Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Phía Đông Vườn Địa Đàng

Phía đông vườn địa đàng là câu truyện của những người Mỹ, khoảng những năm từ nửa cuối thế kỷ trước đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tác giả cho nó diễn ra ở chính quê hương mình.  Tiểu thuyết được xuất bản năm 1952. Có thể là nhà văn đã thai nghén nó trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phải chăng cuộc “người tàn sát người” khủng khiếp ấy đã làm cho Steinbeck băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, về bản chất của con người và cố tìm ra lời đáp.  Phía đông vườn Địa đàng, đây là cuốn truyện về con người. Nhận vật trung tâm mang cái tên Adam, con người đầu tiên của nhân loại. Với nó nhà văn muốn đặt cơ sở cho một chủ nghĩa nhân đạo hữu hiệu. Steinbeck khẳng định niềm tin vào con người, vào cuộc sống, nhưng không phải một niềm tin lý tưởng hóa. Niềm tin ấy phải là cái cây đứng chắc, bắt rễ sâu vào miếng đất thực tế có cả đất màu mỡ lẫn sỏi đá, biết tránh sỏi đá, hút màu mỡ mà sinh trái ngọt. *** John Ernst Steinbeck, Jr. (1902 – 1968) là một tiểu thuyết gia người Mỹ được biết đến như là ngòi bút đã miêu tả sự đấu tranh không ngừng nghỉ của những người phải bám trên mảnh đất của mình để sinh tồn. Tác phẩm đầu tiên gây tiếng vang của John Steinbeck là cuốn Của Chuột Và Người (Of Mice and Men) (1937), dựng nên một câu chuyện bi thảm về hai nông dân ít học thức hằng mong mỏi một mảnh đất cho riêng mình để canh tác. Tác phẩm được đánh giá cao nhất là Chùm Nho Phẫn Nộ (The Grapes of Wrath) (1939; đoạt giải Pulitzer năm 1940), dựng nên câu chuyện của gia đình Joad, bị nghèo khó ở vùng hoang hóa Dust Bowl của tiểu bang Oklahoma, phải chuyển đến California trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930. Quyển tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi, được xem không những là truyện hư cấu nhưng có tính hiện thực mà còn là lời phản kháng xã hội đầy cảm động, đã trở nên một tác phẩm kinh điển trong nền văn học Mỹ. Là một trong những "tượng đài" văn học từ thập kỷ 1930, Steinbeck lấy chủ đề trung tâm là phẩm giá trầm lặng của những người cùng khổ, những người bị áp bức. Dù những nhân vật của ông thường bị vây bọc trong thế giới thiếu công bằng, họ vẫn giữ mình như là những con người đầy cảm thông và có anh hùng tính, tuy có thể bị khuất phục. John Steinbeck nhận Giải Nobel Văn học năm 1962. Tiểu thuyết của John Steinbeck đã được dịch ra tiếng Việt gồm có: Của chuột và người (Of Mice and Men, 1937) Chùm nho nổi giận, còn được dịch Chùm nho phẫn nộ hay "Chùm nho uất hận", (The Grapes of Wrath, 1939) Đoạt Giải Pulitzer năm 1940 Phía đông vườn địa đàng (East of Eden, 1952) Đồng cỏ nhà trời (The Pastures of Heaven, 1932) Tôi, Charley và hành trình nước Mĩ (Travels with Charley in search of America, 1961) *** Cách đây mấy năm, tôi có dịp nói chuyện với một giáo sư người Mỹ. Ông được giới thiệu là một nhà Việt Nam học. Trong lúc trò chuyện, tôi đặt một câu hỏi: “Tôi không hiểu tại sao nhà văn John Steinbeck lại ngồi trên phi cơ bay trên trời Việt Nam và ca ngợi những phi công ném bom nhân dân nước tôi?” Ông trả lời: “Đừng nói đến John Steinbeck nữa. Bây giờ thanh niên Mỹ không ai đọc ông ta nữa. Ông ta lẩm cẩm rồi.” Nói thế, không biết vì muốn làm vui lòng tôi, hay vì là nhà Việt Nam học, tự nhiên ông đứng về phía Việt Nam. Tôi chắc lý do thứ hai đúng hơn, ông tỏ ra là một người thẳng thắn. Nhưng câu trả lời không khiến tôi vui, mà làm tôi suy nghĩ. Tôi hiểu rằng thanh niên Mỹ bây giờ không đọc John Steinbeck nữa không phải vì họ bất bình về việc nhà văn ủng hộ ném bom Việt Nam. Chính ông giáo sư Việt Nam học ấy đã nói thanh niên Mỹ thuộc thế hệ sau chiến tranh Việt Nam hầu như không ai biết Việt Nam là gì. Vậy thì, không đọc John Steinbeck nữa, ấy là vì họ cho rằng nhà văn đã cổ lỗ rồi, không hợp thời nữa. Thanh niên Mỹ ưa chạy theo “mốt”. Nếu đúng như thế, thật đáng buồn. Vì tác giả củaChùm nho uất hận,Chuột và ngườivàPhía đông vườn Địa đàngmà chúng ta đang đọc đây là một nhà văn nhân văn chủ nghĩa. Các tác phẩm vừa kể mang giá trị nhân đạo cao cả. Đó là những tác phẩm làm vinh dự cho dân tộc Mỹ. Nếu thanh niên Mỹ bây giờ thấy những tư tưởng ấy là “lẩm cẩm” thì thật đó là một điều không hay. Nhưng tôi không tin là có điều ấy. Tôi vẫn thấy tác giảChùm nho uất hậnlà đáng kính mến. Bây giờ nói vềPhía đông vườn Địa đàng. Nghĩ về người Mỹ, người ta nghĩ ngay đếnchủ nghĩa thực dụng. Phương Tây cho là như thế. Đích thân người Mỹ cũng tự cho mình như thế. Tất nhiên là có nhiều cách hiểuchủ nghĩa thực dụngkhác nhau. Ta thì nói:chủ nghĩa thực dụng Mỹ, với ý phê phán. Đại khái như thế này: người Mỹ cái gì cũng tính toán bằng tiền. Ngồi với nhau, ai có thuốc lá thì lấy ra hút, không mời người khác. Bàn việc, hỏi ngay phần tôi bao nhiêu, phần anh bao nhiêu. Bố con mượn tiền nhau cũng là vay trả sòng phẳng. Đến những việc lớn hơn, Mỹ sản xuất vũ khí, buôn bán vũ khí, chỉ nhằm thu lợi nhuận, bất cần nhân nghĩa, đạo lý “sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi.” Đối với Mỹ chẳng có gì thiêng liêng hết, họ đem tất cả ra làm quảng cáo, để bán hàng v.v... Ta nhìn nhận Mỹ như vậy là có lý do. Ta thù ghét Mỹ. Ta và Mỹ đã gặp gỡ nhau trong những trường hợp không có gì vui vẻ. Những người Việt Nam ở miền bắc, ở các vùng kháng chiến miền nam đã bị bom đạn Mỹ gây cho biết bao nhiêu đau thương tang tóc. Những người trong các vùng đô thị thì căm giận các cuộc bố ráp, những cuộc tra khảo, những tai nạn lính Mỹ gây ra trên đường phố, những phụ nữ bị lính Mỹ xúc phạm đến nhân phẩm, những thanh niên hư hỏng vì “lối sống Mỹ”. Tất cả những cái đó ta quy tội chochủ nghĩa thực dụng Mỹ. Nó đồng nghĩa vớibần tiện, tham lợi, tàn nhẫn, phi nhân. Cũng có thể đó là những biểu hiện sai xấu củachủ nghĩa thực dụngnhưng không nên hiểuchủ nghĩa thực dụng chỉ là như vậy. Nói một cách cô đúc thì nội dung căn bản củachủ nghĩa thực dụnglà ở điểm, chỉ thừa nhận các chân lý của một lý thuyết sau khi đã thể nghiệm nó trong ứng dụng vào thực tế. Nguyên lý này được dùng cho cả khoa, triết lý, đạo đức, tôn giáo. Chỉ được coi là chân lý, một nền triết lý, một nền đạo đức, một tôn giáo có tác dụng cải thiện cuộc sống. Như vậy chủ nghĩa thực dụng là mộttriết học vị nhân sinh. Nước Mỹ là một nước mới, lịch sử chỉ có hơn hai trăm năm. Những người dân ở Âu châu, Á châu, Úc châu đến đây tổ chức một xã hội mới. Ở xứ sở của họ, họ sống trong những khuôn khổ đã định hình từ bao nhiêu đời trước. Họ suy nghĩ phán đoán theo những nếp cũ, theo truyền thống. Đến vùng đất mới này, mọi cái đều mới mẻ. Những người đến đầu tiên tập mình làm trọng tài cho mình. Họ không có cách nào khác là lấy hiệu quả để đánh giá những chủ trương, những việc làm của mình và điều này trở thành một lối tư duy của người Mỹ. Rõ ràng là trong tiểu thuyếtPhía đông vườn Địa đàng John Steinbeck đã chấp nhận lối tư duy ấy và khẳng định nó. Tác phẩm của ông đầy sức thuyết phục. Giả sử ông là triết gia và trình bày chủ nghĩa thực dụng bằng triết học chưa chắc ông thuyết phục được mạnh mẽ. Nhưng ông là nhà văn, và tiểu thuyết chính là bức tranh phản ánh cuộc sống cho nên chính cuộc sống chứng minh và như thế không ai chối cãi được. Tuy nhiên, để điều vừa nói không bị nghi ngờ, tôi cần phải nói về bút pháp của Steinbeck. Tiểu thuyết Mỹ, chí ít là tác phẩm của tiểu thuyết gia tiêu biểu, thể hiện một tính hiện thực rất trội. Có những cuốn có giá trị như một công trình nghiên cứu xã hội học, nhân chủng học (tất nhiên là bằng văn chương cho nên có thể còn rõ ràng hơn là khoa học nữa vì sinh động hơn, cụ thể hơn, tỉ mỉ hơn). Chúng không chỉ khảo sát một quãng đời mà cả cuộc đời, có khi từ đời nọ sang đời kia. Nhưng chẳng phải vì vậy mà chúng dày cộm, rậm rạp. Và đấy chính là chủ nghĩa thực dụng áp dụng vào lĩnh vực viết văn. Trong cuốn tiểu thuyết ta đang đọc đây Steinbeck theo dõi những nhân vật từ đời cha đến đời con. Ông chú ý đến từng chi tiết rất nhỏ, nhiều khi người đọc phải ngạc nhiên không biết ông làm thế nào mà quan sát được tinh tế như thế. Nhưng ông lại bỏ qua rất nhiều hành động, lời nói, tình huống mà thường thường nhiều tiểu thuyết gia đưa vào tác phẩm. Nghĩa là ông chọn chi tiết trên hiệu quả thực tiễn mà nó mang lại. Sự chọn lọc này thật khe khắt. Đọc sách, người ta thấy ông trình bày rất khách quan. Người ta không thấy có dụng ý gì muốn lái độc giả theo hướng này hướng khác. Đôi khi ông cũng phát biểu ngoài lề những ý kiến của ông. Nhưng những ý kiến ấy cũng thật khách quan, đúng là cuộc sống như vậy, ông chỉ phiên dịch lại trung gian. Nhưng Steinbeckkhách quanmà khôngkhách quan chủ nghĩa. Tôi muốn nói: người ta không thấy ở ông sự vô tình, thái độ trối kệ. Tôi phải so sánh cho rõ ý: ĐọcCuốn theo chiều giótôi thấy tác giả miêu tả rất trung thực, nhưng tôi vẫn cảm thấy ngòi bút hiện thực ấy hơi tàn nhẫn. Thuyền trưởng Butler có cái đầu óc thực tế rất hay, nhưng đối với Scarlett quả là ông đối xử quá tàn nhẫn. Tác giảNhững kẻ trần truồngvànhững người chếtcũng rất hiện thực, tôi không trách gì ông, nhưng ông cố ý phơi bày những mảng hiện thực kinh tởm quá. Vấn đề lànhìn hiện thực một cách hiện thực, nếu có thể nói như vậy. Cái hiện thực mà John Steinbeck trình bày, không bị tàn phế, uốn nắn chút nào, đầy những trầm luân khổ ải, nhưng nó không dọa nạt khủng bố người đọc mà làm cho người ta chấp nhận được. Chẳng phải là trong thực tế người ta vẫn sốngđượcvới đau khổ đó sao. Ta hãy nhớ lại bài thơ ngụ ngôn của La Phông-TenTử thần và tiều phu. Những người Mỹ đứng đắn thường bày tỏ thành thực cái ý muốn của họlàm cho cuộc sống có thể chịu đựng được. Nói thế nghĩa là: cuộc sống không chỉ có hoa thơm trái ngọt đâu, rất nhiều cay đắng nhưngcó thể chịu đựng được. Và người Mỹ thường có một phương châm, coi như một cách ngôn:Hãy giữ nụ cười. Cuộc sống là cuộc sống. Nó như thế. Vậy thì nhăn nhó cau có cũng chẳng thay đổi được gì. Tốt hơn là hãy giữ lấy nụ cười. Đó là chủ nghĩa thực dụng. Nó không phải dở, hay là khác. John Steinbeck chọn hai nhân vật để thuyết minh cho tư tưởng của ông. Hai con người bình thường. Một là ông Samuel Hamilton nguồn gốc Ái Nhĩ Lan nông dân, có nghề lò rèn và kiêm nghề đào giếng. Một là Lee nguồn gốc Trung Hoa, nấu bếp. Dường như John Steinbeck gửi gắm một ý nghĩ vào trong sự chọn lựa của mình: một người đơn giản hồn nhiên kiểu trẻ thơ, và một người đã được thừa kế, một gia tài khôn ngoan của một nền văn hóa lâu đời vào bậc nhất trên hành tinh này. Hai người gặp nhau thống nhất với nhau trong một quan niệm: chỉ có thực tiễn là chân lý. Thêm vào đó, tác giả lại viện dẫn Sáng thế ký của Kinh Thánh mà ông cho là người Trung Hoa đã tìm ra nghĩa đúng nhất. Đó là đem chúa Trời nói với Cain “Nếu người làm lành há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành thì tội lỗi rình đợi trước cửa thềm người lắm, nhưng ngươi phải quản trị nó.” Phải quản trị nó trong nguyên văn hê-brơ, là Timshel. Theo LeeTimsheldịch làquản trịhaykiềm chếđều không đúng mà, phải dịch làngươi có thể chế ngự nó. Steinbeck dùng chi tiết này không phải do yêu cầu của nghĩa chữ mà chính là để nêu lên một quan niệm xử thế như bàn dưới đây. Hơn một thế kỉ nay, từ lúc các nước phương Tây đi chiếm các thuộc địa ở các nước phương Đông, có những triết gia, chính trị gia, nhà văn đặt câu hỏi: Phương Tây và phương Đông có thể gặp được nhau không? Trên thực tế, họ cũng gặp nhau rồi, đúng hơn là phương Tây đã gặp phương Đông bằng thế mạnh 1 Câu hỏi đặt ra là muốn có sự gặp gỡ tự nguyện kia. Nhiều câu trả lời khác nhau. Về phía phương Tây có người bảo có thể được. Có người bảo Tây là Tây, Đông là Đông không thể gặp nhau. Có người đề xuất công thức: Phương Tây là thầy, phương Đông là trò. Với nhân vật Lee, Steinbeck có câu trả lời độc đáo: Lee làđầy tớ trung thànhvà là thầy dạy khôn cho chủ. Không rõ nhà văn có đọc các truyện xưa của Trung Hoa không mà ông đã xây dựng nhân vật Lee như một quân sư, một mưu sĩ, một môn khách? Steinbeck tỏ ra rất hiểu phương Đông, rất hiểu cái thâm thúy của triết học, văn hóa Trung Hoa mà ông khâm phục. Nhân vật Lee, nhà văn xây dựng thật hay. Tim shel – ngươi có thể chế ngự nó: ấy là tư tưởng chỉ đạo của cuốn tiểu thuyết. Mỹ châu vốn là nơi tao ngộ của tứ hải anh hùng. Nói nôm na hơn và đúng với sự thực: tìm đến lập nghiệp ở nước Mỹ là những người thuộc nhiều quốc gia, nhiều màu da, có chung một cảnh ngộ bị thất cơ lỡ vận, không còn sống ở quê hương xứ sở mình. Cái cảnh ngộ chung ấy dạy họ nên biết chấp nhận những dị biệt của nhau, có khi những sự đối chọi nhau nữa, để chịu đựng, để sống chung với nhau trên miếng đất có thừa điều kiện để nuôi tất cả. Các nhà văn Mỹ thường có cái nhìn thực tế, nói là thực dụng cũng được đối với con người. Con người rất đa dạng, bao nhiêu người là bấy nhiêu mô hình, không ai có quyền áp đặt cái mô hình của mình cho người khác. Con người không phải làthầncũng không phải làquỷ, có cả xấu lẫn tốt, xấu hay tốt đều là tương Steinbeck cố ý đưa vào trong tiểu thuyết câu truyện trong Kinh Thánh về hai anh em sinh đôi Abel và Cain một tốt, một xấu và đặt cho hai nhân vật của ông là Aron và Cal cùng là anh em sinh đôi, hai cái tên gần giống như trong Kinh Thánh. Phải chăng tác giả muốn nói Abel cũng là con người, và Cain cũng là con người. Con người là cả Abel lẫn Cain, cái nghiệp dĩ là như vậy, phải chấp nhận thôi. Hơn thế, nhà văn lại có ý dành tấm lòng ưu ái của mình cho những người bị coi là xấu. Trong tiểu thuyết có hai tuyến nhân vật: Tốt, xấu. Adam, Aron được mô tả như những con người tốt. Họ muốn làm những việc tốt, họ nuôi trong tâm trí một lý tưởng. Nhưng họ chỉ thu hoạch được những thất bại mà chính khuynh hướng lý tưởng hóa là nguyên nhân. Còn những nhân vật bị coi là xấu thì lại thành công trong mọi việc làm. Bên cạnh Adam rất tốt là Cathy, vợ chàng, cực xấu. Cô lừa dối tất cả mọi người và ai cũng bị lừa. Bên cạnh Aron luôn luôn hướng về mục đích thánh thiện là người em Cal luôn luôn bị những ý tưởng xấu điều khiển và Cal bao giờ cũng đạt kết quả. Nhưng ta chớ vội tưởng Steinbeck chủ trươngác thắng thiện. Cuốn tiểu thuyết cho ta thấy những thành công của Cathy, Cal đem lại cho họ không phải sự sung sướng mà là sự đau khổ. Nhà văn muốn nói với chúng ta rằng: Cuộc sống là cuộc sống, nó không uốn theo những ý tốt của chúng ta đâu, đừng lý tưởng hóa. Bởi vì ta lý tưởng hóa cho nên ta liệt người này người khác vào loại xấu. Thực ra họ chỉ là sản phẩm khách quan của cuộc sống. Nếu ta biết nhìn họ một cách thực tế, không định kiến thì ta sẽ thấy họ đều có khả năng chế ngự cái phần xấu ở họ. Nhà văn đã nhờ người bếp Trung Hoa làm phát ngôn nhân cho ông. Lee nói với Cal: “Chú đã nhận ra rằng những điều thiêng liêng đễ bị tiêu diệt, trong khi điều ác lại cứ tồn tại và phát triển. Chú nghĩ rằng cơn thịnh nộ của Thượng đế đã trút lửa từ nồi kim loại nấu lỏng xuống hủy diệt hết để làm cho thanh khiết công trình nhỏ bé bằng bụi đất do ngài đã nặn ra... Mỗi người trong mỗi thế hệ đều được tầy uể bằng lửa... Không một người nào trên đời này tránh khỏi nguyên tắc đó nếu muốn trở nên một người hoàn toàn.” Mỗi người trong mỗi thế hệ đều cần được tẩy uế... cho nên cuộc sống yêu cầu mỗi người phải khoan dung, độ lượng với đồng loại của mình. Sự khoan dung độ lượng ấy là cần thiết, là yếu tố quyết định để mỗi người có thề vượt qua thử thách và hoàn thiện mình. Lee cầu xin ông Adam: “Ông Adam, xin ông hãy tha thứ cho Cal. Đừng để nó cô độc vì mặc cảm tội lỗi... Xin ông hãy giúp nó. Hãy cho nó một cơ hội. Hãy giải tỏa mặc cảm cho nó. Nhờ đó nó sẽ vượt được mọi thử thách, hãy giải thoát cho nó. Hãy tha thứ cho nó.” Đó là mấu chốt của vấn đề. Nhà văn bày tỏ một quan niệm sống rất nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo không phải trên lý thuyết xa vời, đẹp thì có đẹp nhưng vô ích vì không thể vươn tới được, mà một chủnghĩa nhân đạothực tiễn, nói là thực đụng cũng được, phù hợp với kích thước, hoàn cảnh của con người. Phía đông vườn địa đànglà câu truyện của những người Mỹ, khoảng những năm từ nửa cuối thế kỉ trước đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tác giả cho nó diễn ra ở chính quê hương mình. Tiểu thuyết được xuất bản năm 1952. Có thể là nhà văn đã thai nghén nó trong thời kì chiến tranh thế giới lần thứ hai. Phải chăng cuộc “người tàn sát người” khủng khiếp ấy đã làm cho Steinbeck băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, về bản chất của con người và cố tìm ra lời đáp. Phía đông vườn Địa đàng, đây là cuốn truyện vềcon người. Nhận vật trung tâm mang cái tên Adam, con người đầu tiên của nhân loại. Với nó nhà văn muốn đặt cơ sở cho một chủ nghĩa nhân đạo hữu hiệu. Steinbeck khẳng định niềm tin vào con người, vào cuộc sống, nhưng không phải một niềm tin lý tưởng hóa. Niềm tin ấy phải là cái cây đứng chắc, bắt rễ sâu vào miếng đất thực tế có cả đất màu mỡ lẫn sỏi đá, biết tránh sỏi đá, hút màu mỡ mà sinh trái ngọt. Trong phong trào đổi mới của ta hiện nayPhía đông vườn Địa đànglà cuốn sách nên đọc. 9-1988 Tuy xuất bản rất nhiều tác phẩm từ xã hội đến hoạt kê qua tình cảm, John Steinbeck tuyên bố rằng “Phía đông vườn Địa đàng”, là tác phẩm quan trọng nhất của ông. Quan điểm đó cũng được nhiều nhà phê bình đồng ý. Sau ngày xuất bản “East of Eden” cho đến khi ông được trao tặng giải Nobel về Văn Chương năm 1962, không có tác phẩm nào quan trọng hơn tác phẩm này. “East of Eden” sau khi xuất bản, đã được đạo diễn kiêm văn sĩ Elia Kazan quay thành phim và do James Dean, nam tài tử lừng danh quốc tế đóng vai chính cùng nữ tài tử Pier Angeli, mối thất vọng lớn của James Dean, khiến anh phóng xe đua hết tốc lực đến ngộ nạn tử thương; gây thương tiếc cho giới trẻ mộ điệu một dạo. Ở Mỹ, “East of Eden”, đã được tái bản gần bốn mươi lần và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.   Mời các bạn đón đọc Phía Đông Vườn Địa Đàng của tác giả John Steinbeck.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh - Lucy Maud Montgomery
Tên ebook: Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh (full prc, pdf, epub) Tác giả: Lucy Maud Montgomery Thể loại: 100 Cuốn sách giá trị nhất thế giới, Sách hay, Sách teen, Tiểu thuyết, Văn học phương Tây Công ty phát hành:  Nhã Nam Nhà xuất bản:  NXB Hội Nhà Văn Trọng lượng vận chuyển:  520 grams Kích thước:  14 x 20.5 cm Số trang:  432 Ngày xuất bản: 03/2010 Nguồn: motsach.info Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Bìa sách Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh - Lucy Maud Montgomery   Giới thiệu: Khi Matthew và Marilla Cuthbert ngỏ lời với một trại trẻ  mồ côi để xin một cậu bé về đỡ  đần họ tại nông trang Green Gables, cả hai sửng sốt khi thấy bước ra khỏi tàu là một cô bé lắm mồm, tên là Anne. Anne, tóc đỏ, hay gây gổ và lãng mạn vô phương cứu chữa - cô đã xáo trộn cả Green Gable lẫn ngôi làng quanh đó. Nhưng sự hóm hỉnh và thiện tính trong cô lại khiến cô được yêu mến không ngớt, không chỉ với cộng đồng tưởng tượng của Đảo Hoàng tử Edward, mà còn với bao thế hệ độc giả khắp bên kia bờ Đại Tây Dương, suốt một thế kỷ nay, kể từ ngày cuốn Anne Tóc đỏ đầu tiên ra đời năm 1908.   ----- “Cuốn sách thiếu nhi dễ thương nhất, thắm đượm tình cảm nhất.” - Mark Twain “Với tư cách một độc giả sách thiếu nhi, tôi chờ đời từng cuốn như khi chờ Wendy trong truyện Peter Pan lớn lên.” - Margaret Atwood Báo Chí Giới Thiệu: Đầu năm nay, cuốn tiểu thuyết mang tên Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh,  tác phẩm kinh điển của văn học Canada đã đến tay độc giả Việt Nam. Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh là  cuốn tiểu thuyết đầu tiên nằm trong series tác phẩm về Anne Shirley của nữ nhà văn - nhà báo Lucy Maud Montgomery xuất bản lần đầu năm 1908 đã bất ngờ mang về những thành công vang dội. L.C. Montgomery cùng cô bé tóc đỏ của bà trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới, suốt từ thời điểm đó cho đến tận ngày nay, khi hơn một thế kỷ đã trôi qua. Cuốn sách được xuất bản bằng hơn 30 ngôn ngữ, bán được tới hơn 50 triệu bản, đưa Montgomery trở thành một trong những nhà văn bestseller của mọi thời đại. Anne of Green Gables - Anne Tóc Đỏ dưới chái nhà xanh  xoay quanh thời niên thiếu của cô bé mồ côi Anne Shirley - một cô bé vô cùng đặc biệt, với mái tóc đỏ hoe, khuôn mặt đầy tàn nhang và cơ thể gày gò, mảnh khảnh. Cô bé ấy luôn cho rằng chẳng có ai cần mình, cho đến một ngày nó được hai anh em Matthew Cuthbert và Marilla Cullbert nhận nuôi. Anne đã vô cùng vui sướng cho đến khi nhận ra một sự nhầm lẫn khủng khiếp: Chái Nhà Xanh của gia đình Cuthbert thực tế cần một đứa bé trai chứ không phải bé gái. Nhưng cuối cùng, Anne cũng được giữ lại nhờ lòng thương và cảm nhận "thú vị" mà những con người ở Chái Nhà Xanh dành cho cô bé. Từ đây, một cuộc đời mới mở ra với Anne, và cũng là khi bạn đọc bị lôi cuốn vào một thế giới hấp dẫn, lấy bổi cảnh là ngôi làng nhỏ Avonlea của đảo Hoàng tử Edward, miền đông Canada - cũng là quê hương của chính tác giả. Anne Shirley là một cô bé đặc biệt cả về hình thức và tính cách. Luôn nổi bật bởi mái tóc đỏ kỳ cục, Anne còn khiến mọi người phải chú ý bởi một cá tính đặc biệt: nói không ngớt, đặc biệt thích dùng những từ "đao to búa lớn", lúc nào cũng thích tưởng tượng ra mọi chuyện, vô cùng nhạy cảm nên cũng vô cùng dễ bị kích động. Nhưng chính trong những điều đặc biệt thú vị ấy, người ta nhận ra một Anne thông minh, độc lập, một Anne yêu - ghét rạch ròi, một Anne với trái tim trong sáng và tâm hồn thánh thiện, biết rung động trước mọi cái đẹp của cuộc đời, một Anne lúc nào cũng căng tràn sức sống, nhiều lạc quan, hy vọng và tin tưởng. Trọn bộ 8 cuốn Anne tóc đỏ gồm: - Anne tóc đỏ dưới Chái Nhà Xanh - Anne tóc đỏ làng Avonlea - Anne tóc đỏ ở đảo Hoàng Tử Edward - Anne tóc đỏ dưới mái nhà Bạch Dương - Anne tóc đỏ và Ngôi Nhà Mơ Ước - Anne dưới mái nhà Bên Ánh Lửa - Thung lũng Cầu Vồng - Rilla dưới mái nhà Bên Ánh Lửa Mời các bạn đón đọc  Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh của tác giả  Lucy Maud Montgomery.
Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia - Yan Larri
Tên ebook: Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia (full pdf, pdf, epub) Tác giả: Yan Larri Thể loại: Phiêu lưu, Sách thiếu nhi, Văn học Nga Dịch giả: Thiệu Huy và Phan Thị Mế Công ty phát hành: Đông A Nhà xuất bản: NXB Văn Học Trọng lượng vận chuyển: 400 grams Kích thước: 13,5 x 20,5 cm Số trang: 336 Ngày xuất bản: 08/2012 Nguồn: vnthuquan.net Ebook: http://www.dtv-ebook.com Bìa sách  Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia - Yan Larri Giới thiệu: Tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Yan Larri, Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia, kể về cuộc phiêu lưu của hai anh em Karik và Valia sau khi uống nhầm thuốc thu nhỏ của giáo sư Enotov và bám theo con chuồn chuồn bay khỏi nhà. Phát hiện ra sự việc, giáo sư Enotov cũng quyết định uống thuốc thu nhỏ để đuổi theo cứu hai đứa trẻ. Dưới hình dạng tí hon, ba bác cháu được chứng kiến một thế giới sinh vật kì ảo ngay trong khu vườn bé tẹo thường ngày với nhiều bất ngờ đến khó tin và vô cùng hấp dẫn, nhưng cũng gặp không ít hiểm nguy khi phải chạm trán với những “quái vật khổng lồ”... Những tình tiết hồi hộp đến thót tim cứ bám theo họ trong suốt cuộc hành trình. Từ bao năm nay,Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia là tác phẩm gắn bó với nhiều thế hệ thiếu nhi Liên Xô và Việt Nam. Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh vào năm 1987 và là một trong những bộ phim sử dụng nhiều kĩ xảo nổi tiếng ở Liên Xô thời đó. Tác giả Yan Leopoldovich Larri (1900 - 1977): Yan Leopoldovich Larri sinh năm 1900 tại Riga, Nga. Ông sớm mồ côi và phải làm nhiều nghề để kiếm sống trước khi trở thành một chiến sĩ Hồng quân. Sau khi xuất ngũ, ông làm báo ở Leningrad và bắt đầu sáng tác văn học từ những năm 1920. Tác phẩm của Yan Larri chủ yếu mang màu sắc viễn tưởng. Ông thường lồng ghép các tiên đoán trào phúng về xã hội tương lai và cảnh báo các nguy cơ do sự phát triển quá mức của khoa học kĩ thuật trong các tiểu thuyết: - Cửa sổ tương lai, 1930;  - Đất nước hạnh phúc, 1931;  - Các vị khách trên trời, 1940-41 ... Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia (1937) là cuốn sách nổi tiếng nhất của ông, được nhiều thế hệ thiếu nhi ở Liên Xô và Việt Nam hết sức yêu thích. Yan Larri mất năm 1977 tại Leningrad, Nga. Mời các bạn đón đọc Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia của tác giả Yan Larri.
Người Đua Diều - Khaled Hosseini
Tên ebook: Người Đua Diều (full prc, pdf, epub) Tác giả: Khaled Hosseini Thể loại: 100 Cuốn sách giá trị nhất thế giới, Best seller, Tiểu thuyết, Văn học phương Tây Dịch giả: Nguyễn Bản Nhà xuất bản liên kết: Phụ Nữ Số trang: 460 Kích thước: 14 x 20,5 cm Giá bìa: 86 000 VND Nguồn: e-thuvien.com   Ebook: http://www.dtv-ebook.com Bìa sách Người Đua Diều - Khaled Hosseini Giới thiệu: Khaled Hosseini, sinh ngày 4 tháng 3, 1965, là một tiểu thuyết gia và dược sĩ người Hoa Kỳ. Tên tuổi ông trở nên nổi tiếng nhờ hai cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, Người đua diều (2003) và Ngàn mặt trời rực rỡ (2007) bán được 38 triệu bản trên toàn thế giới. Ngoài ra, Người đua diều đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên năm 2007. Người Đua Diều là câu chuyện nồng nhiệt của Hosseini về sự phản bội và chuộc tội, được bao quanh bởi bối cảnh quá khứ bi kịch mới đây của Afghanistan. Người Đua Diều có lẽ là cuốn sách đầu tiên giúp người đọc Việt Nam nhìn nhận một cách đầy đủ và chân thực nhất về vẻ đẹp cũng như nỗi đau của Afghanistan, một đất nước, một dân tộc, một nền văn hóa lâu đời bị tàn phá bởi những kẻ cuồng tín. Người Đua Diều là món quà tặng xúc động và đầy ý nghĩa nhà văn Khaled Hosseini gửi lại cho quê hương mình, nơi cuộc sống yên bình vẫn chưa trở lại. Người Đua Diều có đầy đủ các yếu tố cần thiết để trở thành một tác phẩm best-seller: tính thời sự, cốt truyện ly kỳ, xúc động, xung đột gay gắt giữa các tuyến nhân vật, trong chính bản thân nhân vật… Và sự thật, tác phẩm đã nắm giữ vị trí đầu bảng của The New York Times trong 110 tuần. Ngoài những khía cạnh trên, sức hấp dẫn của Người đua diều còn bắt nguồn từ giá trị nhận thức sâu sắc. Người Đua Diều là lời tự thuật của nhà văn người Mỹ gốc Afghanistan Amir về những năm tháng tuổi thơ đầy niềm vui cũng như lỗi lầm, về những ngày trôi dạt trên đất khách rồi cuộc hành trình trở lại quê hương đổ nát để cứu chuộc tội lỗi cho bản thân và cho cả người cha đã khuất. Theo dòng hồi ức của Amir, người đọc trở lại hơn hai mươi năm về trước, khi Amir còn là một cậu bé mười hai tuổi sống trong vòng tay che chở của Baba giàu sang và thanh thế. Cùng gắn bó với Amir suốt những năm tháng tuổi thơ là Hassan, con trai của người quản gia Ali, một cậu bé lanh lợi, mạnh mẽ nhiều lần xả thân để bảo vệ Amir. Thế nhưng tình bạn và lòng tận tụy của Hassan đã không được đền đáp, một ngày mùa đông năm 1975, Hassan vì ra sức bảo vệ chiếc diều xanh chiến lợi phẩm của Amir đã bị bọn trẻ xấu hành hung và nhục mạ. Sự nhu nhược và hèn nhát đã cản bước Amir cứu bạn, thậm chí, còn biến cậu thành một kẻ gian dối khi bịa chuyện nhằm đuổi cha con Ali và Hassan ra khỏi nhà. Và Amir đã phải trả giá cho lỗi lầm ấy trong suốt phần đời còn lại. Ngay cả khi anh đang sống sung túc trên đất Mỹ, ngay cả khi tìm được một mái ấm cho riêng mình hay thực hiện được mơ ước trở thành nhà văn, nỗi ám ảnh của một kẻ gian dối vẫn ngày đêm đeo đuổi Amir. Và cuối cùng, trở lại Afghanistan để cứu con trai Hassan khỏi tay bọn Taliban là con đường duy nhất để Amir chuộc lỗi với người bạn, người em cùng cha khác mẹ Hassan đã chết dưới họng súng Taliban. "Tôi yêu mùa đông ở Kabul. Tôi yêu nó vì những bông tuyết mềm mại vỗ nhẹ vào cửa sổ phòng tôi ban đêm, vì tuyết mới rơi lạo xạo dưới đôi ủng cao su đen của tôi, vì hơi ấm của chiếc lò sưởi gang khi gió rít qua sân, qua đường phố... Mùa đông nào, các quận của Kabul cũng tổ chức cuộc thi đấu diều. Và nếu bạn là một đứa con trai sống ở Kabul, thì ngày thi đấu chắc chắn là sự kiện nổi bật của mùa giá lạnh... Có lần, một thằng nhóc Hindi, gia đình nó mới chuyển đến ở quanh vùng, kể cho chúng tôi nghe rằng, ở thị trấn quê nó, đấu diều có những luật lệ và quy tắc chặt chẽ... Hassan và tôi nhìn nhau cười. Cười phá. Thằng nhóc Hindi rồi sẽ nhanh chóng học được những gì người Anh học được hồi đầu thế kỷ này, và những gì người Nga cuối cùng đã học được vào những năm cuối thập kỷ tám mươi rằng người Afghan là một dân tộc độc lập. Người Afghan yêu quý phong tục nhưng ghê tởm các luật lệ. Và việc đấu diều cũng thế. Luật lệ thật đơn giản: Không luật lệ nào. Thả diều của bạn lên. Cắt hạ đối thủ. Chúc may mắn". Bằng một lối văn xuôi giản dị, không gọt giũa, không ẩn dụ hay khó hiểu, Khaled Hosseini đã dẫn dắt người đọc đi qua những thăng trầm của lịch sử nước mình, đã giúp người đọc hiểu được những góc sáng tối trong tâm hồn người Afghanistan, và hơn hết, đã khiến người đọc xúc động và nuối tiếc trước sự tàn lụi của cả một nền văn hoá đầy bản sắc. Mời các bạn đón đọc Người Đua Diều của tác giả Khaled Hossenini.
Thất Lạc Cõi Người
THẤT LẠC CÕI NGƯỜI   Thông Tin   Tác phẩm: Thất Lạc Cõi Người Tác giả: Dazai Osamu Thể loại: Tiểu thuyết, Sách hay, Tự truyện, Bi quan, SE, Văn học phương đông, văn học nhật bản, NXB: Hội Nhà Văn Dịch: Hoang Long Ebook: Romance book Nguồn: Romance book Đăng: dtv-ebook.com   Giới Thiệu   Xa lạ với nhân gian là nỗi ám ảnh bi ai mà nhân vật "tôi" (Yozo) luôn luôn cảm thấy. Anh tin rằng mình không biết cách làm người, đã mất tư cách làm người, đúng như tiêu đề của truyện: "Nhân gian thất cách". Anh đành buông mình thất lạc trong cõi người ta, tuyệt vọng nhưng lúc nào cũng chân thật, không dối người cũng như không dối mình. Do đó anh không hiểu nổi sự giả tạo và những quy ước kỳ lạ của xã hội con người. Nhân vật Yozo của Dazai Osamu, trong hình dung của chúng ta, có thể đồng hành với nhân vật Meursault trong Kẻ xa lạ (L'Etranger) của Albert Camus. Cả hai đều trầm mình trong cái chân thật của cảm thức và hiện hữu với một niềm đam mê tuyệt đối, dù phải trả giá bằng thất lạc tiêu vong. Ngoài đời, Dazai thật sự trầm mình trong một cuộc tự tử đôi. Còn Camus tử nạn giao thông. Cả hai đã uống cạn chén đắng của cái phi lý và bi ai cõi người ta.   Thông Tin Tác Giả:   Dazai Osamu (太宰 治 (Thái Tể Trị) sinh 19 tháng 6 năm 1909 – mất 13 tháng 6 năm 1948?) là một nhà văn Nhật Bản tiêu biểu cho thời kỳ vừa chấm dứtThế chiến thứ Hai ở Nhật. Osamu sống và viết Cùng một nghĩa như nhau, thành thực mà bi đát.   Những Tác Phẩm: - Thất Lạc Cõi Người [Nhân Gian Thất Cách] - Ký ức - Vãn niên - Tiên phong thế kỉ XX - Một trăm cảnh núi Phú Sĩ - Nữ sinh - Đàn bà quyết đấu - Yêu cầu khẩn thiết - Melos ơi, chạy nhanh lên - Tân Hamlet - Chính nghĩa và Nụ cười - Hữu đại thần Sanetomo - Tsugaru - Chiếc hộp Pandora - Câu chuyện mới về các quốc gia - Tích biệt - Chuyện kể dân gian - Pháo hoa mùa đông - Người vợ của Villion - Tà dương - Chính tai tôi nghe - Anh đào - Good-Bye *** Tóm tắt Thất lạc cõi người là tiểu thuyết tự truyện của nhà văn Nhật Bản Dazai Osamu, được xuất bản năm 1948. Cuốn sách kể về cuộc đời của nhân vật "tôi", một người đàn ông trẻ tuổi luôn cảm thấy mình là kẻ "thất lạc cõi người". Anh không biết cách hòa nhập với xã hội, không hiểu được những quy tắc và kỳ vọng của con người. Anh cảm thấy mình là kẻ xa lạ, lạc lõng giữa cuộc đời. Nhân vật "tôi" bắt đầu cuộc đời của mình trong một gia đình giàu có và có địa vị xã hội. Anh được học hành tử tế và có cơ hội được sống trong một môi trường tốt đẹp. Tuy nhiên, anh sớm nhận ra rằng mình không thuộc về nơi này. Anh không thích học hành, không thích những quy tắc và lễ nghi của gia đình. Anh cảm thấy mình là kẻ thừa thãi và lạc lõng. Sau khi tốt nghiệp đại học, nhân vật "tôi" bắt đầu cuộc sống tự lập. Anh rời khỏi gia đình và bắt đầu lang thang khắp nơi. Anh làm nhiều công việc khác nhau, nhưng không công việc nào khiến anh cảm thấy hứng thú. Anh tiếp tục cảm thấy mình là kẻ thất lạc, không biết mình muốn gì và cần gì. Trong cuộc hành trình của mình, nhân vật "tôi" gặp gỡ nhiều người khác nhau. Anh có những mối quan hệ tình cảm, nhưng tất cả đều không bền lâu. Anh luôn cảm thấy cô đơn và trống rỗng. Cuối cùng, nhân vật "tôi" quyết định tự tử. Anh cùng người tình nhảy xuống sông Tamagawa. Tuy nhiên, anh được cứu sống, còn người tình thì chết. Review Thất lạc cõi người là một tác phẩm văn học xuất sắc, mang đậm dấu ấn của nhà văn Dazai Osamu. Cuốn sách đã khắc họa thành công tâm trạng của những người trẻ tuổi trong giai đoạn hậu chiến Nhật Bản. Họ là những người đã bị tổn thương bởi chiến tranh và xã hội, khiến họ cảm thấy mình là kẻ thất lạc, không biết mình muốn gì và cần gì. Cuốn sách cũng là một lời phản ánh về sự phi lý của cuộc sống. Nhân vật "tôi" là một người đàn ông thông minh và tài năng, nhưng anh lại không thể tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Anh cảm thấy mình như một kẻ thừa thãi, không thuộc về nơi này. Thất lạc cõi người là một cuốn sách đáng đọc cho những ai muốn tìm hiểu về tâm lý con người và triết lý cuộc sống. Cuốn sách sẽ khiến bạn suy ngẫm về những vấn đề như ý nghĩa của cuộc sống, giá trị của con người và sự phi lý của thế giới. Đánh giá Ưu điểm: Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Tâm lý nhân vật được khắc họa sâu sắc Đề cập đến những vấn đề triết học sâu sắc Nhược điểm: Cuối truyện có phần hơi bất ngờ Đánh giá chung: Thất lạc cõi người là một tác phẩm văn học xuất sắc, mang đậm dấu ấn của nhà văn Dazai Osamu. Cuốn sách sẽ khiến bạn suy ngẫm về những vấn đề như ý nghĩa của cuộc sống, giá trị của con người và sự phi lý của thế giới.