Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cậu Tú - Jules Vallès

Tập II Cậu Tú chủ yếu kể lại cuộc kiếm sống chật vật của Jăc Vanhtrax ở Pari, do đó một mặt Juyn Valex vẽ lên một bức tranh khá sinh động về xã hội Pari, mặt khác ông vạch ra bước đầu đi vào hoạt động chính trị của Jăc Vanhtrax mà cũng là của bản thân ông. Chắc chẳn là khi viết về cuộc sống chật vật của Jăc Vanhtrax ở Pari, Juyn Valex đã liên hệ với cuộc sống ở Pari của những Raxtinhăc, Ruybemprê trong Tấn trò đời mà Jăc Vanhtrax gọi là những người “anh em về tham vọng và lo âu của mình”. Nhưng cái xã hội Pari của Juyn Valex có khác cái xã hội Pari của Banzăc, là vì tham vọng của Ruybeniprô, một kẻ muốn vươn tới danh vọng và giàu sang, có khác tham vọng của Jăc Vanhtrax, một kẻ bất bình muốn chống lại bất công xã hội. Ở đây hầu như vắng bóng những quý tộc hay tư sản hãnh tiến, cùng với những cảnh ăn chơi đàng điếm, xa hoa, mà phần nhiều là nhân dân lao động, là sinh viên, và nhất là những người làm chính trị, trong đó nổi bật lên nhân vật Matutxanh, một điển hình chính khách tài tử. Không khí chính trị ở đây đậm nét hơn, căng hơn trong Vỡ mộng chẳng hạn, vì là không khí sau những ngày tháng Sáu 1848, sau cuộc đảo chính 1852 của tên độc tài Napôlêông III. Cái xã hội đó, cái không khí đó đã chuyển Jăc Vanhtrax từ cái chí hướng muốn làm thợ đến chỗ dứt khoát trở thành “người chỉ huy những kẻ mặc áo rơđanhgốt (trí thức) xếp thành hàng ngũ chiến đấu bên cạnh những kẻ mặc áo bludơ (công nhân)”, đúng như lời khuyên của người công nhân già Pari mà Jăc Vanhtrax đã gặp buổi đầu khi mới bước chân tới Pari. *** Juyn Valex (Jules Vallès) là một nhà văn lớn mà cũng là một chiến sĩ kiên cường của Công xã Pari. Ông sinh năm 1832 ở thị trấn Puy (xứ Ôvecnhơ) nước Pháp và mất năm 1885 tại Pari. Xuất, thân từ một gia đình công chức, Juyn Valex ngay từ thuở bé đã là nạn nhân của một nền giáo dục gia đình khắc nghiệt cũng như một nền giáo dục nhà trường sai lầm. Cha ông làm giám thị, sau làm giáo sư trung học, tuy cũng thương con, nhưng lại là một người nhút nhát, luôn luôn lo sợ cho chức vụ của mình, do đó mà sinh ra khắc nghiệt với con, thậm chí có lần, để khỏi bị liên lụy, đã cho giam con vào một nhà thương điên sau khi Juyn Valex tham gia vào một vụ chống đối cuộc đảo chính của Napôlêông thứ III. Mẹ Juyn Valex xuất thân từ nông dân nhưng có tư tưởng hãnh tiến, học làm sang, muốn cho con làm nên danh giá, và, vì không được toại nguyện, nên trút cả nỗi cay đắng lên đầu con, roi vọt hành hạ con đến tàn nhẫn. Một mặt khác, cha Juyu Valex muốn cho con trở thành giáo sư, nhưng cậu học sinh Juyn Valex, qua tấm gương của bố, đã chán ngấy cái cảnh nhà trường do bọn phản động công giáo thời Đế chính thứ II lũng đoạn, ở đó các giáo sư vừa quỵ lụy, khúm núm trước hiệu trưởng và cấp trên, lại vừa hành hạ học trò bằng đòn và phạt, ở đó người ta dạy cho thanh niên một kiểu học tầm chương trích cú, nô lệ sách cũ người xưa, xa rời thực tế. Chính cái giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường sai lầm, tàn nhẫn ấy đã tác động mạnh tới cậu bé Juyn Valex đa cảm và sớm biến cậu thành một kẻ bất bình, môt con người nổi loạn. *** Nhưng con người bất bình ấy đã trở nên một chiến sĩ cách mạng kiên cường, thì lại là do hoàn cảnh xã hội nước Pháp lúc bấy giờ. Khi Juyn Valex sinh ra thì phong trào công nhân Pháp bắt đầu lên mạnh với công cuộc công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa bắt đầu ở nước Pháp trong những năm 30 thế kỷ XIX, và nó được đánh dấu bằng những cuộc đấu tranh và khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (1831, 1834) và ở Pari (1832, 1834). Song giai cấp công nhân Pháp chỉ có thể trưởng thành sau khi nó đã dứt bỏ được mọi ràng buộc với giai cấp tư sản để lần đầu tiên, đứng lên như một lực lượng chính trị độc lập, trực diện đấu tranh chống giai cấp tư sản vào tháng Sáu năm 1848. Và chính là phải trải qua những ngày tháng Sáu đẫm máu ấy nó mới bước đầu rũ bỏ được ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, của mọi thứ“chủ nghĩa xã hội tư sản và tiểu tư sản”. Tuy nhiên, những năm liền sau khi cách mạng 1848 thất bại ở châu Âu nói chung, chính là “thời đại - như Lênin đã nói,- mà tinh thần cách mạng của phái dân chủ tư sản đã suy vong rồi (ở châu Âu), trong khi đó thì tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa chưa tới lúc già dặn” [1] . Riêng ở nước Pháp, trong thời kỳ đầu của nền Đế chính thứ II tối phản động thiết lập từ tháng Chạp 1852, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân bị lắng xuống cho mãi tới những năm 60 nó mới được phục hồi. Và với sự thành lập Chi nhánh Pháp Quốc tế thứ nhất năm 1866, một thời kỳ bão táp cách mạng mới lại mở ra để đến khi giai cấp tư sản thống trị, dưới nhãn hiệu Chính phủ Quốc phòng, đầu hàng quân xâm lược Phổ (tháng Giêng 1871), thì nó lên tới đỉnh cao với phong trào Công xã Pari thiết lập nền chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới trong bảy mươi hai ngày (18 tháng 3 đến 28 tháng 5 năm 1871). *** Juyn Valex sinh ra và lớn lên trong cái hoàn cảnh lịch sử xã hội như thế đó. Thị trấn quê hương ông ở sát cạnh những trung tâm công nghiệp như Xanh-Êchiên (nơi mà cha ông đã từng tới dạy học một thời kỳ), như Lyông, nên không khỏi nhận được âm vang mạnh mẽ của những làn sóng đấu tranh của giai cấp công nhân. Và chàng trai có chí hướng muốn làm thợ đó đã từng đi đầu trong đám thanh niên cộng hòa khi nổ ra cuộc Cách mạng tháng Hai 1848. Sau đó, khi được gia đình gửi lên Pari theo học, Juyn Vanlex, sống nghèo khổ ở thủ đô, lại đã sớm tiếp xúc với phong trào cách mạng trên mảnh đất chôn nhau của cách mạng. “Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng. Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến cha Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng. Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa thét lên là bà Vêlô làm nhân dân đói, và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi... ... Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!” Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không làm kinh động trái tim tôi”. [2] Juyn Valex đã kể lại như thế cuộc tiếp xúc đầu tiên của mình với phong trào cách mạng Pari qua một cuốn lịch sử cuộc Cách mạng 1789 và người ta đã đưa ông mượn đọc. Và không lạ rằng Juyn Valex đã từ đó tiến tới đứng dưới lá cờ của Công xã Pari để hợp thành cái mà ông gọi là “Cuộc đại liên minh của những đau khổ”. *** Công xã Pari thất bại; Juyn Valex, sau khi chiến đấu đến phút cuối cùng, đã trốn ra được nước ngoài, ông sang Bỉ, Thụy-sĩ, rồi sang Anh. Ở đấy ông sống nghèo khổ bằng nhuận bút của một số bài báo, trang tiểu thuyết đăng trên vài tờ báo cộng hòa xuất bản ít ỏi ở Pari. Đến năm 1880, khi luật ân xá được ban hành, ông trở về nước Pháp, viết sách viết báo cho tới lúc qua đời. Juyn Valex bắt đầu viết từ khoảng cuối những năm 50, sau khi đã chật vật làm đủ nghề để kiếm sống ở Pari. Ông cộng tác với một số tờ báo như Figarô , Biến cố ; ông giao thiệp với Giracđanh, ông vua báo chỉ đương thời, và Vilơmexăng, chủ nhiệm báo Figarô . Trên tờ Figarô ông giữ mục Thị trường chứng khoán là vấn đề mà ông nghiên cứu trong cuốn sách đầu tay của ông nhan đề Tiền bạc (1857). Nhưng ít lâu sau ông bỏ mục đó để cộng tác với những tờ báo không chịu phục tùng nền Đế chính như Tạp chí châu Âu , Tự do , Báo chí , Thời đại ... và chẳng mấy lúc ông nổi tiếng là một nhà văn luận chiến hăng hái và độc lập, một nhà báo trào phúng và chiến đấu, độc đáo và tài năng. Năm 1865, với tác phẩm Những kẻ không phục tùng (Les Réfractai res) tập hợp một số bài báo, ông nhằm đả kích lối sống nghệ sĩ giang hồ mà nhà văn đương thời Hăngri Muyêcgiê đã ca tụng trong cuốn Cảnh đời sống giang hồ có ảnh hưởng xấu tới thanh niên. Năm 1867 ông sáng lập tờ báo Đường phố , trong đó ông đả kích thẳng tay mọi thiết chế chính trị, văn học, nghệ thuật đương thời, đả kích những kẻ mà ông gọi là “bọn giữ đồ thánh trong văn học, chính trị, và cả trong Cách mạng nữa!” Nhưng ra đến số 34 thì tờ báo bị tịch thu và phá sản. Trong thời kỳ Công xã ông thành lập tờ báo Tiếng kêu của dân chúng nó mau chóng trở thành cơ quan chủ yếu của Công xã, trong đó Juyn Valex khích lộ tinh thần kháng chiến đến mức “kiên cường tuyệt vọng”. Nhưng tác phẩm văn học lớn và chủ yếu của Juyn Valex là bộ tiểu thuyết ba tập Jăc Vanhtrax (Jacques Vingtras) mà hai tập đầu ông đã viết và cho đăng báo ngay từ hồi ông còn lưu vong ở Anh (1878 - 1879). Sau khi trở về Pháp ông đã chữa lại hai tập đó và viết tiếp tập ba mà mãi sau khi ông mất, năm 1886, mới được in thành sách. Jăc Vanhtrax là một tiểu thuyết tự truyện thuật lại chính cuộc đời của tác giả và, với nội dung xã hội - chính trị, nó giúp cho chúng ta hiểu khá sâu xã hội Pháp từ sau cuộc cách mạng 1848, trải qua thời Đế chính thứ II cho đến phong trào Công xã Pari. Cùng với tiểu thuyết Jăc Vanhtrax cũng phải kể đến việc Juyn Valex cho xuất bản lại tờ báo Tiếng kêu của dân chúng từ năm 1883, và ông đã làm cho nó thành tờ báo cách mạng lớn đầu tiên của nước Pháp. Tiếng kêu của dân chúng đã tham gia vào tất cả mọi chiến dịch xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ, nó đã kịch liệt phản đối những cuộc chinh phục thuộc địa ở Tuynidi và ở Bắc kỳ (Bắc-bộ Việt Nam), nó đã nhiệt liệt ủng hộ những cuộc đình công của thợ mỏ tại Anzin và Đơcazơvilơ. Và điều đáng kể là Juyn Valex đã biết đặt Juyn Ghexđơ (Jules Guesde), vị lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân Pháp đương thời, vào địa vị cây bút số một trong tờ báo của ông. Chính sự hợp tác của Ghexđơ và những đồng chí của ông này đã khiến cho Tiếng kêu của dân chúng trở thành cơ quan ngôn luận lớn nhất của giai cấp công nhân đã xuất hiện ở Pháp từ trước cho đến thời bấy giờ. Juyn Valex qua đời năm 1885, hai năm sau khi Tiếng kêu của dân chúng lại xuất hiện. Hàng chục vạn nhân dân lao động Pari đã đưa tới nghĩa địa Perơ Lasedơ “người ứng cử viên của bần cùng” [3] “người đại biểu của những kẻ bị xử bắn” ấy. Nhân dân Pari đã biểu lộ lòng tôn trọng chính đáng của mình đối với “con người tâm huyết” ấy, “người bạn chân thành của thợ thuyền, người chiến sĩ vẻ vang của Công xã, nhà văn cách mạng lớn của nước Pháp!” *** Tiểu thuyết Jăc Vanhtrax, với ba tập của nó nhan đề lần lượt: - tập I, Chú bé (L’enfant - 1879), - tập II, Cậu tú (Le bachelier - 1881), - tập III, Người khởi nghĩa (L’insurgê - 1886), Jacques Vingtras là một kiệt tác kỳ lạ của Juyn Valex; nó đã đặt ông vào hàng những nhà văn xuôi lớn của nước Pháp thế kỉ XIX. Một mặt, bộ tiểu thuyết vạch rõ bước đường tất yếu của một người trí thức tiểu tư sản, dưới thời Đế chính thứ II, đi đến với cách mạng. Bước đường của Jăc Vanhtrax chính là bước đường của bản thân Juyn Valex. Có thấy hết mọi nỗi nhục nhã, cay đắng vì nghèo khổ, vì hành hạ, vì bất công, mà chú bé Jăc Vanhtrax, cậu tú Jăc Vanhtrax phải chịu đựng trong gia đình, ở nhà trường và ngoài xã hội, có thấy cả cái không khí đấu tranh chính trị ở Pari, dưới thời Đế chính thứ II, khi ngấm ngầm khi công khai, sôi sục, mới hiểu được tại sao Jăc Vanhtrax đã trở thành một kẻ bất bình, và từ một kẻ bất bình trở thành người khởi nghĩa đứng dưới lá cờ của Công xã Pari. Mặt khác, bộ tiểu thuyết cũng đồng thời vừa là một bức tranh sinh động vừa là mội bản cáo trạng nghiêm khắc cái xã hội Pháp đương thời, dưới nền Đế chính thứ II cực kỳ phản động, dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, đầy rẫy những tàn ác, bất công trong quan hệ gia đình, quan hệ học đường, quan hệ xã hội. Tập I, Chú bé, với lời đề tặng cho TẤT CẢ NHỮNG AI đã buồn chán đến chết trong trường học hoặc đã phải khóc trong gia đình, những ai, trong thời thơ ấu, bị thầy giáo hành hạ hoặc bị cha mẹ đánh đập”, chính là đã vạch trần những quan hệ gia đình, quan hệ học đường tàn nhẫn đó. Tập II, Cậu tú với lời đề tặng cho “Những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh mà chết đói”, vừa mỉa mai cái nền giáo dục nhồi sọ, sách vở, xa rời thực tế, vừa tố cáo “cái xã hội chó má nó làm cho những người có học thức và những người can đảm phải chết đói khi họ không muốn làm đầy tớ cho nó”. Đến như tập III, Người khởi nghĩa, với lời đề tặng “Những liệt sĩ năm 1871, những ai là nạn nhân của bất công xã hội, đã cầm vũ khí chống lại một xã hội tổ chức hỏng và họp thành, dưới lá cờ của Công xã, cuộc đại liên minh của những đau khổ”, thì chính là một thiên ký sự lịch sử độc đáo kể lại bước đấu tranh cách mạng tất yếu của Jăc Vanhtrax, và, nhân đó, vẽ lên cả bức tranh nhân dân lao động Pari sôi sục nổi dậy chống chính quyền tư sản đầu hàng giặc, thiết lập Công xã và chiến đấu suốt trong bẩy mươi hai ngày. *** Tiểu thuyết Jăc Vanhtrax , như vậy, với hình tượng nhân vật chủ yếu của nó là Jăc Vanhtrax, bao trùm cả ba tập, vẽ lên thành một điển hình sắc nét của người chiến sĩ Công xã Pari, là một tác phẩm xuất sắc của dòng văn học hiện thực chủ nghĩa nước Pháp, kế tục trực tiếp những truyền thống hiện thực chủ nghĩa của Xtăngđan, của Banzắc mà Juyn Valex đã từng nói đến trong tác phẩm của ông. Tính cách của Jăc Vanhtrax được hình thành và phát triển trong những hoàn cảnh gia đình và xã hội nhất định, đó là điều mà tác giả có ý thức đầy đủ và muốn chứng minh rõ ràng. Song, giá trị hiện thực của bộ tiểu thuyết tăng lên qua ba tập sách với trình độ khái quát hóa càng ngày càng cao thêm. Tập I chủ yếu trình bày cái khung cảnh gia đình và nhà trường tỉnh nhỏ trong đó chú bé Jăc Vanhtrax lớn lên. Trước hết hình tượng bố và mẹ Jăc Vanhtrax cũng đạt tới những nhân vật điển hình sinh động: ông bố tiêu biểu cho một lớp giáo viên không phải thiếu học vấn, thiếu tư tưởng và tinh cảm, nhưng vì nhút nhát, một mặt luôn luôn lo sợ mất chức vụ, mặt khác lại bị bà vợ đành hanh khống chế, nên hóa ra một con người tầm thường, hèn với cấp trên, ác với con; bà mẹ đại diện cho hạng tiểu tư sản xuất thân từ nông dân, với đầu óc hẹp hòi mà hãnh tiến” - muốn đua đòi, bay nhẩy, học làm sang, thậm chí vì không được toại nguyện mà đâm cay nghiệt, tàn ác với con. Bên cạnh hai nhân vật đó tập truyện còn đạt ở một loạt hình tượng chân dung những giáo sư, hiệu trưởng trường trung học, như Tuyếcfanh kiêu căng, hợm hĩnh, khinh người nghèo, hành hạ học trò có học bổng, như Lacbô tâm ngẩm, giảo quyệt, - cóc cần học trò và chỉ dịu dàng với đám con nhà quyền thế, hay như Bécgunha đạo mạo, lạnh lùng, lên mặt triết gia mà độc ác với con như quỷ sứ, thậm chí đã giết con bằng roi vọt tàn bạo, tất cả đều nói lên một chế độ nhà trường ghê tởm, thối tha. Rõ ràng, với những tính cách nhân vật và bức tranh xã hội đạt tới tính chân thực, tính lịch sử và tính khái quát cao, tiểu thuyết Jăc Vanhtrax đã kế tục và phát huy vẻ vang những truyền thống hiện thực chủ nghĩa của Xtăngđan và Banzắc ở nửa sau thế kỷ XIX khi mà chủ nghĩa hiện thực phê phán cổ điển đã bắt đầu xuống dốc với Guyxtavơ Flôbe để mở ra thời kỳ của chủ nghĩa tự nhiên và tiếp theo nó là hàng loạt những trường phái suy đồi đủ loại. Hơn thế nữa, mặc dầu Juyn Valex không vẽ lên một bức tranh xã hội thật rộng lớn, đồ sộ và không đả kích mạnh vào cái mặt cơ cấu của xã hội tư sản là quan hệ tiền bạc như Xtăngđan hay Banzắc, nhưng ông lại vượt hẳn các nhà hiện thực phê phán cổ điển này ở chỗ ông đã mường tượng thấy và đề cập tới người chủ tương lai của xã hội sẽ thay thế cho giai cấp tư sản, đó là giai cấp công nhân. Với ông lần đầu tiên trong văn học Pháp xuất hiện hình ảnh người công nhân, hình ảnh quần chúng nhân dân như những nhân vật anh hùng phần nào với cái tư thế của những người làm nên lịch sử, và ít ra thì cũng đã có lúc họ làm nghiêng ngửa cả uy thế của những tay chính khách tư sản sừng sỏ trong bộ máy thống trị như Juyn Fery, Gămbetta... Và, mặc dầu bộ tiểu thuyết kết thúc bằng sự thất bại của Công xã Pari, người ta không thấy bóng dáng của bi quan thất vọng, trái lại hình ảnh cuối cùng vẫn là hình ảnh của chiến đấu trong tương lai: ... Tôi vừa vượt qua một dòng suối làm biên giới. Chúng nó không bắt được tôi nữa! Và tôi sẽ còn có thế đứng với nhân dân, nếu nhân dân lại bị ném ra ngoài phố và dồn tới chỗ phải chiến đấu. Tôi nhìn trời về phía tôi cảm thấy có Pari. Trời một màu xanh tươi rói, với những đám mây đỏ. Tưởng như một chiếc áo bludơ lớn đẫm máu”. Chính ở những điểm trên đây, tiểu thuyết Jăc Vanhtrax của Juyn Valex, cùng với toàn bộ nền văn học Công xã Pari, đã hé mở ra một bước phát triển mới của văn học hiện thực chủ nghĩa sau này, đó là bước đường đi tới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay. Tháng Năm 1972 TRỌNG ĐỨC Mời các bạn đón đọc Cậu Tú của tác giả Jules Vallès.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Biển Còn Sóng Gió
Mang nội dung khá thú vị về chuyện tình yêu tuổi, Biển Còn Sóng Gió mở ra cốt truyện khá mới lạ, thu hút không ít bạn đọc chiêm nghiệm. Mang những ngôn từ lãng mạn, truyện teen Biển Còn Sóng Gió hứa hẹn đem đến những tình tiết mới lạ và hấp dẫn. *** Anh thật sự lo lắng cho em, Lục Di. Chúng ta đã sống và làm việc quá lâu trong gia đình họ Nhâm. Chúng ta đủ hiểu rằng họ là những con người lạnh lùng và khép kín Nhậm Triều Phong lại là một kẻ không hề mảy may có xúc cảm thậm chí hắn không buồn hồi âm những thư tín của bà Gia Yến. Hắn đã rũ bỏ quá khứ và chà đạp lên gia phả của dòng họ mình. Hắn giống hệt người cha vô tâm của hắn, đã ra đi biệt xứ hơn ba mươi năm về trước. Anh thật sự không yên tâm khi thấy em tiếp cận một con người nguy hiểm như Nhậm Triều Phong. Lục Di mỉm cười chua xót: – Thôi, Lãnh Bình! Đừng bận tâm về chuyện ấy nữa. Tôi sẽ đứng vững trên đôi chân của mình. Tôi vẫn như vậy mà. – Lục Di! Anh biết em vẫn còn oán trách anh vì chuyện cũ phần nào lỗi tại anh. Anh không hề yêu Nhậm Tinh Doanh, nhưng cũng chấp nhận cưới cô ấy làm vợ chỉ vì sự nghiệp của gia đình anh. *** Dưới tình yêu của Lãnh Bình, liệu có khiến Lục Di tỉnh ngộ và quay trở lại con đường đúng đắn? Truyện luôn mang đến những câu hỏi và tình tiết éo le khiến bạn đọc cảm thấy tò mò, khơi gợi tính sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú để rồi đón nhận cái kết đầy bất ngờ mà tác giã đã an bài sẵn. Bên cạnh tựa truyện mang lại nhiều cung bậc cảm xúc. *** Triều Phong nhìn Lục Di đầy vẻ ngưỡng mộ. Đêm nay, nàng trông giống như bầu trời lúc hoàng hôn. Bộ áo váy màu lam khoác lên người nàng trông như một làn mây mỏng. Trong tâm trí anh, cứ tưởng tượng ra cái cảm giác man mác của những búp tóc xinh xinh nơi gáy nàng. Đường cong của đôi môi nàng, đôi môi như cánh bướm mỗi khi lướt nhẹ trên má anh. Anh thấy lòng rộn lên khi nàng nhìn anh mỉm cười. Mắt nàng lộ rõ sự chân thành ấm áp, mà với anh nó chẳng khác gì ngọn lửa hồng trong đêm đông giá lạnh. Anh tự nhủ, nàng không đáng yêu như thế nếu nàng đang âm mưu trả thù gia đình anh. Triều Phong bắt đầu một cách quyết tâm: – Lục Di, anh nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nói chuyện với nhau. Lục Di chớp mắt: – Em không rõ anh muốn nói gì? Những người họ Nhậm luôn luôn cường điệu tất cả sự việc. – Lục Di ạ! Hôm nay anh đã nói chuyện khá lâu với bà nội. – Thế à? Em cũng vậy. – Bà đã hốt hoảng phải không? Dường như điều đó đã ăn sâu vào trong máu bà rồi. – Trái với điều anh nghĩ, bà rất vui khi nói với em rằng bà rất mãn nguyện với những thành quả mà anh đã đem lại cho công ty. Bà rất hạnh phúc khi thấy cơ nghiệp đứng vững trên chính đôi chân của nó, anh đã đem lại mạch đập và sự hồi sinh ảnh đất này. Chính màu hồng trên đôi má nàng làm anh cảm thấy lòng rộn lên. – Ai nói anh đến đây không phải để trả thù? Lục Di mỉm cười: – Em biết anh đến đây không phải là để trả thù. Triều Phong ạ! – Em có tin chắc mình nghĩ đúng không? Làm sao em biết được điều đó? – Bởi vì những gì anh đã làm cho công ty, cho Nhậm Tinh Doanh, cho Mã Lãnh Bình, cùng với những chuyện khác nữa. – Em đừng có suy diễn. – Anh thật sự đã làm nên một sự thay đổi kỳ diệu. Mã Lãnh Bình đã nói với em, chính anh đã giúp anh ấy vượt qua một chặng đường không mấy bằng phẳng, anh đã cứu cuộc đời anh ấy. Lãnh Bình mang ơn anh nhiều hơn những gì anh ấy có thể nói với anh. – Những gì tốt đẹp, anh đã làm ọi người, có thể chỉ là một phần trong kế hoạch trả thù của anh. – Thôi nào, Triều Phong. Hãy thôi nói đùa về chuyện ấy đi. – Không đùa đâu, anh nói nghiêm chỉnh đấy. Ngay cả khi anh nói lên sự thật, mọi người cũng không tin anh. Quanh họ là một bầu không khí yên lặng. Tự dưng Lục Di suy nghĩ, từ khi nàng biết anh đến giờ, chưa bao giờ nàng lại thấy anh với một cảm giác như vậy qua đôi mắt sâu thẳm của anh. Cuối cùng nàng hỏi: – Có chuyện gì vậy, Triều Phong? – Không. – Tối nay, anh có vẻ căng thẳng. Có lẽ không phải là một buổi tối tốt đẹp để chúng ta đến với nhau. Triều Phong hít một hơi thở sâu, rồi nói: – Anh muốn nói bên cạnh việc mọi người tin tưởng và mang ơn những gì anh đã làm cho họ. Bà nội anh có nói gì khác với em không? Lục Di cúi mặt nhìn ngón tay bé xíu đang nguệch ngoạc những đường nét vô nghĩa trong lòng bàn tay. – Bà lo sợ tình cảm em quá sâu đậm đối với anh. – Còn gì nữa? – Triều Phong ... – Lục Di, hãy nhìn anh đây này! Lục Di từ từ nhìn lên và thấy anh đang chăm chú ngắm mình một cách căng thẳng. – Hãy nói thật với anh đi. Một thiên thần không biết nói dối. Bà nội anh còn nói gì với em nữa? Bà không muốn em lấy anh phải không? Bà luôn cho rằng mình có quyền điều khiển cuộc sống người khác. – Bà không điều khiển, bà chỉ lo sợ cho em mà thôi. – Thế em trả lời sao? – Em xin lỗi, chưa nghe rõ anh nói gì? Anh lườm nàng: – Em đã nghe anh nói rõ rồi mà. Câu trả lời của em là thế nào? Lục Di đã nhận ra lời đề nghị kết hôn của anh. Mắt nàng nhìn anh dưới đôi mày thanh tú khẽ chau lại: – Em chưa nghe được câu hỏi. – Em thừa biết câu hỏi là gì rồi. Em có lấy anh hay không? Lục Di gườm gườm nhìn anh: – Thế anh mong đợi điều gì? Em không thích điều ám chỉ trong câu nói của anh. Giọng anh trầm lắng: – Anh sợ điều đó, Lục Di. Anh sợ bi kịch ngày xưa. Anh thật sự không muốn điều đó xảy ra với bất cứ ai. Lục Di nhìn thẳng vào mắt Triều Phong: – Mọi người đã cố tình đào xới câu chuyện quá khứ đau lòng này, thì có lẽ bây giờ cũng là lúc để tôi hỏi. – Điều gì vậy, Lục Di? – Tôi hiểu là ông Nhậm Khởi Minh bỏ đi cùng với cô nhân tình của mình: Triều Quân. Ông ấy yêu say đắm và những người họ Nhậm các người thường làm những việc đầy kịch tính trong những hoàn cảnh cũng đầy kịch tính. Nhưng tại sao ông ấy không có một lời giải thích với mẹ tôi, để bắt bà phải chịu đựng sự nhục nhã đau đớn khi bị bỏ rơi trước bàn thờ Chúa. Mời các bạn đón đọc Biển Còn Sóng Gió của tác giả Dạ Tuyền.
Lược Sử Cái Chết
Rất nhiều xã hội Phi châu quan niệm rằng có ba thế giới: thế giới của những người còn sống trên mặt đất, thế giới của những người-chết-đang-sống và thế giới của những người chết. Nhiều người, sau khi lìa trần, vẫn chưa hoàn toàn chết vì họ vẫn sống trong ký ức của những người đang sống - họ có thể được tái tạo trong nghệ thuật, được nhắc đến trong các câu chuyện kể, hoặc đơn giản là sống trong tâm trí của một người nào đó. Sau khi người cuối cùng biết về người-chết-đang-sống đó chết đi, họ trở thành những người chết thực sự. Tất nhiên, sẽ có rất nhiều người chết vẫn còn lưu danh lại, nhưng họ cũng không còn là người-chết-đang-sống nữa. Lược sử cái chết là một câu chuyện huyễn tưởng không chỉ gây băn khoăn về ngày tận thế mà còn đặt ra những vẫn đề rất thực và những suy ngẫm rất sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta, về sự giao thoa giữa tâm hồn ta với những bản thể khác và với toàn vũ trụ... - "Một cuốn sách khiến ta không thể dừng mở trang kế tiếp" - Rocky Mountain News. - "Một tiểu thuyết ly kỳ được viết với một trái tim giàu lòng nhân ái" - O, The Oprah Magazine. - "Một tiểu thuyết đầy sức mê hoặc và gợi nhiều suy nghĩ về ký ức của con người, về sự giao thoa giữa những tâm hồn, về cuộc sống sau khi chết, và về hiện tại" - Tucson Citizen. - "Có sức lay động mạnh... Ngay từ chương đầu, cuốn tiểu thuyết đã tạo ra một sức thu hút khác lạ, và chắc chắn nó sẽ còn đọng lại trong lòng độc giả sau khi trang sách cuối cùng khép lại. Là một câu chuyện ngụ ngôn, một câu chuyện cổ, một câu chuyện thần thoại đương đại... Trong lịch sử cái chết, Brokmeier đã đưa ra một cái nhìn giả thuyết về kết thúc của nhân loại... Nếu sự vĩnh hằng tồn tại, thì đây chính là một định nghĩa sắc nét cho thời đại của chúng ta"... - Beacon Journal. - "Không chỉ là một câu chuyện gây băn khoăn về tận cùng của thế giới. Đó là một sự suy ngẫm sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta, về sự giao thoa giữa tâm hồn ta với những bản thể khác và với toàn vũ trụ. Với bối cảnh viễn tưởng ly kỳ và các nhân vật đa diện, Lược sử cái chết không tuân theo các thể văn truyền thống. Tác giả đã rất khôn ngoan "đứng cả hai dòng nước", một bên là dòng tiểu thuyết khoa học giả tưởng và một bên là các truyền thống văn học để tạo nên một tác phẩm độc nhất vô nhị - đầy ám ảnh, gây xáo trộn, và thú vị về mọi mặt." - The Charlotte Pbserver. "Lung linh huyền ảo... Đánh động tâm thức." - The Seatle Times "Brockmeier có văn phong gây ấn tượng sâu sắc, cốt truyện vô cùng độc đáo, các mẩu chuyện trong sách có sức ám ảnh kéo dài phải đến nhiều tuần sau khi đọc xong tác phẩm." - Lexington Herald - Leader (Kentucky) "Một tác phẩm văn chương ngập tràn tưởng tượng... Hãy tưởng tượng một thành phố của những người đã chết. Hãy tưởng tượng một nhà khoa học còn sống bị mắc kẹt lại một mình ở Nam Cực và nhận ra cô có thể là một trong số ít những người còn sót lại trên Trái Đất sau một trận đại dịch. Và rồi hãy tưởng tượng một tiểu thuyết gia đủ sắc sảo để có thể xây một chiếc cầu nối hai thực tại hư cấu khó tưởng đó." - Newsweek "Một cuốn sách khiến ta không thể dừng mở trang kế tiếp" - Rocky Mountain News. "(Brockmeier) không gì hơn là một nhiệt thành thiết tha sống, và những sáng tác tuyệt diệu của ông, những trang sách đầy yêu thương và đáng được yêu thương, là một nguồn năng lượng sống dồi dào đáng kinh ngạc trong một thế giới mệt mỏi và dễ làm con người ta mệt mỏi." - Chicago Tribune "Một tiểu thuyết ly kỳ được viết với một trái tim giàu lòng nhân ái" - O, The Oprah Magazine. "Một tiểu thuyết đầy sức mê hoặc và gợi nhiều suy nghĩ về ký ức của con người, về sự giao thoa giữa những tâm hồn, về cuộc sống sau khi chết, và về hiện tại."  - Tucson Citizen. "Có sức lay động mạnh... Ngay từ chương đầu, cuốn tiểu thuyết đã tạo ra một sức thu hút khác lạ, và chắc chắn nó sẽ còn đọng lại trong lòng độc giả sau khi trang sách cuối cùng khép lại. Là một câu chuyện ngụ ngôn, một câu chuyện cổ, một câu chuyện thần thoại đương đại... Trong Lược sử cái chết, Brockmeier đã đưa ra một cái nhìn giả thuyết về kết thúc của nhân loại... Nếu sự vĩnh hằng tồn tại, thì đây chính là một định nghĩa sắc nét cho thời đại của chúng ta"... - Akron Beacon Journal. "Rất ấn tượng... Không ai có thể tung hứng với lối xử lý tình tiết hài hước, mang đầy tính triết lý và lại gây suy nghĩ như Brockmeier." - The Plain Dealer "Đầy sáng tạo... Lôi cuốn... Trữ tình." - Newsday "Điều đáng sợ về câu chuyện của Brockmeier là tính thuyết phục như thật của tác phẩm. Giống Borges, nhưng thật hơn." - Los Angeles Times Book Review "Không chỉ là một câu chuyện gây băn khoăn về tận cùng của thế giới. Đó là một sự suy ngẫm sâu sắc về sự tồn tại của chúng ta, về sự giao thoa giữa tâm hồn ta với những bản thể khác và với toàn vũ trụ. Với bối cảnh viễn tưởng ly kỳ và các nhân vật đa diện, Lược sử cái chết không tuân theo các thể văn truyền thống. Tác giả đã rất khôn ngoan "đứng cả hai dòng nước", một bên là dòng tiểu thuyết khoa học giả tưởng và một bên là các truyền thống văn học để tạo nên một tác phẩm độc nhất vô nhị - đầy ám ảnh, gây xáo trộn, và thú vị về mọi mặt." - The Charlotte Observer. "Đầy mê hoặc... Rất lôi cuốn." - USA Today "Kỳ lạ và gần gũi.... Chính không khí truyện và nỗi lòng tha thiết, chân thành mà không phô trương ồn ã của Brockmeier... đã khiến Lược sử cái chết có sức mê hoặc như vậy... Một tác phẩm đẹp, chứa đựng nhiều khám phá." - Salon             Kevin Brockmeier là tác giả của cuốn Sự thật về Celia, Những thứ rơi từ trời, và hai tiểu thuyết cho thiếu nhi là Thành phố của những cái tên và Grooves: Một điều bí mật. Các sáng tác của ông đã xuất hiện trong nhiều ấn phẩm, như: The New Yorker, McSweeney’s, The Georgia Review, Tuyển tập truyện ngắn hay nhất của nước Mỹ, Các tiểu thuyết kinh dị và viễn tưởng hay nhất của năm… và nhiều số phát hành của Hợp tuyển các tác phẩm được trao giải O.Henry. Ông đã được trao tặng Giải thưởng Nelson Algren, Giải thưởng Italo Calvino cho tiểu thuyết ngắn, Học bổng James Michener – Paul Engle, ba lần được trao tặng Giải thưởng O.Henry – một trong số đó là một giải nhất – và Học bổng Tài trợ Nghiên cứu sinh Quốc gia về Nghệ thuật. Ông đã giảng dạy tại Hội thảo Nhà văn bang Iowa và sinh sống tại Little Rock, Arkansas. *** Khi người mù vào đến thành phố, lão kể đã vượt qua một sa mạc cát lún. Lúc đấy ta đã chết, lão kể, nhưng rồi “tách!”, sa mạc lại hiện ra. Lão kể cho bất cứ ai sẵn lòng nghe trong khi đầu gật gù theo tiếng bước chân người qua lại. Những hạt sạn đỏ hung li ti rơi xuống từ bộ râu cằm. Lão kể: Sa mạc hoang vu và cô độc. Nó hướng về lão, rít lên như một con rắn. Lão đã đi bộ ròng rã suốt ngày này qua ngày khác cho đến khi những đụn cát lở ra dưới chân, cồn lên vây lấy lão, đập vào mặt lão. Rồi, mọi thứ đột nhiên trở nên im bặt, và bắt đầu có tiếng đập nhè nhẹ như nhịp tim. Âm thanh đó rất rõ ràng, y hệt nhịp tim trước giờ lão vẫn biết. Chỉ đến lúc đó, lão kể, vào cái khoảnh khắc một triệu hạt cát sắc lẻm như những mũi tên đồng loạt tấn công, lão mới thật sự nhận ra mình đã chết. Jim Singer, chủ cửa hàng sandwich ở khu đài tưởng niệm, kể rằng bác có cảm giác như có kiến bò trên các ngón tay, rồi, bác ngừng thở. “Đó là do tim tôi có vấn đề - bác nhấn giọng trong khi ấn ngón tay cái vào ngực – nên tôi mới nằm liệt giường như vậy.” Tay đã xuôi, mắt đã nhắm, rồi đột nhiên bác mở mắt ra, thấy mình đang ở trên một chiếc tàu lửa, loại tàu chuyên chở trẻ con chạy quanh khu giải trí. Đường ray dẫn đến một khu rừng rậm toàn những cây màu vàng nâu. Hóa ra đó là những con hươu cao cổ, những chiếc cổ dài ngoẳng vươn lên trời như những thân cây. Một ngọn gió nổi lên thổi bay các đốm lông màu trên lưng những con hươu. Những đốm màu lả tả rơi xuống, lửng lơ xung quanh bác, xoay mòng mòng rồi rơi xuống chạm vào đường bánh xe do con tàu để lại. Phải mất một lúc bác mới hiểu ra âm thanh bác nghe thấy không phải là tiếng bánh xe nghiến vào đường sắt. Cô gái hay thích đứng dưới cây dương trong công viên kể: Cô đã chết trong một biển màu sắc các trái sơ ri khô. Nước giúp em nổi được một lúc, cô nói, rồi em nằm ngửa, xoay tròn trong những vòng tròn vô nghĩa và hát đoạn điệp khúc của tất cả những bài hát pop em có thể nhớ ra. Rồi đột nhiên, một tiếng sấm vang lên. Các đám mây mở ra, những ổ bi bắt đầu trút ào xuống xung quanh – phải có đến hàng ngàn hàng vạn ổ. Em cố hết sức nuốt chửng các viên bi nhưng những cành cây dương gãy rơi xuống làm em mắc nghẹn, cô kể. Bị nhồi đầy như một chiếc bao tải, cô từ từ chìm xuống xuyên qua các tầng đại dương. Nhiều đàn cá bơi ngang qua, những chiếc vảy xanh biếc, vàng óng là những điểm sáng rực rỡ duy nhất ánh lên trong làn nước. Rồi cô nghe thấy âm thanh đấy ở mọi nơi xung quanh, âm thanh đó, âm thanh mà những người khác đều nghe thấy, nhịp đập đều đặn của một trái tim khổng lồ. Những câu chuyện được kể lại về khoảnh khắc vượt qua giao lộ sống-chết rất khác nhau, cũng như mười tỉ người trên thế giới này không ai sống một cuộc sống giống ai khác. Chỉ có điều khi kể về cái chết của mình, người ta có khuynh hướng miêu tả chi tiết hơn, tường tận hơn. Rốt cuộc, đâu có bao nhiêu cách: nếu không phải do trái tim thì cái đầu của một người mang người ta vào cõi chết, không ai giống ai. Lev Paley kể lúc đó anh ngồi nhìn các phân tử của mình phân rã ra thành từng mẩu li ti như cẩm thạch, lăn khắp vũ trụ, rồi sau đó bỗng chốc quay trở lại dính lấy nhau. Hanbing Li kể anh thức dậy, thấy mình là một con rệp sống suốt đời trong một trái lê. Graciella Cavazos chỉ kể đoạn cô bắt đầu biến thành tuyết và khi người ta đòi biết chi tiết hơn, Graciella chỉ bẽn lẽn cười. Không bao giờ có hai câu chuyện giống nhau. Tuy vậy, ai cũng kể về một âm thanh giống như tiếng sấm. Một số khăng khăng khẳng định âm thanh đó không bao giờ ngừng, nếu anh tập trung chú ý không rời tai khỏi nó, anh luôn nghe thấy nó lẩn khuất mơ mồ sau mọi tiếng ồn trong thành phố - đằng sau tiếng còi, tiếng phanh xe, tiếng chuông nhà hàng, tiếng lộp cộp của hàng trăm loại gót giày khác nhau bước trên đường phố. Nhiều người tụ tập cùng nhau trong công viên hay trên tầng thượng các tòa nhà cao tầng để lắng nghe. Họ ngồi lặng lẽ, lưng quay vào nhau. Ba-đum. Ba-đum. Ba-đum. Cảm giác giống như cố gắng nhìn theo bóng chim bay lên, nhòa đi và mờ dần thành một chấm nhỏ. Luka Sims đã tìm thấy một chiếc máy roneo ngay tuần đầu tiên anh đến sống ở thành phố và quyết định sẽ sử dụng nó để in tạp chí. Mỗi buổi sáng, anh đứng bên ngoài tiệm cà phê Đường Bờ Sông để phát các bản in tự chế. Có lần tờ Tin tức & Nghiên cứu L. Sims của anh, hay Báo Sims như mọi người vẫn gọi, có bàn về thứ âm thanh này. Không đến hai mươi phần trăm những thứ được Luka phỏng vấn cho biết sau khi chết, họ vẫn có thể nghe thấy nó, nhưng hầu như tất cả thảy mọi người đều đồng ý: nó nghe giống như tiếng tim đập hơn là bất cứ âm thanh nào khác. Vậy vấn đề là: nó từ đâu đến? Không thể là nhịp đập của chính trái tim họ. Vì tim họ không đập nửa. Mahmoud Qassim thì tin rằng đó không phải là âm thanh của trái tim lão đập mà có thể là âm thanh còn lưu lại trong ký ức, âm thanh mà dù không thật sự để ý lão cũng đã nghe trong suốt một thời gian dài nên âm hưởng của nó vẫn còn lưu lại trong tai lão. Người phụ nữ bán vòng tay bên bờ sông lại nói đó là nhịp đập từ tâm quả đất, cái nơi chói lóa, sục sôi chị đã vượt qua trên đường vào thành phố. Riêng bản thân người viết”, bài báo kết luận, “tán thành ý kiến của đa số. Mời các bạn đón đọc Lược Sử Cái Chết của tác giả Kevin Brockmeier & Mai Huyền Chi.
Thượng Đế Đã Chết Trong Thành Phố
Curzio Malaparte (1898-1957) là nhà văn và phóng viên chiến trường người Ý. Trong cuốn “tiểu thuyết” viết tặng các sơn binh Pháp và Ý ngã gục trên dãy núi Alpes vào tháng 6.1940 này, tất cả đều đúng sự thật: thời gian, con người, sự kiện, cảm xúc, không gian. Khi đó tác giả đang làm đại úy trong một trung đoàn trên đỉnh Bạch Sơn (Mont Blanc), quyển “Mặt trời mù” đã ra đời và được đăng thành nhiều kỳ trên tạp chí Thời đại. Curzio Malaparte tên thật là Curt Erich Suckert sinh ngày 9/6/1898 ở Prato, Tuscane Ý. Mất ngày 19/7/1957 tại Rome. Ông là một nhà văn, nhà làm phim, nhà báo, phóng viên chiến trường và còn là nhà ngoại giao. Trong tổng số hơn 35 tác phẩm, cuốn Kaputt và La Pelle là hai tác phẩm lớn được biết đến nhiều nhất tại Châu Âu. Curzio Malaparte vốn dấn thân vào con đường binh nghiệp từ rất sớm, ông đã phải chứng kiến hàng loạt thảm cảnh của Thế chiến 2 ngay từ những buổi đầu. Chính cái nhì chân xác của người trong cuộc kết hopwj với ngòi bút tuyệt kỹ của một cây viết gạo cội đã làm nên một trong những tiểu thuyết ấn tượng bậc nhất của văn chương Ý... Chiến tranh là chết chóc. Đứng trước cái chết là lúc con người ta bộc lộ bản thân mình rõ rệt nhất. Những con người trong quyển sách này coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, chiến tranh vì thế lại hiện ra với cảnh núi non hùng vĩ, những bãi đồng xanh lục tốt tươi, những bông hoa violet, những mẫu đơn màu huyết, giọng thác lách dưới cành cây… Thiên nhiên tráng lệ và khổng lồ như đang làm dịu đi cái chết chực chờ, khỏa lấp tiếng bom đạn, mở rộng tâm hồn con người. Trước cảnh đẹp, người nào lại không muốn được ngồi xuống, gối đầu trên bãi cỏ và im lặng lắng nghe tiếng chim hót, người nào lại không khao khát hòa bình để trở về với gia đình? Với viên đại úy, hình ảnh cậu sơn binh ngồi trên chiếc ghế với hình bóng lờ mờ, nét rắn rỏi trong khuôn mặt nhỏ nhắn và thơ trẻ cùng tiếng chiếc lạc bò êm trầm, là tất cả những gì bình yên mà anh luôn khao khát nơi chiến trường khốc liệt. Calusia gợi nên trong lòng viên đại úy cảm giác con người – hồn nhiên, thân thiện, trẻ thơ, an yên. Theo dõi và quan sát những hoạt động của Calusia như là một niềm vui giản đơn, một phút thư giãn thanh bình. Tiếng lòng của viên đại úy đồng thời là hàng triệu tiếng kêu gào trong chiến tranh, dùng một sự điên loạn để lên án chiến tranh đã tổn thương và hủy hoại hoàn toà Mời các bạn đón đọc Thượng Đế Đã Chết Trong Thành Phố của tác giả Curzio Malaparte.
Mặt Trời Mù
Giữa dãy Alpes, cơn ác mộng bắt đầu, những sĩ quan Ý ra lệnh cho đám sơn binh chất phác xung kích dưới làn đạn pháo. Trong số các sĩ quan đó, vì cảm tình và thương xót, có một viên đại úy luôn dõi theo một cậu sơn binh chăn bò luôn đeo chiếc lạc bò trên cổ. Cậu sơn binh đó đã bị giết chết, như hàng trăm con vật, hàng trăm con người lúc tươi vui lúc lầm lũi trên các đỉnh Bạch Sơn (Mont Blanc) phủ tuyết. Còn đại úy, cảm thấy có trách nhiệm trong cái chết của cậu bé, đã phát điên... Ở nơi trận mạc máu tuôn lệ đổ, nơi chỉ có vầng mặt trời mù soi chiếu, sự điên loạn hay mất trí đôi khi chính là những tiếng kêu thét không thành tiếng của lương tri con người. Curzio Malaparte vốn dấn thân vào con đường binh nghiệp từ rất sớm, ông đã phải chứng kiến hàng loạt thảm cảnh của Thế chiến 2 ngay từ những buổi đầu. Chính cái nhì chân xác của người trong cuộc kết hopwj với ngòi bút tuyệt kỹ của một cây viết gạo cội đã làm nên một trong những tiểu thuyết ấn tượng bậc nhất của văn chương Ý... *** Curzio Malaparte (1898-1957) là nhà văn và phóng viên chiến trường người Ý. Trong cuốn “tiểu thuyết” viết tặng các sơn binh Pháp và Ý ngã gục trên dãy núi Alpes vào tháng 6.1940 này, tất cả đều đúng sự thật: thời gian, con người, sự kiện, cảm xúc, không gian. Khi đó tác giả đang làm đại úy trong một trung đoàn trên đỉnh Bạch Sơn (Mont Blanc), quyển “Mặt trời mù” đã ra đời và được đăng thành nhiều kỳ trên tạp chí Thời đại. “Mặt trời mù” là một quyển sách mỏng nhưng nặng nề, giống như tâm tư người lính chiến trận. Cái chết chỉ là gang tấc, không ai biết được giây tiếp theo mình có còn sống không. Nhân vật chính là một đại úy dành sự quan sát đặc biệt cho một cậu sơn binh luôn đeo chiếc lạc bò trên cổ tên Calusia. Chứng kiến cậu bị giết chết ngay trước mặt, đại úy cho rằng mình đã giết chết cậu, phát điên không ngừng hồi tưởng lại những ký ức về Calusia và liên tục gào thét gọi tên cậu. Chiến tranh là chết chóc. Đứng trước cái chết là lúc con người ta bộc lộ bản thân mình rõ rệt nhất. Những con người trong quyển sách này coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, chiến tranh vì thế lại hiện ra với cảnh núi non hùng vĩ, những bãi đồng xanh lục tốt tươi, những bông hoa violet, những mẫu đơn màu huyết, giọng thác lách dưới cành cây… Thiên nhiên tráng lệ và khổng lồ như đang làm dịu đi cái chết chực chờ, khỏa lấp tiếng bom đạn, mở rộng tâm hồn con người. Trước cảnh đẹp, người nào lại không muốn được ngồi xuống, gối đầu trên bãi cỏ và im lặng lắng nghe tiếng chim hót, người nào lại không khao khát hòa bình để trở về với gia đình? Với viên đại úy, hình ảnh cậu sơn binh ngồi trên chiếc ghế với hình bóng lờ mờ, nét rắn rỏi trong khuôn mặt nhỏ nhắn và thơ trẻ cùng tiếng chiếc lạc bò êm trầm, là tất cả những gì bình yên mà anh luôn khao khát nơi chiến trường khốc liệt. Calusia gợi nên trong lòng viên đại úy cảm giác con người – hồn nhiên, thân thiện, trẻ thơ, an yên. Theo dõi và quan sát những hoạt động của Calusia như là một niềm vui giản đơn, một phút thư giãn thanh bình. Tiếng lòng của viên đại úy đồng thời là hàng triệu tiếng kêu gào trong chiến tranh, dùng một sự điên loạn để lên án chiến tranh đã tổn thương và hủy hoại hoàn toàn cuộc sống con người. Sau cùng, chỉ còn lại vầng mặt trời lạnh lẽo vẫn dửng dưng soi bóng, lãnh đạm và đui mù trước bao nỗi thống khổ của con người. Mời các bạn đón đọc Mặt Trời Mù của tác giả Curzio Malaparte.