Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mặt Chó Sói - Mishima Yukio

Yukio Mishima (1925-1970) được đánh giá là một trong những tác giả quan trọng nhất trong nền văn học Nhật Bản thế kỷ 20. Trước tác của ông bao gồm 40 cuốn tiểu thuyết, 20 tuyển tập truyện ngắn và khoảng vài chục vở kịch cùng với một số bài thơ. Ông là nhà văn 3 lần được coi là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel Văn học. Hà Linh -  Những tác phẩm xuất sắc của Mishima có The Temple of the Golden Pavilion (Ngôi đình tạ bằng vàng -1956), bộ bốn tác phẩm The Sea of Fertility (Biển cả muôn màu - 1965-70)... Mishima sinh năm 1925, con trai của một quan chức chính phủ. Tên thật của ông là Kimitaka Hiraoka. Bố ông vốn không muốn con trai mình đi theo nghiệp văn chương chữ nghĩa nên ông phải đổi tên để viết trộm. Hiraoka được nuôi nấng và trưởng thành dưới sự giám sát chặt chẽ của bà nội. Trong thế chiến II, nhà văn được miễn nghĩa vụ quân sự, ông làm việc trong một nhà máy. Đây là điều khiến Mishima day dứt suốt cuộc đời. Nhà văn cho rằng mình đã sống sót một cách đáng xấu hổ trong khi rất nhiều người khác phải đổ máu ngoài chiến trường. Sau chiến tranh thế giới II, Mishima học luật tại Đại học Hoàng gia Tokyo. Trước khi dấn thân vào sự nghiệp văn chương, ông làm việc một năm trong Bộ Tài chính. Năm 1946, ông gặp gỡ Kawabata Yasunari, người sau đó đã giới thiệu những truyện ngắn đầu tay của ông với một vài tạp chí văn học uy tín. Confessions of a Mask (Lời thú nhận của người đeo mặt nạ - 1949) là tác phẩm đầu tiên ghi lại dấu ấn tên tuổi của Mishima trên văn đàn. Cuốn sách chính là một lối thoát giúp nhà văn giải tỏa những cảm xúc của chính mình khi phát hiện bản thân là người đồng tính. Trong truyện, nhân vật người kể chuyện thú nhận, ông đã phải tự trang bị cho mình một chiếc mặt nạ "bình thường" để tránh sự xoi mói của xã hội. Mishima chịu ảnh hưởng lớn của chủ nghĩa yêu nước trung quân truyền thống và tinh thần võ sĩ đạo samurai của Nhật Bản, tuy ông vẫn diện đồ tây và ở nhà tây. Năm 1968, ông thành lập Hiệp hội Shield (Tate no Kai - Hội lá chắn) - một tổ chức bán quân sự tập hợp khoảng 100 thanh niên trai tráng với mục đích chấn hưng tinh thần võ sĩ đạo Bushido, tán dương chủ nghĩa quốc gia và bảo vệ Hoàng đế Nhật. Không biết do đâu, Hội lá chắn cũng được quyền tham gia huấn luyện cùng quân đội Nhật. Ngày 25/11/1970, ông cùng những người bạn bao vây Cục Phòng vệ Nhật Bản ở Tokyo, bắt giam Tướng Kanetoshi Mashita và xúi giục quân sĩ tiến hành chính biến. Lời thỉnh cầu này của ông gặp sự phản ứng dữ dội của quân đội. Thất bại, tuân thủ tinh thần võ sĩ đạo, ngày 25/11/1970, ông đã tự sát bằng cách tự mổ bụng moi gan theo nghi thức seppuku. Trước khi chết nhà văn còn hô to: "Hoàng đế muôn năm".   Cũng trong ngày cuối cùng của cuộc đời mình, ông giao nốt cho nhà xuất bản những trang viết còn lại của bộ cuốn tiểu thuyết The Sea of Fertility. Cái chết của Mishima được tác giả Christopher Ross miêu tả trong cuốn sách Mishima's Sword (Lưỡi kiếm của Mishima) như sau: "Lưỡi kiếm đã ngập sâu vào khoang bụng cỡ 10 cm, ông ấn lưỡi kiếm chầm chậm từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, mở toác từng lớp da. Máu tràn ra lênh láng trên sàn nhà. Một cuộn nội tạng màu hồng hồng xam xám nhờ nhờ thòi ra từ vết thương. Mùi tanh nồng xông lên khắp căn phòng". Không thanh lịch, không tao nhã, nghi thức chết của Mishima cũng không hề khoa trương. Nhà văn từng gợi ý cho một nhà báo là nên quay lại cảnh ông tự sát. Nhưng họ cũng không chuẩn bị gì trước để đón nhận sự kiện này. Khoảng 2 giờ trước khi tiến hành nghi thức tự sát, ông gọi điện cho hai phóng viên và úp mở với họ rằng: "Có chuyện sắp sửa xảy ra". Cái chết của nhà văn lúc bấy giờ đã gây nên một chấn động dữ dội không chỉ với Nhật Bản mà đặc biệt là đối với người phương Tây. Nhiều học giả phương Tây đã đến Nhật Bản để tìm hiểu ý nghĩa cái chết của ông: Liệu đó là một bức thông điệp chính trị của nhà văn hay là một tác phẩm nghệ thuật cuối cùng của ông theo tinh thần võ sĩ đạo. Cho đến nay, hầu như họ không có được câu trả lời như mong đợi. Người dân Nhật hiện đại ngày nay coi cái chết phi thường của nhà văn là vô nghĩa, là "ngớ ngẩn" và "không đáng". Tác giả của cuốn sách Mishima's Sword - Christopher Ross - kể: Trong một lần Ross đang ngồi đọc các tác phẩm của Mishima trong một hàng cà phê sách, một nhân viên cửa hàng bảo ông: "Mishima là quá khứ, không phải là hiện tại và càng không phải là tương lai". Dẫu vậy, Yukio Mishima vẫn là một tên tuổi quan trọng trên văn đàn Nhật thế kỷ 20. *** Rodder lao ra ngoài, tay cầm súng lục. Ambler muốn lên tiếng cảnh báo đồng bọn, nhưng muộn rồi: Justus đập cho gã đàn ông một đòn chí mạng. Rodder ngã văng khỏi lan-can và đập mạnh thân hình xuống nước. Hài lòng, Justus theo những bậc thang trèo lên. - Bây giờ đến lượt các người đi tắm! - cậu nói lớn rồi cười. Nhưng chẳng còn mấy thời gian để mà tận hưởng mùi vị chiến thắng, việc đầu tiên là phải giúp Sandy và Bob trèo lên tàu, sau đó lao xuống cabin giải phóng cho Peter. Rodder bận bịu với việc giữ cho Ambler ngoi được cổ lên trên mặt nước. Khẩu súng lục của gã bây giờ nằm thật chắc chắn dưới đáy biển. - Kéo bọn tao lên tàu ngay lập tức, - Rodder ra lệnh. - Lũ chuột cống nhà chúng mầy! Bob lắc đầu, nhưng cũng ném cho Rodder và Ambler hai chiếc phao cứu hộ. Chầm chậm, con tàu bị gió và những dòng nước cuốn dần ra phía biển. Justus lại bước ra ngoài, đi sát phía sau là Peter. Hãnh diện, Thám tử phó cầm " người đẹp Helena" trong tay. - Cảm ơn các bạn, - Cậu nói rồi giơ bức tượng cho nó lóng lánh trong ánh nắng. - Cha, Rodder, gió lại xoay chiều rất nhanh! Rodder buông ra một câu chửi tục, trong khi Ambler loay hoay với chiếc phao cứu hộ. Thất bình tĩnh, Sandy vởi bộ chân nhái của cô. - Bây giờ mình sẽ gọi điện đàm cho cảnh sát, - cô gái nói. - Mình biết sử dụng loại máy đó. Justus gật đầu với cô. - Bạn bảo họ mang theo một cái lưới đánh cá, - cậu nói. - Bọn ta vừa bắt được cả hai con cá to sù. - Cậu ngồi xuống bên mép tàu, để cho hai chân thõng xuống, đu đưa nhè nhẹ. - Cái phương pháp đánh lạc hướng bằng thư gửi đã được ông phát triển nên từ thời còn ở New York, ông Rodder. Nó cũng có phần nhắm chứng tỏ là mình tài năng hơn cảnh sát, những người đã đuổi việc ông. Và chắc vì vậy mà ông cũng sữ dụng mặt nạ chó sói: ông có cảm giác như mình là một con chó sói bị đuổi ra khỏi đàn. Rodder ném cho cậu một cái nhìn huỷ diệt, nhưng chỉ giúp cho Justus nhận rõ là cậu phỏng đoán đúng. - lẽ ra chúng tôi phải nghĩ đến sớm hơn mới phải, - Peter bổ sung. Cậu ngồi xuống bên cạnh Justus. - Theo tắc thì kể cả hai tội phạm đầu tiên, vụ ăn trộm ở cửa hàng Outdoor World và vụ ăn trộm súng bắn tỉa cũng như những lời trích dẫn tứ bài hát đều chỉ nhằm hướng chúng tôi về phía lý thuyết của một vụ ám sát tổng thống. Đấy là hoàn toàn chưa kể đến cái mặt nạ tổng thống kia. Ambler, kẻ vừa chui được người vào giữa chiếc phao cứu hộ, giờ lên tiếng ngắt lời Peter. - Nhưng để tìm ra được lời của bài hát đó, bọn nhóc các cậu cũng phải cần rất nhiều thời gian! - Nhưng vẫn còn nhanh hơn là cảnh sát, - Bob chen vào. - Nhanh hơn cả các chuyên viên tâm lý. Justus cởi chiếc áo lặn ra. Bài báo mà cậu luôn mang trong người bây giờ ướt sũng, dán sát vào da thịt. Thận trọng, cậu gỡ mảnh giấy ra, nhưng lại ngay lập tức bóp nát nó. - Đáng tiếc, - Justus nói. - Giờ tôi không thể cho hai người xem được nữa. Đây là một bức ảnh rất thú vị, anh Ambler. Nó cho thấy anh đã quen ông Rodder từ thời còn ở New York, chắc là thời anh học đại học. Anh đã mê mẩn gã tội phạm kia. kể từ vụ nầy anh muốn kết hợp hai mục đích với nhau. Thứ nhất là vụ ăn trộm bức tượng và thứ hai… tại sao anh không ngửi được chị Harding, Ambler? - Cô ta cuỗm mất chỗ của tôi, - Ambler kêu lên và đạp chân, muốn lại gần con tàu thêm một chút. - Lẽ ra tôi là người nhận được công việc tại Los Angeles. Nhưng rồi đột ngột xuất hiện cái con bé hỉ mũi chưa sạch đó, mới từ trường đại học ra, và ngồi ngay xuống trước mặt tôi. Còn cái tay Cotta nhà các cậu lại chính là kẻ viết thư giới thiệu nó! - Tôi cũng đã đoán như vậy. - Justus gật đầu. - Và anh biết là chị Harding đã làm bài tốt nghiệp về vụ ám sát tổng thống Kennedy. Vì thế mà anh viết những bức thư theo hướng nầy. Nữ chuyên viên tâm lý từ đó không còn nghĩ được đến một thứ gì khác ngoài một vụ ám sát tổng thống. Bản thân chuyên viên tâm lý Harding trong vụ nầy cũng bị đẩy vào một góc tranh tối tranh sáng. Đối với anh, Ambler, dĩ nhiên là một thắng lợi bổ sung. Tôi cũng phải công nhận rằng đến cả bản thân tôi cũng đã có ý nghi ngờ chị Harding. - Có thế chứ, - Ambler nói. - Ta đã khoái trá khôn tả khi nhìn hai con gà trống choai chọi với nhau. Một trận chiến cạnh tranh thật sự! - Nhưng mà chúng tôi có ba người, - Peter lên tiếng sau một cái liếc xéo về phía Justus. - Anh Ambler, làm thế nào mà anh ăn cắp được khẩu súng của cảnh sát? Trò leo tường bình thường ra vốn là đặc sản của Rodder? - Cái đó các cậu phải tìm ra thôi, các cậu thông minh lắm kia mà, - Ambler kêu lên. - Không thành vấn đề! - Justus thẳng lưng dậy. - Anh đâu có vào phòng qua đường cửa sổ. Chỉ giả bộ thế thôi. Anh muốn tô đắp thêm cho cái huyền thoại Mặt Chó Sói. Mãi sau nầy tôi mới hiểu ra. Những miếng kính cửa sổ nằm không đúng chỗ! Anh Ambler, anh đã mở cửa sổ từ phía trong phòng rồi sau đó mới đập vỡ kính. Những miếng kính vỡ đó nằm sát chân tường! - Đúng, đúng, phải! - Ambler mỗi lúc một bực bội hơn. - Bây giờ cho tôi lên. Tôi không ở dưới nầy lâu hơn được nữa! - Thế bằng cách nào mà anh vào được phòng đựng vũ khí? - Peter hỏi, không thèm để ý đến lời đề nghị của đối phương. - Chỉ là cái trò ăn cắp cỏn con thôi, - Ambler uể oải nói. - Tôi đã rút chiếc chìa khoá của tay hạ sĩ trực rồi lại kịp thời đút lại chỗ cũ. Đoạn dây đã được tôi buộc từ trên nóc nhà thõng xuống dưới từ trước. Bob nhận thấy cả đám mỗi lúc một bị cuốn ra xa bờ hơn. - Để mình ném mỏ neo xuống, - cậu nói. Justus gật đầu. Bob giơ cao mỏ neo và ném nó qua thành tàu. Vài giây đồng hồ sau, con tàu rùng mình nhẹ. Bây giờ nó nằm yên. - Ra là bọn mày biết tất cả, - Rodder kêu lên. - Thế bây giờ tao có thể hỏi chút được không? Nầy cái thằng béo lắm lời kia, tại sao mà mày lại chui vào cửa hàng của ông Laurent? Toàn bộ chuyện chó chết nầy khởi đầu từ đó! - Chút nữa đã, Rodder, tôi còn chưa hỏi hết! - Peter, Bob và Sandy nhìn Justus đầy khấp khởi. Cậu nói tiếp. - Tôi nghĩ là tiện thể ở đây, ta có thể giải thích luôn cả một câu chuyện khác nữa, Rodder. Đi cùng với " người đẹp Helena" là bức tượng của hoàng tử Paris, bức tượng đã biến mất cách đây vài năm. Cho tới nay chưa có ai nghi ngờ là ông có liên quan tới vụ ăn trộm đó! Nhưng thủ phạm cũng chính là ông, Rodder! Qua ánh mắt ngạc nhiên của Mặt Chó Sói, Justus thấy rõ: cậu vừa bắn trúng hồng tâm. - Đúng thế, cú điện thoại ban nãy của ông đã khiến tôi nghĩ đến khả năng nầy. Ông đã xoáy Paris trước đây vài năm. Và bây giờ ông muốn bán thêm cho nhà sưu tầm tư nhân giàu có của mình cả bức tượng quý báu thứ hai, người đẹp Helena. Cho một giá tiền đặt trước không nhỏ, ông lại một lần nữa lao vào trò ăn cắp! - Làm sao mà mày biết đó là một nhà sưu tầm tư nhân? - Rodder kêu lên, tiếng kêu đồng thời cũng là lời công nhận. - Chắc chắn phải là một người tư nhân, Mặt Chó Sói, - Justus trả lời. - Mà là một người có rất nhiều tiền. Người ta không thể bán những bức tượng đó ở thị trường tự do. Chuyên gia nào cũng biết chúng. Rodder đầu hàng. - Bọn mày thông minh thật đấy, mấy thằng nhóc! Đó là một người đàn ông giàu có trong ngành làm phim, nhưng tao thậm chí chưa biết tên ông ấy. Thế, bây giờ cho bọn tao lên tàu đi! Sandy trỏ về phía bờ biển, nơi có một con tàu cảnh sát đang lại gần. - Cha, - Justus chuyển sang lời kết luận. - Cái chuyến du lịch dễ chịu của hai người vậy là không thành rồi. Chắc là cú ăn trộm nầy sẽ mang lại đủ tiền để cả hai người sống thoải mái cho đến cuối đời? Hơn nữa vụ ăn trộm bức tượng Paris chắc chắn cũng còn để lại một vài dollar. - Đúng thế!, - Rodder gầm lên. - Và chuyện thối nhất là để cho lũ nhóc con bọn mầy chen vào giữa. Tất cả là lỗi của Scott! - gã nhìn Ambler, kẻ vẫn đang tiếp tục vùng vẫy bên cái phao cứu hộ. - Bây giờ mày vẫn còn tin đám nhóc con nầy là một luồng gió mát chứ? Ambler phun ra một ngụm nước biển, không nói nửa lời. Gã ta quá mệt, không còn sức đâu mà cãi cọ. Justus lại lật cho đoạn thang chĩa xuống nước. Con tàu cảnh sát bây giờ đã đến rất gần. Cậu thấy rõ thanh tra Cotta đứng trên boong. Chị Hannah Harding đứng cạnh ông và vẫy tay về phía họ. ... Mời các bạn đón đọc Mặt Chó Sói của tác giả Mishima Yukio.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chiếc Ôm Từ Vệt Gió Quỷ - Lynk Boo
Gió Qủy...xuất hiện và biến đi trong chớp mắt. Sự quyến rũ đáng sợ này...chỉ có Gió Qủy mới đem tới. Là gió , cuốn đi mọi thứ, đem nhấn tất cả vào dòng xoáy...Là gió, nhẹ nhàng, thanh thoát và có bản chất của quỉ... Là gió, thứ vô hình đẹp đẽ nhưng không sao chạm vào được, lại tàn bạo đến mức chỉ khiến người ta chỉ muốn trốn chạy ... Có phải sự mâu thuẫn này khiến Gió Qủy càng thêm mê hoặc ? *** Quỳ xuống…Cột dây giày thật chặt và bắt đầu…chạy. Đông Vy bặm môi lao thật nhanh về phía trước, gió hất tung đám tóc lòa xòa, tiếng giày nện mạnh trên vỉa hè đầy nắng. Vài ngọn gió cuốn lá khô ném vào nắp cống .Vài người đi đường suýt bị cô gái nhỏ đâm sầm vào. Một tích tắc không để ý khiến cú nhấc chân của Đông Vy rơi ngay vào vũng nước còn đọng lại sau trận mưa lớn ban sáng. Cô gái nhỏ sững sờ khi thấy váy đồng phục phút chốc đã lấm những vệt nâu ẩm ướt. Ngày quái đản gì đây ! Ngủ muộn, lạc đường, lên nhầm bus…Đông Vy tức giận dậm mạnh chân khiến nước văng lên cao , đáp thật êm lên chiếc áo trắng tinh có phần nhăn nheo. Hay rồi…Với bộ dạng Lọ lem tèm nhem này, cô sẽ bị ném ra khỏi học viện danh giá kia mất ! Đông Vy lắc lắc đầu để những suy nghĩ tiêu cực kia rơi khỏi bộ não, Trung Anh sẽ không vì lí do trang phục nhếch nhác mà đuổi học cô nhưng có lẽ cô sẽ nhận được sự bài xích , khinh rẻ từ đám công tử, tiểu thư trong đấy… Cô gái nhỏ vừa ngán ngẩm vừa buồn bã, tâm trạng nặng nề kéo những bước chân của cô trở nên chậm dần…chậm dần …và đứng yên một chỗ… Vẫn mang dáng vẻ thẫn thờ đó cho đến khi thoáng thấy phía xa chiếc xe bus hai tầng đã tấp vào bến chờ. ... Mời các bạn đón đọc Chiếc Ôm Từ Vệt Gió Qủy của tác giả Lynk Boo.
Những Phiên Bản Nằm Nghiêng - Yến Linh
Những phiên bản nằm nghiêng giống như tự truyện của nhân vật Tôi. Tôi khi ấy vừa tròn 20 tuổi, đang là sinh viên năm thứ hai tại một thành phố lớn, yêu và sống cùng bạn trai tên V. Họ yêu nhau, nhưng cả hai chẳng thể bù đắp nổi khoảng trống và những vết thương lòng quá lớn trong mỗi người. Những bí mật về quá khứ tăm tối, ảm đạm, u buồn, những bi kịch gia đình hay cơ thể ốm đau bệnh tật của mình, cô tìm sự sẻ chia qua người bạn từ thời phổ thông tên N. N đã chọn cho mình một cuộc sống không dễ dàng - làm điếm, cũng giống như mẹ N - người đàn bà chỉ biết chạy theo những cuộc tình và gần như đã quên hẳn mình còn ba đứa con gái cùng mẹ khác cha của mình cần được quan tâm, chăm sóc. Dưới lớp son phấn, đôi mắt N luôn buồn thăm thẳm, nhưng đó là cuộc sống cô đã lựa chọn.   Tình yêu đầu của N đã bị chính mẹ N cướp mất, niềm tin sụp đổ, cô không còn sống mà chỉ là tồn tại, ngày qua ngày. Làm bạn với Tôi đối với N là một niềm an ủi, bởi vậy N không muốn nhân vật Tôi sống cuộc sống như cô. Tôi chấp nhận điều đó, bắt đầu cuộc sống như một sinh viên bình thường, dưới sự bảo bọc của N, như thể cô đang sống cho một phiên bản khác của N, và cả của chính cô nữa.   Và cô gặp V, yêu V như thể V là người sinh ra để cho cô yêu thương, chăm sóc. V cũng là người có hoàn cảnh đáng thương, cha mẹ bỏ đi tìm kế sinh nhai ở nơi khác và đều thiệt mạng. Nhưng tâm hồn anh không có những góc khuất, không có những ẩn ức như cô. Anh suy nghĩ đơn giản, thẳng thắn và hồn nhiên. Ở anh không có CON QUỶ DỮ giống như bên trong con người cô đã và đang tồn tại. Con quỷ dữ vẫn hành hạ, trêu ngươi và sống cùng cô biết bao năm tháng qua. Con quỷ dữ đã từng đánh lũ bạn cùng trường khi tụi nó dám lấy đứa em trai bệnh tật của cô ra làm trò đùa, con quỷ dữ đã từng hả hê khi thấy mẹ cô giáng một đòn váo gáy cha cô, chấm dứt những âm thanh kẽo cọt rên rỉ của chiếc giường nơi cha cô vẫn đè nghiến mẹ cô ra khi trở về nhà trong những cơn say rượu... Con quỷ đó luôn tồn tại và lớn dần trong con người ốm yếu bệnh tật của cô. Cô luôn giấu V những hộp thuốc, luôn giả bộ có những kì kinh nguyệt đều đặn – thứ cô đã chờ đợi từ hồi mười lăm tuổi, thứ cô luôn ao ước được chạm vào. Cô không thể làm vợ, làm mẹ.   Cuối cùng, khi xếp hành lý cho V đi công tác dài ngày, cô cũng xếp luôn hành lý cho mình. Hứa với V rằng sẽ quay trở lại, nhưng cô biết đây là nụ hôn cuối cùng dành cho V, cô đi tìm kiếm thứ mình đã mất. Cô quay lại những nơi trước kia đã từng đến và bỏ đi cùng cha mẹ, cô đi tìm cha. Cô muốn nói với cha những điều bấy lâu nay cô cất giữ trong lòng, thay vì chỉ viết những lá thư và đốt như trước nữa. Trong ánh hoàng hôn, khi mơ hồ nhìn thấy bóng hình cha ngồi trên chiếc ghế bành gần cửa sổ, cô như chết lặng, cô muốn nguyền rủa, kết tội cha, nhưng cô không làm được. Cô tin cha sẽ không bỏ mặc mình thêm lần nữa. Nhưng khi chiếc ghế bành xoay lại, rỗng không. Mọi thứ đều biến mất, ngôi nhà, chiếc ghế, khung cửa, ánh hoàng hôn, chỉ còn một mình cô với không gian trơ trọi ấy. Cô biết mình đã đi hết cuộc hành trình, cô khóc, cuối cùng cô đã khóc được, cô đã có thể thật sự sống, như chính bản thân mình, chứ không còn là một phiên bản nằm nghiêng nữa.  *** Hình như tôi đã tỉnh trong cơn mê. Mấy viên thuốc an thần uống vào tối qua không đem lại cho tôi giấc ngủ mong đợi. Chưa bao giờ chúng đem đến cho tôi giấc ngủ. Giấc ngủ tôi mọi đêm là khối tròn di chuyển trên sợi dây cước mỏng manh, treo ngang vực thẳm cheo leo. Khối tròn di chuyển được những xen-ti-mét đầu tiên, chúng sẽ trượt ngã. Rồi ở những xen-ti-mét tiếp theo cũng không khác đi. Vốn dĩ chúng không phải là những diễn viên xiếc đi trên dây chuyên nghiệp. Không ai biết khi trượt ngã, vực thẳm sẽ đón nhận chúng bằng những thứ gì? Chập chờn giữa tỉnh và mê, tôi đưa tay lay gọi V. Ánh đèn ngủ màu lam nhạt soi sáng góc ngủ. Không biết vì sao con cá sấu xanh lại nằm giữa chúng tôi. Tiếng quạt chạy đều đều. V vẫn còn ngủ. Thường tôi phải lay gọi nhiều lần V mới tỉnh giấc được. Công việc mỗi ngày kéo dài đến hơn mười giờ đêm vắt kiệt cơ thể anh. V thức giấc, khuôn mặt ngái ngủ nhìn tôi cười. Nụ cười để lộ hai chiếc răng cửa trẻ con to cộ không ăn nhập gì với những đường nét trên khuôn mặt. Anh sẽ đưa tay choàng qua người tôi, kéo tôi về phía anh. Mùi cơ thể đàn ông ập vào mũi. Da thịt mát lạnh hòa vào nhau. Thi thoảng, tôi sẽ đưa mũi khịt khịt với phát hiện rằng đêm qua V không tắm. Anh sẽ cười nụ cười biết lỗi của trẻ con. - Đêm qua anh về muộn, bị mưa ướt, lạnh buốt, không đủ can đảm để tắm. Tí nữa anh sẽ tắm mà. *** Mời các bạn đón đọc Những Phiên Bản Nằm Nghiêng của tác giả Yến Linh.
Phút Dành Cho Con - Kent Nerburn
“Phút dành cho con” là một quyển sách có thể giúp tất cả những cậu con trai xây dựng cuộc đời và là một quyển sách mà bất cứ một ông bố tận tụy nào cũng có thể tự hào khi mang tặng con trai mình.” — AMERICAN BOOKSELLER “Phút dành cho con” được tác giả Kent Nerburn viết dành tặng con trai của mình, đồng thời cũng là những thông điệp sống hữu ích và cần thiết cho tất cả chúng ta. Đây là tác phẩm được viết bằng một phong cách tuyệt vời với sự thông thái ẩn chứa trong mỗi trang sách. Với niềm yêu thương con dạt dào, với những trải nghiệm nhất định về cuộc sống, tác giả đã dành tặng cho con trai mình những lời khuyên hữu ích thông qua cuốn sách. Quá trình trưởng thành của một người đàn ông cũng như mọi vấn đề của cuộc sống được tác giả nhìn nhận sâu xát và chân thực qua những lời khuyên dành cho con trai mình. Mỗi lá thư mang một chủ đề khác nhau: Tri thức - học hành; Tiền bạc và sự giàu có; Bi kịch và nỗi đau; Giá trị của tình bạn, tình yêu; cả những vấn đề mà một người đàn ông trưởng thành cần quan tâm như Bí ẩn của Tình dục, Ma túy và rượu bia, Hôn nhân v.v… đều được nhìn nhận và chia sẻ chân thành. Trong cuốn sách này, ta có thể thấy tác giả ngoài việc đề cập đến những kỹ năng và trải nghiệm của mình: tình yêu dành cho ngôn ngữ, niềm tin vào tầm nhìn tiến bộ của loài người, sự phức tạp của những nỗi sợ hãi còn là sự chia sẻ niềm tin cuộc sống, về điều kỳ diệu của tình yêu, của nghệ thuật, của những chuyến du hành… Những thông điệp nhẹ nhàng nhưng sâu sắc được nhắn nhủ, được kể lại qua những câu chuyện thú vị. Một cuốn sách hay với giọng văn sâu sắc, đầy chất thơ rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm, học hỏi và dành tặng cho cậu con trai yêu quý của mình! Sách được biên dịch từ cuốn sách Letters to my son của tác giả, Tiến sĩ Kent Nerburn, do First News thực hiện. *** Cha viết cuốn sách này với tư cách một người cha. Con sẽ không hiểu được điều này có ý nghĩa như thế nào cho đến khi con cũng có con trai. Con chưa thấy được niềm vui và tình yêu vô bờ đằng sau trái tim của một người cha khi nhìn đứa con trai của mình. Con cũng chưa hiểu được niềm hân hoan tột cùng đã khiến một người đàn ông muốn vượt qua bản thân để có thể đặt vào tay con trai mình những điều tốt đẹp và hy vọng nhất. Trở thành một người cha là đặc ân đồng thời cũng là một gánh nặng. Có những điều mà một đứa con trai phải được tiếp nhận từ chính người cha của mình, nếu không thì nó sẽ chẳng bao giờ được hướng dẫn một cách rõ ràng. Đó là những cảm nhận về tuổi trưởng thành, giá trị của bản thân và trách nhiệm với thế giới xung quanh. Nhưng mà, làm sao để truyền đạt những điều này bằng ngôn ngữ? Chúng ta đang sống ở thời điểm thật khó để bộc lộ những lời nói xuất phát từ trái tim. Cuộc sống của ta đang bị vô vàn những điều tầm thường che lấp, những nghĩ suy và lo toan cơm áo đời thường đã làm mất đi những khoảng lặng trong tâm hồn. Vì vậy, cha phải nói thật với con điều này. Cha không có lời giải cho tất cả những thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Nhưng cha hiểu những thách thức này. Khi cha nhìn con chiến đấu, khám phá và nỗ lực tiến lên phía trước, cha như thấy hình ảnh mình đang được phản chiếu trong đôi mắt và những gì con đang trải nghiệm. Cha cũng như con, phải học cách để đi, để chạy, cả để vấp ngã. Cha cũng có mối tình đầu. Cha đã trải qua cảm giác sợ hãi, tức giận cũng như phiền muộn, và có nhiều lúc cha đã thấy ấm áp khi bàn tay ai đó đang đặt lên vai mình. Cha cũng đã từng rơi những giọt nước mắt cho niềm vui và cho cả nỗi buồn. Cha đã từng trải qua cảm giác cô độc trước cuộc sống và không thiếu những khoảnh khắc muốn bùng cơn thịnh nộ. Có những lúc cha cảm thấy mình không còn đủ sức để bước tiếp trên cuộc đời, cha bước qua mọi người một cách hờ hững, ngay cả với những người đang cần cha giúp đỡ. Nhiều lúc cha thấy mình làm được nhiều điều hơn mình được yêu cầu, nhưng cũng có lúc cha cảm thấy mình là một kẻ bất tài và thua cuộc. Dường như trong cha vừa có ánh sáng của sự vĩ đại đồng thời cũng có bóng tối của những tội ác lương tâm. Bởi vì, cha cũng là một người đàn ông, giống như con vậy. Mặt trời sẽ chiếu sáng trên đầu con giống như nó đã chiếu trên đầu cha, và những bài học trong cuộc sống sẽ đến với con giống như đã đến với cha, mặc dù con đường phía trước và thời gian phía trước của cha và con không như nhau. Và đó là những điều cuốn sách này sẽ đề cập đến. Cha muốn thông qua cuốn sách này mang đến cho con những bài học cha đã trải qua, nhờ đó con sẽ áp dụng được cho cuộc sống của mình. Nhưng nó không có nghĩa là con sẽ giống cha. Cha thật sự hạnh phúc nếu con được là chính con. Thời gian sẽ mang đến sự thật, và sự thật thì luôn vĩ đại hơn bất kỳ điều gì trên thế giới này. Trở thành cha của con là niềm vinh hạnh lớn nhất trong cuộc đời cha. Trong phút chốc cha cảm thấy như mình đã chạm tay vào những điều thần bí, và nó khiến cha thấy tình yêu đang ngày một mênh mông hơn. Nếu cha chỉ có một điều ước, cha ước mong con sẽ mang theo tình yêu đó bên mình. Cuộc sống này còn cần gì hơn thế? *** Mời các bạn đón đọc tác phẩm Phút Dành Cho Con của tác giả Kent Nerburn.
Số 31 Đường Giấc Mơ - Lisa Jewell
Một cuốn sách đem lại sự tự tin, tình yêu và cuộc sống. Nhiều năm nay, Leah và Toby sống cách nhau một con đường mà chưa hề chạm mặt nhau bao giờ… và Leah cực kỳ muốn nhìn trộm vào đằng sau cánh cửa ngôi nhà lập dị của Toby, nơi toàn những người thuê nhà kỳ quặc nhưng thú vị sinh sống. Cuối cùng, khi định mệnh mở cửa cho Leah bước vào ngôi nhà, cô ngạc nhiên nhận ra là có lẽ mình cũng cần Toby không kém gì Toby cần cô. Đôi lúc cuộc sống cần đến sự trợ giúp và với sự mơ mộng thấp thoáng cùng sức lôi cuốn đặc biệt, những giấc mơ của Toby và Leah đã có cơ may trở thành sự thật. Số 31 Đường Giấc Mơ - 31 Dream Street là cuốn tiểu thuyết sâu sắc, ấm áp đến diệu kỳ sẽ mê hoặc và làm tâm hồn bạn thấy bình yên. *** Thông tin tác giả: Lisa Jewell sinh năm 1968 tại London, là một trong những tác giả thành công của thể loại chicklit ở Anh. Tác phẩm tiêu biểu: Ralph's Party, Thirtynothing, After The Party, 31 Dream Street… Giải thưởng: giải Melissa Nathan Award For Comedy Romance (2008) dành cho cuốn 31 Dream Street. Lisa lớn lên ở miệt trên mạn bắc London cùng hai em gái, từng học và làm nhiều chuyên ngành khác nhau: ngành nghệ thuật tại Barnet College (2 năm), trong hai năm, ngành Minh họa thời trang và Truyền thông tại Epsom School of Art & Design (2 năm). Cô từng làm trợ lý PR trong 3 năm cho thương hiệu thời trang Warehouse; làm lễ tân và trợ lý giám đốc tại cửa hàng chính đóng trên đường Jermyn của nhãn hàng sơ mi cao cấp Thomas Pink trong bốn năm. Lisa viết tiểu thuyết đầu tay Ralph's Party năm 1996 vì lý do đánh cuộc. Tác phẩm được hoàn thành năm 1997 và được NXB Penguin xuất bản vào tháng 5.1998, trở thành tiểu thuyết đầu tay bán chạy nhất trong năm. Từ đó đến nay cô đã 11 tiểu thuyết và đều ở list sách bán chạy. Hiện cô đang sống ở Swiss Cottage, bắc London với chồng, Jascha, một tư vấn viên IT, hai con gái Amelie và Evie, cùng hai con mèo mướp màu ánh bạc, Jack và Milly. *** Leah nhìn qua khe hở giữa hai tấm rèm để nhìn ngôi nhà đối diện bên đường. Tách biệt với hàng xóm láng giềng cả bởi vị trí và diện mạo, số 31 đường Thợ Bạc là một ngôi nhà kỳ dị đứng lẻ loi. Ngôi nhà ba tầng được cặp vợ chồng người thợ bạc về hưu xây cách đây một trăm năm mươi năm trên một mảnh đất được họ chọn lựa bởi từ đó có thể thưởng ngoạn toàn bộ quang cảnh nông thôn vùng Hertfordshire. Để tận hưởng cảnh quan, họ đã đặt làm một hàng hiên bằng sắt uốn cầu kỳ bao lấy toàn bộ tầng một của ngôi nhà. Ngày nay, ai đó ngồi ở hiên nhà chả còn thưởng thức được gì hơn ngoài mấy khoảnh vườn của những ngôi nhà nông thôn tầm thường thời Victoria ngay đối diện, và tiếp sau đó là mấy tầng phía trên của ba khối nhà cao tầng thô thiển, mọc lên giữa hoang dại của vùng Enfield. Vợ chồng người thợ bạc, một cặp lập dị, đã chọn trang trí phía ngoài căn nhà bằng những thứ gạch men màu sắc rực rỡ mà họ thu thập ở các chợ trời trong những chuyến du lịch khắp nơi trên thế giới. Hai bên cửa chính có ốp gạch trang trí hình chim công, và vì vậy ngôi nhà được dân địa phương gọi một cách không chính thức là Nhà Chim Công. Thực tế là, để mô tả cho mọi người biết chính xác cô sống ở đâu tại East Finchley, Leah thường nói rằng – bạn biết đấy, ngay đối diện với Nhà Chim Công. *** Mời các bạn đón đọc cuốn tiểu thuyết Số 31 Đường Giấc Mơ của tác giả Lisa Jewell.