Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Người Hái Rong Biển

NHỮNG NGƯỜI HÁI RONG BIỂN Tác giả: ANATOLY KIM Nguyên tác: СОБИРАТЕЛИ ТРАВ (1976) Dịch giả: Thái Hà Thể loại: Tập truyện NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI - 1984 (Nguồn text: từ bản đánh máy và OCR từ bản chụp của chủ blog arral.wordpress.com) Ghi chú: so với bản gốc, bản ebook được sửa phiên âm lại các tên riêng tiếng Nga, tên gọi một số người gốc Triều Tiên và Nhật cho chính xác. Bản ebook này không phải bản đầy đủ và chỉ gồm các truyện trong tập Những người hái rong biển mà thôi. Các truyện khác trong sách gốc sẽ được cập nhật ở một phiên bản khác. *** Những người hái rong biển là một câu chuyện nhẹ nhàng, dìu dịu và buồn rầu. Nhân vật của Kim bất hạnh một cách bình thường, những nỗi bất hạnh ta có thể thấy ở khắp mọi nơi trên trái đất : vì cuộc sống gia đình không như mong đợi, vì bệnh tật, vì dốt nát, cổ lỗ, già yếu, vì tình yêu không được đền đáp, vì nghèo hèn, quê mùa, vì người thân đối xử lạnh nhạt … Mỗi người một lý do, nhưng tại một thời điểm nào đó, họ bỗng nhận ra mình đã bị đẩy ra khỏi dòng chảy chung của cuộc đời. Những nhân vật như thế rất thật, có lẽ chúng ta vẫn nhìn thấy họ hằng ngày, và đấy là chuyện thường không có gì đáng nói. Mỗi người đều có mặt tốt mặt xấu, mỗi nhà đều có những chuyện riêng, không ai giống ai. Hàng ngày, con người ta vẫn chết đi, điều đó không làm xáo động dòng đời chút nào. Vì thế, cái đáng nói là cách nhìn nhận của tác giả, Anatoli Kim cho rằng “thời gian là sự bồi đắp và tích tụ, thời gian như đoàn tàu chắc chắn sẽ đưa con người tới một ga nào đó, trong khi cứ trôi qua và bay đi hết giây phút này đến giây phút khác, cuối cùng nó cũng phải tụ lại ở một nơi nào đó. Không gian cũng thế. Xung quanh trái đất không phải chỉ có không khí và ánh mặt trời. Trên mặt đất này còn tích tụ một khối năng lượng khổng lồ do những người tốt chết đi tích lại ngày một nhiều. Vậy là không có một cuộc đời người tốt nào, dầu bất hạnh, lại trôi qua vô ích, không một đóng góp nào, dầu nhỏ bé, cho cuộc sống tinh thần con người lại không tích lũy cho một ngày mai hạnh phúc, và do đó, không một nơi nào lại không chứa đựng những cái chính yếu nhất của đời sống…” (theo Những người hái rong biển – Anatoli Kim | Agrael's words (wordpress.com)) Nhà văn, nhà viết kịch, dịch giả Nga Anatoly Kim sinh năm 1939 tại Kazakhstan. Tổ tiên của ông vốn là người Triều Tiên di cư đến Nga từ thế kỷ XIX. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Kim vào học Trường trung cấp nghệ thuật Moskva. Năm 1971, Kim tốt nghiệp tại chức Trường viết văn mang tên M. Gorky, những truyện ngắn đầu tiên của ông được xuất bản năm 1973. Một thời gian, Kim phụ trách xeminar văn xuôi tại Trường viết văn; từ năm 1996, ông là đồng Tổng biên tập tạp chí “Yasnaya Polyana”. Ông là tác giả của 7 tập truyện ngắn, 6 tập truyện vừa, 2 vở kịch và 7 tiểu thuyết. Tập truyện ngắn “Những người hái rong biển” của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày sinh của nhà văn (1939-2019), xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà báo Vladimir Li về ông. Tôi làm quen với tác phẩm của Anatoly Kim vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, khi được đọc tập truyện ngắn đầu tay của ông “Đảo màu xanh da trời” (1976). Những năm tiếp theo, tôi được đọc hai cuốn sách của ông “Dây lưng màu ngọc bích” và “Tiếng hót chim họa mi”. Tôi quan tâm tới Anatoly Kim trước hết vì ông là nhà văn Liên Xô gốc Triều Tiên đầu tiên mà tôi đã từng mua sách tại các hiệu sách ở Uzbekistan, còn sau khi Liên Xô sụp đổ, tôi không thấy ở đấy một cuốn sách nào của ông nữa. Cách đây 10 năm, khi chuyển đến Moskva, tôi mới biết rằng Kim viết nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và kịch, đã trở thành nhà văn "cổ điển sống" của văn học Nga đương đại. Còn cách đây mấy năm, tôi được trực tiếp gặp ông thông qua người bạn chung của chúng tôi là Moisey Kim, hiện là Chủ tịch Hội những người Triều Tiên ở Nga. Lúc bấy giờ, tôi đã kể về cuốn sách đầu tiên của Kim mà tôi đã đọc. Số là về sau tôi phát hiện ra cuốn sách này trong một vali sách mà bố tôi muốn mang theo khi sang thế giới bên kia, nói rằng “ở đấy” ông sẽ đọc những cuốn sách này. Không một người thân nào dám phản đối ý nguyện cuối cùng của bố chúng tôi. Người đã qua đời ngày 2 tháng 8 năm 1980. Dưới quan tài của bố, chúng tôi đặt hai vali sách, trên cùng là cuốn “Cánh đồng mẹ” của Chingiz Aymatov và “Đảo màu xanh da trời” của Anatoly Kim. Sau khi chăm chú lắng nghe câu chuyện của tôi, Kim thốt lên: “Lần đầu tiên tôi được nghe một câu chuyện như vậy. Có nghĩa là từ thế giới bên kia, bố anh đã xui chúng ta gặp nhau và cần phải nâng cốc vì điều này”. Sau đó, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau, năm 2014 tôi được mời tới dự lễ kỷ niệm nhân 75 năm Ngày sinh của nhà văn và được ông ký tặng ba cuốn tiểu thuyết. Tháng 5 năm 2015, tôi cùng với Moisey Kim đến thăm nhà văn tại biệt thự của ông ở làng Peredelkino, Moskva. Và mấy năm gần đây, tôi đã nhiều lần được gặp nhà văn tại những sự kiện chính trị-xã hội khác nhau. Bàn về không gian và thời gian diễn ra câu chuyện trong tiểu thuyết, Anatoly Kim nói nguyên văn như sau: “Con chim, chiếc máy bay và, có thể, cả thiên thần nữa, cần cánh để bay, nhưng con người hoàn toàn không cần cánh để bay tới nơi tôi mời họ đến. Trong tiểu thuyết của tôi, có những chuyến bay không cần cánh, những cuộc di chuyển tự do trong không gian của những thế giới và thời đại khác nhau...”. Đề tài tình yêu chiếm vị trí chủ đạo trong toàn bộ sáng tác của Kim. Tình yêu - sự bảo đảm của hạnh phúc và sự tiếp tục nòi giống của con người. Ông nghiêng mình trước sức mạnh của tình yêu. Tình yêu là cơ sở của sự hài hòa của thế giới, sự hồi sinh của nhân loại và tương lai của nó. Hạnh phúc của Kim có dung lượng không gian và thời gian rõ rệt, bởi vì tình yêu là mặt trời với cuộc đời con người quay quanh nó. Nhưng khi mặt trời lùi xa và biến mất, tất cả trở nên bất động, giống như thiên nhiên ngủ thiếp đi trước mùa đông. Kim coi con người là một phần của vũ trụ, còn cuộc đời con người chỉ là khoảnh khắc, là ánh chớp lóe lên trong thời gian và không gian của vũ trụ nói chung. Trong khoảnh khắc đó, mỗi con người để lại dấu vết của mình trong không gian vô cùng tận, bởi Trái đất phản ứng rất nhanh trước tất cả những vận động của tâm hồn con người; khi con người làm điều ác thì không gian bao quanh nó chìm vào bóng tối, thời gian ngừng lại; còn khi con người làm điều thiện thì thế giới bừng sáng. Vấn đề hạnh phúc là một trong những đề tài sáng tác chính của Kim. Chỉ người biết yêu mới giành được hạnh phúc chân chính, bởi tình yêu là sức mạnh vĩ đại có thể hồi sinh con người. Sách của Kim không dành cho sự đọc dễ dãi, để kích thích giấc ngủ hay đơn giản là giết thời gian. Tác phẩm của ông mang đậm tính triết lý, nhiều tầng ý nghĩa, đa dạng, phổ quát, đầy biến hóa, không dễ gì nhận thức được. Nó ẩn giấu đạo lý thường tình ngàn đời nay của các dân tộc trên thế giới. Nói về tác phẩm văn học của mình, Kim giải thích rằng, ông cảm thấy mình là một nghệ sĩ hoàn toàn tự do và không bao giờ viết theo đơn đặt hàng của những kẻ cầm quyền. Ông làm việc theo ý thích và cảm hứng, chứ không phải hàng ngày. Không bao giờ nháp trước, không thu thập tài liệu hay thông tin bổ sung về điều gì đấy. Ông viết một mạch, hàng giờ liền, không nghỉ, dường như có ai đó từ “trên” đọc cho ông chép. Nhà văn khẳng định rằng, trong những ngôi làng Nga, nơi ông đã có dịp sống vào những năm khác nhau, người ta đánh giá con người ngắn gọn và đơn giản: “người tốt” hay “người xấu”. Anatoly Kim nói rằng, ông viết cho “người tốt”. “Người xấu” sẽ không đọc sách của ông, hắn không hiểu, ngay cả khi đọc. Vì vậy, sau khi đọc sách của Kim, hắn cũng sẽ không trở thành “người tốt”. Kim không trách mình vì trên đời có “những người xấu”. Khi được hỏi vì sao viết sách và viết như thế nào, ông nói: - Tôi viết sách cho “người tốt”. - Tôi không quan tâm người ta hiểu hay không hiểu tôi. - Tôi không viết cho đám đông và cho những người trên quảng trường gào lên: hoan hô Kim! - Tôi không muốn viết cho những người coi sách như ly cà phê hay ly rượu; - Tôi không thể chịu nổi thái độ tiêu thụ đối với sách. - Tôi không viết sách để về sau nó trở thành hàng hóa, vì vậy tôi phản đối thương mại hóa văn học. Anatoly Kim cho rằng, nhà văn không tồn tại thiếu độc giả. Nếu còn lại dù chỉ một độc giả thì đó là nhà văn. Nói về sự phản hồi của độc giả, Kim có thể dẫn chứng hàng chục bức thư, các cuộc gặp gỡ, lời nhắn nhủ của nhiều người đối với ông. Sau đây là một số ví dụ: ...Vào một ngày đẹp trời, có một người quen gọi điện thoại cho nhà văn Kim nói rằng vợ ông ta ốm nặng. Bác sĩ chẩn đoán bà bị ung thư dạ dày và trả về nhà vì chẳng còn sống được bao lâu nữa. Trước đó, người chồng đã đưa cho vợ đọc tiểu thuyết “Con sóc” của Anatoly Kim, và bây giờ nguyện vọng cuối cùng của bà là được gặp tác giả cuốn sách. Vào ngày hẹn, Kim đến nhà. Người phụ nữ cố ngồi dậy để chào khách. Anatoly Kim bảo bà đừng ngại, ông bước tới nắm bàn tay bà và ngồi đối diện với bà. Bà chân thành cảm ơn nhà văn về tiểu thuyết “Con sóc” và nói rằng, sau khi đọc cuốn sách, bà không còn sợ chết nữa. Những lời của độc giả nói với nhà văn trong giờ phút thập tử nhất sinh như vậy thật vô cùng giá trị - không thể không tin con người như vậy. Một ví dụ khác: ...Một lần, Anatoly Kim được nhà thờ Tin lành ở thành phố Voronezh mời đến dự hội nghị bàn về đấu tranh chống nạn ma túy trẻ em. Từ trên diễn đàn hội nghị, nhà văn nói rằng cuộc đấu tranh chống ma túy cực kỳ gay go và kém hiệu quả. Cách chống ma túy tốt và hiệu quả nhất là dự phòng và cảnh báo trước về tất cả sự nguy hại của việc sử dụng chất ma túy. Không bao giờ cho phép trẻ em thử dùng chất độc chết người này. Trong lúc nhà văn phát biểu trên hội nghị, có một phụ nữ mặc ào choàng trắng lặng lẽ bước vào phòng và ngồi vào một chỗ trống ở phía sau. Mấy phút sau, bà xin được phát biểu ý kiến. Bà là một nữ y tá, làm việc tại bệnh viên thành phố. Khi nghe tin nhà văn Anatoly Kim đến thành phố Voronezh và đang ở nhà thờ, bà xin phép bác sĩ trưởng đến đây. Bà nói rằng đã từ lâu mơ ước được gặp nhà văn và đến để cảm ơn ông về cuốn tiểu thuyết tuyệt vời “Onlirya”. Cuốn sách kỳ diệu này mang lại cho độc giả niềm hy vọng lớn và niềm tin vào một cuộc sống tốt đẹp. Sau khi đọc tiểu thuyết này, bà có cảm giác như được tắm mình trong một dòng nước nguồn tinh khiết, và muốn sống cuộc đời mới. Và bây giờ cuộc sống khó khăn của bà đã được cải thiện. Bà chân thành cảm ơn nhà văn và vái chào ông. Rồi bà vội vã ra đi trong tiếng vỗ tay của các đại biểu. Trong giờ giải lao, nhà văn muốn nói chuyện với người phụ nữ này, nhưng bà đã trở về bệnh viện. Nhớ lại những câu chuyện đó, Anatoly Kim trầm ngâm nói: “Những lời tâm sự đó của độc giả đem lại cho tôi sức mạnh và niềm cảm hứng đích thực, và tôi sẽ sáng tác cho những con người như vậy. Đó cũng có thể là câu trả lời: tôi viết cho ai”. (Theo Anatoly Kim - người đương thời của tôi | Báo Công an nhân dân điện tử (cand.com.vn))   Mời các bạn đón đọc Những Người Hái Rong Biển của tác giả Anatoly Kim.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Không Chồng Tôi Vẫn Sống - Kaui Hart Hemmings
Cuốn sách này là một tác phẩm hư cấu. Bất kỳ những sự kiện lịch sử, những người thật hoặc những địa danh có thật nào được nhắc tới đều được sử dụng với tư cách là tình tiết hư cấu. Các danh tính, nhân vật, địa danh, và sự kiện khác đều là sản phẩm của trí tưởng tượng của tác giả, và bất kỳ sự trùng hợp nào với những sự kiện hoặc địa danh hoặc con người, còn sống hay đã khuất, đều hoàn toàn là ngẫu nhiên. Mele Bart, một cô nàng San Francisco trẻ trung và xinh đẹp, đã đồng ý trở thành phù dâu trong đám cưới anh bạn trai cũ tệ bạc. Anh ta đã từng kiên quyết chia tay dù biết Mele đã có thai. Vấn đề ở đây là, Mele có nên đưa cô con gái Ellie 2 tuổi rưỡi tới tham dự đám cưới của bố nó? Trước khi đám cưới diễn ra, để tránh nghĩ nhiều, Mele đã tham gia một cuộc thi viết sách nấu ăn. Cảm hứng của Mele được chắt góp từ những trải nghiệm thú vị nhưng cũng đầy cam go mà cô có được khi là một bà mẹ đơn thân. Và Mele rút ra được một châm ngôn sống cho chính mình: “Khi đắm chìm trong thức ăn và những câu chuyện của người khác, nỗi buồn của bạn sẽ tan biến”. Nhưng dù sao, việc tự làm mình phân tâm đâu ngăn cản thời gian? Mele sẽ làm gì khi ngày cưới của bố Ellie ngày càng đến gần, và những cảm xúc của cô đang hỗn loạn hơn bao giờ hết? “Không chồng tôi vẫn sống” sẽ cho bạn đáp án theo một cách thật bất ngờ, nhiều xung đột, đầy ắp cảm xúc và không kém phần hóm hỉnh. Tác phẩm là câu chuyện về sự trưởng thành, tình mẹ, về việc học cách chữa lành những thương tổn và tiếp tục cuộc sống; về những khó khăn của người phụ nữ khi nuôi dạy con cái, và điều đó đáng trân trọng như thế nào *** B uổi chiều chứa đựng lời hứa hẹn rằng nó sẽ sớm trôi qua. Một tia nắng vàng đồng rơi xuống qua những đám mây, không khí trở nên lạnh sắc hơn, và những chiếc đèn pha halogen từ những chiếc xe hơi trên phố Fell and Oak khiến khu vui chơi nhỏ sáng lên như sân khấu. Mele Bart đang nhai hạt điều đựng trong chiếc cốc in hình nhân vật hoạt hình Dora và quan sát con gái cô chơi trên chiếc cầu trượt màu hồng. Ellie, một sai lầm tuyệt vời, đã được hai tuổi rưỡi. Thật kỳ diệu. Mele còn nhớ lúc đưa cô bé về nhà từ bệnh viện, cái đầu bé nhỏ của bé còn chưa vừa với tấm đệm hỗ trợ của ghế ngồi xe hơi. Mele liên tục nhìn lại phía sau trong sự cảnh giác. Hai ngày trước cô rời khỏi căn hộ một mình và giờ thì cô đang quay lại cùng với một đứa bé. Trong những tuần đầu tiên, có những lúc Ellie khóc và khóc, cô bé luôn lắc đầu quầy quậy, khi đó Mele chỉ muốn ném cô bé ra ngoài cửa sổ. Cô khóc theo con, tự hỏi cuộc đời của một bà mẹ đơn thân sẽ trở nên như thế nào, khi mà tình yêu của cuộc đời cô đã đá cô để quay lại với tình yêu của cuộc đời anh ta. Nhưng giờ đây, khi cô nhìn con gái mình, cô tự hỏi trước khi có con bé thì cuộc đời thậm chí có gì là tốt đẹp. Cô đã có những gì? Cô đã làm gì trong suốt thời gian đó? Xem phim, ăn sáng muộn, viết truyện ngắn, nấu ăn cho những người phụ nữ, tổ chức tiệc tối cho những người phụ nữ mà họ dường như cũng chẳng đáng quý mến là mấy. Tuy nhiên, điều đó không giảm bớt sự phẫn nộ của cô đối với gã người yêu cũ nói dối như cuội của mình. Ellie đang tự nói chuyện với mình trên xích đu bằng lốp xe – cô bé có vẻ khá là hống hách trong thế giới tưởng tượng của riêng mình. Trong cuộc sống trước kia của Mele, cô chưa từng làm việc này: ngồi trong khu vui chơi và điền bảng câu hỏi cho Cuộc thi viết Sách Nấu ăn của Câu lạc bộ Làm Mẹ San Francisco. Cô thậm chí chưa từng lường trước việc cô sẽ gia nhập một câu lạc bộ làm mẹ, nhưng chỉ sau một vài tháng suốt ngày ở bên con gái, cô biết rằng cô cần tìm kiếm một cuộc sống khác đằng sau những bức tường căn hộ của họ, vì lợi ích của cô và đứa trẻ. ... Mời các bạn đón đọc Không Chồng Tôi Vẫn Sống của tác giả Kaui Hart Hemmings.
Đốt Đời - Đào Hiếu
Trong tác phẩm này có một nhân vật nữ tên Ngọc. Tất nhiên ngoài đời “nhân vật” ấy có tên khác. Mà không phải là một người. Thật ra nhân vật Ngọc trong truyện là do hai người ngoài đời ghép lại. Một cô năm nay mới 21 tuổi, tạm gọi là cô A, một cô 28 tuổi, tạm gọi là cô B. Cách đây hơn một tháng, tôi nhận được điện thoại của mẹ cô A, báo tin cô bị bệnh rất nặng. Tôi hỏi bệnh gì, bà chỉ khóc, không nói. Tôi đến nhà thăm. Đó là một phòng trọ chừng 12 mét vuông, 5 người ở. Cha, mẹ, cô A và người chị, cộng với một bé trai con của người chị. *** Đào Hiếu (sinh năm 1946), tên khai sinh: Đào Chí Hiếu. Các bút danh khác: Biển Hồ, Đào Duy. Hiện ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đào Hiếu, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1946 tại Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông sớm gia nhập phong trào sinh viên cách mạng tại Quy Nhơn. Năm 1968 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1970 ông bị bắt quân dịch và trở thành binh nhì sư đoàn 22 Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau sáu tháng, ông trốn vào Sài Gòn bắt liên lạc với Tổng hội sinh viên hoc sinh để tiếp tục hoạt động chống Mỹ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương trước 1975 tại Sài Gòn. Từng làm phóng viên báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ. Hiện Đào Hiếu sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh. Truyện dài Giữa cơn lốc, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1978. Một chuyến đi xa, Nhà xuất bản Măng Non, 1984, nxb Trẻ 1994. Qua sông, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1986. Vùng biển mất tích, Nhà xuất bản Đồng Nai 1987. Vượt biển, Nhà xuất bản Trẻ 1988, 1995. Vua Mèo, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Người tình cũ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1989. Kẻ tử đạo cuối cùng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Thung lũng ảo vọng, Nhà xuất bản Trẻ 1989. Hoa dại lang thang, Nhà xuất bản Văn Học 1990. Trong vòng tay người khác, Nhà xuất bản Tác phẩm Mới 1990. Kỷ niệm đàn bà, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1990. Nổi loạn, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 1993. Lạc Đường (tự truyện), Nhà xuất bản Giấy Vụn 2008, Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 2008. Tuyển tập Đào Hiếu (tập 1 và tập 2) Nhà xuất bản Kim Thư Production USA 12. 2009. Mạt lộ, Nhà xuất bản Lề Bên Trái (tự xuất bản)[1], 03. 2009. Truyện ngắn và tạp văn Bầy chim sẻ, Nhà xuất bản Văn Nghệ 1982. Những bông hồng muộn, Nhà xuất bản Trẻ 1999. Tình địch, Nhà xuất bản Trẻ 2003. Thơ Đường phố và thềm nhà, Nhà xuất bản Trẻ 2004. *** Chung Quanh Tác Phẩm “Nổi Loạn" Cuộc phóng vấn do tác giả Đoàn Giao Thủy, Báo “Diễn Đàn Paris” thực hiện và đăng trên số 28 phát hành tháng 3/1994 tại Pháp. Trong sáu tháng cuối năm 1993, cuốn tiểu thuyết NỔI LOẠN của Ðào Hiếu đã nổi lên như một sự kiện văn học ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong chừng mực nào đó: có thể gọi “vụ án NỔI LOẠN”, bởi vì đã có lời buộc tội đăng trên báo chí, cuốn sách đã bị tịch thâu và tác giả đã bị bắt giam và truy tố. So với các vụ án văn nghệ trước kia, đây chỉ là một vụ án nhỏ, song nhìn chung không có gì thay đổi về phương pháp của nhà cầm quyền dùng để triệt hạ một tác phẩm: tác phẩm bị kết án, tác giả bị đi tù, song tác giả không được quyền giải thích công khai về tác phẩm của mình. Chỉ có một điều là ở cuối thể kỷ thứhai mươi này việc bỏ tù một nhà văn vì tác phẩm của họ không còn dễ dàng như xưa nữa! Trong lần về thăm Việt Nam vừa qua tôi có dịp nói chuyện với nhà văn Ðào Hiếu cũng như nhiều người có thẩm quyền trong giới văn nghệ sĩ ở Sài Gòn về cuốn sách và các sự kiện chung quanh nó. Khi đó khả năng anh bị bắt giam đã được nêu ra. Trở lại Âu châu được tin anh bị bắt thật, tôi tự thấy có trách nhiệm giới thiệu những lời trao đổi với anh mà tôi ghi được. Như một chứng từ! Như quyền trả lời của một người bị buộc tội. Phải nói ngay rằng đây không phải là một phân tích về nội dung cuốn sách: xin dành phần đó cho bạn đọc hay các nhà chuyên phê bình văn học. Trước khi đi vào phần trao đổi, có lẽ cần nói đôi điều về tác giả cũng như bối cảnh của vụ án. *** T ác giả: Du Tử Lê Với vốn sống phong phú, nếu không muốn nói là "ngoại khổ", óc nhận xét tinh tế và kinh nghiệm "trận-địa-chiến-tiểu-thuyết", Đào Hiếu, theo tôi, là một trong rất ít nhà văn hàng đầu ở lãnh vực hiện-thực-xã-hội. Hư cấu nếu có trong truyện của ông, chỉ tựa "làm duyên" cùng, chữ nghĩa chỉn chu mà thôi. Mấy yếu tố căn bản vừa kể, vốn là điểm mạnh của họ Đào trong thể loại truyện dài, một lần nữa, lại xuất hiện "hoành tráng" trong tác phẩm "Đốt Đời", dầy trên 250 trang. Khác hơn truyện dài "Bù Khú Tiên Sinh" xây dựng trên những mảng sương mù ký ức nhà sàn và, sự chập chờn lửa rừng thực / ảo, ở tác phẩm mới này, Đào Hiếu ném người đọc vào giữa tâm bão của những mặt xã hội kín, khuất. Đó là câu chuyện của một người con gái từ vai trò tiếp viên café, trở thành nạn nhân của một đường giây phân phối ma túy - loại mới nhất: methamphétamine - sau khi vô tình rơi vào cõi "thiên la địa võng". Những cánh tay xúc-tu của loài bạch tuộc đen, đã đưa một cô gái quê, nổi trôi từ tầng địa ngục này, qua tầng địa ngục khác. Cái may mắn duy nhất của cô là gặp, nhận được chân tình của một người đàn ông lớn tuổi… Truyện dài "Đốt Đời"của Đào Hiếu, với tôi, không chỉ là sản phẩm lao động trí tuệ - với những thông điệp báo động, cháy bỏng khẩn thiết của một nhà văn, trước những vấn nạn vây khổn xã hội - mà nó còn như một tự sự kể, một hành trình sống khốc liệt của cô gái quê, và, của những người đồng cảnh ngộ. Vì truyện dài"Đốt Đời"là một hồi ký, một tự sự kể, cho nên tự thân đã là cả một khối thuốc nổ hiện thực cực mạnh, khiến nó không cần phải có những cao trào, những nút thắt, nút mở hay, những cố gắng đào xới tâm lý hoặc, khai thác bản năng tình dục của con người để lôi cuốn người đọc. Bởi tính cao trào, sức công phá đã tiềm ẩn trong từng con chữ… Hơn thế, để giảm bớt tính "sát thương" của khối chất nổ, đôi chỗ, tác giả đã dùng tới sở trường trào phúng, (riễu cợt ngay cả chính mình), cũng như bản chất thi sĩ của ông, hầu giúp người đọc có được đôi chút thư giãn cần thiết. Thí dụ: "Em bước vào làm bóng tối hỗn loạn Xô đẩy tan tác Đêm rách nát sau tiếng nổ của gót hài Những ánh đèn tự chọc vào mắt mình Đứt bóng. Trăng rớt xuống sân vỡ như gương soi Máu nguyệt động chảy đen trần gian…" (Trích chương 4) Cũng vì tràn ngập vốn sống tiếp thu được từ "hiện trường", nên những chương đoạn trong Đốt Đờilà những cảnh phim chuyển động mau. Những cắt lát dứt khoát, quyết liệt, khiến người đọc khó rời khỏi trang sách. Tôi muốn nói, ngoài trải nghiệm hiện thực, tài hoa của Đào Hiếu còn san bằng, xóa sạch khoảng cách giữa tiểu thuyết và đời thường. Bên cạnh đó, qua từng con chữ, người đọc cũng gặp được không ít những liên-ảnh bất ngờ, mới mẻ, đôi chỗ lại đậm đặc chất thi ca. Ở phương diện kỹ thuật này, tôi nghĩ, Đào Hiếu đã là một thi sĩ, nhiều hơn một nhà văn. Thí dụ, ngay từ khởi truyện, Đào Hiếu đã so sánh nhân vật nữ của ông với một con khỉ nhỏ. Một con khỉ nhỏ lí lắt, tinh ranh, với bản chất ngây ngô, khờ khạo, như nhân vật nữ, hay như chính ông? Tôi rất thích những ý tưởng, hình ảnh rất thơ, khá nhiều trong "Đốt Đời" của họ Đào. Như: "…Ông cầm cuốn sách lên tay, mở ra. Cơn gió từ những trang sách thổi vào mặt. Những dòng chữ ùa ra, bay quanh ông như đàn chim. Đó là tập thơ đầu tay của ông: mới mẻ, trong trắng, nhưng vẫn còn bí ẩn như một thế giới chưa được biết đến…"(Trích chương 3) Hoặc: "…Trong căn phòng im lặng giữa một xóm lao động nghèo nàn, tiếng khóc của ông như tiếng giun dế luẩn quẩn giữa bốn bức vách ẩm mốc. Ông nghe rất rõ và ngạc nhiên thấy như đó là tiếng khóc của một người nào khác vô hình, vừa đến chia sẻ cùng ông…" (Trích chương 14) Hoặc nữa: "…Lúc ấy trái bần chín trĩu cả những vạt rừng. Mùi thơm của nó làm ngây ngất những cơn gió. Con sóc nhỏ không còn hái trái cho người cha mà hái tặng ông. Nó chuyền cành lanh lẹ, dẫn dụ ông đi lạc vào một cõi trời đất nồng nàn thứ mùi ngai ngái của vỏ cây lên men…" (Trích chương 21) Trong rất nhiều trang văn của mình, Đào Hiếu cũng đem lại cho người đọc những xúc động tự nhiên, khi ông viết về những cái chết của một số sinh vật, có nghiệp duyên với ông từ thời niên thiếu và, cái chết của chúng…đã sống lại, vì cái chết của con chó nhỏ, người bạn trung thành của cô-gái-ma-túy… Tôi muốn gọi đó là những dòng chữ chói lọi tình yêu và, tinh ròng tình bạn, của những kẻ bị gạt ra bên lề xã hội. Nhưng tình người nơi họ, lại là một thứ gì giống như xa xỉ và, xa lại với những sinh vật vô cảm, được gọi là con người nhởn nhơ giữa xã hội. Tuy sống cạn kiệt thân, tâm với những "cái chết trắng", với những kẻ trộm chó, với những "diệu thủ" trộm cắp, tiêu thụ đồ gian, xe gian, thậm chí sát nhân,…họ Đào vẫn không quên cho thấy, ở cái thế giới bạo lực hoang dã kia, thấp thoáng đâu đó, vẫn là những bảo bọc, chia sẻ của tình người. Phải chăng, tác giả muốn nhấn mạnh, giữa khi đạo lý nhân quần ngày một phá sản, thì đám người sống bên lề xã hội, trong chừng mực nào đó, vẫn có cho riêng họ một thứ đạo lý: "Đạo lý giang hồ"?! Trên tất cả mọi trải nghiệm, sống trong và, sống giữa tâm-bão-đen hiện thực xã hội, tôi vẫn thấy cái Tâm-Nhân-Bản của ông. Theo tôi, chính ngọn lửa nhân bản rực rỡ nơi họ Đào, đã làm thành nhân cách nhà văn, qua từng trang sách. Từ đấy, tôi không nghĩ, có dễ chúng ta còn thấy phải đòi hỏi thêm điều gì, nơi nhà văn đã sống, như một đường gươm này! DU TỬ LÊ (California, Aug. 2014) Mời các bạn đón đọc Đốt Đời của tác giả Đào Hiếu.
Tắt Lửa Lòng - Nguyễn Công Hoan
Sách Nói Tắt Lửa Lòng Tắt lửa lòng là một tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, giới thiệu lần đầu tiên năm 1933. Tác phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến, và rất nhiều người chuyển thể thành vở kịch, bản nhạc khác nhau. Soạn giả Trần Hữu Trang đã biên kịch lại và chuyển thể lại thành vở cải lương "Lan và Điệp" năm 1936. Và cái tên "Lan và Điệp" trở thành huyền thoại từ đó, thậm chí nó còn nổi tiếng hơn cả tên tác phẩm Tắt lửa lòng. *** Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế. Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này. Ông có ba người em trai đều tham gia hoạt động cách mạng và giữ cương vị quan trọng là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương) Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyễn Công Bồng nguyên Phó Tổng Giám đốc Nha Công an và Nguyễn Công Mỹ nguyên Tổng Giám đốc đầu tiên của Nha bình dân học vụ. Năm 1926, ông tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiều nơi (như Hải Dương, Lào Cai, Nam Định,…) cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra. Nguyễn Công Hoan viết văn từ sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Sau đó ông gia nhập Vệ quốc quân, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, giám đốc trường Văn hóa quân nhân, chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo. Ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1948. Năm 1951 ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ 9 năm. Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ. Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam (khóa đầu tiên 1957-1958), ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa sau đó. Ông cũng là ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ). Nguyễn Công Hoan mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội. Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội, đoạn giữa hai phố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh. Nguyễn Công Hoan được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996. *** Năm giờ chiều hôm sau ở chợ Gỏi, người ta đã thấy phường kèn trống, bát âm, và phu đòn, sắp sẵn nhà táng lính xa ngồi chờ ở gốc đa để đón đám ma. Cảnh xuân mà ảm đạm. Mặt trời chìm tây, hất cái bóng úa tàn lên những đám mây bạc mờ, lộn ra các mầu óng ánh như khảm. Cây khô chưa nẩy lộc, đứng lom khom bên cạnh đường. Khóm tre kẽo kẹt, làm tơi tả chiếc lá vàng sum soe bay, rồi nằm mắc trên bụi tầm xuân dại. Một chốc, ba chiếc ô tô từ đằng xa phăng phăng chạy lại, bốp còi inh ỏi, đến đầu chợ thì dừng. Tiếng kèn nổi lên, theo gió đưa đi những giọt rền rỉ sầu thảm, khói hương phảng phất bay lên, đám ma thong thả theo lối rẽ vào làng Văn Ngoại, rồi đi quanh rặng tre trên bờ sông. Người đưa đám mỗi lúc một đông. Trông thấy Điệp, Xuân, và một vị sư bác chùa Phương Thành, nghiêm trang đi sát sau cữu, thì ai nấy đều nhớ đến cảnh ngộ Lan mà sụt sùi giọt lệ. Trời về chiều đã tăng cái vẻ sầu thảm, trời về chiều lại bày thêm cảnh đám ma có giọng khóc nỉ non ai oán… Tạo hóa như khéo vẽ nên bức tranh đoạn trường! Trống vẫn thúc, kèn vẫn rên. Hồn và xác Lan trong chiếc nhà táng, nghêng ngang theo sau tiếng bát âm ẻo lả, lượn vùng quanh lũy, qua mấy thửa ruộng trồng má đề thì hạ xuống, cạnh cái gò chính Điệp và Lan đã ngồi nói chuyện hôm mười sáu tháng năm khoảng mười lăm năm trước. Trời thấp dần. Núi non xa dần. Cảnh vật xung quanh đã nhuộm một mầu sẫm, buồn rười rượi như sắp chết. Bức màn sương, trên rủ xuống, xa đưa lại, cũng dần dà trùm khuất mọi nơi, rải rác vẻ u ám thê lương vào buổi chiều hôm hiu hắt. ... Mời các bạn đón đọc Tắt Lửa Lòng của tác giả Nguyễn Công Hoan.
Tấm Lòng Vàng & Ông Chủ - Nguyễn Công Hoan
Cuốn sách “Tấm Lòng Vàng, Ông Chủ” là hai tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Công Hoan được chọn lọc và biên tập một cách rất kỹ lưỡng. *** Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế. Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này. Ông có ba người em trai đều tham gia hoạt động cách mạng và giữ cương vị quan trọng là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương) Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyễn Công Bồng nguyên Phó Tổng Giám đốc Nha Công an và Nguyễn Công Mỹ nguyên Tổng Giám đốc đầu tiên của Nha bình dân học vụ. Năm 1926, ông tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiều nơi (như Hải Dương, Lào Cai, Nam Định,…) cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra. Nguyễn Công Hoan viết văn từ sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Sau đó ông gia nhập Vệ quốc quân, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, giám đốc trường Văn hóa quân nhân, chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo. Ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1948. Năm 1951 ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ 9 năm. Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ. Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam (khóa đầu tiên 1957-1958), ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa sau đó. Ông cũng là ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ). Nguyễn Công Hoan mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội. Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội, đoạn giữa hai phố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh. Nguyễn Công Hoan được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996. *** Anh Đĩ Nuôi ở chờ ba hôm. Trong ba hôm trời, anh những rầu gan nẫu ruột. Anh giận vợ điêu bạc, oán chủ lật lừa. Anh thấy cái đời của kẻ nghèo khó nó như cái đời bỏ đi vậy. May sao, hôm thứ tư thì bà chủ về. Anh mừng quá. Anh cố tố cáo việc riêng của ông để bà phân xử. Nhưng mãi anh không dám dàn mặt bà vì từ lúc về đến nhà, bà gắt gỏng ầm ĩ, bà hỏi việc này, việc nọ, bà quát tháo với cả mọi người. Thỉnh thoảng bà mắng những câu quái gở: - Tao thì đuổi hết cả chúng bay đi. Đến tận trưa, anh Đĩ Nuôi đắn đo mãi, mới lên nhà trên. Thì lạ quá, bà chủ vừa thấy anh đã giở trận lôi đình. Bà xám mặt lại, nghiến răng, trỏ vào mặt anh mà nói: - À, quân bạc, mày rút ruột tao. Anh Đĩ ngạc nhiên. Run sợ, anh ấp úng đáp: - Bẩm lạy bà, con mới đến đây vài hôm nay. Bà chủ cười gằn: - Lạy bà! Ra chúng bay bạc thật. Tao biết cả. Mày tưởng tao không có mắt hay sao? Nói xong, bà đứng phắt dậy, túm tóc anh, rồi cứ lưng phát mãi. ... Mời các bạn đón đọc Tấm Lòng Vàng & Ông Chủ của tác giả Nguyễn Công Hoan.