Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đối Đầu Herlock Sholmès

Chiếc tủ cổ từ thời Napoleon, tấm vé số trúng thưởng một triệu franc, viên kim cương xanh suốt hơn một thế kỉ được bao kẻ truy lùng, ham muốn… Bất kể chúng được cất giữ ở đâu, trong những tòa lâu đài kiên cố hay kề sát ngay bên chủ nhân, chỉ cần muốn, Arsène Lupin sẽ luôn có được chúng, với những mánh lới được tính toán chi li, tỉ mỉ. Bất lực trước những manh mối đi vào ngõ cụt, thanh tra Ganimard buộc phải nhờ đến sự trợ giúp của thám tử lừng danh người Anh Herlock Sholmès. Rốt cuộc màn đấu trí giữa bộ đôi thám tử - kẻ trộm nổi tiếng sẽ có kết quả ra sao? Tiếp theo tập 1 Arsène Lupin – Quý ông kẻ trộm, tập 2 Arsène Lupin đối đầu Herlock Sholmès gồm 8 truyện. Nhân vật chính của truyện, ngoài Arsène Lupin và thanh tra Ganimard như ở phần 1, còn có thêm Herlock Sholmès (viết lái từ Sherlock Holmes) – một thám tử nổi tiếng người Anh. 6 truyện đầu thuật lại lần đối đầu thứ nhất giữa Arsène Lupin và Herlock Sholmes. Còn 2 phần truyện sau là lần đối đầu thứ hai của họ. Ra đời vào năm 1905 tại Pháp, nhân vật kẻ trộm Arsène Lupin được cho là đối lập với vị thám tử lừng danh Sherlock Holmes tựa như tà đối với chính, giang hồ phong lưu với chính nhân quân tử, bỡn cợt hài hước với lạnh lùng nghiêm túc. Chính vì thế, để đáp ứng sự trông đợi của độc giả, Maurice Leblanc đã cho vị thám tử người Anh xuất hiện trong truyện của mình dưới tên gọi được lái đi để tạo nên màn so tài vô tiền khoáng hậu giữa hai nhân vật trinh thám nổi tiếng nhất thế giới. *** “Siêu trộm hào hoa”, “Hoàng tử đạo chích”, “Robin Hood của giới tội phạm”, đó là những mỹ danh được dành tặng cho một trong những nhân vật tiếng tăm nhất của dòng văn học trinh thám phiêu lưu nước Pháp: Arsène Lupin. Ra mắt độc giả vào năm 1905 dưới dạng truyện ngắn dài kỳ trên tạp chí Je sais tout, gã đạo chích thông minh, quyến rũ nhưng không kém phần hài hước và láu cá ấy đã khiến cảnh sát khốn khổ vò đầu bứt tai, cánh nhà giàu ngày đêm lo ngay ngáy vì mất của, còn công chúng thì thích thú tán thưởng và hồi hộp dõi theo những màn trình diễn đầy hấp dẫn và không thể đoán trước kết cục. *** Arsène Lupin là một nhân vật hư cấu xuất hiện trong loạt truyện thám tử, tiểu thuyết trinh thám của nhà văn Pháp Maurice Leblanc, cũng như một số phần tiếp theo và rất nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh như Night Hood, Arsène Lupin, các vở kịch và truyện tranh phỏng theo.   Cùng thời với Arthur Conan Doyle, Maurice Leblanc (1864-1941) đã sáng tạo ra nhân vật Arsène Lupin, một nhân vật có tầm phổ biến rộng khắp và lâu dài ở các nước nói tiếng Pháp, giống như Sherlock Holmes (tải eBook) ở các nước nói tiếng Anh. Serie Arsène Lupin gồm hai mươi tập truyện được viết bởi chính Leblanc cộng thêm năm phần tiếp đã được ủy quyền cho nhóm viết của Boileau-Narcejac thực hiện, cũng như nhiều tác phẩm khác phỏng theo. Nhân vật Lupin được giới thiệu lần đầu trên tạp chí Je Sais Tout qua một loạt truyện ngắn, bắt đầu từ số thứ 6, ngày 15 tháng 7 năm 1905. Ban đầu nhân vật mang tên Arsène Lopin, nhưng vấp phải sự phản đối từ một chính trị gia trùng tên, kết quả là "Lopin" đã bị đổi thành "Lupin". Arsène Lupin là một siêu đạo chích có tài hóa trang, một tên trộm quý tộc chuyên trộm đồ của nhà giàu trong khi núp bóng quý ông lịch thiệp. Nhân vật Lupin giống với Marius Jacob nên có khi được cho là dựa trên hình mẫu này.xuất hiện trong 12 tập truyện ngắn đã cho thấy đây là một nhân vật có thể sánh ngang cùng với các nhân vật khác như Holmes cua Conan Doyle, Hercule Poirot cuả Agatha. Hình tượng Lupin đã được nhiều bộ phim nổi tiếng lấy làm mẫu nhân vật như Kaito Kid trong bộ manga nổi tiếng Thám tử lừng danh Conan (tải eBook). *** Maurice Leblanc sinh năm 1864 tại Rouen, Pháp. Tên tuổi của ông thực sự được biết tới và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả suốt hơn một thế kỷ qua nhờ series truyện dài kỳ cho tạp chí Je sais tout về nhân vật siêu đạo chích Arsène Lupin. Nhờ những cống hiến không ngừng nghỉ của mình, Leblanc đã được trao tặng Huân chương Bắc Đẩu bội tinh. Ông mất năm 1941 tại Perpignan. Dưới đây là một số tác phẩm của Maurice Leblanc được dịch và xuất bản tại Việt Nam: - Cái chết rình rập - Đối đầu Sherlock Holmes - Sa bẫy địa ngục - Những cú siêu lừa của Arsène Lupin - Những cuộc phiêu lưu của Arsène Lupin - Tám vụ phá án của Arsène Lupin - Ngôi nhà bí ẩn - Báo Thù - Nữ bá tước Cagliostro - Hòn Đảo 13 chiếc quan tài - Hai Nữ Tướng Cướp - Tam giác vàng ma quỷ - Arsene Lupin và Hồi Ức Bí Mật - Vụ Chơi Khăm Ngài Triệu Phú - Cây Kim Rỗng - Lời Thú Tội - ... *** Vào ngày mùng Tám tháng Mười hai năm ngoái, ông Gerbois, giảng viên môn Toán trường Cao đẳng Versailles, trong khi lục tung một cửa hiệu đồ cổ đã khám phá ra chiếc bàn viết gỗ gụ khiến ông rất đỗi hài lòng, vì nó có vô số các ngăn kéo. “Đúng là thứ thích hợp để làm quà sinh nhật cho Suzanne.” Ông nghĩ. Và vì ông vốn vẫn luôn luôn cố gắng đem đến những niềm vui giản dị cho con gái, phù hợp với thu nhập khiêm tốn của mình, ông hỏi giá, rồi sau khi mặc cả hết sức gắt gao, ông đồng ý trả sáu mươi lăm franc. Ông đang đưa địa chỉ cho người chủ cửa hiệu thì một thanh niên phục sức tao nhã, lịch duyệt trước đó đã xem xét các đồ vật khác – trông thấy chiếc bàn và ngay lập tức hỏi giá. “Đã có khách mua rồi.” Người chủ cửa hiệu nói. “A! Tôi đồ là ông này!” Ông Gerbois cúi chào rồi rời khỏi cửa hiệu, khá hãnh diện được sở hữu một món đồ mà ngay đến một thanh niên quyền quý cũng chú ý, quan tâm. Nhưng chưa đầy mươi bước chân, chàng thanh niên đã vượt lên phía trước ông. Mũ cầm trong tay, anh ta nói với ông bằng giọng cực kỳ lịch thiệp: “Thưa ông, xin lỗi ông, tôi muốn hỏi ông một câu mà ông có lẽ sẽ cho là không phải phép. Câu hỏi là liệu ông có mục đích đặc biệt gì khi mua chiếc bàn viết đó không?” “Không, tôi tình cờ bắt gặp và tự dưng thấy thích thôi.” “Tuy nhiên ông không quá thích nó chứ?” “Ồ! Tôi sẽ giữ nó, vậy thôi.” “Vì nó là một món đồ cổ, có lẽ thế chăng?” “Không, vì nó tiện lợi.” Ông Gerbois tuyên bố. “Trong trường hợp đó, ông bằng lòng đổi nó lấy chiếc bàn khác cũng hoàn toàn tiện lợi như thế mà tình trạng còn tốt hơn?” “Ồ! Chiếc bàn này đủ tốt rồi, và tôi thấy chả có lý do gì để đổi lấy chiếc khác.” “Nhưng…” Ông Gerbois tính khí dễ cáu kỉnh, nên ông đáp gắt gỏng: “Thưa ông, xin lỗi ông, ông đừng nài nỉ.” Chàng thanh niên vẫn khăng khăng: “Thưa ông, tôi không biết ông đã trả bao nhiêu tiền, nhưng tôi xin trả ông gấp đôi.” “Không.” “Gấp ba.” “Ô! Đủ rồi.” Ông thầy giáo kêu lên một cách sốt ruột. “Tôi không muốn bán nó.” Chàng thanh niên nhìn ông chằm chằm theo cái cách khiến ông chẳng dễ dàng quên đi được, rồi vội vã quay bước. Một tiếng đồng hồ sau, chiếc bàn được đưa đến nhà ông thầy giáo trên đường Viroflay. Ông gọi bảo con gái: “Cha có cái này cho con, miễn là con thấy thích.” Suzanne là cô gái xinh đẹp, bản tính vui vẻ, nồng nhiệt. Cô ôm cổ cha, sung sướng hôn ông. Đối với cô, chiếc bàn trông đúng là một món quà hết sức vương giả. Buổi tối hôm đó, với sự giúp đỡ của người đầy tớ Hortense, cô kê chiếc bàn vào phòng mình, rồi cô phủi bụi, lau sạch sẽ các ngăn kéo, các hộc, cẩn thận xếp giấy tờ, bút, mực, thư từ, bưu thiếp, và vài món đồ lưu niệm của ông anh họ Philippe mà cô bí mật cất giữ vào các ngăn kéo. Bảy rưỡi sáng hôm sau, ông Gerbois đến trường. Lúc mười giờ, theo thông lệ, Suzanne ghé đến chỗ cha, và ông sung sướng được trông thấy cái dáng mảnh mai, nụ cười thơ trẻ của cô con gái đợi mình ở cổng trường. Hai cha con cùng trở về nhà. “Chiếc bàn viết của con… tình hình nó sáng hôm nay thế nào?” “Tuyệt vời! Hortense và con lau những cái núm bằng đồng cho tới lúc chúng trông như làm bằng vàng ấy.” “Vậy là con hài lòng với nó?” “Hài lòng với nó ư? Ôi, con không biết làm sao con có thể sống không có nó suốt bao nhiêu lâu nay.” Khi hai cha con đang đi trên lối dẫn vào nhà, ông Gerbois nói: “Chúng ta sẽ ngắm nó một chút rồi mới ăn sáng nhé?” “Ồ! Vâng, ý tưởng tuyệt vời đấy ạ!” Suzanne lên cầu thang, đi phía trước cha, nhưng đến cửa phòng mình, cô kêu lên đầy choáng váng, kinh ngạc. “Có chuyện gì thế?” Ông Gerbois lắp bắp hỏi. “Chiếc bàn viết biến mất rồi!” Khi cảnh sát được gọi tới, họ sửng sốt trước cái cách đơn giản đáng thán phục mà tên trộm áp dụng. Trong lúc Suzanne đi vắng, người đầy tớ ra chợ, và vì thế ngôi nhà chẳng có ai trông, một gã đánh xe, đeo huy hiệu hẳn hoi – mấy người hàng xóm láng giềng đã trông thấy – dừng xe phía trước ngôi nhà, rung chuông hai lần. Tưởng Hortense ở nhà, những người hàng xóm chẳng hề ngờ vực, do đó gã kia tiếp tục hành động một cách êm thấm, lặng lẽ. Ngoài chiếc bàn, ngôi nhà không mất mát gì nữa. Thậm chí chiếc xắc Suzanne đặt trên chiếc bàn đó cũng được đặt sang chiếc bàn bên cạnh, các thứ đựng bên trong hoàn toàn chẳng bị động đến. Rõ ràng tên trộm đã có ý đồ từ trước, điều này làm cho vụ việc bí ẩn thêm, vì tại sao hắn sẵn sàng liều lĩnh đến thế chỉ để đổi lấy một vật rất chi bình thường? Manh mối duy nhất ông thầy giáo có thể cung cấp là sự kiện lạ lùng của buổi tối hôm trước. Ông khai: “Gã thanh niên vô cùng bực bội vì bị tôi từ chối. Tôi có cảm tưởng lúc gã bỏ đi, gã đã đe dọa tôi.” Nhưng manh mối đó là một manh mối mơ hồ. Người chủ cửa hiệu không thể làm sáng tỏ gì vụ việc. Ông ta cũng không biết gã thanh niên kia. Còn về chiếc bàn, ông ta mua nó với giá bốn mươi franc từ một người thi hành di chúc ở Chevreuse, và tin tưởng rằng mình đã bán lại nó với giá phù hợp. Cảnh sát không điều tra ra kết quả gì hết. Nhưng ông Gerbois cứ ôm ấp cái ý nghĩ là ông phải chịu một tổn thất hết sức lớn lao. Ắt hẳn đã có một gia tài được cất giấu trong một ngăn kéo bí mật, và vì thế mà gã thanh niên đã ra tay đoạt lấy nó. “Cha tội nghiệp của con, chúng ta sẽ làm gì với cái gia tài đó chứ?” Suzanne hỏi. “Con ơi! Với một gia tài như thế, hôn sự của con có thể vô cùng thuận lợi đấy.” Suzanne thở dài đầy chua chát. Cô có ước ao ai hơn ông anh họ Philippe đâu, kẻ thực ra rất đỗi tồi tệ. Và cuộc sống trong ngôi nhà nhỏ ở Versailles này chẳng còn sung sướng, mãn nguyện như xưa. Hai tháng trôi qua. Xuất hiện những sự việc liên tiếp đáng chú ý, vận may lẫn với bất hạnh khủng khiếp! Ngày đầu tiên của tháng Hai, lúc năm rưỡi, ông Gerbois bước vào nhà, cầm trên tay tờ báo buổi chiều, ngồi xuống, giương mục kỉnh và bắt đầu đọc. Vì chẳng quan tâm đến chính trị, ông giở các trang bên trong. Ngay lập tức, ông chú ý tới một mục có đầu đề: Đợt quay số thứ ba của giải Xổ số Hiệp hội Báo chí Vé số 514, series 23, trúng một triệu franc Tờ báo tuột khỏi tay ông Gerbois. Các bức tường xoay mòng mòng trước mắt ông, và tim ông không đập nổi nữa. Ông đang giữ tờ vé số 514, series 23. Ông đã mua tờ vé số từ một người bạn nhằm mục đích giúp đỡ người bạn đó, chứ không hề có ý nghĩ sẽ trúng giải, và ngạc nhiên chưa, nó lại là con số may mắn! Ông Gerbois hấp tấp rút cuốn sổ ghi chép ra. Phải, ông nhớ hoàn toàn chính xác. Con số 514, series 23, được ghi ở mặt trong bìa. Nhưng còn tấm vé xổ số! Ông Gerbois lao tới bàn làm việc của mình, tìm chiếc hộp đựng phong bì đã cất tấm vé xổ số, tuy nhiên chiếc hộp không thấy ở đó, và ông bất chợt nhận ra ông không thấy nó ở đó đã vài tuần nay. Ông nghe thấy tiếng bước chân trên lối đi rải sỏi dẫn từ phố vào. Ông gọi: “Suzanne! Suzanne!” Cô vừa đi dạo về. Cô vội vã bước vào nhà. Ông Gerbois nghẹn giọng lắp bắp: “Suzanne… chiếc hộp… chiếc hộp đựng phong bì?” “Chiếc hộp nào ạ?” “Chiếc hộp cha mua ở Bảo tàng Louvre… một hôm thứ Bảy… nó được bày ở phía cuối bàn.” “Cha, cha không nhớ à, chúng ta đã cất tất cả những thứ đó vào một chỗ với nhau.” “Bao giờ?” “Buổi tối hôm ấy… cha biết mà… đúng cái buổi tối hôm ấy…” “Nhưng cất chỗ nào?… Nói đi, mau mau con!… Chỗ nào?” “Chỗ nào ư? Ô kìa, trong ngăn kéo cái bàn viết ấy cha.” “Cái bàn viết đã bị trộm?” “Vâng.” “Ôi, trời đất!… Trong cái bàn viết đã bị trộm!” Ông Gerbois hạ giọng nói câu cuối cùng, với vẻ như choáng váng, ngơ ngẩn. Rồi ông tóm lấy bàn tay của cô con gái, hạ giọng hơn nữa, nói: “Một triệu trong đó đấy, con ơi!” “Ôi! Sao cha chẳng nói với con?” Suzanne ngây thơ lẩm bẩm. “Một triệu!” Ông Gerbois lặp lại. “Nó đựng tấm vé xổ số trúng giải nhất của Hiệp hội Báo chí.” Mức độ khủng khiếp của tai họa áp đảo họ hoàn toàn, và hai cha con im lặng hồi lâu, không dám cất lời phá vỡ sự im lặng ấy. Cuối cùng, Suzanne nói: “Nhưng, cha ạ, người ta sẽ vẫn trả tiền cho cha thôi.” “Bằng cách nào? Dựa trên chứng cứ nào?” “Cha nhất thiết phải có chứng cứ ạ?” “Đương nhiên.” “Và cha không có chứng cứ gì?” “Nó nằm trong chiếc hộp.” “Trong chiếc hộp đã biến mất.” “Phải, và bây giờ thì tên trộm sẽ lĩnh tiền.” “Ôi! Cha ơi, thế thì kinh khủng quá. Cha phải ngăn chặn việc này.” Ông Gerbois không nói gì một lát, rồi trong cơn bột phát sức lực, ông nhảy chồm chồm trên sàn, kêu lên: “Không, không, hắn sẽ không có được một triệu đó, hắn sẽ không có được! Sao hắn có được chứ? A! Khôn ngoan như hắn cũng chẳng thể làm gì. Nếu hắn đi lĩnh tiền, người ta sẽ gô cổ hắn lại. A! Bây giờ thì chúng ta cứ chờ xem, anh bạn quý hóa!” “Cha, cha sẽ làm gì?” “Bảo vệ quyền lợi chính đáng của chúng ta, cho dù là có chuyện gì xảy ra! Chúng ta sẽ thắng lợi. Một triệu franc đó thuộc về cha, và cha dự định lĩnh nó.” Mấy phút sau, ông Gerbois đã đánh đi bức điện như sau: Gửi ngài Giám đốc Ngân hàng Tín dụng Nhà đất Đường Capucines, Paris Tôi là chủ nhân tờ vé số 514, series 23. Bằng mọi biện pháp pháp lý, tôi phản đối bất cứ người nào khác đòi lĩnh giải. GERBOIS Gần như cũng cùng lúc ấy, bức điện sau đây được chuyển đến Ngân hàng Tín dụng Nhà đất: Tờ vé số 514, series 23, đang nằm trong tay tôi. ARSÈNE LUPIN Mỗi lần tôi bằng lòng thuật lại một trong số những câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm phi thường đánh dấu cuộc đời của Arsène Lupin, trong tôi đều xuất hiện cảm giác ngượng ngùng, xấu hổ, vì đối với tôi, có vẻ là các độc giả đã biết rất rõ những câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm cũ rích ấy rồi. Thực tế, không một vụ việc nào do tên trộm của nhân dân (cái cách gọi hết sức phù hợp) tiến hành mà lại chưa được phổ biến rộng rãi tới quảng đại quần chúng, không một kỳ tích chói lọi nào mà lại chưa được nghiên cứu trên đầy đủ mọi phương diện, không một hành vi, hoạt động nào mà lại chưa được bàn luận cặn kẽ theo kiểu vốn vẫn chỉ dành cho những hành vi, hoạt động quả cảm, anh hùng. Chẳng hạn, ai mà không biết câu chuyện kỳ lạ về Tiểu thư Tóc vàng, với các chương chứa đựng những tình tiết khác thường, được các báo chạy tít đen đậm, như Tấm vé xổ số 514, series 23!… Tội ác trên đại lộ Henri-Martin!… Viên kim cương xanh!…Người ta quan tâm chú ý vì có sự tham gia điều tra của viên thám tử lừng danh Anh quốc, Herlock Sholmès! Người ta thấy hồi hộp ly kỳ vì những cuộc chiến đấu chẳng lần nào giống lần nào giữa những nghệ sĩ tiếng tăm lừng lẫy ấy! Và sự chấn động trên đường phố mới lớn làm sao, cái ngày mà những thằng bé bán báo rao to: “Arsène Lupin đã bị bắt!” Lý do để tôi nhắc lại những câu chuyện này vào thời điểm này là vì chính tôi sẽ cung cấp chiếc chìa khóa mở cánh cửa bí ẩn. Những chuyến phiêu lưu mạo hiểm kia dù ít dù nhiều từ trước tới nay đều bị một màn sương mờ bao phủ, và tôi bây giờ sẽ xóa tan đi màn sương mờ này. Tôi sao chép những bài báo cũ, tôi xem xét các bức thư xưa, tôi liên kết các cuộc phỏng vấn từng diễn ra, nhưng tôi đã sắp xếp, phân loại tất cả những thứ đó và quy chúng về sự thật hoàn toàn. Hợp tác với tôi thực hiện việc này chính là Arsène Lupin, ngoài ra có cả Wilson – người bạn cực kỳ tâm phúc của Herlock Sholmès nữa. Hết thảy mọi người sẽ nhớ lại tràng cười dữ dội chào đón hai bức điện được công bố. Cái tên Arsène Lupin bản thân nó đã kích thích thói hiếu kỳ, hứa hẹn là trò tiêu khiển cho đám khán giả bình dân. Và, trong trường hợp này, đám khán giả bình dân chính là toàn bộ thế giới. Ngân hàng Tín dụng Nhà đất ngay lập tức mở một cuộc điều tra và đã xác minh được những thông tin sau: Tấm vé xổ số 514 đã được văn phòng chi nhánh Versailles của Công ty Xổ số bán cho một sĩ quan pháo binh tên là Bessy, người sau đó tử vong do ngã ngựa. Trước khi qua đời ít lâu, ông ta có nói với các đồng đội của mình là đã bán lại tấm vé xổ số cho một người bạn. Mời các bạn đón đọc Đối Đầu Herlock Sholmès của tác giả Maurice Leblanc.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Yêu Của BuBe - Carlo Cassola
Tiểu thuyết Người yêu của Bube (La ragazza di Bube) ngay khi ra mắt độc giả vào năm 1960 đã gây một tiếng vang lớn trong làng văn học Ý, và đoạt giải thưởng văn học Premio Strega, một trong những giải thưởng văn học lớn của Ý. Tiểu thuyết được nhà văn Carlo Cassola (1917-1987) viết trong khoảng những năm 1958-1959 dựa trên một câu chuyện có thật xảy ra ngay sau khi cuộc kháng chiến giải phóng nước Ý khỏi ách phát xít của Mussolini và Hitler vừa chấm dứt (1945). Câu chuyện lấy bối cảnh làng Val d’Elsa ở vùng Toscana thuộc miền Trung nước Ý, tại thời điểm Thế chiến thứ hai vừa kết thúc. Các nhân vật trong truyện còn đang sống trong dư âm của bầu không khí hào hùng và cũng đầy đam mê tuổi trẻ, của cuộc kháng chiến chống phát xít Ý và Đức. Bube, một chiến sĩ du kích cộng sản chống phát xít, từ chiến khu trở về và đến thăm gia đình người đồng chí đã hy sinh trong Người yêu của Bube kháng chiến. Anh gặp Mara, em gái của người đồng chí, và hai người yêu nhau. Giữa lúc tình yêu của Bube và Mara vừa chớm nở với tất cả những khao khát và say đắm của tình yêu đầu đời thì một biến cố đã xảy ra: trong một cuộc xô xát, khi tay cảnh sát trưởng bắn chết một đồng chí trong nhóm, Bube và một người bạn khác đã bắn chết hắn và con trai hắn. Đột nhiên, đôi tình nhân đứng trước một thử thách lớn của tình yêu: Bube phải chạy trốn sang Pháp để tránh bị truy lùng, trong khi Mara ở lại quê nhà vắng bặt tin anh. Đêm trước khi Bube lên đường chạy trốn ra khỏi nước Ý, anh và Mara đã lần đầu thực sự yêu nhau với những tình cảm trong trắng và hồn nhiên của những người lần đầu biết yêu. Nổi bật trong truyện là hình tượng “người yêu của Bube.” Sách đã khắc họa rất sinh động quá trình biến đổi của Mara: trước những sóng gió bão táp của cuộc đời, từ một cô gái mới lớn mười sáu tuổi quê mùa và hồn nhiên, rất thông minh sắc sảo nhưng cũng rất trẻ con, Mara dần trở thành một người phụ nữ đầm tính, sâu sắc và tự chủ ở tuổi hai mươi lăm. Lúc đầu, Mara chỉ chấp nhận Bube để có bạn trai đem khoe với bạn bè, cô đồng ý sang ra mắt gia đình Bube cũng để được ra tỉnh mua giày cao gót và túi xách. Nhưng rồi tình yêu đến và cô đã dần trưởng thành. Một chi tiết gây xúc động: đêm trước khi Bube ra đi, Mara đã từ chối nhận số tiền anh cho cô mua túi xách, để anh đem theo phòng thân. Sau đó là những tháng năm đằng đẵng cô chờ đợi người yêu trong bặt vô âm tín, khi tuổi xuân dần qua đi. Trong thời gian cô đơn chờ đợi, Mara quen với Stefano, một anh công nhân, cũng là đảng viên cộng sản, có nhân cách đáng quý, và trong lòng cô cũng không khỏi xao động, và hai người yêu nhau. Xung đột lên đến đỉnh điểm trong chính nội tâm của Mara, đó là sự đấu tranh giữa một tình cảm đã có lúc muốn buông xuôi để chạy theo một tương lai có chồng con yên ấm với Stefano và một lý trí mách bảo rằng cô là điểm tựa duy nhất cho Bube, rằng anh chịu đựng được vì nghĩ rằng ở quê nhà vẫn còn cô chờ đợi mình. Nhưng chính ngay lúc ấy, nút thắt đã được gỡ khi Bube bị bắt và sau đó bị tuyên án mười bốn năm tù. Tại thời điểm bước ngoặt đó, Mara đã quyết định cuộc đời mình phải ở bên cạnh Bube, nhất là trong tình cảnh khó khăn về mặt tinh thần của anh lúc đó. Mara xem đó là một “bổn phận,” một giá trị đạo đức mà cô không thể từ chối. Mara cắt đứt quan hệ tình cảm với Stefano, và tiếp tục chờ đợi mười bốn năm, thăm nuôi Bube và chờ ngày anh mãn hạn tù để cùng nhau xây dựng tương lai. Thoạt đầu tác giả đã lồng nhân vật Bube trong nhiều bối cảnh quan trọng, nhưng càng đọc, qua các biến cố dẫn dắt mạch truyện, người ta sẽ nhận thấy tác giả đã dần đưa Mara lên thành nhân vật chính và Bube chỉ còn là một điều kiện tác động lên các quyết định của Mara. Dù có bản tính nông nổi, thiếu suy nghĩ thấu đáo, dễ bị khích động đi dến các hành động thô bạo vũ lực, nhưng Bube cũng thể hiện một nhân cách đáng quý, sống hết mình trong tình yêu, và luôn thể hiện thái độ nâng niu, tôn trọng, giữ gìn cho người yêu. Trong tiểu thuyết còn có một đoạn tả rất rõ về tình cảm nhân bản của Bube với cha xứ Ciolfi - vốn là một tay phát Người yêu của Bube xít, nhưng chiếm được những tình cảm ấu thơ của Bube. Bube đã cố tình làm lơ như không thấy cha xứ Ciolfi, và cũng chính Bube sau đó đã phải đứng ra tìm cách bảo vệ cha xứ khi ông này bị người dân trong làng phát hiện và đòi hành hung. Tuy nhiên, chính Bube cuối cùng lại phải hành hung cha xứ trước áp lực của người dân căm thù phát xít. Điều này cho thấy Bube cũng chưa thoát khỏi tâm thức của thời chiến và đã sử dụng vũ lực để giải quyết các xung đột. Những suy nghĩ của Bube phần nào phản ánh sự giận dữ, thất vọng của những người cộng sản Ý khi cảm thấy bị phản bội: họ đã chiến đấu, hy sinh xương máu nhưng cuối cùng cũng không làm được cách mạng như họ mong muốn, và chính quyền lại thuộc về tay những lực lượng bảo thủ hữu khuynh, thậm chí thân phát xít hay cựu phát xít được hưởng ân xá. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh nước Ý sau Thế chiến thứ hai, mô tả những người cộng sản Ý, theo cái nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Để rộng đường tham khảo của bạn đọc, Nhà xuất bản Trẻ xin giới thiệu đến các bạn tiểu thuyết Người yêu của Bube. Mời các bạn đón đọc Người Yêu Của BuBe của tác giả Carlo Cassola.
Chuyện Tình - Erich Segal
Chuyện tình là câu chuyện tình yêu trong sáng, chân thật nhưng không kém phần lãng mạn của Jenny -  cô sinh viên trường nhạc, nhà nghèo nhưng luôn lạc quan và yêu đời, với Olvier - chàng công tử trường luật Havard, con một triệu phú danh tiếng và là nhà tài trợ chính cho ngôi trường này. Tình yêu đã giúp họ đi qua sự phản đối từ phía người cha Oliver - vì rằng gia đình Jenny nghèo, để tiến tới hôn nhân khi họ còn đang là sinh viên. Khởi đầu cuộc sống từ hai bàn tay trắng, cả hai cùng hạ quyết tâm phải cùng nhau làm việc cật lực và chi tiêu “chắt bóp” để hoàn tất việc học. Nhưng không vì thế mà tình yêu của họ vơi đi sự thi vị và lãng mạn.  Những khó khăn tưởng chừng như đang khép lại khi cả hai tốt nghiệp đại học và mỗi người đã tìm cho mình một công việc riêng; khi cuộc sống của họ dần ổn định, họ tính đến chuyện có con thì bất ngờ phát hiện Jenny mắc bệnh hiểm nghèo. Lần đầu tiên trong đời chạm phải nỗi đau lớn, Oliver tưởng chừng như đang rơi xuống vực sâu thăm thẳm… Thế nhưng tình yêu đã giúp Oliver cất giấu nỗi đau để tiếp tục đến bên Jenny bằng chính Oliver của mọi ngày để Jenny không dự cảm được nỗi đau sắp đến với cô. Chuyện tình đẹp của họ được kết thúc bằng sự ra đi nhẹ nhàng của Jenny, và câu nói của cô trong cuốn tiểu thuyết đã trở thành tuyên ngôn kinh điển của tình yêu: "Yêu có nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc". *** Ông Cavilleri đang ở ngoài hành lang hút thuốc không biết đến điếu thứ bao nhiêu khi tôi đến cạnh ông. Tôi nhẹ nhàng gọi: Bố! Ông ngẩng đầu lên và tôi chắc ông đã hiểu. Rõ ràng ông cần được an ủi. Tôi bước lại đặt tay lên vai ông. Tôi sợ Ông òa khóc còn tôi gần như chắc chắn là không khóc. Tôi muốn nói là tôi không khóc được nữa, tôi đã vượt qua chặng đó rồi. Ông lại úp bàn tay lên tay tôi, lẩm bẩm: – Giá bố. Giá bố… Ông nín bặt và tôi chờ đợi. Còn có gì vội nữa đâu. Giá bố đừng hứa với Jenny sẽ tỏ ra cứng cỏi để khuây khỏa con. Rồi để giữ đúng lời hứa, ông âu yếm vỗ nhẹ lên tay tôi. Nhưng tôi muốn được một mình, muốn thở khí trời, muốn đi bộ một lúc, có lẽ thế. *** Erich Segal là một nhà viết tiểu thuyết, kịch bản phim người Mỹ. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Erich Segal là tác phẩm Chuyện Tình (Love Story.).   Mời các bạn đón đọc Chuyện Tình của tác giả Erich Segal.
Chân Ngắn, Sao Phải Xoắn - Huyền Lê
“ Chân ngắn, sao phải xoắn!” là câu chuyện hài hước, dí dỏm về một cô nàng chân ngắn điển hình.  Đỗ Tiến Phương  - nhân vật chính của truyện là cô gái thông minh, cá tính và đặc biệt, cô có sự tự tin vô đối về bản thân. Nhan sắc của Tiến Phương  thuộc dạng “ khó cải tạo”  với đôi mắt híp như sợi chỉ cùng cặp chân đo đến ngang eo cũng chỉ vẻn vẹn được tám mươi chín phân.  Không những thế, Tiến Phương còn có một tuổi thơ không mấy êm đềm vì bố cô bỏ đi khi cô còn trong bụng mẹ. Mặc dù vậy, cô vẫn luôn tự tin thậm chí là tự hào về nhan sắc cũng như hoàn cảnh xuất thân của mình, cô chưa từng nghĩ rằng mình là người thiếu may mắn. Đỗ Tiến Phương với tính cách “tưng tửng” đã gây ra đủ các chuyện dở khóc, dở cười trong cuộc sống của chính mình và cả những người xung quanh cô. Bắt đầu là cuộc đụng độ giữa cô và “oan gia” Hoành Tá Tràng  khi cô “trót” vượt đèn đỏ trên phố. Sau đó, liên tục là những rắc rối khác có “dính líu” đến Hoành Tá Tràng khiến cô và anh chàng cảnh sát giao thông trẻ trung này trở thành “ kẻ thù không đội trời chung” của nhau. Cũng như rất nhiều cô gái khác, Tiến Phương có một thói xấu mà dù chết vạn lần vẫn không thể bỏ được, đó là mê trai đẹp. Dù bất cứ nơi đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hễ cứ thấy trai đẹp là cô ngay lập tức “đứng hình” … Vì thế mà khi vừa bước chân vào lớp cao học, Tiến Phương đã mê tít Lãng Tử - là chàng trai đẹp trai nhất lớp mình. Nhưng, mối tình đó chỉ là tình yêu âm thầm, mặc dù đã rất nhiều lần cô cố gắng tiếp cận Lãng Tử nhưng đều vô ích. Tiến Phương vẫn kiên trì “bám trụ” và yêu thầm Lãng Tử mặc cho anh chàng đã có người yêu. Cho đến khi, Lãng Tử cưới vợ, Tiến Phương mới nghĩ rằng mình thực sự hết cơ hội. Cô thất tình, nhưng không buồn bã, chán nản như bao cô gái khác, cái kiểu thất tình của Tiến Phương khá đặc biệt, cô mở chiến dịch “Lạnh lùng và kiêu hãnh” để chứng minh cho Lãng Tử thấy anh ta sai lầm vì đã không chọn cô. Và cô đã thành công ngoài mong đợi. Sau rất nhiều nỗ lực, Tiến Phương và Lãng Tử cũng đã đến được với nhau. Nhưng tình yêu của họ không được bao lâu thì tan vỡ. Tiến Phương lại trở về với con người thật của mình, vui vẻ, ương ngạnh, tưng tửng nhưng đã có nhiều suy tư hơn. Bên cạnh cô, “oan gia” Hoành Tá Tràng vẫn không ngừng gây rắc rối và anh chàng xấu trai “ Hăng-rô” Nguyễn  thì không ngừng tán tỉnh làm cô nhiều phen đau đầu nhức óc. Tiến Phương cuối cùng cũng tìm thấy tình yêu của mình bên một người xứng đáng. Không những thế, cô đã khiến cho Cục Kẹo – một cô gái yếu đuối, người luôn theo đuổi Hoành Tá Tràng có cái nhìn khác đi về cuộc sống, cô đã bồi đắp cho Cục Kẹo lòng yêu cuộc sống, sức mạnh để vượt qua nỗi buồn để tiến lên. Bên cạnh đó, việc bước vào một công ty truyền thông nhờ vào mối quan hệ của mẹ cô đã giúp cô khám phá ra bí mật động trời mà bao năm qua mẹ cô che giấu. Cô tìm thấy bố sau rất nhiều năm đinh ninh rằng ông đã bỏ mẹ con cô ra nước ngoài với nhân tình từ khi cô còn tượng hình trong bụng mẹ. *** Từ khi chính thức nhận bố, tôi vui đến nỗi mọi thứ xung quanh tôi bỗng nhiên dễ thương hết sức. Tôi ca hát, nhảy múa rồi “hẹn hò” đi chơi với bố suốt ngày… Mẹ tôi chắc cũng ghen tỵ với tôi nên mới cảnh báo tôi đừng vui quá hóa rồ con nhá. Rồ là rồ thế nào được, tôi luôn là người biết mình có gì và đang đứng ở vị trí nào chứ, mặc dù, thi thoảng tôi vẫn hơi… tự đề cao mình quá!!! Nhưng bố tôi nói, đó là nét dễ thương rất riêng của tôi, đấy, chỉ có bố mới nhận ra vè đẹp tiềm ẩn của tôi mà thôi. Bố mẹ tôi tái hợp, mà thực ra, nói là tái hợp cũng không đúng. Họ bắt đầu tình yêu thì đúng hơn, non nửa cuộc đời, họ mới chính thức thừa nhận tình cảm dành cho nhau, dẫu có hơi muộn màng nhưng đó mới là thứ tình cảm đáng trân trọng. Vì thế, đừng bao giờ nhìn tuổi tác mà đánh giá tình yêu, bởi tình yêu không bao giờ có tuổi. Mẹ chăm sóc bố rất chu đáo, tôi thấy mẹ cười nhiều hơn, dáng đi nhẹ nhõm và mẹ dường như trẻ lại. Bố tôi cũng vậy, ông nói suốt ngày và chăm chỉ, tỉ mẩn sửa soạn những thứ bề bộn trong nhà, những thứ mà trước đây, vì nhà không có đàn ông nên mẹ và tôi bỏ mặc hoặc lắp ghép qua loa. Tôi ngồi giúp bố đóng lại cái giá sách, mẹ lăng xăng bên cạnh để chỉ đạo, bất chợt tôi nói. “Sao bố mẹ không cưới nhau nhỉ?” Bố nhìn sang mẹ mỉm cười, mẹ tôi lúng túng. “Già thế này rồi, cưới xin gì nữa, ở vậy cũng được rồi.” “Làm sao có chuyện đó được, con không thể ‘gả’ mẹ cho bố theo kiểu không kèn không trống như thế này được.” Bố tôi cười ngất, loạng choạng tụt xuống, mẹ tôi lại lườm tôi như thường lệ… Mẹ tôi phẩy tay. “Bố con anh thôi đi, có phải trẻ con đâu.” “Chính vì không phải trẻ con mới phải cưới, chứ chẳng lẽ em để mọi người nghĩ anh ở nhờ nhà em mãi à?” Tôi vỗ tay đôm đốp, mẹ tôi xoa xoa lá lắc đầu vẻ bất lực trước hai bố con. Thế là cuộc chạy đua bắt đầu, tôi hăng hái chọn váy cưới cho mẹ, may vest cho bố, xem tổ chức đám cưới ở đâu… Tôi chạy hồng hộc lo chu tất mọi thứ, bố mẹ có vẻ hãnh diện vì tôi, nhưng mẹ cứ liên mồm nhắc nhở: “Làm nho nhỏ thôi, đừng rùm beng quá”. Sao lại không rùm beng nhỉ? Cưới bố mẹ tôi cơ mà! Tôi còn muốn cho cả thế giới này biết là bố mẹ tôi cưới nhau cơ đấy, thế mà mẹ nói không rùm beng thì còn gì là hay ho gì nữa? Cuối cùng, dưới sự trợ giúp của tôi, bố mẹ cũng đã tổ chức thành công một đám cưới ấm cúng và cảm động. Tôi hăng hái lên giật mic để kể kể về chuyện tình cảm của bố mẹ mình, đương nhiên là tôi đã thêm mắm, dặm muối cho nó thêm phần ly kỳ và sinh động hơn. Ai cũng nước mắt ngắn dài, mẹ tôi thì khỏi nói, bà đã khóc ngay khi vừa mặc vào người chiếc váy cưới. Bố Tam Mao của tôi, thi thoảng lại lén lau những giọt nước mắt khi nghe tôi nói, ông nhìn tôi đầy tự hào. Tôi cũng thế, vừa kể chuyện của bố mẹ, nhưng mắt tôi lại cay sè vì hạnh phúc. ... Mời các bạn đón đọc Chân Ngắn, Sao Phải Xoắn của tác giả Huyền Lê.
Các Người Khắc Biết Tay Tôi! - Katarzyna Grochola
Judyta, người đàn bà từng tuyên bố “Xin cạch đàn ông!” bây giờ đã đính hôn, và chỉ một bước nữa thôi là giấc mơ về “chàng hoàng tử cưỡi ngựa trắng đến tận nhà” sẽ thành hiện thực. Nhưng trở ngại bỗng xuất hiện: Adam Xanh Lơ – vị hôn phu của cô – chuẩn bị đi Mỹ, đất nước của vô vàn cám dỗ, trong sáu tháng. Làm đám cưới ngay bây giờ hay đợi đến khi anh về là một bài toán khó giải cho cô. Còn Tosia – cô con gái yêu quý – chẳng mấy chốc là đến kỳ thi tốt nghiệp trung học. Cô bé ngây thơ ngày nào giờ sắp tròn mười tám, biết yêu say đắm, dám nghĩ dám liều, và là nguyên do của vô số hiểu lầm, rắc rối cho mẹ cô. Vẫn giọng văn khôi hài, dí dỏm, nhiều tự trào như trong Xin cạch đàn ông!, Katarzyna Grochola viết tiếp về những thách thức của số phận vẫn đang chờ đón Judyta, người đàn bà đại diện cho một tầng lớp phụ nữ vừa hiện đại vừa mơ mộng trong các thành phố Ba Lan. *** Với “Các người khắc biết tay tôi”, độc giả sẽ được gặp lại “gái già” Judyta, người đàn bà với phương châm “phải hôn nhiều ếch thì mới gặp được hoàng tử” trong một cuộc sống hoàn toàn mới. Không còn “Xin cạch đàn ông!” nữa, bởi Judyta đã tìm thấy chàng bạch mã hoàng tử của cuộc đời mình. Nhưng sau khi tìm được hoàng tử thì sao, có lẽ cuộc sống vẫn là vô số điều bất ngờ xen lẫn rắc rối luôn chờ đợi bạn ở phía trước. Không ai đoán được ngày mai sẽ ra sao… Có được tình yêu của chàng Adam Xanh Lơ, Judyta ngỡ mình là người đàn bà hạnh phúc nhất thế giới. Nhưng một biến cố nho nhỏ đã xảy ra, khi Adam có quyết định sang Mỹ công tác trong vòng 6 tháng. 6 tháng! Nửa năm! Một phần tám mươi cuộc đời (còn lại). Nhưng 6 tháng đâu phải là muôn đời, Judyta đã tự an ủi mình như thế để có thêm dũng khí chờ đợi. Thế nhưng chẳng ai ngờ được khoảng thời gian 6 tháng đó cũng đủ cho muôn vàn rắc rối ập đến. Người phụ nữ từng một thời tuyên bố “Xin cạch đàn ông!” lại tiếp tục lao vào một guồng quay mới tất bật của cuộc sống. Với một cô con gái tuổi ấm ương đang chuẩn bị bước vào kỳ thi tốt nghiệp trung học. Với một con chó già lười biếng thích ăn tranh thức ăn của mèo. Với hai con mèo ham chơi không chịu về nhà. Với anh chàng “Cựu chồng” đang cãi nhau với vợ mới. Với thằng cháu trai nghịch ngợm chẳng bao giờ nhớ được khăn tắm của mình màu gì. Với một gã sếp trái tính trái nết và những cô bạn đồng nghiệp hay ganh tỵ…   Judyta, một nữ nhà báo đảm nhiệm công việc giải đáp những thắc mắc và gỡ rối cho bạn đọc giờ lại đang bơi trong hàng tá những rắc rối của chính mình. Không còn cách nào khác, phải tự bơi vào bờ. Không còn cách nào khác, phải tự trả lời cho những câu hỏi của mình. Nếu như “Xin cạch đàn ông” cho chúng ta thấy một Judyta mạnh mẽ, kiên cường, một phụ nữ sẵn sàng tuyên bố mình có thể sống mà không cần đàn ông thì “Các nguời khắc biết tay tôi” lại cho thấy một người đàn bà đang yêu đằm thắm. Vẫn tự nhủ là sẽ mạnh mẽ đấy, nhưng nội tâm thì lại cực kỳ mong manh dễ vỡ. Có đôi lúc cố tỏ ra bất cần đấy, nhưng trái tim thì lại đang tan nát vì thương nhớ người đàn ông của cuộc đời mình. So với “Xin cạch đàn ông!”, “Các người khắc biết tay tôi” thể hiện một độ “đằm” hơn, sâu lắng hơn, rung động hơn. Đó cũng là một sự chuyển đổi logic với tâm lý người phụ nữ khi yêu. Và nếu như “Xin cạch đàn ông” tập trung miêu tả thế giới của người phụ nữ trong cuộc khủng hoảng “hậu hôn nhân” thì “Các người khắc biết tay tôi” lại xoáy sâu vào công cuộc “tái lập” lại hạnh phúc gia đình sau khủng hoảng. Những rắc rối thường gặp giữa “người mới” và “người cũ”, những bất đồng trong quan hệ “con anh con tôi”… lần lượt được khai thác. Đặc biệt, “Các người khắc biết tay tôi” một lần nữa đề cập đến vấn đề giáo dục con cái. Ở“Xin cạch đàn ông”, đó là việc nuôi dạy một đứa trẻ còn đang ở tuổi niên thiếu. Còn trong “Các người khắc biết tay tôi”, đó là việc giáo dục một đứa trẻ đang ngập ngừng trước ngưỡng cửa trưởng thành. Ngoài những bỡ ngỡ về sự biến đổi giới tính còn là hàng tá những rắc rối liên quan đến tâm sinh lý lứa tuổi. Đặc biệt, khi đứa trẻ ấy đã bắt đầu ý thức được sự tồn tại của cái Tôi cá thể, khi nó biết tự cho mình cái quyền quyết định và can thiệp vào các mối quan hệ gia đình. “Các người khắc biết tay tôi” vẫn viết về những điều bình dị như thế trong cuộc sống. Nhưng người đọc chắc chắn sẽ không thể rời mắt khỏi cuốn sách nếu chưa đọc đến trang cuối cùng. Bởi như có một năng lực đặc biệt, Katarzyna Grochola biết cách thổi vào trang viết của mình những nét hấp dẫn, dí dỏm đầy tươi mới. Người phụ nữ này rất biết cách tự đi tìm những niềm vui trong cuộc sống. Chị không ngần ngại cười cợt ngay cả những khó khăn rắc rối trong cuộc đời mình. Có lẽ bởi cũng giống như Judyta, Katarzyna Grochola luôn có một niềm tin vững chắc rằng: “Tất cả rồi lại sẽ ổn thôi!”. Phải chăng đó cũng là suy nghĩ mà nhà văn muốn hướng các độc giả của mình đi tới. Những người phụ nữ chưa yêu, những người phụ nữ đang yêu, những người đàn bà có chồng, những người đàn bà ly hôn, những người đàn bà đã tái hôn, hãy cứ tin rằng dù cuộc đời này giông bão thế nào thì cuối cùng “Tất cả rồi sẽ lại ổn thôi!”. Mời các bạn đón đọc Các Người Khắc Biết Tay Tôi! của tác giả Katarzyna Grochola