Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tử Tước và Em - Julia Quinn

Chàng - một tử tước cao ngạo ăn chơi trác táng hạng nhất London đang có ý muốn kết hôn trong năm nay. Và người chàng để mắt tới không ai khác ngoài Edwina xinh đẹp, em gái nàng.   Nàng - một cô gái thông minh, bướng bỉnh, đang muốn chọn chồng cho em gái. Và lẽ dĩ nhiên người nàng muốn chọn cho Edwina không thể nào và không bao giờ là chàng. Thế rồi định mệnh đưa đẩy, người nàng muốn em gái mình tránh xa nhất lại là người đưa nàng vào vòng say mê… *** Nhận định   “Tử tước và em có mọi thứ bạn muốn trong một tiểu thuyết lãng mạn lịch sử. Quinn là nhà văn bậc thầy của thể loại này.” - D. Salvagin, Romance Reader    “Julia Quinn thực sự là Jane Austen đương đại.” - Jill Barnett *** Việc ấy xảy đến khi Anthony mười tám tuổi, về nhà trong kỳ nghỉ hè và chuẩn bị cho năm đầu tại đại học Oxford. Anh sẽ gia nhập vào AllSoulsCollege, như cha anh cũng đã tham gia trước anh, và cuộc đời của anh tươi sáng và chói lọi như bất kỳ một người mười tám tuổi nào có quyền được hưởng. Anh đã khám phá ra phụ nữ, và có thể là huy hoàng hơn, họ khám phá ra anh. Cha mẹ anh vẫn còn tái tạo một cách hạnh phúc, đã thêm Eloise, Francesca, và Gregory vào gia đình, và Anthony đã cố gắng hết sức để không đảo tròn mắt khi anh đi ngang qua mẹ trên đại sảnh - mang thai với đứa thứ tám! Nó hơi không thích hợp, trong suy nghĩ của Anthony, có con vào độ tuổi của họ, nhưng anh giữ ý kiến đó cho riêng mình. Anh là ai mà dám nghi ngờ sự thông thái của Edmund chứ? Có thể anh cũng sẽ muốn nhiều con cái hơn ở độ tuổi ba mươi tám. Khi Anthony phát hiện ra, thì đã là chiều muộn. Anh vừa trở về từ một cuộc cưỡi ngựa dài và bầm tím với Benedict và mới chỉ vượt qua cánh cửa trước của Aubrey Hall, căn nhà tổ tiên của dòng họ Bridgerton, khi anh thấy cô em gái mười tuổi đang ngồi trên sàn nhà. Benedict vẫn còn đang ở trong chuồng ngựa, đã thua vài cuộc cá độ ngu ngốc với Anthony, lụât quy định cậu phải ở lại và tắm rửa cho mấy con ngựa. Anthony ngừng lại khi anh thấy Daphne. Nó đã đủ kỳ lạ khi em gái anh lại ngồi giữa sàn của gian đại sảnh. Nó còn kỳ lạ hơn khi cô bé đang khóc. Daphne không bao giờ khóc. “Daff,” anh nói ngập ngừng, quá trẻ để hiểu phải làm thế nào với một người phụ nữ đang khóc lóc, và tự hỏi liệu anh có bao giờ học được không, “chuyện gì -” Nhưng trước khi anh có thể kết thúc câu hỏi của mình, Daphne đã ngước đầu lên, và ánh nhìn tan vỡ trong đôi mắt nâu to tròn cắt vào anh như một lưỡi dao. Anh sượt chân lùi một bước, biết rằng có điều gì đó không ổn, không ổn kinh khủng. “Ông chết rồi.” Daphne thì thầm. “Papa đã chết.” Trong một lúc Anthony chắc chắn rằng anh đã nghe nhầm. Cha anh không thể chết được. Những người khác chết trẻ, như Chú Hugo, nhưng Chú Hugo còn rất trẻ và mỏng manh. Chà, ít nhất thì trẻ hơn và mong manh hơn Edmund. “Em nhầm rồi.” Anh nói với Daphne. “Em nhất định là đã nhầm.” Cô bé lắc đầu. “Eloise nói với em. Ông đã... Nó là...” Anthony biết anh không nên lắc em gái anh khi cô bé đang khóc, nhưng anh không thể ngăn mình được. “Nó là cái gì, Daphne?” “Một con ong.” Cô thì thầm. “Cha bị chích bởi một con ong.” Trong một lúc Anthony chẳng thể làm gì khác ngoài nhìn chằm chằm vào cô. Cuối cùng, trong một giọng khàn khàn và khó có thể nhận ra, anh nói. “Một người đàn ông không chết vì ong đốt, Daphne.” Cô bé không nói gì, chỉ ngồi trên sàn nhà, cổ họng co giật khi cố kiềm chế nước mắt. “Cha đã từng bị đốt trước đây rồi.” Anthony nói thêm, âm lượng trong iọng anh tăng lên. “Anh đã ở cùng với cha. Cả hai cùng bị đốt. Bọn anh đã đi ngang qua một cái tổ ong. Anh bị chích trên vai.” Tự ý, tay anh đưa lên chạm vào vết mà anh đã bị chích từ nhiều năm trước. Trong một lời thì thầm anh nói thêm. “Cha bị đốt trên cánh tay.” Daphne chỉ nhìn chằm chằm vào anh với một vẻ mặt trống rỗng. “Cha ổn thôi.” Anthony ra lệnh. Anh có thể nghe được sự sợ hãi trong giọng của mình và biết anh đang làm cho em gái anh hoảng sợ, nhưng anh lại không có sức mạnh nào để kiềm chế điều đó. “Một người đàn ông không thể chết vì một vết ong đốt!” Daphne lắc đầu, đôi mắt cô bé bỗng trông như đã hàng trăm năm tuổi. “Đó là một con ong.” Cô nói trong một giọng trống rỗng. “Eloise đã thấy mà. Một phút trước cha chỉ là đang đứng đó, và sau đó cha đã... cha đã...” Anthony cảm thấy điều gì đó rất kỳ lạ đang dâng lên trong anh, như thể là các cơ bắp của anh đang chuẩn bị nhảy ra khỏi da anh vậy. “Sau đó cha đã thế nào, Daphne?” “Ra đi.” Cô bé trông ngạc nhiên bởi từ đó, ngạc nhiên nhiều như anh cảm thấy. Anthony để Daphne ngồi lại trên đại sảnh và đi lên cầu thang ba bậc một tới phòng ngủ của cha mẹ anh. Chắc chắn cha anh không chết. Một người đàn ông không thể chết vì một vết ong đốt. Điều đó là không thể. Hoàn toàn điên rồ. Edmund Bridgerton còn trẻ, ông khoẻ mạnh. Ông cao lớn, đôi vai ông rộng, cơ bắp đầy sức mạnh, và vì Chúa, không có một con ong mật ngớ ngẩn nào có thể đánh bại ông. Nhưng khi Anthony đến sảnh trên lầu, anh có thể nói bởi sự im lặng hoàn toàn và trọn vẹn của hàng tá hoặc hơn nữa số người hầu lảng vảng quanh đó rằng, tình thế nghiêm trọng. Và những khuôn mặt thương hại của họ... cho đến tận cuối đời anh sẽ còn bị ám ảnh bởi những gương mặt thương hại đó. Anh đã nghĩ anh phải chen lấn để vào phòng cha mẹ anh, nhưng những người hầu đã tránh ra như thể họ bị ném vào Biển Đỏ, và khi Anthony đẩy cánh cửa mở, anh đã biết. Mẹ anh đang ngồi trên mép giường, không khóc than, không cả gây ra một tiếng động, chỉ nắm lấy tay cha anh khi bà chầm chậm đung đưa người trước ra sau. Cha đang nằm yên. Yên như... Anthony còn không muốn nghĩ đến cái từ đó nữa. “Mama?” Anh ho. Anh đã không còn gọi mẹ như thế từ nhiều năm rồi, bà đã là “Mẹ” từ khi anh rời Eton. Bà quay lại, chậm chạp, như thể nghe tiếng anh từ xuyên qua một con hầm dài, rất dài. “Chuyện gì đã xảy ra?” anh thì thầm. Bà lắc đầu, đôi mắt bà tuyệt vọng, xa xăm. “Mẹ không biết.” Bà nói. Đôi môi bà vẫn hé mở một khoảng, như thể bà muốn nói gì đó nữa nhưng đã quên mất. Anthony bước tới trước một bước, cử động của anh ngượng nghịu và giật giật. “Ông ấy đã đi rồi.” Violet cuối cùng cũng thì thầm. “Ông ấy đã ra đi và mẹ... ôi, Chúa ơi, mẹ...” Bà đặt một bàn tay lên bụng căng tròn với em bé. “Mẹ đã nói với cha - ôi, Anthony, mẹ đã nói với cha - ” Bà trông như thể có thể nứt vỡ từ bên trong. Anthony kiềm lại nước mắt đang làm cay mắt anh, chích vào họng anh và đi đến bên cạnh bà. “Sẽ ổn thôi, mama.” Anh nói. Nhưng anh biết nó không hề ổn. “Mẹ đã nói với cha đây phải là đứa cuối của chúng ta.” Bà thở gấp, khóc trên vai anh. “Mẹ đã nói với cha mẹ không thể mang thai đứa nào nữa, và cha mẹ phải cẩn thận, và... ôi, Chúa ơi, Anthony, mẹ sẽ làm bất cứ việc gì để có cha ở đây và trao cho cha một đứa con nữa. Mẹ không hiểu. Mẹ không thể hiểu được...” Anthony ôm mẹ khi bà khóc. Anh chẳng nói gì; nó có vẻ như là vô dụng khi cố gắng thốt ra từ nào thích hợp với sự hủy hoại trong tim anh. Anh cũng không thể hiểu được. o O o Những người bác sĩ tới sau đó vào buổi tối và tuyên bố họ bị bối rối. Họ đã từng nghe về điều này trước đây, nhưng chưa bao giờ ở một người trẻ và khoẻ mạnh như thế. Ông thật đầy sức sống, thật mạnh mẽ; chẳng ai có thể biết được. Sự thật rằng em trai Hugo của vị tử tước đã chết hoàn toàn đột ngột vào năm ngoái, nhưng những việc như thế không hẳn là di truyền trong gia đình, và bên cạnh đó, ngay cả khi Hugo đã chết bên ngoài ngôi nhà, không ai đã từng nhận thấy một nốt ong đốt trên da anh ta. Nhưng một lần nữa, chẳng có ai đã tìm cả. Chẳng ai có thể biết được, những người bác sĩ nói vậy, lặp đi và lặp lại cho đến khi Anthony muốn bóp cổ hết tất cả bọn họ. Cuối cùng, anh đuổi họ ra khỏi ngôi nhà, và anh đưa mẹ vào giường. Họ đã phải chuyển bà đến một phòng ngủ còn trống; bà trở nên khích động với ý nghĩ ngủ trên cái giường mà bà đã chia sẻ với Edmund từ rất nhiều năm. Anthony cũng đã sắp xếp đưa các em vào giường, nói với chúng rằng họ sẽ nói chuyện vào buổi sáng mai, rằng tất cả mọi chuyện sẽ tốt thôi, và anh sẽ chăm sóc cho chúng như cha đã mong muốn. Rồi anh đi vào căn phòng nơi cha anh vẫn còn nằm đó và nhìn ông. Anh nhìn ông và nhìn ông, nhìn chằm chằm trong nhiều tiếng đồng hồ, chỉ hơi chớp mắt. Và khi anh đã rời phòng, anh rời khỏi đó với một phiên bản khác của cuộc đời anh, và một sự hiểu biết mới về ngày tận số của mình. Edmund Bridgerton đã chết ở lứa tuổi ba mươi tám. Và Anthony đơn giản là không thể hình dung được có bao giờ vượt qua cha anh trong bất cứ điều gì, ngay cả về tuổi tác. Chủ đề về những kẻ ăn chơi trác táng, tất nhiên, đã được thảo luận trước đây trên mục báo này, và Tác giả đã đi đến một kết luận là có tồn tại những kẻ ăn chơi trác táng, và có tồn tại những Kẻ Ăn Chơi Trác Táng. Anthony Bridgerton là một Kẻ Ăn Chơi Trác Táng. Một kẻ ăn chơi trác táng (viết thường) còn trẻ và chưa chín chắn. Anh ta khoe khoang những chiến công của mình, cư xử với cực điểm của chứng ngu ngốc, và nghĩ rằng anh ta nguy hiểm đối với phụ nữ. Một Kẻ Ăn Chơi Trác Táng (viết hoa) biết rằng chàng nguy hiểm đối với phụ nữ. Chàng không phô trương những chiến công của chàng, bởi vì chàng không cần phải làm thế. Chàng biết chàng sẽ được thì thầm khắp nơi bởi những đàn ông cũng như phụ nữ, và trên thực tế, chàng thà rằng họ đứng có thì thầm gì về chàng hết. Chàng biết chàng là ai và chàng đã làm gì; những trò tường thuật chi tiết, đối với chàng, thật là rườm rà. Chàng không cư xử như một kẻ ngu ngốc chỉ bởi vì lý do đơn giản rằng chàng không phải là thằng ngốc (không nhiều hơn những gì được trông chờ ở tất cả thành viên thuộc giới tính nam). Chàng có rất ít kiên nhẫn cho những nhược điểm của xã hội, và thành thật mà nói, hầu hết các lần Tác giả chẳng thể nói rằng nàng đổ lỗi cho chàng được. Và nếu đó không miêu tả Tử Tước Bridgerton - rõ ràng là người độc thân thích hợp nhất của mùa vũ hội này - đến hoàn hảo, Tác giả nên ngừng nghề viết ngay lập tức. Câu hỏi duy nhất là: liệu năm 1814 sẽ là năm chàng cuối cùng cũng đầu hàng niềm hạnh phúc tuyệt vời của hôn nhân? Tác giả nghĩ... không. Tạp chí của Lady Whistledown, ngày 20 tháng 4 năm 1814 “Làm ơn đừng nói với chị,” Kate Sheffield nói với căn phòng rộng lớn, “rằng cô ta lại viết về Tử Tước Bridgerton lần nữa chứ.” Cô em kế của cô, Edwina, nhỏ hơn đến gần bốn tuổi, nhìn lên từ sau tờ báo một trang. “Làm sao mà chị biết?” “Em đang cười khúc khích như một người điên.” Edwina cười khúc khích, làm rung chiếc ghế sofa thêu hoa mà họ đang ngồi. “Thấy chưa?” Kate nói, tặng cho em gái một cú thúc vào cánh tay. “Em lúc nào cũng cười khúc khích khi cô ta viết về mấy gã ma cà bông đáng quở trách.” Nhưng Kate lại cười toét miệng. Có rất ít thứ mà cô thích hơn là chọc em gái. Với ý tốt, tất nhiên. Mary Sheffield, mẹ của Edwina, và mẹ kế của Kate đã gần tám năm nay, liếc lên từ đồ thêu của bà và đẩy cặp kính lên cao hơn trên sống mũi. “Hai đứa cười cái gì đấy?” “Chị Kate đang nổi điên lên vì Lady Whistledown lại viết về ngài tử tước phóng đãng đó nữa.” Edwina giải thích. “Chị không nổi điên. nói, ngay cả khi không có ai lắng nghe. “Bridgerton?” Mary hỏi lơ đãng. Edwina gật đầu. “Vâng.” “Cô ấy lúc nào cũng viết về anh ta.” “Con nghĩ cô ấy chỉ thích viết về những kẻ ăn chơi trác táng.” Edwina bình luận. “Tất nhiên là cô ấy thích viết về mấy kẻ trác táng.” Kate vặn lại. “Nếu cô ấy mà viết về những người chán ngắt, thì chả ai sẽ mua tạp chí của cô ấy.” “Điều đó không đúng.” Edwina trả lời. “Chỉ mới tuần trước cô ấy đã viết về chúng ta đó thôi, và ông trời mới biết chúng ta không phải là những người đáng quan tâm nhất ở Luân Đôn.” Kate mỉm cười với sự ngây thơ của em gái. Kate và Mary có thể không phải là người đáng quan tâm nhất Luân Đôn, nhưng Edwina, với mái tóc màu vàng ngọt ngào như bơ và đôi mắt xanh trong đến sững sờ, đã được vinh danh là Người Không Thể So Sánh của năm 1814. Kate, mặt khác, với mái tóc và đôi mắt một màu nâu giản dị, thường được nhắc đến như là “Chị gái lớn của Người Không Thể So Sánh”. Kate vờ như còn có cách nói tệ hơn. Ít nhất thì chưa có ai bắt đầu gọi cô là “Chị gái già của Người Không Thể So Sánh.” Điều đó rất nhiều phần gần với sự thật hơn là bất cứ người nhà Sheffield nào chịu thừa nhận. Ở tuổi hai mươi (gần như là hai mươi mốt, nếu người ta thành thật về điều đó), Kate hơi dài răng để có thể tận hưởng mùa vũ hội đầu tiên ở Luân Đôn. Nhưng đã chẳng có lựa chọn nào khác. Nhà Sheffield đã không từng giàu có ngay cả khi cha Kate vẫn còn sống, và từ khi ông qua đời vào năm năm trước, họ đã buộc phải tiết kiệm nhiều hơn nữa. Họ chắc chắn là chưa đến mức vào nhà tế bần, nhưng phải lo lắng cho từng đồng và xem xét từng bảng. Với tài chính bị thu hẹp, nhà Sheffield chỉ có thể sắp xếp một khoản tiền cho một chuyến đi đến Luân Đôn. Thuê mướn một ngôi nhà - và một cỗ xe - và thuê một ít người hầu vừa đủ cho mùa vũ hội tốn một khoản tiền. Nhiều tiền hơn là họ có thể xoay sở để có thể trang trải qua cả hai lần. Như thế, họ phải chuẩn bị trong năm năm khó khăn để có thể chu cấp cho chuyến đi này đến Luân Đôn. Và nếu các cô gái không thành công ở Hội Chợ Hôn Nhân... À thì, chả có ai sẽ đẩy họ vào nhà tù nợ nần, nhưng họ sẽ phải trông đến một cuộc sống yên bình của nghèo khó thanh đạm ở một mái nhà tranh đáng yêu nhỏ nhắn nơi vùng Somerset. Và vì vậy hai cô gái đành phải khởi đầu mùa vũ hội đầu tiên trong cùng một năm. Đó là một quyết định rằng thời gian logic nhất là khi Edwina mười bảy và Kate sắp hai mươi mốt. Mary sẽ muốn chờ cho đến khi Edwins đã mười tám, và chín chắn hơn một chút, nhưng điều đó sẽ làm cho Kate gần hai mươi hai, và trời ơi, nhưng ai sẽ cưới cô lúc đó chứ? Kate cười nhăn nhó. Cô còn không muốn một mùa vũ hội. Cô đã biết rằng cô không thuộc dạng sẽ thu hút sự chú ý của mọi người. Cô không đủ xinh xắn để che lấp sự thiếu hụt của hồi môn, và cô chưa bao giờ học cách cười điệu và nói chuyện dịu dàng và đi đứng duyên dáng, và làm tất cả những việc mà các cô gái khác dường như biết cách làm từ trong nôi. Ngay cả Edwina, người chẳng có một cái xương ranh mãnh nào trong người, bằng cách nào đó cũng biết cách đi và đứng và thở dài sao cho đàn ông chạy vù tới, chỉ để có cái vinh dự được đưa nàng sang đường. Kate, mặt khác, luôn luôn đứng với đôi vai thẳng và cao, không thể ngồi yên nếu cuộc sống của cô phụ thuộc vào điều đó, và đi như cô đang ở trong một cuộc đua - và tại sao lại không? Cô luôn tự hỏi. Nếu một người đang đi đến đâu đó, có lý gì khi không đến đó nhanh chóng? Còn đối với mùa dạ hội của cô ở Luân Đôn, cô còn không thích thành phố nhiều nữa. Ôi, cô có một khoảng thời gian vui vẻ, và cô đã gặp nhiều người tử tế, nhưng một mùa vũ hội Luân Đôn dường như là một sự phung phí tiền bạc khủng khiếp đối với một cô gái sẽ hoàn toàn hài lòng được ở lại nông thôn và tìm một anh chàng hiểu biết lý lẽ để mà cưới. Nhưng Mary không chấp nhận điều gì như thế. “Khi ta cưới cha con,” bà nói, “ta đã thề sẽ yêu thương con và đem đến cho con mọi sự chăm sóc và tình thương ta sẽ dành cho con ruột của ta.” Kate đã thu xếp để vừa thốt ra được một từ “nhưng - ” trước khi Mary tiếp tục với, “ta có trách nhiệm đối với người mẹ tội nghiệp của con, cầu Chúa cho bà yên nghỉ, và một phần của trách nhiệm đó là thấy con được cưới xin hạnh phúc và định.” “Con có thể hạnh phúc và được bảo đảm ở thôn quê mà.” Kate đã trả lời. Mary đã đối lại, “Có nhiều người đàn ông để lựa chọn hơn ở Luân Đôn.” Sau đó Edwina cũng đã tham gia, khăng khăng nói rằng cô sẽ hoàn toàn khốn khổ nếu không có Kate, và bởi vì Kate không bao giờ có thể chịu được khi nhìn thấy em gái không hạnh phúc, số phận cô được quyết. Và thế là cô ở đây - ngồi trong một căn phòng khách hơi sờn cũ, trong một căn nhà thuê ở phần rìa Luân Đôn mà gần như hợp thời, và... Cô nhìn quanh một cách tinh nghịch... và cô sắp sửa giật tờ tạp chí từ tay em gái. “Chị Kate!” Edwina kêu ré lên, mắt cô trợn vào mảnh báo nhỏ hình tam giác còn lại giữa ngón tay cái và ngón trỏ. “Em chưa xong mà!” “Em cữ đọc nó mãi.” Kate trả lời với nụ cười ngoác miệng táo tợn. “Bên cạnh đó, chị muốn coi cô ta viết gì về tử tước Bridgerton hôm nay.” Đôi mắt của Edwina, thường xuyên được ví như mặt hồ Scot tĩnh lặng, ánh lên quỷ quái. “Chị quan tâm khủng khiếp đến ngài tử tước đấy, Kate. Có điều gì chị không nói với mẹ và em đúng không?” “Đừng có ngu ngốc thế. Chị còn không biết anh ta. Mà nếu chị có biết, có thể là chị sẽ chạy về hướng ngược lại. Anh ta cụ thể là loại đàn ông mà hai chúng ta nên tránh xa bằng mọi giá. Anh ta rất có thể quyến rũ một tảng bẳng ấy chứ.” “Kate!” Mary bật ra. Kate nhăn nhó. Cô đã quên mất rằng mẹ cô đang lắng nghe. “Chà, đó là sự thật.” Cô thêm. “Con đã nghe rằng anh ta có nhiều người tình hơn là sinh nhật của con nữa.” Mary nhìn cô trong vài giây, như thể cố quyết định bà có muốn trả lời hay không, và cuối cùng bà nói, “Không phải đó là một chủ đề thích hợp cho tai con đâu, nhưng nhiều người đàn ông “Ôi.” Kate đỏ mặt. Có rất ít thứ kém hấp dẫn hơn là bị phản đối khi một người đang cố gắng đưa ra một lập luận quan trọng. “Chà, thế thì, anh ta có gấp đôi con số nhiều. Cho dù trường hợp nào đi nữa, anh ta quá bữa bãi hơn hầu hết những người đàn ông khác, và không phải loại Edwina nên cho phép tán tỉnh nó.” “Con cũng đang tận hưởng một mùa vũ hội đấy.” Mary nhắc nhở cô. Kate chiếu vào Mary một cái nhìn khó chịu nhất. Họ đều biết là nếu ngài tử tước chọn tán tỉnh một người nhà Sheffield, đó sẽ không là Kate. ... Mời các bạn đón đọc Tử Tước và Em của tác giả Julia Quinn.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith
Cuốn sách Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith bao gồm các bình luận xã hội đáng kể về tình trạng và triển vọng của y học ở Hoa Kỳ trong những năm 1920. Arrowsmith là một người tiến bộ, thậm chí là một kẻ nổi loạn, và thường thách thức tình trạng hiện có của mọi thứ khi anh ta thấy nó muốn. Cuốn tiểu thuyết Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith này đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ sinh viên tiền y và y khoa. Có rất nhiều đau khổ trên đường đi liên quan đến các quyết định sự nghiệp và cuộc sống. Trong khi kể chi tiết việc Arrowsmith theo đuổi những lý tưởng cao đẹp của nghiên cứu y học vì lợi ích của nhân loại và lòng tận tụy quên mình trong việc chăm sóc bệnh nhân, Lewis đã ném ra nhiều cám dỗ và sự tự lừa dối ít cao thượng hơn trong con đường của Arrowsmith. Sự hấp dẫn của sự an toàn tài chính, sự công nhận, thậm chí cả sự giàu có và quyền lực khiến Arrowsmith rời khỏi kế hoạch ban đầu để theo bước người cố vấn đầu tiên của mình, Max Gottlieb, một nhà vi khuẩn học tài giỏi nhưng có tính mài mòn. Trong cuốn tiểu thuyết, Lewis mô tả nhiều khía cạnh của đào tạo y tế, thực hành y tế, nghiên cứu khoa học, gian lận khoa học, đạo đức y tế, sức khỏe cộng đồng và xung đột cá nhân / nghề nghiệp vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay. Sự ghen tuông nghề nghiệp, áp lực thể chế, lòng tham, sự ngu ngốc và sự cẩu thả đều được miêu tả một cách châm biếm, và bản thân Arrowsmith cũng đang bực tức tự cho mình. Nhưng cũng có sự cống hiến không mệt mỏi, và tôn trọng phương pháp khoa học và trí tuệ trung thực. *** Sinclair Lewis sinh ở Sauk Centre, Minnesota trong gia đình một bác sĩ. Học tiểu học tại Minnesota, sau đó học Đại học Yale. Tại đây Lewis in thơ và tham gia vào ban biên tập tạp chí văn học của trường. Trong kì nghỉ hè rảnh rỗi, Lewis viết cuốn tiểu thuyết The Village Virus (Virus nhà quê), mười lăm năm sau được phát triển thành tác phẩm danh tiếng Main Street (Phố chính). Năm 1912, cuốn sách đầu tiên của Lewis Hike and the Aeroplane (Cuộc dạo bộ và chiếc máy bay) được in dưới bút danh Tom Grame. Năm 1914, ông in tiểu thuyết Our Mr. Wrenn: The Romantic Adventures of a Gentle Man (Ông Wren của chúng ta) và tiếp tục viết nhiều truyện giải trí nhưng không được chú ý. Trong 15 năm sau đó, ông lang thang qua 40 tiểu bang nước Mỹ và nhiều nước trên thế giới để kiếm sống, tìm việc làm và thu thập tài liệu viết văn. Nguồn cảm hứng sáng tạo thực sự của Sinclair Lewis được khơi dậy chính là từ những ngày tháng sống trong toa xe ngủ tại nông trại Vermont ở Minnesota và các nhà trọ ở thành phố Kansas hoặc Savannah. Tất cả sự phong phú của cuộc sống qua các câu chuyện kể và sự tiếp xúc với giới bình dân và nhiều tầng lớp xã hội khác đã mang lại cho nhà văn nguồn tư liệu vô tận để miêu tả cuộc sống thật sinh động. Sinclair Lewis trở nên nổi tiếng thật sự bắt đầu từ tiểu thuyết Main Street (Phố chính, 1920) - cuốn sách gây nên hai luồng dư luận trái ngược nhau: một bên ca ngợi hết lời, một bên phê bình kịch liệt. Tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông là Babbitt (1922). Với hai cuốn tiểu thuyết này Lewis đã tạo ra hai hình tượng điển hình trong văn học cận đại Mỹ: Babbitt điển hình cho người Mỹ tiểu tư sản tầm thường, nhạt nhẽo, ba hoa, và hám lợi; Main Street điển hình cho cuộc sống tỉnh lẻ, hẹp hòi, ngột ngạt ở các thị trấn, thành phố nhỏ của nước Mỹ. Năm 1925 cuốn Arrowsmith được trao giải Pulitzer nhưng ông không nhận. Còn giải Nobel năm 1930 dành cho Sinclair Lewis bị một số báo chí Mỹ phản ứng, coi là không xứng đáng vì cho rằng Lewis bôi nhọ nước Mỹ trong các tác phẩm của mình. Tiểu thuyết World So Wide (Thế giới quả là rộng lớn, 1951) là tác phẩm cuối cùng của ông. Cuối đời nhà văn nghiện rượu nặng và mất tại Roma ở tuổi 65. HARRY SINCLAIR LEWIS là con một bác-sĩ ở vùng quê, sinh tại Sauk Centre, Minnesota, năm 1885. Thuở thơ- ấu và niên-thiếu, ông ở Middle West và sau học tại Đại Học Đường Yale; ở đây ông làm chủ bút tờ văn-học tập-san. Sau khi tốt-nghiệp năm 1907 ông đến New York viết báo một thời-gian, rồi làm việc trong bộ biên-tập của nhiều tờ báo ở nhiều nơi từ East Coast tới California. Sau khi đã viết một số truyện đăng trong các tạp chí và xuất-bản được cuốn truyện đầu tay, Our Mr. Wrenn (1914) ông bỏ nghề viết báo. Tuy nhiên, Main Street (1920) mới thực là tác-phẩm thành công đầu tiên của ông, và cuốn Babbitt (1922) làm cho ông nổi danh thêm. Năm 1926, ông được thưởng giải Pulitzer về cuốn Arrowsmith (1925) , nhưng ông từ chối danh-dự này. Tuy nhiên, ông nhận giải Nobel người ta tặng ông năm 1930 và ông chính thức đến Stockholm để lãnh thưởng. Trong khoảng cuối đời ông, ông thường hay ở tại Âu-Châu và tiếp-tục viết cả hai thứ tiểu-thuyết và kịch. Năm 1950, sau khi hoàn thành cuốn truyện cuối cùng, World so Wide (1951) , ông dự định làm một vòng du-lịch xa rộng, nhưng ông bị đau và bắt buộc phải ở tại Rome mấy tháng để làm thơ. Ông mất tại đây năm 1951.   *** Một buổi chiều tháng Năm, nghị- sĩ Almus Pickerbaugh đương dùng cơm chiều với Tổng-Thống Hoa-Kỳ. Tổng-Thống nói, “Khi tuyển-cử xong rồi, tôi mong Bác-sĩ sẽ nhận một chức trong nội-các... chức Bộ- Trưởng Y-Tế đầu tiên của Hoa-Kỳ!" Chiều hôm đó, Bác-sĩ Holabird đọc diễn-văn trong một cuộc hội-họp những tư-tưởng-gia trứ danh do Hội Liên-Hiệp Văn-hóa tổ- chức. Trong số những “Nhân Vật Chỉ Vui có Hạn" lên diễn đàn có Bác-sĩ Aaron Sholtheis, Tân Giám-Đốc Viện McGurk và Bác-sĩ Angus Duer, Giám-đốc Dưỡng-đường Duer kiêm Giáo-sư giải-phẫu tại Y-Khoa Đại-Học-Đường Fort Dearbron. Bài diễn-văn lịch-sử của Bác-sĩ Holabird được vô-tuyến truyền-thanh đi cho hàng triệu thính-giả nhiệt-thành yêu khoa-học nghe. Cũng chiều hôm ấy, Bert Tozer ở tại Wheatsylvania tại North Dakota, đương dự một khóa lễ bán tuần. Chiếc xe hơi mới hiệu Buick của ông đậu bên ngoài nhà thờ đợi ông, và ông hoan-hỷ một cách khiêm-nhường, nhũn-nhặn nghe mục-sư giảng: "Thượng-đế đã dạy rằng: những kẻ chính-trực, ngay cả những ‘Đứa Con Của Ánh Vinh-Quang’, sẽ được thưởng một phần thưởng vĩ-đại và sẽ đi trên đường hỷ- lạc, còn những kẻ hay nhạo báng, những ‘Đứa Con của Ác Quỷ’ sẽ bị sát hại và quăng xuống hang sâu vực thẳm, và bị quên lãng trong chốn chợ đời tấp nập". Cũng chiều hôm ấy, Gottlieb ngồi im một mình không nhúc-nhích, trong một căn buồng tối tăm bé nhỏ trên lầu cao một ngôi nhà trong con đường ồn-ào nhộn-nhịp. Chỉ có đôi mắt của Ông là còn linh-động. Cũng chiều hôm ấy, một làn gió nóng miền nhiệt-đới thổi vật-vờ trong kẽ lá của dặng cây gồi nơi mà di-hài của Gustaf Sondelius đã tan ra cùng than bụi, và một quãng đất lún xuống trong một mảnh vườn ghi dấu mộ phần của Leora. Cũng chiều hôm ấy, sau một bữa cơm chiều vui vẻ khác thường với Latham Ireland, Joyce thú-nhận, "Vâng, nếu em ly-dị hẳn với anh ấy rồi, có lẽ em sẽ lấy anh. Em biết! Chẳng bao giờ anh ấy nhận thấy anh ấy có tính tự- tôn tự- đại kinh-khủng, tự cho mình là con người duy nhất ở đời bao giờ cũng có lý, không bao giờ lầm-lẫn cả!" Cũng chiều hôm đó, Martin Arrowsmith và Terry Wickett nằm dài trên một con thuyền xấu xí, một con thuyền bất tiện hết chỗ nói, trôi xa-xa ra giữa hồ. Martin nói, “Tôi cảm thấy như bây giờ tôi mới thật sự bắt tay vào làm việc. Cái thuốc ký-ninh mới này có lẽ khá lắm. Chúng mình còn phải vất-vả vài ba năm nữa may ra mới chế được thứ thuốc hoàn hảo – mà cũng rất có thể chúng mình sẽ thất bại!”   Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Bác Sĩ Arrowsmith của tác giả Sinclair Lewis & Bảo Sơn (dịch).
Những Lá Thư Ngày Thứ Tư
Sau cái chết bất ngờ của vợ chồng Jack và Laurel, các con của họ đã tìm được những lá thư mà Jack từng viết cho Laurel vào mỗi ngày thứ Tư hàng tuần trong suốt những năm dài họ chung sống. Đó là những bài thơ dễ thương Jack dành riêng cho vợ, là lời xin lỗi chân thành của Jack về tính khí nóng nảy của mình, là tình cảm không thể thành lời đối với những đứa con, là những buồn vui trong cuộc sống thường ngày... Những lá thư thấm đẫm tình yêu thương ấy đã giúp họ vượt qua sóng gió trong cuộc sống, khiến tình yêu của họ được thắt chặt và bền vững đến tận ngày cả hai cùng nhắm mắt lìa đời. Chính những lá thư vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc ấy đã giúp con trai họ là Malcolm lần ra được bí mật lớn nhất của đời mình, đồng thời chúng còn là cầu nối để anh tìm lại tình yêu đích thực với Rain. Những lá thư ngày thứ Tư khắc họa nên một câu chuyện đời thường dễ thương và gần gũi, qua đó Jason F. Wright đã gửi gắm những thông điệp chân thành về tình yêu thương gia đình, về nét đẹp của những điều giản dị trong cuộc sống và về giá trị của lòng vị tha. Khép lại câu chuyện, độc giả sẽ bắt đầu muốn viết “Những lá thư ngày Thứ Tư” của riêng mình bởi những giá trị thiêng liêng mà quyển sách mang lại. *** NHỮNG LÁ THƯ NGÀY THỨ TƯ: "NƠI HỒI SINH TÌNH YÊU SAU CÁI CHẾT…" Jason Wright là tác giả của tiểu thuyết Christmas Jars bán chạy nhất nước Mỹ. Tiểu thuyết: Những lá thư ngày thứ tư ẩn chứa thông điệp về lòng vị tha, tình yêu thương, kể cả khi họ không còn trên thế gian này nữa. Trong cuộc sống, điều gì tạo nên mật ngọt nuôi dưỡng tình yêu và cuộc hôn nhân của những đôi vợ chồng đã bước sang tuổi xế chiều? Tình yêu và sự mãnh liệt của tình yêu có thể hồi sinh sau cái chết? Thông điệp: “Những lá thư ngày thứ tư kể về một câu chuyện ấm nồng, nhân văn như thế. Jack và Laurel là cặp vợ chồng hạnh phúc trong suốt nhiều năm trời. Mỗi ngày sống bên nhau Jack đều viết cho vợ những bức thư tràn đầy tình yêu thương, sự lãng mạn, ngọt ngào. Những bức thư viết tay ấy không được gửi đi cho đến khi cả hai người đột ngột qua đời. Tình yêu làm cho con người luôn cảm giác về sự bất tận của khoảng cách. Rồi một ngày thật hi hữu, Laurel lên cơn đau tim và đột tử. Jack trong nỗi đau mất vợ, nỗi đau của căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, cũng vô tình mất trong ngày định mệnh ấy. Nhưng điều kì lạ, Jack và Laurel mất đi, vẫn đầy ắp tình thương yêu của của họ hiện hữu trong cuộc sống của những đứa con khi bất chợt tìm thấy những lá thư họ viết cho nhau. Những bức thư lúc ấy không chỉ là thông điệp về tình yêu mà còn là bài học sâu sắc, vô giá cho họ phải biết trân trọng từng giá trị bé nhỏ của cuộc sống khi còn được bên nhau, còn được yêu thương trên thế gian này. Và tình yêu khác mất đi, một tình yêu sau này sẽ hồi sinh và sẽ gìn giữ những giá trị quý giá đó. Bức thư “Mùa thứ 5” có thể nói lên tình yêu rút ruột mà Jack dành cho vợ yêu quý của mình: 24 tháng Mười Hai, 1958 Mùa Thứ Năm Gửi vợ của anh, Lauren nhân dịp Giáng sinh lần thứ mười chúng ta ở bên nhau, 1958 Mỗi mùa xuân mang đến cuộc sống mới, năng lượng và cây cối sinh sôi. Mùa hạ mang đến ánh nắng, sự ấm áp, dễ chịu, và dài lâu. Mùa thu mang đến bức tranh sơn dầu với màu sắc tinh tế chuyển biến nhẹ nhàng Mùa đông mang đến sức mạnh thủy chung, vẻ đẹp của màu trắng tinh khiết. Và mang em đến với anh. Em là tất cả những gì Thiên nhiên ban tặng, là một ơn lành, một món quà từ Thượng đế. Em là mùa thứ năm. Bức thư “Mùa thứ 5” có thể nói lên tình yêu rút ruột mà Jack dành cho vợ yêu quý của mình: 24 tháng Mười Hai, 1958 Mùa Thứ Năm Gửi vợ của anh, Lauren nhân dịp Giáng sinh lần thứ mười chúng ta ở bên nhau, 1958 Mỗi mùa xuân mang đến cuộc sống mới, năng lượng và cây cối sinh sôi. Mùa hạ mang đến ánh nắng, sự ấm áp, dễ chịu, và dài lâu. Mùa thu mang đến bức tranh sơn dầu với màu sắc tinh tế chuyển biến nhẹ nhàng Mùa đông mang đến sức mạnh thủy chung, vẻ đẹp của màu trắng tinh khiết. Và mang em đến với anh. Em là tất cả những gì Thiên nhiên ban tặng, là một ơn lành, một món quà từ Thượng đế. Em là mùa thứ năm. Những bức thư viết tay thấm đẫm yêu thương ấy được đặt vào câu chuyện như một điểm nhấn tạo nên những giá trị nhân văn cho câu chuyện cảm động trên. Nội dung cuốn tiểu thuyết được mô tả trong một khung cảnh đẹp đẽ, thơ mộng của vùng thung lũng Shenandoah, bang Virginia khi nhà văn Jason đang tìm cảm xúc để viết tiểu thuyết Những Lá thư ngày Thứ Tư.  *** Nhận xét “Jason là một tài năng thiên phú trong việc sáng tác ra những tiểu thuyết hấp dẫn. Dĩ nhiên tôi sẽ viết thư cho người vợ 44 tuổi của tôi vào mỗi ngày Thứ Tư” ––Kieth Merrill, đạo diễn điện ảnh đạt giải OSCAR “Một câu chuyện đáng yêu: đầy tính khích lệ, trong sáng, khôi hài, lôi cuốn cùng một kết thúc có hậu làm thỏa mãn độc giả.” ––Nhà xuất bản Weekly “Đó là một câu chuyện tình yêu lãng mạn với những giá trị tuyệt vời. Qua câu chuyện của họ, chúng ta sẽ thấy phép màu vẫn tồn tại!” –– Glenn Beck, phát thanh viên của chuyên mục trò truyện trên radio và đài CNN *** Lời cảm ơn   Xin được gửi lời cảm ơn đến những người luôn toàn tâm vì công việc: Kodi, Beverly, Sandi Lou, Sterling, Ann, Jeff, Terilynne, John, Adrienne, Lauren, Jon, Wilma, Stephanie, Amanda, Marshall, Katy, Emma, Ethan và Bailey. Cũng xin cảm ơn Monica, Kerri, Caren, Kalley, Nancy, Taylor, Ramona, Jeanette, Laurel, Matt, Christa, Laura, Janeal, Randa, Nicole, Cammy, Amanda, Cindy và Kathi. Thêm một lời cảm ơn đặc biệt đến Allyson Condie vì đã kiên nhẫn xem những trang bản thảo chưa hoàn chỉnh của tôi. Xin được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hết lòng của các anh chị em tại Nhà xuất bản Shadow Mountain, điển hình là Chris Schoebinger vì đã có một tầm nhìn chiến lược; Lisa Mangum vì phần biên tập tinh tế; Sheryl Dickert Smith vì kiểu thiết kế trang bìa đầy sáng tạo; Gail Halladay vì một khả năng tiếp thị đáng kinh ngạc; Tonya Facemyer vì tài năng đánh máy lão luyện; Angie Godfrey vì đã giữ cho tâm trí tôi luôn gắn bó với công việc và cuối cùng là Sheri Dew vì đã chấp nhận rủi ro đề xuất việc xuất bản. Cảm ơn người quản lý của tôi, Laurie Liss, vì những điều cô đã chia sẻ và tình bạn đáng quý mà cô dành cho tôi. Xin được dành lòng biết ơn vô hạn đến gia đình Schwartz và Faulkner vì đã cho tôi mượn nhà trong những ngày cuối tuần khi tôi cần sự yên tĩnh để sáng tác. Cảm ơn những con người tuyệt vời của Woodstock, bang Virginia, vì đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong công tác nghiên cứu và vì đã nồng nhiệt chào đón gia đình tôi gia nhập vào cộng đồng của họ. Xin gửi lời cảm ơn đầy yêu thương đến những đứa con của cha là Oakli, Jadi, Kason và Koleson vì đã chịu hy sinh “những ngày vui vẻ của cha và con” khi cha đang vật lộn để hoàn thành quyển tiểu thuyết này. Hẹn gặp các con ở Công viên W.O. Riley. Cảm ơn người vợ yêu dấu và tận tụy của anh, Kodi, vì đã luôn ở bên anh, kiên nhẫn đọc những bản thảo chưa hoàn chỉnh của anh, thay anh nhận phần lớn trách nhiệm nuôi dạy con cái, và vì hình ảnh em luôn nhắc nhớ trong anh để xây dựng nên nhân vật Laurel Cooper một cách chân thực nhất. Mời các bạn đón đọc Những Lá Thư Ngày Thứ Tư của tác giả Jason F. Wright.
Tìm Bình Yên Giữa Vạn Biến: Oola
Có bao giờ bạn cảm thấy chán nản, mệt mỏi vì mất cân bằng giữa công việc và niềm hạnh phúc riêng cho bản thân? Có bao giờ bạn tự hỏi mỗi giờ hằng ngày mình dành ra thực sự mang lại giá trị hay ý nghĩa nào cho cuộc sống? Cuốn sách “Oola – Tìm bình yên giữa vạn biến” đã định nghĩa lại thế nào là một cuộc sống tuyệt vời mà bất cứ ai trong chúng ta cũng khao khát và tìm cách đạt được nó. Đó là cuộc sống cân bằng, mãn nguyện về sức khỏe (fitness), tài chính (finance), gia đình (family), công việc (field), đức tin (faith), bạn bè (friends) và niềm vui (fun). Không phải là những lời khuyên sáo rỗng, “Oola Tìm bình yên giữa vạn biến” chứa đựng những mẩu truyện nhỏ khiến bạn có thể ngạc nhiên “à ra thế” và cùng một loạt những lời khuyên thực tế mà bạn có thể chuyển hóa ngay thành hành động hoặc thói quen. Trong cuốn sách này, bạn sẽ học được ba bước đơn giản để cân bằng và phát triển cuộc sống, khám khá những gì ngăn cản bạn đến “cuộc sống trong mơ” và cách đến được đó nhanh hơn cũng như tại sao, dù bạn thành công hay thất bại bạn luôn xứng đáng với một cuộc sống tốt hơn… và rất nhiều điều thú vị, hữu ích khác. Cuốn sách “Oola – Tìm bình yên giữa vạn biến” đã nhận được một loạt khen ngợi từ các giả giả hàng đầu, vận động viên chuyên nghiệp, những nhà lãnh đạo uy tín. 100,000 bản in lần đầu của cuốn sách “Oola – Tìm bình yên giữa vạn biến” đã được hai tác giả Troy Amdahl và Dave Braun tự xuất bản và bán hết mà không cần đến bất kỳ NXB nào; 25,000 bản in tái bản cũng được bán hết trong vòng 1 tháng ngay sau đó. Nếu bạn muốn có được một cuộc sống hạnh phúc, ý nghĩa và vẫn đạt được những thành công trong sự nghiệp, “Oola – Tìm bình yên giữa vạn biến” là lựa chọn không thể bỏ qua. *** [Review Sách] "Tìm Bình Yên Giữa Vạn Biến": Hành Trình Đi Tìm Hạnh Phúc Dù bạn là tỷ phú trong lâu đài lộng lẫy hay một người bình phàm với trời đất tự nhiên thì phải chăng, mục đích cuối cùng của chúng ta trên cõi đời này chỉ là tìm kiếm một cuộc đời bình yên và hạnh phúc? Chúng ta luôn mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, để khi nhắm mắt yên nghỉ có thể mãn nguyện với mấy chục năm sống không uổng phí. Tuy nhiên, hạnh phúc là gì, khổ đau là gì chúng ta không thể phân biệt rạch ròi. Bình yên vì thế cũng lạc lối giữa những hình sắc trần ai mà ta không thể nắm giữ. Mỗi chúng ta sẽ có những cách khác nhau, những ngọn hải đăng riêng biệt để soi tỏ mây mù tìm đường đến ánh sáng của an vui. Và tôi tin cuộc sống Oola chính là thứ bạn đang kiếm tìm, phương pháp Oola chính là một ngọn hải đăng dành cho những ai vẫn còn mơ hồ. Cuốn sách “Tìm bình yên giữa vạn biến” sẽ giúp bạn nắm rõ trong lòng bàn tay mọi thứ về Oola. Ai cũng muốn tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn, và Oola chính là phương pháp. Oola là một nguồn cảm hứng đầy thú vị! -Mark Victor Hansen, đồng tác giả của loạt sách Chicken Soup for the Soul Bằng những câu chuyện hấp dẫn và trải nghiệm cá nhân của mình, hai tác giả Dave Braun và Troy Amdahl sẽ hướng dẫn bạn cách đạt được cuộc sống mà bạn hằng mong muốn – cuộc sống Oola của riêng bạn. Tất nhiên đây không phải một cuốn sách kĩ năng với những lời chỉ dẫn vô cảm mà thực sự khá lôi cuốn khi có nhận định cho rằng: Quyển sách này có giá trị giải trí đến 70%, giá trị giáo dục 30%, và giá trị làm thay đổi cuộc sống là 100%. Nếu bạn muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, một cuộc sống Oola, hãy đọc quyển sách này. -Brant Boyer, cầu thủ kiêm huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp Điều tôi thấy khá thú vị ở cuốn sách này chính là việc tác giả đề cao vị thế của người đọc khi lấy họ làm trung tâm và có sự tương tác. Hai tác giả đã đề cao giấc mơ của mỗi người, biến mình thành người bạn đồng hành trên mỗi chặng đường. Chúng tôi rất biết ơn khi được đồng hành cùng bạn trong chuyến phiêu lưu này. Bạn giỏi giang hơn bạn nghĩ, và phía trước là những ước mơ đang đợi bạn biến thành hiện thực. Bất kể ước mơ của bạn là gì, chúng tôi rất vinh dự được mang ước mơ đó theo cùng trên chiếc xe buýt của chúng tôi. Bây giờ hãy lật sang trang và bắt đầu hành trình Oola! Cuốn sách gồm 5 phần chính với những đề mục rõ ràng giúp người đọc dễ hiểu nhất về hành trình đang đi. Phần 1. Giới thiệu về Oola. Chắc chắn bạn sẽ thắc mắc rất nhiều về từ “Oola” vì nó hoàn toàn lạ tai. Tuy nhiên, chúng ta dễ dàng liên tưởng nó giống một từ cảm thán đầy thích thú giống “Bingo” chẳng hạn. Tuy nhiên, đây là một cụm từ có rất nhiều ý nghĩa. o’la /danh từ, tính từ/ 1 a: bắt nguồn từ cách diễn đạt oh-la-la! trong tiếng Pháp b: một trạng thái tuyệt vời c: một cuộc sống cân bằng và phát triển ở các mặt then chốt như sức khỏe, tài chính, sự nghiệp, các mối quan hệ và hạnh phúc về tinh thần cũng như thể chất d: một đích đến (ví dụ, tìm đến Oola) 2 a: mô tả những hành động, hiểu biết và mục tiêu dẫn đến cuộc sống cân bằng (ví dụ: Điều đó thật Oola) 3 a: kế hoạch nền tảng để đạt được sự cân bằng trong một thế giới chông chênh. Định nghĩa của Oola có vẻ khá dài nhưng nếu để ý, chúng ta thấy trọng tâm dồn lại vào “sự cân bằng”. Không thừa không thiếu, vuông vắn trọn vẹn mới chính là cuộc sống Oola, chính là hạnh phúc. Nhiều người trong số chúng ta đã nghĩ rằng một cuộc sống xa hoa vương giả mới thực sự là chân ái. Tuy nhiên, hạnh phúc đôi khi thực giản đơn nằm trong sự “muốn ít biết đủ” trong thâm tâm mỗi người. Lẽ tất nhiên, khi cuộc sống thiếu thốn quá mức về vật chất thì tâm hồn cũng khó được thanh thản. Tựu chung lại, chúng ta nhất định phải tìm được sự cân bằng trong thế giới hỗn loạn. Tôi hình dung ra cảnh tượng những viên đá xếp chồng lên nhau một cách an nhiên giữa nước chảy gió thổi khi nhắc về Oola. Phải chăng cuộc sống của chúng ta chính là học nghệ thuật xếp đá? Tài chính, sức khỏe, tình yêu là những viên đá nhỏ to khác nhau, và công việc của chúng ta là sắp xếp cho chúng cân bằng giữa những chông chênh cuộc đời. Bởi vậy mới nói, sống cũng chính là một loại nghệ thuật. Với cuộc sống Oola, có lẽ sống là nghệ thuật của sự cân bằng. Khi bắt đầu đọc cuốn sách, tôi đã tò mò xem chừng ý tưởng thú vị này đến từ đâu. Thật kì lạ vì nó không phải từ những nhà tâm lí học, những nhà nhân học hay bất cứ ngành nghề nào có nhiệm vụ nghiên cứu về cuộc sống con người cả. Dave Braun và Troy Amdahl là hai gã trai trẻ với sứ mệnh và đam mê của riêng họ. Đâu đó trên bìa quyển sách này, bạn sẽ thấy chiếc xe buýt Volkswagen đời 1970 của chúng tôi. Có thể bạn sẽ nghĩ, “Ừ, hay đấy, nhưng sao lại là xe buýt, và hình vẽ trên xe có ý nghĩa gì?”. Mặc dù trông như vết sơn văng tung tóe, nhưng bạn hãy nhìn những hình vẽ đó kỹ hơn. Đó chính là những tấm nhãn dán viết tay đại diện cho những ước mơ và cảm hứng cá nhân của hàng chục nghìn người chúng tôi đã gặp khi du lịch khắp nước Mỹ. Mục tiêu của chúng tôi là thay đổi thế giới bằng một từ (Oola), qua từng chiếc nhãn dán. Họ đã nỗ lực thay đổi thế giới tốt đẹp hơn, giúp con người bớt căng thẳng hơn và giải phóng những tiềm năng cũng như ước mơ nguyên sơ nhất của họ. Cuốn sách này đã ghi lại dấu mốc của hành trình cải tạo thế giới, san sẻ hạnh phúc tới hàng triệu người. Phần 2. 7 chữ F của Oola. Mỗi chữ F sẽ đại diện cho một lĩnh vực then chốt trong cuộc sống: Fitness (sức khỏe), Finance (tài chính), Family (gia đình), Field (sự nghiệp), Faith (niềm tin), Friends (bạn bè) và Fun (niềm vui). Mỗi chương đều bắt đầu với một câu danh ngôn truyền cảm hứng và những khái niệm cơ bản nhất. Tác giả chỉ đơn giản như đang kể chuyện và kiếm tìm những dẫn chứng trong cuộc sống thường nhật để chỉ ra cuộc sống Oola là như thế nào. Ví dụ với hai từ “sức khỏe”: Ngày nay, từ này có vẻ được dùng theo hai cách. Định nghĩa thứ nhất xoay quanh việc sức khỏe có ảnh hưởng như thế nào đến mọi việc bạn làm. Định nghĩa này tập trung vào cảm giác tốt đẹp, dáng vẻ ưa nhìn, khỏe mạnh và hiệu suất làm việc cao. Nó cũng hướng vào cách bạn vận động và những gì bạn đưa vào cơ thể. Đây là vóc dáng vừa đẹp để mặc chiếc quần jean bó sát, tôi cảm thấy mình gợi cảm… Đây chính là Sức khỏe Oola! Tiếp sau định nghĩa là phần “Người tìm Oola” nói về duyên cớ khiến tác giả tìm đến lĩnh vực này và “Người thầy Oola” chỉ việc tác giả tìm được phương pháp tháo bỏ mọi khúc mắc. Cuối cùng là những bí quyết tác giả tập hợp lại cho bạn đọc. Điều đặc biệt là những câu chuyện truyền cảm hứng có thật của họ, những câu chuyện mà tác giả gặp trong cuộc sống, trong hành trình của chuyến xe buýt Volkswagen đời 1970 huyền thoại. Không giống với những lý thuyết khó hiểu, hành trình Oola hoàn toàn được xây dựng bởi trải nghiệm và câu chuyện của chính bản thân tác giả. Dường như điều đó đã làm cuốn sách trở nên có sức sống. Phần 3. Chướng ngại Oola. Qua những gì chúng ta đã thấy và cảm nhận thì trên cuộc đời này không có con đường nào trải đầy hoa hồng cả. Với con đường đến cuộc sống Oola cũng vậy. Những chướng ngại vẫn luôn tiềm ẩn: nỗi sợ, cảm giác tội lỗi, cơn giận tự hủy hoại bản thân, sự lười biếng, lòng đố kỵ, sự tập trung. Bạn có thể nhận thấy rằng những chướng ngại của cuộc sống Oola không đến từ thế giới ngoại cảnh mà bên trong chính con người chúng ta. Như bạn đã biết, trong mỗi chúng ta đều có sự tranh đấu của thiện và ác, trắng và đen. Những vật cản của cuộc sống đôi khi không đáng sợ bằng cuộc chiến chính tà trong con người. Cuốn sách sẽ phân tách phần này một cách rõ ràng để người đọc có thể thẳng thắn đối diện với chướng ngại của tâm hồn. Cơn giận có thể là một “ổ gà” trên đường, hoặc nó có thể là một vật cản. Hãy cẩn thận đừng để hệ lụy của cơn giận mà bạn đeo mang trở thành bức tường bê tông ngăn bạn đến với Cuộc sống Oola của mình. Tôi nghĩ rằng một khi chúng ta có thể thấu hiểu bản thân, đương nhiên bao gồm cả những phần xấu xa lẫn tốt đẹp thì dễ dàng có được thành công hơn. Người tài giỏi trước khi hiểu biết về thế giới thì chắc chắn phải hiểu được mình. Phần 4. Chất xúc tác Oola. Chất xúc tác chính là động lực giúp bạn đi nhanh hơn trên con đường Oola. Nó đối lập với chướng ngại Oola, là những phần tốt đẹp chúng ta cần phát huy: lòng biết ơn, tình yêu thương, kỷ luật, sự chính trực, sự khiêm nhường và sự khôn ngoan. Chúng ta có thể lấy ví dụ khi tác giả nói về lòng yêu thương. Con người chúng ta rất thích nói về tình yêu. Trên thực tế, tình yêu đã trở thành tiêu đề của hàng trăm ca khúc được yêu thích nhất. Tình yêu cũng là yếu tố then chốt trong số tất cả các Chất xúc tác Oola. Chúng ta thích nói, viết và hát về tình yêu vì nó quá mạnh mẽ. Việc cho đi và nhận lại tình yêu, sẽ mang đến đam mê, và đam mê chính là nhiên liệu thích hợp nhất cho chuyến xe buýt đến với Oola. Như vậy, chất xúc tác Oola còn là nhân tố có thể đẩy lùi những chướng ngại. Khi yêu thương đủ lớn, những sợ hãi có thể biến mất. Chúng ta không cách nào diệt hết cỏ dại chỉ bằng nhổ cỏ mà không trồng thay vào đó một thứ khác như những cây hoa chẳng hạn. Con người cũng vậy, khi nuôi dưỡng những điều thiện lương thì ắt những điều tăm tối sẽ bị đẩy lùi. Phần 5. Ba bước đến với cuộc sống Oola. Bước đầu tiên được tác giả đặt tên là Bánh xe Oola. Thực chất đây chỉ là một hình ảnh biểu tượng được chia nhỏ hơn thành các phần là trục bánh xe, căm xe và van bánh xe. Ví dụ như phần trục bánh xe là một phần trọng yếu đại diện cho cuộc sống của mỗi người, là mỏ neo của chúng ta. Cuối phần này tác giả có những bài tập cụ thể để chúng ta có thể xác định được vị trí của bản thân. Phần thứ hai mang tên Kế hoạch Oola. Giống như bất kỳ con đường nào khác, sau khi có mục tiêu thì cần một bản kế hoạch cụ thể để thực hiện nó. Nếu phần một để định vị bạn đang ở đâu thì phần hai chính là xác định rõ nơi bạn muốn đến. Mục tiêu là những cột mốc, những bước nhỏ mà bạn cần thực hiện trên con đường đạt được ước mơ. Mục tiêu là những bước hành động, được lên kế hoạch rồi đạt được. Chúng là những bước nhỏ mà bạn phải đi theo, ngày này qua ngày khác, để đến với cuộc sống ước mơ của mình. Và bước cuối cùng được tác giả gọi là Con đường Oola. Nếu như chỉ có kế hoạch mà không hành động thì ước mơ của bạn cũng chỉ nằm mãi trên những trang giấy mà không bao giờ trở thành hiện thực. Một danh sách việc cần làm đơn giản cho phép bạn được quyết định một ngày của mình diễn ra như thế nào, thay vì để mọi việc xảy đến một cách thiếu chủ động. Những bước đi có mục đích rõ ràng, dù là những bước rất nhỏ, cũng rất cần thiết đối với Cuộc sống Oola. Tờ giấy viết thư hay một trang web dễ thương đối với tôi không quan trọng. Tất cả những gì tôi hy vọng đó là bạn hãy thực hiện bước đầu tiên trên Con đường Oola của mình. Khi khép lại cuốn sách thì cũng chính là lúc hành trình Oola của bạn được mở ra. Tôi không nghĩ tác giả muốn chúng ta đọc cuốn sách này chỉ để giải trí bâng quơ. Họ khát khao ở người đọc sự thay đổi, mong muốn được chuyển biến những điều tốt đẹp đến cuộc sống của mỗi cá nhân. Bởi vì điều đó thực sự là đam mê, là mục tiêu của họ. Hy vọng cuốn sách ít nhiều giúp được mỗi người đến gần hơn với hạnh phúc và an vui của cuộc đời. Review chi tiết bởi: Mai Trang – Bookademy Mời các bạn đón đọc Tìm Bình Yên Giữa Vạn Biến: Oola của tác giả Troy Amdahl & Dave Braun.
Nếu Còn Có Ngày Mai
Được đông đảo fans trinh thám đánh giá là một trong những tác phẩm cuốn hút nhất của Sidney Sheldon, tiểu thuyết Nếu còn có ngày mai không chỉ lôi cuốn trong cách Sidney tạo dựng cốt truyện gay cấn mà hơn cả là cách ông xây dựng hết sức thành công sự phát triển cá tính, tâm lý của hàng loạt nhân vật. Lòng tin và sự công bằng vốn có tồn tại trong cuộc đời? Có thể nói, thế giới trong tiểu thuyết Nếu còn có ngày mai của Sidney Sheldon là một thế giới của lừa lọc. Một thế giới nghiệt ngã bóp nghẹt tâm hồn con người, khiến sự tin tưởng và tình yêu như chẳng còn vị trí tồn tại. Tưởng chừng nơi đấy con người sống với nhau bằng những điều dối trá, vì thế mà lòng tin hoặc sự công bằng bỗng trở thành những thứ xa xỉ, một giấc mơ xa vời hay một thứ ảo vọng của những ai chưa trải qua khắc nghiệt cuộc đời. Một thế giới như thế, một cuộc đời như vậy, thực sẵn sàng để nhấn chìm mọi điều tốt đẹp nguyên bản, ban sơ nhất. Mà Tracy Whitney chính là minh chứng rõ nét nhất cho việc số phận đã xoay vần và biến đổi con người ra sao. Tracy Whitney, một cô gái trẻ, tuổi ngoài 20, xinh đẹp, thông minh. Nhưng bởi cuộc sống cô dường như quá êm đềm, tương lai cô đã quá rộng mở với một gia đình hạnh phúc, một tình yêu trọn vẹn, cùng viễn cảnh về một đám cưới sẽ diễn ra trong tương lai nên Tracy ngây thơ, đơn thuần vô cùng trong cách cô đánh giá, nhìn nhận cuộc sống và con người. Chính vì thế, khi biến cố liên tiếp xảy đến cuộc đời cô gái: Công ty gia đình phá sản, mẹ cô tự vẫn vì bị lừa đảo, Tracy đã đánh giá mọi chuyện hết sức đơn giản cũng như quá đỗi tin vào chính mình cùng “tính thiện” nơi con người. Cô tự đưa bản thân vào hang cọp, cũng không có bất cứ một sự phòng vệ nào trước bất cứ ai tỏ ra thông cảm với hoàn cảnh của cô, đồng thời Tracy còn vô cùng chậm chạp trong việc thích ứng với hoàn cảnh. Do vậy, không thể phủ nhận một điều, khoảng 100 trang đầu tiên của Nếu còn có ngày mai, tình tiết truyện trôi qua không chỉ chậm mà còn tạo một sự ức chế không nhỏ với độc giả. Ngoài vì Tracy cứ mãi ngây thơ, dẫu đã trưởng thành hơn qua sóng gió thì vẫn mang ám ảnh của một thời ngây dại còn bởi tác giả như gieo vào lòng độc giả một nỗi hồ nghi, về tính thiện của con người, về hai chữ công lý giữa cuộc đời. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, dẫu thế nào thì sự phát triển tâm lý của Tracy Whitney vẫn cực kỳ hợp lý và cũng thể hiện bút lực khá cao tay của Sidney Sheldon trong cách ông xây dựng cá tính con người. Vì là người ngoài cuộc nên độc giả dễ dàng dùng lăng kính của người thứ ba để phán xét nhân vật trên trang sách. Song hãy thử đặt bản thân vào vị trí của Tracy và tự hỏi, nếu ở hoàn cảnh như thế, ta có đù bình tĩnh, sáng suốt để suy xét mọi trường hợp không? Việc Tracy cứ mãi thơ dại, bám víu vào hết sợi dây này đến sợi dây cứu mạng khác, hết hi vọng này tới hi vọng kia là tâm lý bình thường của con người khi đi vào bước đường cùng; cho tới lúc, cô gái bé nhỏ đầy kiêu hãnh đủ chín chắn nhận ra, để sinh tồn giữa cuộc đời khắc nghiệt thì không thể dựa vào ai khác, cũng chẳng thể tin tưởng ai hoàn toàn ngoài tin vào chính bản thân mình. Và trong thế giới của Nếu còn có ngày mai, đâu chỉ Tracy là con người duy nhất sự tin tưởng bị chà đạp. Chính mẹ cô, vì lòng tin đặt sai vị trí mà dẫn đến cái chết bi thương. Hay một kẻ lừa đảo thuần thục như Jeff Stevens mà rồi cũng từng đặt tình yêu vào nhầm người. Thậm chí sau này, khi Tracy chính thức trưởng thành và trở thành một chuyên gia lừa đảo, thì cái cô đánh vào chính là nhục dục, lòng tham, sự thiếu tin tưởng con người dành cho nhau,… Ngỡ rằng cả thế giới ở Nếu còn có ngày mai, ai cũng là Joe Romano, ai cũng là tên luật sự Perry Pope, ai cũng giống tên bội bạc Charles… Sidney Sheldon như đã bóc trần cách người ta sống với nhau bằng lừa lọc và tồn tại bằng sự dối trá. Cuộc đời là chuyến phiêu lưu và dạng Robinhood thời hiện đại. Nếu đủ kiên nhẫn trải qua khoảng 100 trang đầu để thấy được sự trưởng thành của Tracy cả về nhận thức lẫn hành động thì càng về sau, Nếu còn có ngày mai lại càng thêm cuốn hút trong cách Sidney Sheldon tạo dựng lên cuộc đời Tracy như một cuộc phiêu lưu lớn; để ta thực sự nhận ra, cô gái nhỏ đó đã trưởng thành thật rồi. Đó là cách Tracy phiêu lưu trong nhà ngục để sinh tồn trước những mánh khỏe của những nữ phạm nhân sẵn sàng xâu xé cô khi có cơ hội; cách cô tìm hướng đi cho bản thân để thoát khỏi ngục tù. Đó là cách cô gái ngây thơ ngày nào, trả thù từng kẻ đã hãm hại cô bằng cách cho chúng tự xâu xé lẫn nhau. Và đó là cách Tracy, từ vẫy vùng tìm lối đi để tái hòa nhập cộng đồng khi là một người đã có tiền án đến là một chuyên gia lừa đảo khiến cho cả Interpool cũng phải vào cuộc. Một Tracy sợ hãi, rụt rè, nhút nhát, yếu đuối đã hoàn toàn được thay thế bằng một cô gái tự tin, thông minh và đầy sáng tạo. Cuộc sống ngày xưa đã thực sự lùi xa, để giờ đây, Tracy chỉ sống trong thực tại, sống với cuộc phiêu lưu đầy kích thích của riêng cô. “Nếu còn có ngày mai”, mong ước từng là của Tracy quá khứ, có lẽ cũng là lời thầm nhủ của cô hiện tại. Nhưng tâm thế của hai con người ấy đã khác nhau. Trước kia, Tracy sống hôm nay mà không biết tới ngày mai bởi cuộc đời cô không do cô quyết định. Nhưng hôm nay, vận mệnh cô là do cô định đoạt, nên nếu còn có ngày mai, cô vẫn sẽ tiếp tục sống và tiếp tục sống với niềm nhiệt huyết của bàn thân. Nếu coi cả cuốn tiểu thuyết là một màn kịch lừa đảo lớn thì cuộc phiêu lưu của Tracy chính là các lớp, hồi của vở kịch đó. Có trưởng thành, có vấp ngã, có căng thằng, mệt mỏi, nhưng đến cuối cùng, chiến thắng vẫn mìm cười với ai nỗ lực và hiểu rõ quy tắc, luật chơi như Tracy. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản là trần thuật lại mánh khóe lừa đảo dựa trên những chuyến phiêu lưu gay cấn nghẹt thở thì Nếu còn có ngày mai đã không cuốn hút độc giả và được đánh giá là tác phẩm thành công nhất của Sidney Sheldon. Mà vượt qua tất cả, Sidney đã tạo dựng thành công hình tượng một Robinhood thời hiện đại, đặc biệt hình tượng đấy lại gắn với một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh, tự cường. Tracy khiến cả Interpol vào cuộc, biến toàn bộ cảnh sát hình sự tại các nước thành trò hề. Nhưng cô có nguyên tắc hoạt động của cô: Chỉ cướp của người giàu, chỉ cướp của những kẻ làm giàu phi pháp, chỉ lấy của những kẻ giàu có coi rẻ nhân phẩm của những người xung quanh… Vì thế mà các phi vụ của Tracy không chỉ kích thích hơn mà còn gây dựng lên trong lòng độc giả một Tracy, như nữ anh hùng dân gian tồn tại thời hiện đại. Tracy và Jeff, hai con người ở cùng một thế giới, đã từng là đối thủ nhưng chính họ cũng lại là những con người có trái tim thấu hiểu và đồng cảm với nhau hơn bất cứ ai. Trải qua đủ đau thương, nếm trải đủ lọc lừa của xã hội, không ai hiểu sự thối nát của lòng người nhiều hơn hai người đó; cũng không ai hiểu mặt trái của sự giàu sang, bóng tối trong trái tim con người hơn hai người họ; đồng thời cũng chẳng ai rõ, kẻ giàu đã làm giàu trên xương máu người nghèo như thế nào hơn chàng trai, cô gái ấy. Vì thế chăng, xét về lý, hành động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của cả hai là hành động đáng bị lên án, đáng phải nhận hình phạt thích đáng của tòa án thế giới. Song xét về tình, thì hành động ấy lại cũng là chính nghĩa: một dạng chính nghĩa dân gian nhằm trừng phạt những kẻ mà hệ thống luật pháp, kẽ hở pháp luật đã chẳng thể trừng trị được. Cho nên, để nhận định rạch ròi hình tượng như những Robinhood thời hiện đại của Tracy hay Jeff là đúng hay sai, là bất nhân hay chính đạo thì có lẽ, thật khó để phân định rạch ròi. Chỉ biết rằng, hai con người đó đã sống trọn từng phút, từng giây của thì hiện tại với cùng suy nghĩ “nếu còn có ngày mai”. Nếu còn có ngày mai – Tiểu thuyết cuốn hút nhưng ngập tràn lỗ hổng. Không thể phủ nhận với Nếu còn có ngày mai, Sidney Sheldon đã thực sự cao tay trong việc khắc họa lên một Tracy Whitney dần dần trưởng thành qua từng giai đoạn hay tái hiện từng bước tiến nhỏ trong mối quan hệ giữa Tracy với Jeff. Khác hoàn toàn với nhiều tiểu thuyết khác của ông: nhân vật có thể yêu nhau ở đoạn văn thứ nhất, tới đoạn văn thứ ba cả hai đã làm đám cưới? Vì thế chuyện tình giữa Tracy với Jeff dễ tạo cho độc giả sự đồng điệu cũng như thấy rằng đó là một câu chuyện tình yêu chân thật. Cũng không thể phủ nhận, Nếu còn có ngày mai là một tác phẩm hấp dẫn trong cách Sidney Sheldon xây dựng cốt truyện, tạo dựng thắt mở tình tiết đầy gay cấn. Sự đan xen giữa quá khứ với hiện tại trong câu chuyện của từng cá nhân hay mỗi phi vụ nhân vật lại có một cách thức khác nhau để đạt được mục đích cuối cùng; tất cả tạo lên sự phức hợp nhằm duy trì độ căng cho toàn bộ cuốn sách. Tuy nhiên, dẫu là sáng tác được đông đảo độc giả yêu thích thì Nếu còn có ngày mai vẫn là một tác phẩm với ngập tràn lỗ hổng. Cách Tracy được trả tự do quá dễ dàng, cách cô quá đỗi thuận lợi trong việc trả thù mà những kẻ thù của cô lại có thể dễ dàng mắc bẫy không mảy may nghi ngờ một bên thứ ba nhúng tay, cách cô biến toàn bộ hệ thống cảnh sát thành trò hề hay thành những kẻ lố bịch kiêu căng ngu ngốc… Toàn bộ yếu tố đó, nếu độc giả đủ sáng suốt, tình táo để không bị cuốn theo mạch truyện do Sidney Sheldon dẫn dắt thì đều không khó để nhận thấy. Nhưng dù thế nào, Nếu còn có ngày mai vẫn là một cuốn sách mang đậm chất Sidney Sheldon trong cách kể, cách tả, đặc biệt là cách ông tạo dựng cấu trúc cốt truyện như những miếng ghép hình lộn xộn rồi tới cuối cùng, tất cả đều quy về một mối để tạo lên bức tranh tổng thể hoàn chỉnh. Chẳng vậy mà United Press International đã nhận định về Nếu còn có ngày mai cùng tracy Whitney: “Một nhân vật hấp dẫn nhất và một cốt truyện giàu trí tưởng tượng nhất.” *** Tôi vừa mới kết thúc những dòng chữ cuối cùng của tác phẩm “Nếu còn có ngày mai”, một tiểu thuyết Mỹ của nhà văn Sidney Sheldon. Đọc xong, máu review trong tôi lại trỗi dậy. Một người anh – bạn của chị gái đã khuyên tôi nên đọc tác phẩm này. Và thú thực tôi bắt đầu với nó chỉ vì tò mò và tính hiếu thắng của mình. Nếu tóm gọn một câu nói về tác phẩm này, thì tôi nghĩ tôi sẽ chọn từ “Lôi cuốn”. Những câu chuyện của nữ nhân vật chính – Tracy trong tác phẩm khiến tôi không thể rời mắt. Hơn 1000 trang sách, thoạt đầu tiên tôi thấy hơi nản vì quá dài, đã có lúc đọc mờ cả mắt vậy mà tôi vẫn muốn đọc tiếp. Ở bài review lần này, tôi chỉ muốn nói về cảm xúc của mình đối với tác phẩm. Bạn muốn biết cụ thể diễn biến như thế nào, hãy tự mình trải nghiệm nhé. Có một sự thật là bắt đầu đọc những chương đầu tiên, tôi cảm giác tác phẩm không dành cho tôi. Nó có quá nhiều éo le, quá nhiều bi kịch trong xã hội mà đối với cuộc sống của một con người bình thường như tôi thì không thể nào tưởng tượng ra được. Xã hội mà Tracy trải qua được sắp đặt theo ý thích của một người, người đó chính là kẻ đổi trắng thay đen, đã gây ra cái chết cho mẹ cô. Cũng chính con người đó, đã khiến cô phải vào tù với mức án mười lăm năm tù giam về tội ăn cắp và mưu sát. Tuy câu truyện này không còn xa lạ gì trên màn ảnh, nhưng cách miêu tả của tác giả khiến tôi cảm thấy nó chân thực và đầy nghiệt ngã. Tôi nhớ đến câu nói mà người anh giới thiệu sách đã nói với tôi: Nghe tên những cuốn sách tôi thích biết chắc rằng tôi trẻ hơn anh rất nhiều. Tôi đoán bởi vì những cuốn sách tôi đọc hầu như đều có nội dung nhẹ nhàng, vui vẻ. Tôi tự hỏi có phải tôi quá non nớt trước những nghịch lý của cuộc đời? Có phải còn có những góc khác của xã hội mà tôi chưa bao giờ biết tới? Tôi theo con chữ, vừa sợ hãi, vừa tò mò khám phá. Phải nói rằng, bằng ngần tuổi này, cũng đã đọc qua rất nhiều truyện ngôn tình, nhưng chưa tác phẩm nào tôi cảm thấy ngượng ngùng và ái ngại trước những cảnh miêu tả về sự quyến rũ của cơ thể. Có lúc tôi không muốn tiếp tục đọc nữa. Nhưng tôi lại nghĩ, một người con trai giới thiệu với tôi về tác phẩm này, chắc hẳn nó không quá thô tục. Và hơn nữa, bản tính hiếu thắng trong tôi không muốn bỏ giở giữa chừng khi đã nhận lời sẽ đọc cuốn sách. Cảnh nhà tù nữ là một trong những cảnh ám ảnh tôi nhất trong toàn bộ câu truyện. Tôi có thể vừa đọc vừa tưởng tượng ra cảnh tượng tăm tối đấy. Tôi cảm thấy như mình đang đứng sau những trận ẩu đả của bọn tù nhân, chứng kiến những cuộc làm tình phi giới tính, những tiếng kêu thét trong đêm tối… Tất cả đều chân thực. Tác giả đã không giấu giếm mà phơi bày toàn bộ một mặt trái của xã hội. Chưa bao giờ tôi được biết đến cuộc sống mà để dành được địa vị trong thế giới không có đàn ông, những con sói cái đầu đàn phải mang trong mình trọng trách của một con đực, hành xử như những con đực thực thụ. Bọn quản tù cũng chẳng có gì tốt đẹp: đánh đập tù nhân, nhận hối lộ, bảo kê, ban đêm lẻn vào phòng giam làm tình với nữ tù. Một xã hội mà đâu đâu cũng bắt gặp người ta chửi thề đĩ loãn, chó đẻ, chó cái… Tôi thấy sợ hãi cái xã hội ấy. Như tôi đã nói, những cảnh này không thiếu trong các tác phẩm khác, hoặc trong phim ảnh. Nhưng chắc hẳn nó chưa đủ sâu sắc và chân thực như những gì tác giả miêu tả. Nó khiến tôi bị ám ảnh và không muốn đọc tiếp nữa. Càng tột cùng hơn khi Tracy được phóng thích ra ngoài, cái bản án từng ăn cắp và ám sát luôn khiến cô bị xua đuổi. Dù cô chỉ muốn làm một người bình thường, với công việc hết sức bình thường, nhưng tất cả đều là không thể. Xã hội ghẻ lạnh cô, người ta không tin tưởng một người có tiền án mười lăm năm tù như cô, đáng buồn hơn đó không phải là lỗi do cô gây ra. Không một lời văn nào của tôi đủ để tôi bày tỏ lòng mến mộ thành công của việc miêu tả đoạn văn đó. Tôi sẽ cảm ơn tác giả rất nhiều nếu như ông cho kết thúc câu truyện ở đấy. Ông để cho nhân vật của tôi dù chịu nhiều tủi hờn nhưng vẫn thanh thanh cao cao sống tiếp với đời. Khi đọc đoạn miêu tả nội tâm Tracy khi đứng trước vụ trộm đầu tiên, tôi đã thầm cầu mong Sidney Sheldon đừng để nhân vật của tôi trở thành một kẻ trộm, trở nên thay đổi trước đồng tiền. À không, phải là rất nhiều tiền. Tracy đã hy vọng trộm xong vụ đầu tiên ấy, cô sẽ được sống một cuộc sống thanh bình và lương thiện. Nhưng đời đâu dễ dàng như thế. Tôi trở nên ghét cô gái của tôi. Và lại có ý định dừng đọc tác phẩm. Tôi chỉ muốn giữ lại hình ảnh đẹp của một Tracy thông minh, kiên cường, phải chịu nhiều uất ức. Một Tracy dù bị cả xã hội quay lưng nhưng vẫn thanh cao và nghị lực sống tiếp. Nhưng cô ấy đã bị cám dỗ và trở thành một tên siêu trộm. Và chính diễn biến tâm lý ấy khiến tôi nghĩ đến thế giới thực. Con người có thể giữ được đạo đức của mình trước đồng tiền, nhưng rất nhiều tiền thì sao? Đứng trước rất nhiều tiền, liệu rằng người ta có bỏ qua cái nguyên tắc sống mà bấy lâu nay người ta “không bao giờ” vi phạm hay không? Nếu đặt bản thân mình vào tình huống đó, tôi cũng sợ bản thân không đủ bản lĩnh chiến thắng cám dỗ. Ý của tôi ở đây là rất nhiều tiền ( nhiều hơn những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng mình có thể có). Và vậy là tôi lại tiếp tục cuộc hành trình chứng kiến việc trở thành một siêu trộm đẳng cấp của Tracy. Tracy là một người phụ nữ không những xinh đẹp mà còn rất thông minh. Tuy nhiên, điều đó lại khiến tôi thấy đám cảnh sát quốc tế trở nên vô dụng và khờ khạo. Có một số vụ trộm, tôi đoán trước được cách thức mà Tracy vận dụng. Ví dụ như vụ chơi cờ với hai kỳ thủ, vụ đánh lừa tiền giả, và vụ trộm kim cương cuối cùng. Mặc dù vậy, tôi vẫn hồi hộp theo dõi diễn biến của từng câu chuyện. Quả thật là những kế hoạch hết sức táo bạo và thông minh, khiến cho người đọc cảm thấy bất ngờ và đầy phấn kích. Tracy không còn là một cô gái yếu ớt, mỏng manh như trước nữa. Tâm lý của tôi cũng không còn sợ hãi tác phẩm như xưa. Có một điều vớt vát cảm xúc của tôi, những vụ trộm xảy ra đều nhằm vào những kẻ giàu có, hống hách. Vụ trộm không khiến cuộc sống của ai trở nên khổ sở hay rơi vào vực thẳm. Và dường như, cô luôn muốn đặt mình vào trong những hoàn cảnh thử thách cao, càng khó khăn cô càng kích động. Tracy luôn muốn vượt quá giới hạn của bản thân. Tôi thích tính cách ấy. Mỗi một vụ trộm, Tracy lại biến hóa khôn lường, hóa thân thành những nhân vật khác nhau, khi là một nữ tước kiêu sa, khi thì trở thành một góa phụ trẻ, một phụ nữ mang bầu có chồng làm nghề đào vàng ở Châu Phi… Tôi biết việc này có thể xảy ra, nhưng tôi cảm thấy không thỏa mãn với ngờ vực của mình đối với cảnh sát quốc tế. Vì sao họ có thể khờ khạo đến vậy? Vì sao họ có trong tay tất cả hình ảnh của những nhân vật Tracy hóa thân vào mà vẫn có thể kết luận đó là một băng đảng gồm nhiều phụ nữ? Nực cười thật! Giọng nói có thể giả, khuôn mặt có thể trát những lớp phấn dày cộp, nhưng làn da, dáng người thì không thể nào mà thay đổi được. Bỏ qua những tiểu tiết nhỏ nhặt có thể làm hỏng mạch cảm xúc của tác phẩm. Tôi vẫn cảm thấy “Nếu còn có ngày mai” là một tiểu thuyết đáng để đọc trong đời. Và theo cảm nhận của tôi, tác phẩm phản ánh chính xác xã hội, nội tâm của con người. Một Tracy thông minh, giàu có vẫn không thể nào ngừng mơ ước về một bờ vai nương tựa. Đó là ước mơ của tất cả mọi cô gái. Cô khát khao được yêu thương, được sống như một người phụ nữ bình thường. Có nhiều người tiếc nuối với kết thúc mở của câu truyện. Riêng tôi, tôi cảm thấy may mắn. Tôi không muốn nhân vật của mình phải chịu thêm một thử thách nào nữa. Tôi không muốn Tracy vừa mới tìm được tình yêu, niềm tin vào cuộc sống lại phải đối mặt với nguy hiểm. Tôi không muốn cô ấy phải nghĩ đến cảnh nhà tù rùng rợn một lần nào nữa. Nếu có thể, hãy để cô ấy sống cuộc sống bình yên, tôn trọng luật pháp và bên người mà cô ấy thương yêu. Hãy để họ trở lại là những công dân chân chính. Mặc dù việc họ trộm cũng chỉ để thử thách bản thân và quyên góp cho những hoàn cảnh éo le, tôi vẫn không muốn có thêm bất kỳ nỗi đau nào nữa. Đánh giá điểm 8/10 Mời các bạn đón đọc Nếu Còn Có Ngày Mai của tác giả Sidney Sheldon.