thêm vào người một danh hiệu đáng nực cười màu mè nào khác với những tên tuổi khổng lồ, những người là nhà văn và – đôi khi – cũng là dịch giả đích thực, bởi vì ngay khi chưa làm điều này, tôi, với nghề nghiệp của mình, cũng đã đủ là một trò cười rồi, và bởi vì hoạt động dịch thuật mang tính chất khách quan, trong mắt của vài người – chủ yếu của các cơ quan chính quyền và, tất nhiên do nhiều nguyên nhân khác, nhưng của bản thân tôi nữa – đôi khi, với chút dáng dấp của những nghề nghiệp minh bạch, nó là tấm ngụy trang cho biết bao bận bịu của tôi. "Không” – một cái gì đó tru lên, rền rĩ trong tôi, ngay lập tức, chính lúc đó, khi vợ tôi (người thực ra từ lâu đã hết là vợ tôi) lần đầu tiên rào đón về chuyện này – về con – và sự khiếm khuyết này của tôi rất chậm rãi, đúng thế, sau rất – rất nhiều năm mới dịu dần đi trong tôi, biến thành nỗi đau nhân thế buồn bã vô tận, như thể cơn giận dữ bùng nổ của Wotan trong buổi chia ly lừng danh, cho đến tận khi, trở thành bè vĩ cầm tắc nghẹn từ những ảo ảnh, rất chậm rãi và nhức nhối, như một căn bệnh từ lâu ấp ủ, như một câu hỏi mạnh mẽ xoáy trong tôi, câu hỏi đó chính là con, chính xác hơn là ta, nhưng được đặt ra vì con, chính xác hơn nữa là (điều này tiến sĩ Obláth cũng đồng tình):): Sự hiện hữu của ta chính là khả năng tồn tại sự hiện hữu của con, xét cho cùng. Hay nói cách khác, tôi như một kẻ giết người, nếu chúng ta muốn chính xác đến tột cùng, muốn tăng đến tận cái không thể, và với chút tự gặm nhấm bản thân cho phép điều này, bởi vì, lạy Chúa, muộn mất rồi, luôn luôn sẽ là sự chậm trễ mất rồi, con không xuất hiện, còn ta tự biết một cách chắc chắn, sau cái khăng khăng ”Không! Không!”, ta đã làm đổ vỡ tất cả, nghiền nát mọi thứ thành bụi, trước tiên là cuộc hôn nhân bất hạnh ngắn ngủi của mình – tôi kể – tôi đã kể – cho ngài Obláth, tiến sĩ khoa Nhân văn nghe, bằng một thái độ lãnh đạm thờ ơ, mà cuộc sống chưa bao giờ dạy thế, nhưng rốt cuộc tôi đã thể hiện thuần thục, khi cần thiết vô điều kiện. Và tất nhiên là cần, vì nhà thông thái đến gần tôi với vẻ mơ màng, tôi lập tức nhìn thấy nó trên cái đầu ngoẹo sang một bên, trên là một cái mũ lưỡi trai nằm bẹp dí, như thể một tên côn đồ láu cá đang tiến lại gần, sau khi đã nốc vài chén, bần thần tính toán, nên tống tôi một cú hay chỉ vòi tiền, nhưng tất nhiên, suýt nữa tôi nói: rất tiếc, ngài Obláth không bần thần, một nhà thông thái không có thói quen trầm ngâm giữa đường, còn nếu có, điều này hiện ra trong hình thái một vấn đề triết học nghiêm trọng, những công việc thấp hèn do những kẻ chuyên nghiệp thực hiện, tương tự, ta đã thấy, cho dù điều chợt lóe trong đầu tôi liên quan đến tiến sĩ Obláth là sự chuyên quyền đích thực và gần như đáng ngờ, bởi tôi không biết quá khứ của ngài, hy vọng ngài đừng kể. Không, nhưng ngài khiến tôi ngạc nhiên, vì một câu hỏi chẳng tế nhị chút nào, như thể một tên du côn vặn hỏi có bao nhiêu tiền trong túi tôi, tóm lại, ngài bắt đầu tra hỏi hoàn cảnh đời tư của tôi, tuy rằng, để mào đầu, ngài cho biết về đời riêng của ngài, với mục đích tạm ứng, làm tiền đề cho trường hợp nếu tôi muốn biết tất cả về ngài, dù tôi không hề quan tâm mảy may, với việc này ngài có thể nhào nặn cái quyền về… nhưng tôi phải dừng cuộc suy diễn này, tôi cảm thấy những chữ cái, những từ ngữ bắt đầu bị cuốn đi, bị trôi dạt theo hướng sai lầm, hướng của luân lí mù mờ, thứ mà đáng tiếc, gần đây tôi nhận ra mình cũng mắc vào, và các nguyên nhân của nó hiển hiện quá rõ ràng trước mắt tôi (nỗi cô độc, sự cách ly, việc lưu đày tự nguyện), như thể những nguyên nhân này khiến tôi phải lo âu, bởi suy cho cùng, chính tôi đã gây nên chúng, như vài nhát cuốc ban đầu vào một cái hố sâu thăm thẳm, đến tận cùng, với từng nhát bổ, tôi cần phải đào xong, để sau này nó nuốt chửng mình (giá có thể, tôi không đào vào đất mà nên đào vào không khí, vì ở đó có đầy chỗ) – Tóm lại, tiến sĩ Obláth hỏi tôi đúng một câu vô tội, tôi có con hay không, trong mọi trường hợp, đây là sự thẳng thắn vô lại, đặc trưng cho một nhà thông thái, hay nói cách khác, bất lịch sự, nhất là trong giây phút tồi tệ nhất, tất nhiên làm sao ngài biết, câu hỏi của ngài không thể phủ nhận, thậm chí còn làm tôi bối rối. Vì sau đấy, tôi đành trả lời bằng sự lên tiếng bắt buộc không thể đừng, bắt nguồn từ nỗi lịch sự quá ư tự dâng hiến bản thân, làm tôi vừa trả lời vừa kinh tởm, mà vẫn cứ phải kể lại, rằng: "Không!” – tôi nói ra luôn và ngay tức khắc, không chút lưỡng lự và có thể nói, theo bản năng, bởi vì hoàn toàn hiển nhiên là những bản năng của chúng ta hoạt động chống lại chính những bản năng của chúng ta, nói cách khác, những bản năng đối kháng của chúng ta đang hoạt động thay cho những bản năng thuần tính, thậm chí: đúng thế, vì những lời nói ngu xuẩn, vì sự hạ thấp bản thân một cách tự nguyện, riêng tư và không động cơ gì của tôi (cho dù tôi có hàng tỷ lý do để nói, như vài dẫn chứng tôi đã nêu trên, nếu tôi nhớ không nhầm), tôi muốn trả đũa ngài Obláth, vị tiến sĩ của khoa Nhân văn, khi tôi tô vẽ lại chân dung ngài giữa cánh rừng sồi (hay rừng phong gì đấy) cằn cỗi, như tôi đã tô vẽ, với cái mũ lưỡi trai bẹp dí, cái áo khoác raglan, và đôi mắt ti hí nhờ nhờ sữa đục trên khuôn mặt rộng, nặng nề nhàu nát, giống tảng bột mì có bột nở phồng to – tôi vẫn cho như thế – đúng, hoàn toàn phù hợp với thực tế. Toàn bộ những điều này, hoàn toàn có thể viết khác đi, một cách cân bằng hơn, rộng lượng hơn, tôi muốn nói thêm: với nhiều tình thương mến hơn nhưng e rằng, tôi chỉ biết viết như thế về tất cả, với ngòi bút tẩm mực châm chọc, một cách chế riễu, có thể hơi nực cười (nhận định điều này không phải việc của tôi), nhưng từ góc độ nào đấy, thật vụng về, như thể có một ai đấy cứ đẩy chệch ngòi bút của tôi đi, khi nó chuẩn bị viết những từ định sẵn, nhưng cuối cùng bàn tay tôi lại cho ra những từ khác, khiến bức tranh phác họa, chả bao giờ chứa tình yêu thương nào trong đấy, đơn giản hơn, sợ rằng, trong lòng tôi chả có tí yêu thương nào, nhưng, – lạy Chúa tôi! – tôi có thể yêu thương ai chứ, và tại sao. Trong khi tiến sĩ Obláth nói một cách trìu mến, đến nỗi vài chia sẻ cốt tủy khiến tôi phải chú ý, cuối cùng (sau này tôi gọi là: một cách định mệnh) đã được tôi ghi lòng tạc dạ. Rằng: ngài không có con, ngài nói, ngài chẳng có ai, ngoài một bà vợ già nua, đang vật lộn với tuổi già, nếu tôi hiểu đúng, bởi vì nhà thông thái giảng giải một cách mờ mịt, hay nói cách khác, định nghĩa một cách bóng bẩy, vì ngài tin là tôi hiểu được, thứ mà tôi muốn hiểu, mặc dù tôi không hề muốn, nhưng tuy vậy tôi vẫn hiểu, tất nhiên. Rằng, tiến sĩ Obláth nói tiếp, cái việc không có con của ngài thực ra chỉ gần đây mới xuất hiện trong đầu, và giờ trở nên thường xuyên, vì thế đúng lúc này, ngài ngẫm nghĩ về nó, trên con đường mòn trong rừng, không thể dừng lại mà không nói về nó, có lẽ, vì ngài đã đứng tuổi, và những khả năng ở tuổi này, ví dụ khả năng có thể sinh được con, đối với ngài ngày càng ít khả năng, thậm chí tuyệt đối mất khả năng, chính vì thế giờ đây ngài thường xuyên nghĩ đến, ngài bảo, ngài nghĩ đến nó "như một cơ hội bị bỏ lỡ”. Đến đây, tiến sĩ Obláth dừng lại giữa con đường mòn, vì trước đó cả hai chúng tôi cùng bắt đầu rảo bước, hai sinh vật xã hội, hai thằng đàn ông trung niên trò chuyện giữa đống lá khô, hai chấm buồn trên nền vải vẽ bức tranh thiên nhiên, hai vết loang phá hoại sự hài hòa vốn chưa bao giờ có của thiên nhiên, chỉ có điều tôi quên mất, tôi lẽo đẽo sau ngài tiến sĩ, hay ngài lẽo đẽo theo tôi, tất nhiên ta không nên đặt câu hỏi kiêu ngạo này ra làm gì, đúng thế, tất nhiên tôi lẽo đẽo sau ngài Obláth, có thể, với mục đích thoát khỏi ngài, bởi vì trong giây phút thích hợp nhất cho mình, tôi có thể quay trở lại; Tóm lại, tiến sĩ Obláth dừng lại giữa đường mòn trong rừng, bằng duy nhất một động tác buồn bã mênh mông, ngài căng cái khuôn mặt phồng to, xệ xuống, thêm nữa, ngài ngước cái đầu có chiếc mũ kỳ quái, lấc cấc về phía sau, rồi ngài treo ánh mắt của mình vào một cành cây ngang tầm mắt, như móc manh áo rách rưới thảm hại, nhưng vẫn sẵn sàng dâng hiến sự phục vụ. Rồi chúng tôi dừng lại giữa chừng như thế, câm lặng, tôi trong luồng thôi miên của ngài, còn ngài, tiến sĩ Obláth, của cây rừng, tôi có cảm giác, mình sắp làm nhân chứng cho một phát ngôn cực kỳ tin cẩn sắp phát ra của ngài; đúng vậy, vì sau cùng, tiến sĩ Obláth lên tiếng, ngài bảo, ngài nói rằng, ngài cảm thấy điều đã xảy ra, hay nói đúng hơn, điều chưa xảy ra, là cơ hội bị bỏ lỡ, có nghĩa là ngài nghĩ không phải đến việc nối dõi, mà đến một điều mang chút tính trừu tượng, và cần phải thú thực rằng, về bản chất cũng là niềm an ủi làm khuây khỏa con người, trong trường hợp ngài đã đáp ứng được – đúng hơn, và chính vì điều này, không đáp ứng được, công việc cá nhân và trên cả cá nhân ở thế gian này, nói cách khác, ngoài sự tồn tại ra, còn cần đảm bảo cuộc sống tiếp tục, sự thoát chết, những thứ được kéo dài và nhân rộng bởi chính các thế hệ tiếp theo, đó là (ngoài sự tồn tại ra) trách nhiệm, có thể nói, mang tính tiên nghiệm, nhưng lại vô cùng thực tiễn của con người đối với cuộc sống, để mình không cảm thấy là què cụt, là dư thừa, và nước đường cùng, là liệt dương bất lực; và ngài cũng không nghĩ đến những viễn cảnh đang đe dọa của tuổi già không nơi nương tựa, không, thực ra ngài sợ cái khác kia, sợ "sự vôi hóa tình cảm”, ngài nói như thế, tiến sĩ Obláth sử dụng đúng những từ này, khi giữa chừng, ngài tiến bước có vẻ như về phía điểm tựa của chúng tôi, phía căn nhà nghỉ mát, nhưng thực ra bây giờ tôi đã hiểu, là về phía sự vôi hóa tình cảm. Và trên con đường này của ngài, tôi lẽo đẽo theo ngài như một kẻ tháp tùng trung thành, trong trạng thái tâm hồn bị khuấy động đến độ thích đáng bởi những từ ngữ đầy khích động của ngài, nhưng tôi không chia sẻ nỗi sợ hãi với ngài, cái mà, tôi e rằng (chính xác hơn là tôi tin rằng, thậm chí tôi biết chắc chắn rằng) chỉ là phút chốc, và, tuy trong mọi trường hợp đều thiêng liêng, nhưng trong hiện thực vĩnh cửu, vẻn vẹn chỉ là nỗi sợ hãi cần được nhúng vào chậu nước thánh mà thôi, vì khi nó xuất hiện, chúng ta không còn sợ nó nữa, không còn nhớ thứ mình đã sợ, bởi vì nó đã lấy đi sức mạnh trên chúng ta, và chúng ta ngập tận cổ trong nó, nó đã là của chúng ta và chúng ta là của nó. Bởi vì đấy cũng chỉ là nhát cuốc vào cái hố, cái hố chôn, mà tôi đang đào vào không khí (vì ở đó tôi nằm xuống thoải mái hơn), cho nên, tôi nói, không phải với nhà thông thái, chỉ với bản thân, rằng đối với sự vôi hóa tình cảm, không cần phải sợ, mà cần phải tiếp nhận nó, ngay cả khi không chào đón trực diện, như chào đón bàn tay cứu vớt hướng về phía chúng ta, bàn tay hiển nhiên giúp chúng ta đi về phía nấm mồ, chắn chắn: vì thưa ngài Kappus, thế giới này không chống lại chúng ta, và nếu nó mang nhiều nỗi hiểm nguy đi chăng nữa, chúng ta hãy cần thử yêu lấy chúng, nếu như, tôi nói xen vào, nhưng không phải với nhà thông thái, cũng không phải với ngài Kappus – anh chàng may mắn đã nhận biết bao thư từ Rainer Maria Rilke – tôi nói với bản thân, là tôi chỉ yêu những nỗi hiểm nguy này, và tôi nghĩ, tuy vậy điều này có gì đấy chưa hợp lý, trong nó cũng có cái gì đấy không thực, mà tôi lúc nào cũng không ngừng nghe thấy, kiểu như một vài nhạc trưởng nghe thấy lập tức cái nốt nhạc kèn đồng, do lỗi in ấn, thổi cao hơn nửa âm. Cái âm thanh giả này, không chỉ từ trong bản thân tôi, mà xung quanh tôi, trong không gian, có thể nói, vũ trụ hạn hẹp hoặc rộng lớn của tôi, lúc nào tôi cũng không ngừng nghe thấy, ngay cả trong khung cảnh thiên nhiên đáng ngờ này, với rừng (sồi, hay phong) còi cọc, với lạch nước hôi hám và bầu trời u ám xỉn màu, lộ ra khỏi hàng cây hom hem, tại nơi, thưa ngài Kappus thân mến, kiểu gì tôi cũng không nghe thấy tiếng gọi thôi thúc của ý nghĩ "trở thành Tạo hóa, để sản sinh, để sáng tạo”, cái ý nghĩ đó, đúng không, chẳng đạt được điều gì trong thế giới nếu không kiểm chứng liên tục và biến nó thành hiện thực to lớn, sẽ chẳng thành gì, nếu thiếu sự đồng thuận của hàng nghìn âm thanh vang lên từ các loài vật và các vụ việc. . . Đúng thế, bởi vì vô ích chúng làm cụt hứng chúng ta (về điều này, tôi chỉ nói có thế), trong bí mật, nếu chúng ta thầm lặng và kỹ lưỡng theo rõi sự tuần hoàn của máu, và những giấc mơ kinh hãi của chúng ta, có nghĩa là, trong bí mật – tôi chỉ trong bí mật này, mới cảm thấy sự đồng thanh của hàng ngàn giai điệu vang lên từ mọi vật và mọi người – chúng ta luôn luôn và khăng khăng muốn sống, một cách rũ rượi, vô hồn, một cách bệnh hoạn, đúng thế, kể cả khi sống như thế này, cũng không được, như thế kia, cũng không xong… Chính vì vậy, hãy đừng mắc kẹt vào cái trạng thái tình cảm này, hay đúng hơn, vào gần như tất cả các trạng thái, hoặc ít nhất, trong tất cả những trạng thái mà tôi cũng tham dự, tôi lại nghe thấy âm thanh sai điệu của chiếc kèn đồng, tôi đặt cho ngài một câu hỏi đụng chạm mạnh đến chuyên môn của ngài, mang tính chất bác học, nhưng tuyệt đối không phải là một câu hỏi thông thái, rằng tại sao cái điều này lại như vậy? toàn bộ đây là sự ốm yếu?, rằng rốt cuộc ở đâu và khi nào "chúng ta đã làm đổ bể những cái quyền của mình”? rằng tại sao, một cách không thể thay đổi được và không gì có thể lay chuyển nổi, chúng ta vĩnh viễn không thể biết cái chúng ta biết? và cứ thế, cứ thế, như thể tôi không biết cái tôi biết, nhưng do bị bắt buộc phải lên tiếng, cái thái độ bất khả kháng, như nỗi sợ hãi nào đấy, kiểu như ngài đang ở giữa đồng hoang ma quỷ: thế là trên khuôn mặt tiến sĩ Obláth, quay trở lại cái nét mặt của nhà thông thái hành chính vùng núi trung nguyên Hungary, nét mặt của kế sinh nhai hạng trung, nét mặt của tầng lớp trí thức hạng trung với những quan điểm hạng trung, vóc dáng hạng trung, tuổi tác hạng trung, tương lai hạng trung, những nếp nhăn của nụ cười thỏa mãn, hạnh phúc, hoàn toàn nuốt chửng đôi mắt ti hí của ngài. Giọng nói của ngài ngay lập trở lại khách quan, thậm chí, cụ thể rành mạch, cái giọng mà đã quen với lối nói bóng nói gió trơn tru, vốn dĩ đầy tự tin, và mới đó vài giây còn thoáng run nghẹn bởi sự đe dọa gần kề của các sự việc rất thực tiễn cuộc sống. Thế là chúng tôi thong thả rảo bước quay về, hai kẻ ăn mặc gọn ghẽ, được nuôi nấng no đủ, tư thế chỉnh chu, hai trí thức thường thường bậc trung, trạc ngoại tứ tuần, quan điểm trung lưu, hai kẻ sống sót theo hai kiểu riêng của mỗi người, hai kẻ vẫn đang tiếp tục sống, hai kẻ đã chết một nửa, và trò chuyện, về những gì có thể trò chuyện, giữa hai kẻ trí thức và hoàn toàn vô bổ. Chúng tôi thảo luận, một cách ôn hòa, nhạt phèo, tại sao không thể tồn tại; bản thân sự tồn tại của cuộc sống, nói cho cùng là một sự vô lại, bởi vì, từ góc độ cao hơn, trong ý nghĩa cao hơn, không được phép tồn tại, đơn giản vì các sự kiện cứ lặp đi lặp lại, ta hãy bằng lòng như thế, lý do để ngao ngán có đủ; chưa nói đến việc đã từ lâu, những tư tưởng tân tiến hơn cũng không cho phép đồng nhất sự hiện diện với sự tồn tại. Chúng tôi đề cập – tất nhiên, tôi không thể nhớ ra tất cả, bởi có hàng trăm đề tài tương tự, vang lên, đúng hơn là kêu boong boong từ cuộc nói chuyện lộn xộn và vô tình này, như một ngàn đêm yêu đương hồi sinh từ quên lãng, với bậc vua chúa, trải dài bằng duy nhất một ý nghĩ sáng tạo – quả thật, tôi không nhớ ra tất cả, nhưng tôi tin: có chăng – toàn bộ bộc lộ vô thức hướng về sự hiện diện của tồn tại, khác xa dấu hiệu của nỗi ngây thơ vô vị, nói như vậy hơi quá, và thực ra không tồn tại – trái lại, đây là triệu chứng cho thấy cần phải tiếp tục, cần diễn biến một cách vô thức, nếu mọi giá cần phải tiếp tục. Và, nếu khả năng sống sót không thành công, điều mà tất nhiên ở mức độ cao hơn (tiến sĩ Obláth), lúc đó không chỉ những biểu hiện mơ hồ được bộc lộ, mà thậm chí sự trái ngược của nó cũng phơi bày, rơi vào vô thức một cách rõ ràng…và tiếp tục, sự vô thức này được biết đến như những nỗi phân tâm… Nhưng, theo những điều trên, để đạt đến sự cảm nhận của nhân loại (tôi) và sự hiện hữu của nó (tiến sĩ Obláth), là trạng thái mà nhân loại luôn cố gắng vươn tới, là niềm tin, là nền văn hóa, và những nghi lễ khác, ngày nay thuần túy là một tai họa… Vì vậy, chúng tôi lại tiếp tục, tiếp tục thổi tiếng kèn đồng lạc điệu, giữa lúc sương mù xanh mỏng hoàng hôn bắt đầu phủ kín ngọn những rặng cây cao đứng sừng sững, che kín một đám đông đang ẩn náu trong khu nghỉ mát, như mầm cây chen chúc dưới lòng đất sâu, nơi bàn đã phủ khăn và bữa tối đang chờ đợi, dao dĩa kêu leng keng, cốc tách chạm nhau tanh tách, đám đông đó đang trò chuyện rì rào, từ nơi đang diễn ra sự thật trần trụi này, tiếng kèn đồng lạc lõng cũng vang lên; vì không thể tự phơi bày bản thân, cuối cùng tôi cũng không rút lui, để thoát khỏi tiến sĩ Obláth: có trời biết tại sao, từ sự trống rỗng, che đậy bằng nỗi bị thôi miên và lối chuyện trò bắt buộc, tôi luôn luôn cảm thấy buồn phiền (kinh tởm), tôi ở lại đến cùng với ngài tiến sĩ để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói về điều cần nói, thậm chí, ai mà biết được, cần viết. Đúng thế, và màn đêm đã trừng phạt – hay tặng thưởng?, – vì tất cả những điều này, mang đến một bước ngoặc, một cơn giông bất ngờ ập đến, những tiếng sấm rền trên bầu trời, và chớp giật từng hồi, từng hồi, khắp vũ trụ, rồi lắng xuống, rõ ràng, khúc chiết, ít nhất đối với tôi, những chữ cái rành rọt xuất hiện, và… "Không!” – tôi nói, bởi vì quá tất yếu, những bản năng của chúng ta hoạt động chống lại bản năng, có thể nói, những bản năng chống đối của chúng ta hoạt động thay những bản năng thuần tính. "Không!” – một cái gì đó tru lên, rền rĩ trong tôi, ngay lập tức, chính lúc đó, nỗi ca thán đã gọt rũa, sau rất nhiều năm trôi qua, biến thành nỗi đau da diết, câm lặng, khi chưa qua đi, nó âm ỉ và nhức nhối, như một căn bệnh đang ủ, khắc vào trong tôi một câu hỏi – rằng, con sẽ là một cô bé mắt đen chăng? xung quanh chiếc mũi bé nhỏ của con sẽ là những chấm tàn hương mơ hồ chăng? Hay con sẽ là một cậu bé bướng bỉnh? Đôi mắt vui tươi và ngỗ ngược của con sẽ giống như những viên sỏi xám nhỏ xinh chăng? – đúng, cuộc đời của ta sẽ chính là khả năng tồn tại hiện hữu của con. Cả đêm hôm đó ta chỉ nghiền ngẫm câu hỏi này, lúc dưới ánh chớp chói lòa, khi với cặp mắt hoa lên trong màn đêm, trong khoảnh khắc nén thở, ta như nhìn thấy câu hỏi này khắc trên tường. Những câu chữ tôi viết ra trên giấy, giờ đây, cần coi như tôi đã viết ra hồi đêm, dù trong đêm, tôi sống, đúng hơn là viết, tôi đã trải qua, hay đúng hơn, những nỗi đau khác nhau của tôi, nhất là của những kỷ niệm đã vật vã (với nửa lít rượu cô nhắc). Có thể, tôi ghi bừa vài câu rối rắm vào sổ tay, vào tập giấy trắng luôn bên mình, những câu chữ sau đó tôi không thu thập lại, hoặc nếu có, tôi cũng không hiểu, rồi quên đi. Chỉ sau nhiều năm, đêm hôm đó mới sống lại trong tôi, để sau nhiều năm nữa, giờ đây tôi thử ghi lại, những gì đáng lẽ lúc ấy tôi phải viết ra, vì một đêm quá ngắn ngủi, với những gì cần viết, nếu tôi định viết. Nhưng sao viết được, bởi đêm hôm đó mới là sự mở đầu, có thể không phải sự mở đầu sớm nhất, nhưng chắc chắn là một trong những bước đi đầu tiên của nỗi tỉnh ngộ chín chắn, hay đúng hơn, sự sám hối lâu dài, ai mà biết, dài đến bao giờ, là nhát bổ đầu tiên để đào nấm mồ, cho bản thân tôi – không còn nghi ngờ gì nữa – tôi sẽ trải giường vào những đám mây. Câu hỏi này – cuộc đời của ta chính là khả năng cho sự tồn tại hiện hữu của con – có vẻ đi đúng hướng, đúng vậy, như thể bằng bàn tay bé bỏng, mảnh khảnh, con dắt, kéo ta đi trên đường, mà tận cùng đường chẳng dẫn đến đâu, cùng lắm dẫn đến sự nhận biết vô ích và không thể thực hiện được của bản thân, con đường chỉ đẩy lùi những trở ngại và chướng ngại vật mới tiếp tục tiến bước. Cái gì "có thể?” thậm chí "cần!” không mang ý nghĩa gì hết. Đầu tiên, phải chặn đứng cái thể chất trí thức bậc trung của tôi lại, phải dứt tận gốc rễ, kể cả khi thể chất này, chỉ được tôi sử dụng như bao cao su tránh thai, như thể tôi là một kẻ tình dục bừa bãi, cần thận trọng trong môi trường chứa bệnh AIDS. Chính xác hơn, tôi đã như vậy, bởi từ lâu, tôi không còn là một trí thức bậc trung, tuyệt đối không phải là một trí thức, tôi chẳng là cái gì, tôi sinh ra làm một con người tự thân, ngài J.W.G. từng nói thế, tôi là một kẻ sống sót tự thân, tôi nói, cùng lắm là nhà dịch thuật, đại loại như thế, một khi tôi đã xuất hiện và cần phải tồn tại. Là gì đi nữa, trái với hoàn cảnh đe dọa này, tôi đã tẩy hết thể chất đáng hổ thẹn của một nhà văn Hung thành đạt trên mình, vợ tôi (người từ lâu đã là vợ kẻ khác) bảo: mọi đặc tính của anh đều toát lên thể chất đó (lúc đó, khiến tôi hơi hoảng), nàng không bảo, vợ tôi nói, tôi phải từ bỏ những quan điểm nghệ sỹ, hoặc gì gì của tôi đi, nàng chỉ bảo, vợ tôi nói, tôi đừng tự ti như thế, có nghĩa là nếu anh càng (từ bỏ những quan điểm nghệ sỹ, hoặc bất kỳ lí thuyết gì) anh sẽ càng phải quan tâm đến nó, nghĩa là rốt cuộc, anh phải tự thực hiện bản thân mình, tóm lại phải đạt được thành công, vợ tôi bảo, bởi vì ai cũng cố gắng đạt điều ấy, kể cả nhà văn vĩ đại nhất thế giới, anh đừng tự lừa dối mình, vợ tôi nói, nếu anh không thích sự thành công, thì anh viết để làm gì cơ chứ? nàng hỏi, thật là một câu hỏi độc đáo, nhưng lúc đó tôi chưa có dịp lảng tránh; điều đáng buồn, có thể nàng đã nhìn thấu ruột gan tôi, có thể nàng nói hoàn toàn đúng, có thể tôi có – đã từng có – đủ tư chất, xứng với thể trạng đáng hổ thẹn của một nhà văn Hung thành đạt, tôi có – đã từng có – khả năng bẩm sinh. Nếu không có , tôi phải tạo ra – cần tạo ra, để toàn bộ nỗi do dự và sợ hãi sinh tồn của tôi, có thể biến thành sự ngưỡng mộ bản thân giản dị, mù quáng, không giới hạn, đầy say mê, nếu không đầy lôi cuốn, chí ít cũng hoành tráng, nếu tôi biến nó thành bệnh hoang tưởng đạo đức, và thành một chiến dịch kết tội liên tục, chống những người khác; Mời các bạn đón đọc Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời của tác giả Imre Kertesz.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió
Nếu các bạn đã từng say mê bộ Cuốn Theo Chiều Gió của nhà văn Margaret Michell hẳn sẽ không thể bỏ qua bộ Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió để xem câu chuyện sẽ được tiếp diễn ra sao? A.Ripley, một nhà văn nữ đã lọt vào vòng chung kết và bản thảo của bà được Hội đồng chấp nhận. Trên nhiều mặt, Hậu Cuốn Theo Chiều Gió đã phát triển được một cách nhuần nhuyễn bộ Cuốn Theo Chiều Gió của M.Michell, nhưng cũng có những mặt A.Ripley phát triển gần với văn học hiện đại hơn. Điều này phù hợp với xu hướng chung của bạn đọc trên toàn thế giới. Trở lại Tara... Trở lại với Scarlett và Rhett... Trở lại với câu chuyện tình lãng mạn và tuyệt vời nhất của mọi thời đại. Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió của Alexandra Ripley lập tức gây xôn xao văn đàn, làm mê hoặc độc giả toàn tếh giới và lập kỷ lục mới - 2 triệu bản in được bán hết ngay trong lần xuất bản đầu tiên *** Sau 12 năm tìm kiếm, 3 tác giả chấp bút và một bản thảo bị loại bỏ, cuốn tiểu thuyết hậu “Cuốn theo chiều gió” cuối cùng cũng chính thức được lựa chọn. “Rhett Butler’s People” - tác phẩm tiếp nối kiệt tác văn học của Margaret Mitchell - sẽ được xuất bản tại Mỹ vào tháng 10 tới. Không chỉ là phần tiếp theo đơn thuần, cuốn sách mới của Donald McCaig - do St. Martin xuất bản - chính xác hơn là một Cuốn theo chiều gió được kể lại từ điểm nhìn của Rhett Butler. Donald McCaig vốn là tác giả xuất thân từ nghề chăn cừu ở Virginia. Trước đây, ông từng viết quảng cáo và đã xuất bản nhiều tiểu thuyết viết về Nội chiến Mỹ được giới phê bình đánh giá cao. Với dung lượng nhỉnh hơn 400 trang, Rhett Butler’s People chỉ là một mẩu nhỏ so với bản chính hơn nghìn trang của Mitchell. Bối cảnh cuốn sách diễn ra từ 1843 đến 1874, dài hơn gần 2 thập kỷ so với Cuốn theo chiều gió. Độc giả sẽ được biết tường tận về quãng đời thơ ấu của Rhett Butler tại một nông trại, quan hệ của anh với cô gái điếm Belle Watling, những trải nghiệm của anh trong vai kẻ trốn chạy khỏi vùng đất phong tỏa ở Charleston, Bắc Carolina. Trên hết, người đọc sẽ được khám phá những suy nghĩ diễn ra trong đầu óc Rhett khi anh gặp và tán tỉnh Scarlett O’Hara trong một trong những mối tình nổi tiếng nhất mọi thời đại. Xuất bản Rhett Butler’s People, St. Martin sẽ có cơ hội trang trải số tiền 4,5 triệu USD mà họ phải trả cho những người thừa kế di sản Mitchell để có tác quyền xuất bản cuốn sách. NXB cho rằng cuốn sách có triển vọng lớn về mặt thương mại. Họ lên kế hoạch in tới một triệu bản trong đợt phát hành đầu tiên. Sinh thời, Margaret Mitchell đã kiên quyết từ chối những lời đề nghị viết phần tiếp theo của cuốn sách. Khi Scarlett, một Cuốn theo chiều gió II của Alexandra Ripley, ra mắt năm 1991, đó thực sự là một quả bom tấn với 6 triệu bản được bán ra. Nhưng Ripley phải hứng chịu những lời chỉ trích gay gắt. 5 năm trước đó, những người thừa kế di sản của Mitchell cũng đã không thể ngăn chặn được việc xuất bản cuốn tiểu thuyết hậu Cuốn theo chiều gió không chính thức của Alice Randall. Tác phẩm này viết theo lối nhại phong cách của Mitchell, được kể từ điểm nhìn của một người nô lệ - con bà vú Mammy, người bảo mẫu thương yêu của Scarlett. Lần này, Paul Anderson Jr., một trong ba luật sư bảo hộ quyền lợi cho những người thừa kế di sản Mitchell, khẳng định: “Điều chúng tôi trông đợi nhất là một tác phẩm có chất lượng văn học cao, có giá trị, chứ không chỉ là một con gà đẻ trứng vàng”. Bản thân quá trình tìm kiếm tác giả xứng đáng làm người kế nhiệm Margaret Mitchell là cả một câu chuyện hấp dẫn. Khởi đầu năm 1995, khi Emma Tennant, tiểu thuyết gia người Anh, tác giả phần tiếp theo cuốn Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen, bắt đầu ký hợp đồng viết Cuốn theo chiều gió II. Bản hợp đồng này yêu cầu Tennant phải trung thành với giọng điệu, điểm nhìn và nhân vật của Mitchell. Tennant cũng không được phép đưa vào tác phẩm những trang viết đề cập đến vấn đề tình dục hoặc hôn nhân giữa những người đồng giới. Tuy nhiên, bản thảo 575 trang của Tennant bị chê là quá nhiều chất Anh và vì thế bị NXB loại bỏ và cấm xuất bản vĩnh viễn. Kẹt vì không tìm thấy tác giả thích hợp, NXB St. Martin và những người thừa kế đã tìm đến Pat Conroy, tiểu thuyết gia nổi tiếng với cuốn The Prince of Tides và từng viết lời giới thiệu cho Cuốn theo chiều gió trong lần tái bản kỷ niệm 60 năm ngày ra đời cuốn sách. Những cuộc thương thảo hợp đồng đầy căng thẳng lại tiếp tục. Lo lắng trước việc các luật sư có thể hạn chế tự do của mình bằng những quy định như đã đề ra với Tennant, Conroy “rào trước” bằng câu nói đùa: ‘Tôi sẽ mở đầu cuốn sách bằng câu sau: ‘Làm tình xong, Rhett quay sang Ashley Wilkes và nói: ‘Ashley, tôi đã bao giờ kể với anh rằng bà tôi là một người da đen chưa nhỉ?”. - Margaret Mitchell và quá trình viết 'Cuốn theo chiều gió' Ông Anderson - con trai của vị luật sư có mặt trong cuộc thảo luận hợp đồng với Conroy - cho biết, NXB và đại diện của những người sở hữu tác quyền không bao giờ gây sức ép đối với nhà văn: “Mọi người đều hiểu rằng, không có tình huống nào trong cuộc họp thể hiện việc cấm đoán ông miêu tả quan hệ hôn nhân hoặc những cảnh sex đồng giới cả”. Nhưng theo trí nhớ của Conroy thì mọi việc lại diễn ra theo hướng ngược lại. Trong một cuộc phỏng vấn, nhà văn kể, các luật sư đã không ngừng ngăn ông viết về đề tài tình yêu, tình dục đồng giới hoặc không được để nhân vật Scarlett O’Hara phải chết. Cuối cùng, Conroy rút lui khỏi cuộc thảo luận vì ông sợ quyền tự do sáng tác của mình không được đảm bảo. 4 năm sau, Sally Richardson và giám đốc NXB St. Martin Hope Dellon lại bắt đầu tìm kiếm một ứng viên khác. Một lần, Dellon bước vào một cửa hàng sách và nhìn thấy cuốn Jacob’s Ladder – một tiểu thuyết về Nội chiến của McCaig. Bà hứng thú với cuốn sách và cho mời McCaig đến. McCaig cho biết, ông chưa từng đọc Cuốn theo chiều gió, nhưng khi đọc xong, ông thực sự bị mê hoặc. Ngay từ khi nhận được lời mời chấp bút viết phần 2 cuốn sách, nhà văn đã biết, ông sẽ kể câu chuyện của mình từ điểm nhìn của Rhett Butler. McCaig từ chối tiết lộ số tiền mà ông nhận được từ di sản Mitchell khi ký hợp đồng này. Nhà văn dành ra 6 năm để nghiên cứu và viết. Ông đào xới tư liệu lịch sử và đến tận những con thuyền ở cảng Charleston để hình dung ra cảnh Rhett tìm cách thoát khỏi vòng phong tỏa của lực lượng hải quân trong cuộc nội chiến Bắc – Nam. Anne, vợ ông, đã vạch ra một đề cương dài 100 trang ghi lại những chi tiết chính của Cuốn theo chiều gió. Nhờ đó, nhà văn có thể theo dõi dòng chảy của cuốn tiểu thuyết gốc. Cuối cùng, cuốn sách cũng hoàn thành và được nộp cho luật sư và NXB. Anderson cho biết, rút kinh nghiệm từ những hợp đồng trước với Tennant và Conroy, họ đã cố không can thiệp quá sâu vào nội dung tác phẩm. McCaig nhất mực từ chối tiết lộ cốt truyện Rhett Butler’s People. Nhưng ông cho biết, tác phẩm mở đầu bằng cuộc đọ kiếm giữa Rhett và anh trai của Belle Watling, Shadrach. Hà Linh trích dịch (Nguồn: nytimes) *** Dịch từ bản tiếng Pháp của dịch giả CAROLINE AUCHARD, do Nhà xuất bản PIERRE BELFOND ấn hành, có tham khảo nguyên bản tiếng Anh của Alexandra Ripley, Nhà xuất bản WARNER BOOKS Dịch giả: Khắc Thành, Thanh Bình, Anh Việt Lời nhà xuất bản Năm 1987, Nhà xuất bản Văn học bắt đầu cho ra mắt bạn đọc bộ "Cuốn theo chiều gió" của nhà văn Margararet Mitchell. Bản dịch của Dương Tường.  Đây là một bộ sách lớn không phải chỉ của nền văn học cổ điển Mỹ mà ý nghĩa của nó đã vang rộng trên toàn thế giới. "Cuốn theo chiều gió" của Margaret Mitchell thực sự đã trở thành tài sản của mọi người trên hành tinh chúng ta. Nó được in đi, in lại nhiều lần ở nhiều nước khác nhau. Và ở Việt Nam, số lượng in lần đầu tiên lên đến con số kỷ lục hồi ấy: 60.000 bản.  Năm nay, trong kế hoạch của mình, thông qua Cục xuất bản cho phép in bộ "Hậu cuốn theo chiều gió" A. Ripley một nhà văn nữ đã lọt vào vòng chung kết và bản thảo của bà được Hội đồng chấp nhận. Trên nhiều mặt: "Hậu cuốn theo chiều gió" đã phát triển được một cách nhuần nhuyễn bộ "Cuốn theo chiều gió", của M. Mitchell nhưng cũng có những mặt A. Ripley phát triển gần với văn học hiện đại hơn. Điều này phù hợp với xu hướng chung của nguởi đọc hiện nay. Và thực chất nó đã thu hút mạnh mẽ bạn đọc của toàn thế giới. Tất nhiên, cũng không phải không có những độc giả không hàì lòng với bộ "Hậu cuốn theo chiều gió" của A. Ripley. Nhung đấy là số ít, không đáng kể so với con số triệu triệu độc giả đang háo hức chào đón nó. Lần này chúng tôi mời một số nhà dịch thuật trẻ, đã từng dịch qua nhiều bộ sách có giá trị, đã được nhiều nhà xuất bản ấn hành. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn thận trọng và quyết định mời giáo sư Lê Trí Viễn, giáo sư Huỳnh Lý cùng với nhà dịch thuật quen thuộc với bạn đọc cả nước ông Hồng Điểu hiệu đính. Ba học giả này đã làm việc công phu và rất thẳng thắn. Bản dịch lần này theo bản tiêng Pháp, có tham khảo bản tiếng Anh. Mặc dù làm việc hêt sức cẩn thận, tỉ mỉ, chúng tôi vẫn chưa thể nào coi đây là một bản dịch hoàn hảo. Chắc chắn bản dịch sẽ còn nhiều sơ sót. Nhà xuất bản rất mong nhận được những đóng góp của tất cả mọi độc giả để lần tái bản sau bản thảo được hoàn thiện hơn. Một lần nữa Nhà xuất bản xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ chân tình của độc giả lâu nay vốn yêu mến Nhà xuất bản. Nhà xuất bản Văn Học, Hà nội, 2004 *** Mọi việc rồi sẽ sớm kết thúc thôi và ta có thể trở về nhà, ở Tara. Scarlett O Hara Hamilton Kennendy Butler đứng tách riêng một mình, cách vài bước những người, cũng như nàng, đã đến dưới cơn mưa tầm tã, để tiễn đưa Mélanie Wilkes. Dưới những chiếc ô cũng một mầu đen, những người đàn ông đàn bà mặc đồ đen đứng nép vào nhau, sụt sùi khóc chia nhau chỗ trú mưa cùng nỗi đau đớn. Scarlett chẳng chia ô và niềm đau với một ai cả. Gió cứ từng cơn giật mạnh dưới chiếc ô, hắt một thứ nước lạnh buốt chảy dọc suốt cổ nàng, song nàng vẫn không hề hay biết. Tê dại trước sự mất mát vừa nếm trải, nàng cảm thấy trống rỗng. Nếu có thể chịu đựng được đau đớn này nàng sẽ khóc ngất. Còn giờ đây, nàng như mất trí, không cảm được cả nỗi đau, cảm xúc và suy nghĩ. Trong tâm trí nàng, chỉ luôn vang lên lời cầu mong có chút sức tàn để sống cho đến ngày nỗi đau dịu bớt đi. Mọi việc rồi sẽ sớm kết thúc thôi và ta có thể trở về nhà, ở Tara, và tro bụi sẽ trở về với tro bụi, cát bụi sẽ trở về với cát bụi… Giọng vị mục sư thấm tận cõi lòng tê tái của nàng và Scarlett thấu hiểu lời ông ta. Không! Nàng kêu lên không thành tiếng. Không thể là Melly được. Không phải là ngôi mộ của Melly, cái huyệt thì quá lớn còn Melly lại quá nhỏ bé, nắm xương của nàng nào có hơn gì xác một con chim. Không! Melly không thể chết, không thể chết được. Scarlett giật thót người quay ngoắt đi không dám nhìn cái miệng huyệt đang tông hốc đón lấy chiếc quan tài đơn sơ bằng gỗ thông được thả xuống. Tiếng búa nện chan chát hằn những vệt tròn lồ lộ quanh các lỗ đinh trên nắp quan tài đóng chặt, không thể nào nhìn thấy khuôn mặt dễ thương và dịu hiền của Mélanie đâu nữa. Không! Các người không thể làm thế được. Trời đang mưa. Các người không thể đặt nàng nằm đó, cơn mưa này sẽ phủ ngập nàng mất. Nàng đang rét buốt xương mà, không thể bỏ nàng dưới cơn mưa lạnh lẽo này được. Ta không thể nhìn, không thể chịu đựng được điều ấy, ta không thể tin rằng nàng lại từ bỏ chúng ta. Nàng yêu ta, nàng là bạn của ta, là tri kỷ của ta. Melly yêu ta, nàng sẽ không bỏ ta vào lúc ta cần đến nàng nhất. Scarlett đưa mắt nhìn đám người đứng chung quanh ngôi mộ và nàng bỗng giận sôi lên. Không ai trong đám họ yêu nàng hơn ta, không một ai trong đám họ mất mát nhiều như ta. Không ai biết ta yêu nàng đến nhường nào. Ngoại trừ… Melly phải không? Nàng biết điều ấy, ta tin là nàng biết rõ điều đó. Mời các bạn đón đọc Scarlett - Hậu Cuốn Theo Chiều Gió của tác giả Alexandra Ripley & Khắc Thành (dịch) & Thanh Bình (dịch) & Anh Việt (dịch).
Phép Màu Của Chúa
Kendra Bryant và anh chồng Moe vốn là những người vô thần, họ không tin vào Chúa, chứ đừng nói là phép màu của Ngài. Thế nhưng giá trị niềm tin của Kendra bắt đầu lung lay sau khi cô mắc chứng viêm màng tim cấp tính và được phẫu thuật, nhận trái tim mới từ Erin. Erin cùng chồng và ba người không may qua đời trong một tai nạn giao thông, để lại cô bé Amy khi đó mới chỉ tám tuổi, tới sống cùng gia đình dì Ashley. Sau hai năm Erin qua đời, ông John Baxter quyết định Giáng sinh này sẽ mời vợ chồng Kendra tới tham dự bữa ăn tối truyền thống cùng với đại gia đình ông. Không ngờ, ý tưởng này của người cha vấp phải sự phản đối quyết liệt của những thành viên khác. Họ lo lắng sự hiện diện của Kendra sẽ ảnh hưởng xấu đến Amy, người duy nhất sống sót sau tai nạn kinh hoàng. Bản thân Kendra cũng đang gặp khó khăn trong việc tìm ý nghĩa của cơ hội sống thứ hai mà cô được trao cho. Cô hy vọng lời mời của ông John sẽ cho cô lời giải đáp và giúp cứu vãn cuộc hôn nhân đang bế tắc của mình. Cùng lúc đó, Maddie, cháu gái của John Baxter đang cầu xin một phép màu Giáng sinh cho cô em gái. Liệu điều kì diệu có đến với Maddie, Kendra cũng như các thành viên đại gia đình nhà John? Giữa những người tin tưởng vào Chúa, Kendra và Moe liệu có thể dễ dàng hòa đồng cùng mọi người? *** Độc giả nói gì về sách của Karen Kingsbury? “Những câu chuyện là hư cấu nhưng tác động là thực tế.” Debbie L.R “Karen Kingsbury đang thay đổi thế giới và người đọc cùng một lúc.” Lauren W. “Tôi đã đọc nhiều sách của Karen và mỗi lần đọc, tôi đều bật khóc. Tôi cảm giác như mình thật sự quen biết những nhân vật trong câu chuyện. Tim tôi như muốn nhảy ra ngoài với tất cả bọn họ khi có chuyện gì đó xảy ra.” Kathy N. “Mỗi khi cầm lên một quyển sách mới của Karen Kingsbury, có hai điều không bao giờ thay đổi: khăn giấy và đọc xong toàn bộ tác phẩm chỉ trong một ngày.” Nel L. “Tác giả xuất sắc nhất nước Mỹ.” Mary H. “Sách của Karen nhắc nhở tôi rằng: Chúa có thật trên đời. Tôi rất cần lời nhắc ấy!” Carrie F. “Mỗi lần đọc một quyển sách của Karen, tôi đều nghĩ ‘đây là cuốn sách hay nhất.’ Rồi khi tác phẩm tiếp theo ra mắt, tôi lại nghĩ ‘không, đây mới là hay nhất.’” April B.M. “Tiểu thuyết là những kỳ nghỉ ngắn và sách của Karen là điểm đến yêu thích của tôi.” Rachel S. *** Gia đình Baxter - Hôm qua và hôm nay Đối với một số độc giả, đây là lần đầu tiên bạn tiếp xúc với gia đình Baxter. Vâng, bạn có thể quay lại và đọc 23 cuốn sách về những nhân vật được yêu thích nhất này. Nhưng bạn không nhất thiết phải đọc chúng mới đọc được cuốn sách này. Thật ra sẽ còn những tác phẩm khác xuất bản trong vài năm tới. Nếu muốn, bạn có thể bắt đầu ngay từ đây. Vào mùa Giáng sinh. Cho dù bạn đã quen biết gia đình Baxter nhiều năm hay bây giờ mới gặp, dưới đây là phần tóm tắt nhanh về các thành viên, con cái và tuổi tác của họ. Đồng thời, vì các nhân vật đều là hư cấu nên tôi tự do định ra số tuổi của họ. Hãy giả định rằng đó là tuổi tác ở hiện tại. Bây giờ, hãy để tôi giới thiệu hay nhắc cho bạn nhớ về gia đình Baxter: Câu chuyện nhà Baxter bắt đầu ở Bloomington, bang Indiana và hiện nay, hầu hết thành viên vẫn còn sống ở đó. Ngôi nhà của họ nằm trên khoảng đất rộng bốn nghìn mét vuông ở vùng ngoại ô, có một con lạch uốn lượn chảy qua sân sau. Nhà có mái hiên rộng, khung cảnh khá đẹp và lưu giữ ký ức của cả đời người. Ông bà John và Elizabeth Baxter đã xây nên nơi này và cùng nhau nuôi dạy con cái ở đây. Hiện nay, nó thuộc sở hữu của một trong số các cô con gái – Ashley và chồng, Landon Blake. Đây vẫn là nơi đại gia đình Baxter sum họp trong những ngày lễ đặc biệt như Giáng sinh. John Baxter: John là người chủ gia đình đáng kính. Ông là một bác sĩ nổi tiếng ở Bloomington, đồng thời giảng dạy về y khoa ở trường Đại học Indiana. Người vợ đầu tiên của John là Elizabeth đã mất cách đây mười năm vì bệnh ung thư tái phát. Nhiều năm sau, ông lấy vợ khác là bà Elaine và hai người sống ở Bloomington. Dayne Matthews, 41 tuổi: Dayne là con trai cả của ông John và bà Elizabeth. Dayne sinh ra ngoài giá thú và được gia đình khác nhận nuôi ngay sau khi sinh. Bố mẹ nuôi của anh mất trong một tai nạn máy bay khi anh được 18 tuổi. Nhiều năm sau, Dayne trở thành một ngôi sao điện ảnh vô cùng nổi tiếng. Năm 30 tuổi, anh thuê luật sư tìm kiếm bố mẹ ruột của mình – ông bà John và Elizabeth Baxter. Dayne sống với mẹ một khoảng thời gian ngắn trước khi bà mất và vài năm sau, anh hòa nhập với những người thân ruột thịt khác trong gia đình. Dayne kết hôn với Katy – 39 tuổi. Đôi vợ chồng có ba đứa con: Sophie, 6 tuổi; Egan, 4 tuổi và Blaise, 2 tuổi. Họ là một phần rất quan trọng trong đại gia đình Baxter và thường chia thời gian sinh sống giữa Los Angeles và Bloomington. Brooke Baxter West, 39 tuổi: Brooke là bác sĩ nhi ở Bloomington, kết hôn với Peter West, 39 tuổi, cũng là bác sĩ. Hai người có hai cô con gái: Maddie, 18 tuổi và Hayley, 15 tuổi. Gia đình họ đã trải qua một bi kịch khi Hayley bị đuối nước năm lên 3 tuổi. Cô bé hồi phục một cách kỳ diệu nhưng vẫn còn khuyết tật do tai nạn. Kari Baxter Taylor, 37 tuổi: Kari là nhà thiết kế. Cô kết hôn với Ryan Taylor, 39 tuổi, là huấn luyện viên bóng đá ở trường Trung học Clear Creek. Kari cùng với chị Brooke quản lý Trung tâm Hỗ trợ phòng chống Khủng hoảng thai sản Bloomington.2* Kari và Ryan có ba đứa con: Jessie, 16 tuổi; RJ, 9 tuổi và Annie, 6 tuổi. Kari yêu Ryan từ khi cả hai học trung học. Họ hẹn hò với nhau suốt thời đại học nhưng rồi chia tay vì một hiểu lầm. Cô kết hôn với Tim Jacobs – một người đàn ông cũng quen biết trong trường đại học nhưng sau vài năm chung sống, anh ta ngoại tình. Sự không chung thủy dẫn đến việc Tim bị ám sát trong tay kẻ mật thám. Thảm kịch ấy hủy hoại cuộc đời Kari khi cô đang mang thai đứa con đầu lòng (Jessie). Cũng trong lúc đó, Ryan trở lại bên cô và mấy năm sau, họ nên vợ nên chồng. Cả gia đình sống ở Bloomington. * Bloomington Crisis Pregnancy Center. Ashley Baxter Blake, 35 tuổi: trước đây, Ashley từng là chú cừu đen3* nổi loạn của gia đình Baxter. Cô kết hôn với Landon Blake – 35 tuổi, làm việc ở Sở Cứu hỏa Bloomington. Đôi vợ chồng này có bốn người con: Cole, 15 tuổi; Amy, 10 tuổi; Devin, 8 tuổi và Janessa, 4 tuổi. Khi còn là một người mẹ đơn thân trẻ tuổi, Ashley đã phát chán với Đức Chúa Trời và cả gia đình mình. Rồi cô liên lạc lại với anh bạn lính cứu hỏa Landon – người luôn thầm thương trộm nhớ cô. Cuối cùng, Ashley và Landon kết hôn. Anh nhận Cole làm con. Hai vợ chồng có với nhau hai người con – Devin và Janessa nhưng giữa chúng, họ từng mất một bé gái – Sarah Marie ngay khi chào đời vì không có não. Amy – cháu gái của Ashley đã đến sống với họ vài năm trước khi bố mẹ cô bé – Erin Baxter Hogan và Sam Hogan, cùng với ba người chị, Clarissa, Chloe và Heidi Jo qua đời trong vụ tai nạn xe hơi thảm khốc. Amy là người duy nhất sống sót. Vợ chồng Ashley và gia đình sống ở Bloomington trong ngôi nhà cổ kính của gia đình Baxter – nơi cô cùng các anh chị em đã được nuôi lớn. Ashley vẫn vẽ tranh và bán những tác phẩm của mình ở cửa hàng địa phương rất thành công. * Trong tiếng Anh, thuật ngữ “cừu đen” (Black sheep) dùng để mô tả một thành viên tai tiếng nằm trong một nhóm hoặc là những đứa trẻ khác biệt trong một gia đình hoặc những nhân tố nổi loạn trong một tập thể. Luke Baxter, 33 tuổi: Luke là luật sư, kết hôn với Reagan Baxter, 33 tuổi, là một blogger. Hai vợ chồng họ có ba đứa con: Tommy, 13 tuổi; Malin, 8 tuổi và Johnny, 4 tuổi. Luke gặp Reagan ở trường đại học. Ban đầu, họ trải qua cuộc chia tay khá lâu sau khi Tommy ra đời ngoài hôn thú. Cuối cùng, cặp đôi kết hôn mặc dù không thể có thêm đứa con nào. Malin và Johnny đều được nhận nuôi. Bên cạnh gia đình Baxter, cuốn sách này còn về thăm lại gia đình Flanigan. Nhà Flanigan đã làm bạn với nhà Baxter nhiều năm. Trước đây, tôi đã viết năm cuốn sách về cô con gái lớn của họ - Bailey Flanigan. Để cho người đọc tác phẩm này và những tác phẩm sau có thể theo dõi, dưới đây là tên tuổi của các thành viên trong gia đình này: Jim và Jenny Flanigan, đều 45 tuổi. Jim là huấn luyện viên bóng đá cho đội Indianapolis Cotls và Jenny là nhà văn tự do làm việc tại nhà. Bailey, 22 tuổi kết hôn với Brandon Paul, 25 tuổi. Cả hai vợ chồng từng là diễn viên ở Hollywood và người chồng cực kỳ nổi tiếng. Hiện nay họ đang quản lý rạp hát Trẻ em Công giáo ở trung tâm Bloomington. Các em trai của Bailey là Connor, 19 tuổi, sinh viên Đại học Liberty; Shawn và Justin đều 17 tuổi, học lớp 11 ở trường Trung học Clear Creek; BJ, 16 tuổi, học lớp 10 và Ricky, 13 tuổi lên lớp 8. Mời các bạn đón đọc Phép Màu Của Chúa của tác giả Karen Kingsbury & Phương Hạ (dịch).
BRUSH! Thanh Xuân Rực Rỡ Đến Thế
Trong một ngày hè rực lửa, giấc mơ trở thành cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp của Sorairo Suzuki chính thức tan vỡ. Cấp hai kết thúc, với mắt cá chân bó bột, lời tỏ tình thất bại, và một tương lai mù mịt Cuộc đời Sorairo rẽ bước ngoặt khi quyết định từ bỏ giấc mơ trở thành vận động viên và thi tuyển vào trường nghệ thuật. Ở trường cấp ba, cậu quen biết Kanade, cô gái kỳ lạ luôn đứng hút thuốc trên tầng thượng tòa nhà khoa mỹ thuật. Cấp hai đã kết thúc, cấp ba cũng không giống như những gì cậu tưởng tượng. Sorairo vẫn mù mịt về mọi thứ xung quanh. Cậu chỉ biết mình đã bị kéo và những năm tháng điên rồ nhất cuộc đời mình. *** Ngày 19 tháng 7 năm 1981 Đó là năm nhóm nhạc Pink Lady tan rã và tàu con thoi đầu tiên được phóng lên vũ trụ. Đang ngồi trên băng ghế dự bị, Sorairo Suzuki bỗng được huấn luyện viên Iwasaki gọi đến để ra sân ở vị trí đánh bóng số 5. “Tôi quên béng mất cậu luôn đấy, giờ cậu ra sân đi để gọi là có kỷ niệm trước khi rời câu lạc bộ.” Sorairo cố nuốt vào bụng những lời của huấn luyện viên Iwasaki, lòng thầm nghĩ: “À, thế thì vào sân một lát vậy. Để có chút kỷ niệm. Vậy đi!” “Dạ, vâng ạ”, Sorairo chạy ra đằng trước sân bóng chày, nét mặt nghiêm nghị. Ở vòng thứ hai của giải đấu Tokyo mùa hè, đội Kuroegawa Kanaka đang trên bờ vực vuột mất cúp vô địch. Tỷ số hiện nay là 0-11 nghiêng về phía đội Kokubunji Nishiaki. Sau trận đấu ngày hôm nay, học sinh năm ba sẽ ngừng chơi tại câu lạc bộ. Điều đó có nghĩa là Sorairo chưa từng được tham gia bất kỳ trận đấu nào, kể cả một trận đấu tập, vậy mà đã phải kết thúc sự nghiệp bóng chày ở đây. Cậu không giỏi ném và đánh bóng. Nói cách khác, Sorairo hoàn toàn vô dụng ở những kỹ năng quan trọng của bóng chày, nhưng cậu lại rất tin tưởng vào khả năng chạy của mình. Đổi vị trí cho đồng đội, Sorairo chuẩn bị đánh bóng. Tim cậu đập nhanh, hai chân run lẩy bẩy. Từ các khán đài vang lên tiếng reo hò, nhưng Sorairo chẳng hề để ý, cậu vô cùng hồi hộp. Kết quả trận đấu sẽ được quyết định tại thời khắc này nên phải cướp được gôn bằng mọi giá. Nghìn năm mới có cơ hội được vào sân thay người, Sorairo dồn hết dũng khí, nắm chặt cơ hội, sẵn sàng để chạy khi cầu thủ ném bóng vào vị trí. Át chủ bài của Kokubunji Nishiaki giơ bóng lên. Sorairo phản ứng nhanh chóng, nhưng vẫn đứng nguyên ở vị trí ban đầu. “Hô to lên nhé!” Một giọng nói cất lên từ băng ghế dự bị, hướng về phía Sorairo. Tuy nhiên, vào giờ phút này đây, Sorairo chẳng thể thốt lên được gì bởi nỗi lo lắng ngồn ngộn. Một. Hai. Cú tiếp theo. Khẽ bặm môi, Sorairo hiểu mình đang giữ trọng trách lớn. Nếu bây giờ cướp được gôn, cậu sẽ trở thành anh hùng. Mồ hôi túa khắp mặt cậu. Nắng tháng Bảy chói chang rọi thẳng xuống chiếc mũ cậu đội trên đầu. Cầu thủ ném bóng chậm rãi đi vào vị trí, mắt nhìn chằm chằm vào mục tiêu. Tia lửa tóe ra từ đôi mắt của đối thủ lẫn Sorairo. Cầu thủ ném bóng nâng chân. Sorairo quyết định sẽ chạy thật nhanh về gôn 2 bằng sức lực đã dồn nén suốt ba năm chơi bóng. Nhất định cậu sẽ làm được. Người ném bóng cố tình vung tay thật mạnh, và người bắt bóng lập tức trả bóng về gôn 2. Bóng bay thẳng vào găng của tuyển thủ chốt gôn 2. Sorairo trượt cả thân mình tới gôn. Va chạm. Trong khoảnh khắc ấy, Sorairo đã nghe thấy một tiếng “rắc”. Cả sân đấu và các hàng ghế khán giả cùng chìm vào thinh lặng. Sorairo hít một hơi dài. “Ặc.” Từ trong đám khói bụi, trọng tài tuyên bố Sorairo phải rời sân. Ôi… Sorairo thở dài thườn thượt rồi gục xuống. Mùa hè kết thúc thật rồi. Những ký ức đẹp đẽ trên sân bóng suốt ba năm qua lần lượt tái hiện trước mắt cậu. Khoảng trời xanh ngắt trên cao kia dường như càng trở nên bao la hơn. “Cậu kia, mau rời khỏi sân ngay!” Bị trọng tài giục giã, Sorairo thậm chí còn không được đắm mình trong tiếng hò reo. Cậu cố bặm môi, định đứng dậy, thế nhưng mắt cá chân đã bị bẻ gập theo một hướng kỳ lạ khiến cậu không tài nào đứng lên. “Sao thế này?” Dù không cảm thấy đau chút nào, nhưng thực tế mắt cá chân của Sorairo đã vỡ. Cậu được đồng đội đỡ vào băng ghế dự bị, sau đó tiếc nuối ôm mặt khóc. “Cậu đúng là đồ vô dụng! Đồ vô dụng!” Huấn luyện viên Iwasaki mắng xối xả khi Sorairo vẫn đang thổn thức. Nước mắt cậu tuôn trào mãnh liệt. Kết quả trận đấu không có gì thay đổi, đội bóng của cậu vuột mất cúp vàng. Mùa hè của các học sinh năm ba trường cấp hai Kuroegawa Kanaka đã kết thúc. Các đồng đội đều ném ánh nhìn lạnh lùng về phía Sorairo, như thể việc đánh mất cúp vàng lần này đều do lỗi của cậu. *** Sorairo phải nhập viện hai tuần vì gãy xương. Suốt thời gian nhập viện, cậu chỉ nghe chương trình FEN trên chiếc đài cát-xét hiệu Sony CF5950. Đây ban đầu là món đồ yêu thích của cha Sorairo - một người yêu thích âm nhạc, nhưng khi ông quyết định chuyển ra nước ngoài làm việc, nó được trao lại cho cậu. Mặc dù không muốn gặp lại người cha đã “mất dạng” suốt hơn hai năm nay thêm một lần nào nữa trong đời, nhưng khi nghe những bản nhạc nước ngoài phát ra từ chiếc đài cát-xét, Sorairo lại có cảm giác kỳ lạ, cảm tưởng như mình được nghe chuyện của người cha nơi bên kia đại dương vậy. Ngay cả khi đã xuất viện, cậu vẫn không có hứng làm bất cứ việc gì, chỉ dành hầu hết thời gian ở nhà. Niềm vui ư? Có lẽ đó là xem lại Mobile Suit Gundam và chương trình Best Hit USA, hay hát mấy bài như “Jessie’s girl”, “Magic”, “Private eyes”. Bây giờ, Sorairo đang phải đối mặt với một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến cả cuộc đời mình. Dù đã chơi bóng chày liên tục suốt ba năm, nhưng đến giờ phút này, rốt cuộc Sorairo cũng nhận ra rằng mình hoàn toàn không có chút năng khiếu bóng chày nào cả. Sorairo đã từng đặt mục tiêu là được thi đấu ở Koshien1, vậy mà còn chẳng vượt qua được vòng loại. Cho dù huấn luyện viên Iwasaki không mắng mỏ đi chăng nữa, tự bản thân Sorairo cũng hiểu rõ trình độ của mình. 1 Một sân vận động bóng chày lớn ở tỉnh Hyogo, Nhật Bản. Tháng Tám hằng năm, ở đây diễn ra Đại hội bóng chày toàn quốc. Ở Nhật có khoảng 4.000 trường cấp ba có câu lạc bộ bóng chày nhưng chỉ có 49 trường vượt qua được vòng loại địa phương để đến được Đại hội toàn quốc. Chính bởi con đường đến Koshien gian truân như thế nên người Nhật mới tôn xưng Koshien là “Miền đất thần thánh”. Dù đã cố thử nghĩ xem phải làm thế nào cho tốt, nhưng cậu vẫn hoàn toàn không thể xác định được tương lai mình rồi sẽ ra sao. “Nếu mình học bóng chày từ một kẻ dốt bóng chày, thì mình chỉ là một thằng ngốc.” Sorairo đau đớn lăn lộn một mình trong phòng. Chú mèo cưng bình thản tiến về phía cậu. Nghĩ đi nghĩ lại, Sorairo vẫn chẳng thể nghĩ được gì khác hơn ngoài bóng chày. Cậu nghiến răng ken két, song vẫn chẳng có gì bật ra. Điều mà cậu muốn làm ư? Khoan đã, có một điều đây rồi! Đó là hẹn hò với Momoko Yoshida của câu lạc bộ mỹ thuật - điều duy nhất mà Sorairo muốn làm trước khi tốt nghiệp. Trong lòng Sorairo vẫn luôn tồn tại một cảm giác gờn gợn khi không thể nói chuyện với bất cứ ai kể từ năm lớp 6. Không thể chơi bóng chày. Không thể học. Thậm chí nở nụ cười cũng không thể. Một Sorairo chẳng có nổi dù chỉ một điểm hấp dẫn thì sao có thể tỏ tình với Momoko? Vậy phải làm sao đây, phải làm như nào đây? Lăn lộn, rồi lại lăn lộn. *** Rốt cuộc kỳ nghỉ hè cũng kết thúc mà Sorairo vẫn chưa thể gọi điện cho Momoko. Sorairo tự an ủi bản thân bằng cách bao biện rằng cậu không thể đi đâu được bởi chân vẫn còn đau. Khi nghĩ tới kỳ nghỉ hè năm lớp 9, Sorairo cảm thấy nhất định phải làm được điều gì đó quan trọng, nhưng cuối cùng đã quyết định từ bỏ. Momoko đang làm gì nhỉ? Aaa, Sorairo rất muốn được cùng Momoko tới hồ bơi ở khu vui chơi Toshimaen. Vừa xem tấm hình của Momoko chụp trong chuyến tham quan Nakaji, vừa thoáng thấy bộ ảnh bikini trên tạp chí Yanmaga, cậu đã liền cắt ghép chúng lại trong đầu, rồi chìm trong ảo ảnh rằng Momoko đang diện bộ bikini ấy. Ngực. Đùi. Mông. Momoko nhìn thẳng vào mắt cậu, và gọi tên Sorairo. Bạn So-ra-i-ro. Ôi… Momoko. Momoko. Momoko. Cậu thật sự rất thích Momoko. Muốn nhìn thấy gương mặt của cô ấy, muốn được nghe thấy giọng nói của cô ấy. Nếu có thể, còn muốn được nhìn thấy tấm thân trần của cô ấy nữa. Cậu lại bắt đầu lăn lộn trên giường và đập đầu vào tường. Hai người không thể gặp nhau cho tới khi năm học bắt đầu. Nếu muốn đạt được mong muốn lúc này, cậu chẳng có cách nào khác ngoài xem những cuốn sách khiêu dâm mà mấy ông chú lái xe đường dài đã vứt lại ở góc công viên. Bọn thiếu niên như Sorairo gọi công viên, nơi chứa những cuốn sách khiêu dâm là “Biển của Eros” - theo tên một bài hát. Đây là bí mật chỉ chúng mới biết, và cả lũ tiết lộ cho nhau rằng công viên có thể thỏa mãn ham muốn của chúng. Một tấm ảnh chụp tấm thân trần quý giá đến nhường nào? Ham muốn mạnh mẽ là sức mạnh thúc đẩy bọn thiếu niên. Vào thời điểm đó, Sorairo cho rằng đây là điều duy nhất bản thân mong muốn trên đời này. Dù thế nào đi chăng nữa, cậu cũng muốn được ngắm tấm thân trần của một cô gái. Nếu như thần linh có thể biến ước muốn thành sự thật, chắc chắn đó phải là tấm thân trần của Momoko. Không, nhất định là cậu phải được nhìn thấy vào một ngày nào đó. Con mèo uống nước từ vòi rửa trong bếp. 2 Vào ngày đầu tiên của học kì hai, Sorairo bất lực chống nạng tới trường. Cậu không muốn thấy mặt bất cứ ai trong câu lạc bộ bóng chày vì những ánh mắt lạnh nhạt mà cậu đã phải nhận trong trận đấu cuối cùng. Khi Sorairo bước vào lớp, mọi người đều đang mở sách tham khảo và làm bài kiểm tra, dường như chẳng ai thèm quan tâm đến Sorairo với chiếc chân gãy. Sorairo có chút thất vọng, nhưng cũng chính vì bản thân Sorairo đã không làm bất cứ điều gì trong kỳ nghỉ hè, nên cậu cũng không thể đổ lỗi cho ai được. Sorairo bắt đầu lo nghĩ nhiều về việc thi cử. Thi cử, thi cử, kiểm tra. Sau kỳ nghỉ hè với quyết định từ bỏ bóng chày, Sorairo chẳng còn chút động lực nào để đến trường nữa. Oikawa, một thành viên của đội bóng chày cùng lớp với Sorairo, bước đến động viên cậu. Oikawa là một cậu trai có dáng người thấp bé, gương mặt xấu xí, cũng thuộc dạng dự bị ngàn năm mới được vào sân như Sorairo. “Này, dạo này sao rồi, bóng chày ấy?” Oikawa hỏi như trêu chọc Sorairo. Sorairo đã tưởng chuyện cũng chỉ có vậy, nhưng có vẻ là không phải. “Còn sao được chứ, tao từ bỏ rồi.” “Cái quái gì cơ?” “Cũng chẳng có cách nào khác cả. Câu lạc bộ Đi-về-nhà cũng tốt mà. Tao sẽ chẳng tham gia câu lạc bộ nào hết, kiếm bạn gái và trở nên hạnh phúc.” “Ai chứ mày thì không thể có bạn gái được đâu.” Oikawa liền lấy bút và viết lên chỗ chân bị bó bột của Sorairo dòng chữ “chim cánh cụt”. “Dừng lại đi, thằng ngốc này.” Oikawa cười ngây ngô với cái điệu muahaha đáng ghét. Hẳn là nó không còn việc gì để làm. Nó sau này cũng sẽ giống như Sorairo, trở thành một nạn nhân của ảo mộng Koshien, thứ đã lan rộng cả đất nước Nhật Bản. “À, mày đã nghe chưa? Chuyện của Kazuki ấy.” “Làm sao mà biết được chứ. Tao ở viện suốt mà.” Sorairo đáp lại xen chút hờn dỗi. “Chẳng ai trong đội bóng chày đến thăm tao. Quá đáng thật đấy.” “Đương nhiên là không đến thăm mày rồi. Tại mày nên mới thua còn gì. Thế chẳng phải tốt hơn à? Còn chuyện của Kazuki…” Sorairo định nói lại rằng chuyện thắng thua không phải do lỗi của một mình cậu, nhưng rồi không nói nữa vì cũng chẳng ích gì. Bởi Oikawa cũng chỉ là một cầu thủ dự bị, nên kết quả của trận đấu với cậu ta cũng chẳng hề có nghĩa lí. Vậy nên khác với các thành viên khác trong câu lạc bộ bóng chày, cậu không đối xử lạnh lùng với Sorairo. Tuy khuôn mặt hơi xấu xí một chút nhưng cậu lại là một chàng trai tốt bụng. Kazuki là con át chủ bài của câu lạc bộ bóng chày Kuroegawa Kanaka. Cũng là học sinh lớp 9 giống Sorairo, nhưng khác lớp. Cậu đang định sẽ gia nhập một trường có đội bóng chày thật mạnh thông qua giới thiệu. Câu lạc bộ cấp hai chỉ là một đội bóng yếu, nhưng tài năng của cậu lại được đánh giá cao. Hơn nữa, do có chiều cao 1m81, nên cậu lại càng đẹp trai tuyệt vời. Tóm lại, so với Sorairo, cậu là một chàng trai thuộc về một thế giới khác, theo các cách hiểu khác nhau. Mời các bạn đón đọc Brush! Thanh Xuân Rực Rỡ Đến Thế của tác giả Izuru Kanaka.
Biến Thân
Keigo một lần nữa khẳng định ông là bậc thầy của dòng tâm lý xã hội qua cuốn tiểu thuyết mới xuất bản. Biến thân là cuốn sách của ông hoàng trinh thám Nhật Bản Keigo Higashino. Tác phẩm mới được NXB Hồng Đức liên kết Công ty IPM phát hành ở Việt Nam qua bản dịch của Cẩm Hương. Biến thân kể về người thanh niên hiền lành tên Junichi (Jun). Jun hiền đến nỗi chẳng mấy khi phản đối lời người khác, thậm chí còn không dám giết một con chuột. Cuộc đấu tranh nội tâm Ngày kia, tai họa đột nhiên giáng xuống, người ta đưa Jun vào bệnh viện, tiến hành một ca phẫu thuật lần đầu tiên trên thế giới. Ra viện, Jun trở về với cuộc sống, với người yêu của mình, nhưng anh đã không còn hiền lành, trung hậu nữa. Jun trở nên hung hãn, bản năng và thú tính. Jun bắt đầu chuỗi ngày dằn vặt, đấu tranh với tính cách mới của bản thân. Cuộc chiến giữa cái thiện - phần bản tính hiền lành của Jun lúc trước và cái ác - phần bản tính mới xuất hiện sau cuộc đại phẫu, diễn ra trong anh. Và trên hành trình đó, anh bắt đầu khám phá ra sự thật, rằng các bác sĩ đã làm gì với bộ não của anh! Nhịp độ của Biến thân có thể khá chậm ở đoạn đầu, nhằm mục đích giới thiệu các nhân vật, giới thiệu cuộc phẫu thuật, hé mở dần những biến đổi trong tâm lý của nhân vật chính. Nhưng càng về sau, mạch truyện càng được đẩy đi nhanh hơn, các tình tiết xảy ra liên tục và cứ thế cuốn người đọc đến với cái kết. Cũng như hầu hết tác phẩm trước đây của Keigo, Biến thân sở hữu cốt truyện khá đặc sắc. Các tình tiết được liên kết với nhau chặt chẽ, mỗi chi tiết đều đóng một vai trò quan trọng trong việc thêu dệt nên bức tranh toàn cảnh. Điểm hay nhất ở cuốn sách này có lẽ đến từ việc lột tả nội tâm của hai tính cách trong cùng một con người. Keigo đã miêu tả một cách hoàn hảo sự dằn vặt nội tâm khủng khiếp của nhân vật chính. Ngay trong thân xác ấy, một cuộc chiến khốc liệt của cái thiện và cái ác, của thiên thần và ác quỷ để giành lấy quyền làm chủ. Bằng cách sử dụng sự đối lập giữa hai tính cách, Keigo đã nêu quan điểm của mình về một vài vấn nạn trong cuộc sống của con người. Trong cả hai nhân cách tồn tại trong con người của nhân vật, đâu là thiện, đâu là ác, ranh giới giữa chúng thật sự rất mong manh. Keigo đã đặt ra câu hỏi khiến độc giả phải suy ngẫm: “Liệu phần tính cách ác của Jun, có thật sự hủy hoại anh ấy? Hay chính phần thiện trước đây, đã ăn mòn bản thân anh bằng sự mờ nhạt, an phận?". Sức mạnh của tình yêu thương Nếu phần thiện trước đây của Jun tượng trưng cho tính cách hiền lành, hòa nhã, thì nó lại đi đôi với nhu nhược, an phận. Phần "ác" lại đi đôi với sự nhanh nhẹn, khao khát khẳng định bản thân, và không dung thứ cho sự giả dối, sai trái. Keigo đã mượn chính phần tính cách "ác" đó, để lột tả một sự thật tồn tại trong cuộc sống chúng ta, những người đang bị rơi vào cái bẫy của sự “ổn định”. Đó là sự trì trệ, sự an phận, trôi từ năm này sang năm khác, như những mẩu lục bình. Đó liệu có phải là sự ổn định mà chúng ta đang cần? Hay chính điều đó đang giết chết chúng ta từng ngày, từng giờ? Sau cùng, tình yêu thương cũng là vũ khí giúp ta chiến thắng tất cả! Bên cạnh việc nói lên những mặt tối của con người và xã hội, trong Biến thân, Keigo vẫn có chỗ để tôn vinh tình yêu thương. Rất nhiều tình yêu đã được nhắc đến, từ tình yêu đôi lứa, đến tình cảm gia đình. Điển hình và dễ thấy nhất, là tình yêu vô bờ bến của Megumi dành cho Junichi. Cô yêu anh vô điều kiện, kể cả anh có trở thành một con người khác, có xua đuổi cô hay thậm chí giết cô, cô vẫn chấp nhận. Bạn đọc có thể sẽ cảm thấy rất thương Megumi, cô phải đối mặt với một Junichi hoàn toàn khác sau cuộc phẫu thuật, đối mặt sự cô đơn trong chính tình yêu của mình. Nhưng cô vẫn không bỏ cuộc. Và mọi thứ đã được đền đáp xứng đáng. Tiếp theo đó, tình yêu điên cuồng và rồ dại như tình yêu của tên sát thủ dành cho người mẹ của mình. Keigo đã có đoạn miêu tả điều này: “Tình yêu với mẹ của anh Shunsuke mãnh liệt tới mức không diễn tả được thành lời, yêu đến kinh người ấy. Sau khi mẹ mất, anh ấy nhốt mình trong phòng, cả ngày khóc rống gào thét, đến mức tôi còn sợ anh ấy quẫn trí mà chết mất”. Nguyên nhân sự hóa điên của nhân vật này cũng xuất phát từ chính cái chết của mẹ anh ta. Điều đó đủ để cảm nhận anh thương mẹ đến nhường nào. Cuối cùng, tình yêu âm thầm nhưng to lớn của Junichi dành cho Megumi. Cũng chính tình yêu đó đã tiếp thêm sức mạnh cho anh chiến thắng được phần ác trong con người, vào thời điểm gần như tâm hồn của anh đã hoàn toàn nhường chỗ cho nó! Suốt thời gian bị cái ác chiếm ngự, Jun đã gần như quên mọi thứ thuộc về con người trước đây. Nhưng có một điều Jun không quên, là “không thể quên rằng đã yêu Megumi”. *** ”Chết – sống không đơn thuần là hít thở hay tim đập, có sóng não, mà là để lại dấu vết trên cõi đời. Phải nhìn thấy dấu chân mình trên con đường đã qua, đồng thời chắc chắn đó chính là dấu chân của mình, mới gọi là sống”_ Junichi là một thanh niên hiền lành, có thể nói có phần nhu nhược và an phận, không thích đua tranh, đang sống một cuộc đời bình lặng bên cạnh cô bạn gái Megumi. Trong một lần đến văn phòng bất động sản, vì cứu một bé gái khỏi phát súng của tên cướp, anh đã bị bắn trúng đầu, và tỉnh dậy tại bệnh viện đại học Towa. Anh dần khám phá ra mình đã trở thành người thử nghiệm cho ca mổ đầu tiên trên thế giới – ca phẫu thuật thay não. Được đưa từ cõi chết trở về, tưởng chừng là hạnh phúc, nhưng dần dần Junichi phát hiện ra nào phải vậy. Bác sĩ Dogen và đồng sự đều đang cố gắng giấu giếm anh điều gì đó. Anh nhận ra bản thân mình đang biến đổi, từ những thói quen nhỏ nhặt nhất, đến cả sở thích hội họa cũng không còn. Tồi tệ hơn, tình cảm thuần khiết của anh đối với Megumi cũng dần dần phai nhạt. Và kinh khủng nhất là khi Junichi cảm thấy phần “con” của mình bắt đầu lớn dần, lấn át cả phần “người”. Anh dễ kích động hơn, cảm thấy khó chịu với những người kém cỏi hay không chịu cố gắng, và trở nên bạo lực, dễ gây hấn, thậm chí còn cảm thấy muốn giết người. Trước khi đánh mất hẳn con người trước đây, Junichi điên cuồng tìm hiểu, rốt cuộc điều gì đã xảy ra với mình trong cuộc phẫu thuật định mệnh ấy? Khách quan mà nói, Biến thân hoàn toàn không phải là một tiểu thuyết trinh thám. Cuộc điều tra của Junichi không phải nội dung chính của tiểu thuyết, và kết quả của nó cũng khá là dễ đoán. Tiểu thuyết này thiên về tâm lý, nó đi sâu vào phân tích nội tâm và những suy nghĩ, giằng xé của Junichi khi nhận ra việc dần đánh mất bản thân mình, và quá trình anh đấu tranh với điều đó. Chính vì thế, tôi sẽ so sánh với một tiểu thuyết thiên về tâm lý khác của Keigo, quyển Bí mật của Naoko. So với Naoko, quyển này hoàn toàn không bằng. Về tình tiết, Naoko hấp dẫn và gay cấn hơn. Về mô tả tâm lý, Naoko làm tôi đồng cảm và xót xa cho cả người chồng lẫn người vợ, còn quyển này không hiểu sao tôi chỉ như một khán giả đứng ngoài nhìn vào trận chiến của Junichi với vẻ lãnh đạm. Về kết thúc, Naoko tạo được một bất ngờ ở cuối truyện, điều mà Biến thân chẳng hề làm được. Đọc đến vài trang cuối cùng rồi, tôi vẫn còn hoang mang, cái “chất” của Keigo ở đâu khi không hề có pha bẻ lái (dù gắt hay không gắt cũng được), mọi diễn biến cứ đi theo con đường của nó, trơn tru đến bất ngờ. Nói tóm lại, tôi đã kỳ vọng ở Keigo nhiều hơn thế này. Nhã Nguyễn *** Review BIẾN THÂN – Keigo Higashino Dịch giả: Cẩm Hương. NXB: IPM và Hồng Đức Điểm: 8,5/10 BIẾN THÂN – Lại là một bi kịch xã hội đến từ Keigo Higashino  Junichi tỉnh dậy, cuộc đời của một người đàn ông hiền lành, ít nói không còn đơn giản như trước. Những tưởng khoảnh khắc anh vì cứu người mà trọng thương đã khiến anh ghé thăm căn nhà của Tử thần. Vậy thì sau khi được cứu sống nhờ sự hiện đại của y học, anh lại lần nữa “lăn xuống con dốc của địa ngục”. Không biết lần này, điều gì sẽ cứu anh khỏi lưỡi hái của Tử thần đây? Cả cuốn sách chủ yếu đi theo góc nhìn của Junichi, cũng chính là nhân vật TÔI. Đan xen giữa đó là các trang nhật ký của các nhân vật khác. Không phải tự dưng mà tác giả thêm vào mạch truyện những dòng nhật ký ấy. Đó chính là minh họa trực quan nhất cho sự BIẾN THÂN của Junichi. Xét về toàn bộ câu chuyện thì BIẾN THÂN ko mạnh về việc đánh lừa người đọc hay cốt truyện bất ngờ, mà BIẾN THÂN xuất sắc ở cách khắc họa tâm lý của nhân vật. Và trong tác phẩm này, Keigo đã phát huy tối đa tài hoa của mình trong việc vẽ nên những dằn vặt trong nội tâm nhân vật. Vậy mình ấn tượng gì ở cuốn sách này? Rõ ràng từ đầu đến cuối, chỉ có một danh xưng TÔI. Nhưng người đọc cảm nhận rõ được cái TÔI kia đang dần thay đổi. Lần theo từng dòng suy nghĩ của nhân vật, cảm nhận được sự đấu tranh giữa 2 Junichi trong từng tế bào thần kinh, người đọc phải tự hỏi rốt cuộc TÔI đã biến mất chưa? Để đến những trang cuối cùng, bạn sẽ nhận ra, người vẫn xưng TÔI đã trở thành một TÔI hoàn toàn khác từ lúc nào không hay. Tôi ở trong mặt kính đang lặng lẽ nhìn tôi… Rõ ràng đây là mắt của Naruse Junichi. Từ đầu đến cuối, luôn là tôi, luôn là Junichi. Nhưng đâu là Junichi, đâu là Junichi đã biến thân? Trên đây là những cảm nhận của mình về BIẾN THÂN, còn bạn thì sao? Lý Hoàng *** Ghi chép của Dogen (1) Thứ Bảy, 10/3. Ca phẫu thuật đã hoàn thành một cách suôn sẻ. Hiện tại chúng tôi chưa phát hiện ra điều gì bất thường, người nhận không có rối loạn tín hiệu hay sóng điện não lạ. Chúng tôi sẽ liên tục phân tích hình dạng sóng não và ghi chép đồ thị từng phút một, không thấy có phản ứng thải ghép, các hoạt động duy trì sự sống đang diễn ra thuận lợi. Tôi đã thông báo lần cuối cho người phát ngôn và gửi lời cảm ơn tới đội ngũ bác sĩ hỗ trợ. Trước buổi họp báo, tôi cũng đã gọi điện báo cáo cho trưởng khoa, ông bảo, “Sau đây thì trông chờ số mệnh thôi, phải không?” Chính xác là như thế. Các tính toán cho thấy tình trạng hôn mê sẽ tiếp tục kéo dài thêm vài tuần. Trong thời gian đó, chúng tôi sẽ quan sát người nhận trong phòng hồi sức tích cực. Khi cậu ấy tỉnh dậy, chúng tôi sẽ ứng phó linh hoạt tùy thuộc vào mức độ nhận thức của cậu ấy. Trợ lý Tachibana là người phụ trách việc này. Thi thể người hiến sau khi khâu lại đã được xử lý theo kế hoạch. Lúc họp báo cũng có vài câu hỏi đặt ra về người này, chúng tôi đều từ chối trả lời, với lý do đã thống nhất tại hội đồng y đức. Bây giờ là 11 giờ 30 phút đêm. Chẳng mấy chốc là ngày 11, một ngày dài và căng thẳng. Các mạch đã nối có hoạt động bình thường không? Tôi không khỏi bồn chồn, nóng lòng chờ người nhận tỉnh dậy.   1 Đầu tiên, tôi cảm thấy mình vẫn đang trôi bồng bềnh trong mơ, nhưng dần dần phần âm u tan đi, chỉ còn lại thứ bóng tối nhờ nhờ. Sau đó âm thanh sống dậy bên tai nghe như tiếng gió thổi xa xa, tiếp đến là tiếng kim loại leng keng. Cơ má tôi đột ngột co giật. “Có phản ứng rồi.” Giọng một thanh niên vang lên, và ngay bên cạnh là ai đó nữa. Tôi tự hỏi tại sao mình lại không nhìn thấy, và chẳng mấy chốc nhận ra mắt mình đang nhắm. Những ngón tay cảm nhận được làn chăn. Hình như tôi đang ngủ. Tôi chầm chậm mở mắt, ánh sáng trắng ập tới chói lòa. Tôi nheo mắt lại, chờ một lúc, khi đã thích nghi với ánh sáng, tôi mở mắt lần nữa. Tôi bắt gặp ba gương mặt, hai nam một nữ. Trông họ căng thẳng như thể đang nhìn thứ gì rất đáng sợ. Tất cả đều mặc blouse trắng. Đây là đâu? “Cậu nhìn thấy chúng tôi chứ?” Người cất tiếng hỏi là một người đàn ông với mái tóc bạc trắng, người lớn tuổi nhất trong bọn. Từ đuôi mắt đến trán chi chít nếp nhăn, mắt đeo cặp kính mạ vàng. Tôi muốn đáp “Tôi nhìn thấy”, nhưng không thể nói cho trôi chảy. Tôi há miệng. Họng và môi cứng chặt cứ như của ai khác. Thế nên tôi dùng nước bọt làm ướt cổ họng, ra sức thử, kết quả âm thanh chẳng ra âm thanh và tôi ho một cách nhọc nhằn. “Không phải cố đâu. Cậu gật hay lắc đầu cũng được.” Người đàn ông tóc bạc trắng nói bằng giọng thân tình. Tôi chớp mắt hai ba lần và gật đầu, ông thở phào nhẹ nhõm. “Bệnh nhân nghe được, hiểu được ngôn ngữ và nhìn được.” Tôi hít vào rồi mở miệng, thận trọng cảm nhận trạng thái cổ họng. “Đây… là… đâu?” Câu hỏi như cổ vũ tinh thần những người này. Mắt sáng lên, họ nhìn nhau. Thanh niên có cái cằm nhọn nói, “Bệnh nhân đã đặt câu hỏi. Chúng ta thành công rồi, thưa giáo sư.” Mặt anh ta đỏ bừng, có phải anh ta đang hào hứng không? Người đàn ông tóc bạc thoáng gật đầu rồi nhìn vào mắt tôi. “Đây là bệnh viện. Chúng ta đang ở Tòa số 2 Bệnh viện Đại học Towa. Cậu hiểu lời tôi nói chứ?” ông hỏi, và tôi khẽ gật đầu. Xác nhận rồi, ông tiếp tục, “Tôi là Dogen, người phụ trách phẫu thuật cho cậu. Hai người có mặt ở đây là trợ lý Wakao và Tachibana.” Thanh niên cằm nhọn và cô gái trẻ lần lượt cúi đầu chào tôi theo lời giới thiệu của người đàn ông. “Tôi… tại sao… ở đây?” “Cậu không nhớ phải không?” Tôi nhắm mắt lại, suy nghĩ về câu hỏi của ông Dogen, cảm giác như mình đã trải qua một giấc mơ dài. Trước giấc mơ đó thì thế nào nhỉ? “Nếu không nhớ nổi thì không phải cố đâu.” Ông Dogen đang nói thì một hình bóng bất ngờ nháng lên trong mắt tôi, một tên đàn ông. Tôi không quen hắn. Hắn đang cầm cái gì đó, chĩa vào tôi và hét lên. Không, kẻ đang hét là tôi chứ! Tay hắn lóe đỏ. “Súng…” Tôi mở mất, “Súng lục.” “Đúng thế, có vẻ cậu đã nhớ ra rồi đấy. Cậu bị bắn, bằng súng lục.” “Bị bắn…” Tôi cố lục lọi tâm trí, nhưng ký ức không rõ rệt, như thể đang phủ bụi. “Không được… tôi không nhớ nổi.” Tôi lắc đầu, khép mắt. Đúng lúc đó, hình như có cái gì kéo ra khỏi phía sau đầu tôi, và khắp người không còn cảm giác gì nữa. Mời các bạn đón đọc Biến Thân của tác giả Higashino Keigo & Cẩm Hương (dịch).