Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ba Người Bạn - Erich Maria Remarque

Với Ba Người Bạn, nước Đức của Remarque không còn là những tòa nhà màu xám mà là một thành phố nhỏ mờ sương của những bụi tử đinh hương, một góc giáo đường, những quán rượu nhỏ nép mình trong làn mưa lất phất. Đó cũng không phải là đất nước của những bộ óc lạnh lùng lý trí mà là của những thân phận nhỏ bé dù bị trôi giạt đến bước đường cùng vẫn khao khát và chan chứa yêu thương. Đó là một nước Đức của tình cảm và mộng mơ, một nước Đức của nỗi buồn và cái đẹp. *** Erich Maria Remarque (1898 – 1970) là nhà văn nổi tiếng người Đức. Ngoài kiệt tác Phía Tây không có gì lạ đầy xúc động, ông còn được yêu mến qua hàng loạt các tác phẩm chan chứa tình yêu dành cho con người và cuộc sống khác như Ba Người Bạn, Khải Hoàn Môn, Đêm Lisbon…. Năm 1931, ông được đề cử cả giải Nobel Văn chương lẫn Nobel Hòa bình. Ba Người Bạn là tác phẩm Remarque cho ra mắt vào năm 1936 kể về cuộc sống nước Đức thời kỳ hậu chiến. Mặc dù không nổi tiếng như Phía Tây không có gì lạ nhưng với nhiều độc giả Việt Nam, đây lại là tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc nhất, thay đổi hoàn toàn cái nhìn của họ về đất nước và con người Đức, thậm chí là cả cách nhìn về cuộc sống. *** Bạn đọc Việt Nam đã yêu mến Remarque (Erich Maria Remarque - tên thật Erich Paul Remark, 1898 - 1970) - nhà văn Đức nổi tiếng, một trong những tiểu thuyết gia nhiều thành công nhất của thế kỷ hai mươi - qua các tác phẩm “Phía Tây không có gì lạ”, “Thời gian để sống và thời gian để chết” do nhà xuất bản Văn Học giới thiệu. Remarque chiếm được hằng triệu con tim độc giả trên khắp hành tinh không đơn giản vì ông là một thiên tài văn học; đọc Remarque, ta tìm thấy ở nhà văn một tấm lòng đầy tình yêu thương con người, cảm thông với nỗi đau của con người, tha thiết mong cho tất thảy một cuộc sống hạnh phúc mà con người vốn dĩ xứng đáng được hưởng. Trái tim nhân đạo ấy không thể không ứa máu trước những sự thật tàn khốc mà hai cuộc đại chiến thế giới đã gieo rẳc cho nhân loại, thiên tài văn học ấy không thể im tiếng trước những tội ác ghê tởm do chính bọn cầm quyền của đất nước mình gây ra. Năm 1933 bọn phát xít Đức buộc cho Remarque tội “phản bội những người lính cửa chiến tranh thế giới bằng văn học” và ra lệnh đốt các tác phẩm của nhà văn, năm 1938 ông bị tước bỏ quốc tịch Đức, buộc phải sang New York năm 1939 (1947 nhập quốc tịch Mỹ). Từ sau 1945, Remarque sống khi ở Mỹ, khi ở Thụy Sỹ, ông mất năm 1970 ở Locarno (Thụy Sỹ). Cả thế giới biết đến Remarque qua hàng loạt tiểu thuyết của ông: “Phía Tây không có gì lạ” (1929), “Đường trở về” (1931), “Ba Người Bạn (Chiến Hữu)” (1938), “Hãy yêu những kẻ hậu sinh” (1941), “Khải hoàn môn” (1946). “Tia lửa sống” (1952), “Thời gian để sống và thời gian để chết” (1954), “Bia mộ đen” (1956), “Đêm ở Lissabon” (1962), “Bóng tối nơi thiên đường” (1971)… Xuyên suốt các tác phẩm của Remarque là tính nhân đạo sâu sắc, là tiếng nói kiên định, không mệt mỏi chống lại cuộc chiến tranh phát xít phi nghĩa. Remarque không dùng những lời lẽ đao to búa lớn, không hô khẩu hiệu chống phát xít, nhưng các tác phẩm của ông đã bóc trần toàn bộ bản chất tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, lột tả những cảnh địa ngục trần gian mà chiến tranh đã đưa lại. Biết bao số phận khổ nhục, ê chề, biết bao kiếp người phiêu dạt, tha hương không bến đậu, biết bao tình yêu tuyệt vọng, con người phải sống lẩn lút như loài vật, sống mà như đã chết… người đọc cùng đau xót với nỗi đau của tác giả, đau xót bao nhiêu, càng căm phẫn, ghê tởm bấy nhiêu cuộc chiến tranh do bè lũ phát xít gây nên. Thật dễ hiểu vì sao bọn phát xít lại thù ghét nhà văn, khiếp sợ ảnh hưởng văn học của ông đến thế. Một mảng đề tài được Remarque khá quan tâm là số phận của những người cựu chiến binh Đức, những người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả cuộc chiến tranh diễn ra ngoài ý muốn của họ. Tác phẩm “Ba Người Bạn” để lại ấn tượng hết sức sâu sắc bởi lẽ đã giúp ta thấy được cái hậu quả gớm ghiếc ấy dưới biết bao góc độ. Cốt truyện diễn ra vào những năm 20 của thế kỷ này, thời gian xen giữa hai cuộc đại chiến thế giới. Các nhân vật trung tâm là ba cựu chiến binh trẻ, ba “chiến hữu” trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Ba Người Bạn trong thời hậu chiến - những con người tiêu biểu cho cái “thế hệ vất đi” sau chiến tranh. Họ là những thanh niên bình thường, từng có những ước mơ bình thường: người muốn trở thành bác sĩ, kẻ muốn trở thành giảng viên đại học… nhưng đã bị buộc tham gia vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tuy không bỏ xác ngoài trận tuyến như biết bao thanh niên đồng lứa với mình, Robby, Lenz và Koster đã bị chiến tranh cướp mất lẽ sống, họ thấy cuộc đời phi lý và trống rỗng, thể xác trẻ trung mà tâm hồn sớm già cỗi. Ngoài những giờ sửa chữa xe thuê, vật lộn kiếm sống, họ tiêu phí thời gian vào những đêm rượu chè, những phen phóng xe điên cuồng, những cuộc hoan lạc… để rồi lại về một mình đối diện với chính mình, cô đơn, trống rỗng, trong một gian buồng trọ tồi tàn. Ba Người Bạn gắn bó với nhau hết mình đương đầu với cuộc sống, trong khi thực ra họ cũng không hiểu sống để làm gì. Mối tình của Pat và Robby đã cho cuộc sống ấy chút ý nghĩa. Họ thấy mình cần thiết cho mối tình ấy, cho cô gái bất hạnh ấy, họ quên mình đến cảm động giúp cô gái chống lại bệnh tật. Nhưng đó chỉ là cuộc chống chọi tuyệt vọng của ba nạn nhân trực tiếp của chiến tranh hòng cứu cô gái là nạn nhân gián tiếp của chiến tranh; lớn lên trong những năm chiến tranh đói kém. Pat đã mắc chứng lao phổi, căn bệnh vô phương cứu chữa thời bấy giờ. Ba thanh niên lành mạnh bị xô đẩy vào cuộc chiến, bị biến thành những kẻ đồng lõa, để rồi sau đó bị quẳng sống vạ vật giữa cái xã hội hỗn mang thời hậu chiến. Với họ, chỉ có mất mát: Lenz mất mạng vì một bọn phát xít choai choai, Koster phải bán xưởng, bán chiếc xe mà anh yêu quý hơn chính cánh tay mình, Robby mất người yêu, cũng là mất cái mắt xích cuối cùng gắn anh với cuộc đời… Ai là kẻ có tội trước cuộc đời bỏ đi của họ? Cuộc chiến tranh phát xít. “Ba Người Bạn” vẽ lên đầy đủ cuộc sống cơ cực của tầng lớp nghèo hèn nhất trong xã hội, những con người bị coi là hạng “cặn bã” phải chịu hậu quả ghê gớm của chiến tranh, để một nhóm kẻ cầm quyền hưởng lợi nhuận chiến tranh. Có lẽ không ai có thể cảm thông với đám cựu chiến binh hơn là các cô gái điếm và ngược lại. Họ đều là những người trẻ tuổi, nuôi những mơ ước bình dị, nhưng chiến tranh đã không cho họ cái cơ hội làm một con người bình thường. Nạn đói, nạn thất nghiệp, sự bỏ mạng của người chồng nơi chiến địa đã đẩy những người phụ nữ suốt đời chỉ mơ làm vợ làm mẹ ấy phải lao vào con đường bán trôn nuôi miệng. Remarque đã viết về họ, những nạn nhân đáng thương chứ không đáng trách ấy, với một ngòi bút đầy nhân đạo, vị tha. Dưới ngòi bút của tác giả, những nhân vật “cặn bã” này, những chàng trai cô gái bất hạnh “bỏ đi” này lại “người” hơn ai hết. Thật cảm động là những trang viết về tình gắn bó đùm bọc giữa họ với nhau, họ không thương lấy nhau thì còn ai thương họ nữa, vả chăng họ mất mát nhiều quá, thiệt thòi nhiều quá nên cũng quá cảm thông nhau. Những người như họ có quyền hưởng hạnh phúc, nhưng cuộc đại chiến thế giới thứ nhất đã thiêu ra tro quá khứ và hiện tại của họ, và đại chiến thế giới lần thứ hai đang rình rập hủy nốt cái gọi là tương lai không có tương lai của họ. Đói nghèo, thất nghiệp, mãi dâm - những nét tiêu biểu của xã hội Đức trong những năm cuối thập kỷ 20 thế kỷ này đã được Remarque mô tả một cách hết sức giản dị mà cực kỳ rõ nét, đầy đủ trong “Ba Người Bạn”. Các nhân vật của ông mỗi người khổ sở mỗi cách. Đó là Muttchen, một bà lão đêm đêm đứng đường với chảo xúc xích để cung phụng ông chồng nghiện moocphin, đó là Valentin, cựu chiến binh, nuôi ấn tượng quá khủng khiếp về cuộc chiến tranh, không còn biết bắt đầu lại ra sao với cuộc đời mình, suốt ngày ngập trong rượu mừng vì nỗi thoát chết; đó là Hasse, một viên chức cần mẫn, lúc nào cũng chúi mũi vào việc công sở, nơm nớp lo mất việc, không dám ăn tiêu, dè xẻn từng đồng phòng khi thất cơ lỡ vận, để đến nỗi bà vợ chịu không nổi bỏ đi, cuối cùng kẻ xấu số ấy thắt cổ tự vẫn; đó là F Grau, một họa sĩ có tài nhưng phải sống bằng nghề truyền thần ảnh người chết… Biết bao kiếp người bế tắc trong một xã hội bế tắc. Qua một chương thôi, Remarque đã cho ta thấy sự bế tắc tột cùng của những người Đức thời bấy giờ, họ đổ xô đến những cuộc hội họp chính trị, không cần biết mục đích của đảng phái chính trị ấy, họ tìm một cái gì đó thay cho tôn giáo để mà tin, để mà bấu víu, và dễ dàng trở thành những kẻ cuồng tín. Đó chính là cơ sở để chủ nghĩa phát xít phát triển, đi đến chỗ cầm quyền. Đã thấy bóng dáng của lũ người mặc áo bludông, những tên phát xít khủng bố được dung túng. Vả chăng Lenz cũng đã chết bởi bàn tay chúng. “Ba Người Bạn” cũng như cả loạt tác phẩm có thể gọi là “chống chiến tranh” của Remarque hơn lúc nào hết vẫn mang tính thời sự nóng hổi, bởi hiện nay các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đang đấu tranh không tiếc sức cho một hành tinh hòa bình không có chiến tranh, chống lại cuộc chiến tranh thế giới mới luôn đe dọa bùng nổ bởi bàn tay của các thế lực đế quốc và bọn phát xít mới. Giới thiệu với bạn đọc “Ba Người Bạn”, chúng tôi hy vọng thời gian tới đây có thể lần lượt cho ra mắt đầy đủ, có hệ thống, các tác phẩm nổi tiếng tiếp theo của Remarque, nhà văn lỗi lạc mà bằng sự nghiệp văn học của mình mãi mãi còn góp tiếng nói cho hòa bình. 7-1987. Vũ Hương Giang Mời các bạn đón đọc Ba Người Bạn của tác giả  Erich Maria Remarque.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù
Nếu kết cuộc được định sẵn của một kiếp người là trở thành bụi tro “đến theo dòng nước, tàn theo gió” thì ý nghĩa thật sự của đời sống nằm ở đâu? Câu trả lời là: trước khi hóa thành tàn tro, người ta phải là một tia lửa rực cháy. Lấy bối cảnh một trại tập trung Đức Quốc xã vào những ngày cuối cùng của Thế chiến II, Lửa yêu thương lửa ngục tù là câu chuyện xoay quanh cảnh lao ngục của người tù 509 và những bạn đồng cảnh của y. Trong lao tù, họ bị xem là súc vật, là những bộ xương, là những cái xác ốm đói chỉ còn chờ ngày chết. Tuy vậy, dù chỉ thoi thóp chút tàn hơi, họ vẫn nương tựa lẫn nhau, cùng chiến đấu và bảo vệ nhau. Với họ, cuộc đấu tranh này không đơn giản là đấu tranh sinh tồn, mà là đấu tranh để bảo vệ tia lửa sống đang bừng lên trong mình, tranh đấu cho quyền được làm người và quyền sống như một con người trước tội ác vô loại của bọn Đức Quốc xã. *** Remarque (1898 – 1970) là nhà văn lừng danh người Đức. Ông nổi tiếng với Phía Tây không có gì lạ, một trong những tác phẩm hay nhất về Thế chiến I. Các tác phẩm tiêu biểu khác của ông như Ba người bạn, Khải hoàn môn, Đêm Lisbon…cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định tài năng và danh tiếng của ông khắp năm châu. Năm 1931, ông được đề cử cả giải Nobel Văn chương và Hòa bình. Bia mộ đen (Der schwarze Obelisk – 1956) một lần nữa cho thấy thiên bẩm của Remarque trong việc nhìn ra được niềm vui, lạc quan và những điều tốt đẹp giữa khổ đau, tuyệt vọng và xấu xí. Nhận xét về tác phẩm này, cây bút F.T. Marsh của tờ New York Herald Tribune từng viết: “Dí dỏm nhưng đượm buồn, vừa nghiêm túc lại có chút giang hồ, tuyệt diệu trong từng câu chữ nhưng vẫn khó nắm bắt vô vùng”. Những tác phẩm tiêu biểu: Phía Tây không có gì lạ; Khải hoàn môn; Ba Người Bạn Đường về; Tia lửa sống; Bia mộ đen; Chiến Hữu Bản Du Ca Cuối Cùng Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết *** Khu vườn chìm trong màu sáng bạc. Không khí thoang thoảng hương hoa tím. Cây ăn trái trồng dài theo bờ tường phía Nam trông như đang bị bao phủ bởi một rừng bướm trắng hồng. Alfred đi đầu, phía sau là ba người mặc quân phục. Họ đi trong im lặng. Alfred chỉ tay về trại nuôi gia súc. Ba người Mỹ tản mác không một tiếng động. Alfred đẩy cửa ra: - Neubauer! Ra đây! Có tiếng càu nhàu từ trong bóng tối vọng ra: - Cái gì đó? Ai vậy? - Ra đây? - Ủa! Alfred đó hả? - Phải. Neubauer lại càu nhàu: - Mẹ kiếp! Lại ngủ nữa! Cứ nằm mơ... Hắn sửa giọng rồi nói tiếp: - Có phải chú mới bảo tôi ra không? Một người Mỹ từ nãy rón rén tới sát bên Alfred bỗng bấm đèn lên: - Đưa tay lên! Bước ra ngay! Trong vòng tròn ánh sáng xanh mờ, Neubauer mình trần vẫn còn ngồi trên một chiếc ghế bố nhà binh. Hắn nhấp nháy mắt: - Cái gì? Các người là ai? Người Mỹ quát: - Đưa tay lên! Có phải tên là Neubauer không? Neubauer vừa đưa tay vừa gật đầu. - Chỉ huy trưởng trại tập trung Mellern hả? Neubauer lại gật đầu. - Bước ra! Neubauer nhìn vào họng súng đang chĩa thẳng vào hắn. - Cho tôi mặc áo đã! - Bước ra ngay! Ngập ngừng, Neubauer bước ra. Một trong ba quân nhân Mỹ nhảy phóc tới kềm chế Neubauer trong khi người kia lục soát căn trại. Neubauer lườm Alfred: - Chú đưa họ tới hả? - Phải. - Đồ Judas! Alfred trả lời từng tiếng một: - Ông không phải là Jesus Christ mà tôi cũng không phải là đảng viên Quốc Xã. Người Mỹ lục soát bên trong đã trở ra. Neubauer hỏi viên Trung sĩ Mỹ biết nói tiếng Đức: - Cho tôi mặc áo vào, được không? Treo ở sau chuồng thỏ. Viên Trung sĩ Mỹ do dự một chút rồi vào trong lấy chiếc áo thường phục ra. Neubauer xuống giọng: - Không phải áo này. Tôi là quân nhân mà. - Không có quân nhân gì cả. Neubaner năn nỉ: - Xin lấy giùm tôi chiếc áo của Đảng. ... Mời các bạn đón đọc Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù của tác giả Erich Maria Remarque.
Hoa Bên Bờ - An Ni Bảo Bối
Những lúc rỗi rãi, tôi thường đến hiệu sách. Cũng tại đây, đôi khi tôi nghe thấy người ta nhắc đến tên tôi. Họ đang tìm sách của tôi. Đứng ngay bên cạnh anh. Rất gần. Nhìn thấy khuôn mặt và những cảm xúc trên đó, ngửi thấy mùi của anh. Người con gái viết sách đã đứng bên cạnh. Khoảng cách giữa hai người chỉ là 10 cm. Đó là một cô gái mặc chiếc quần bò cũ, tóc tai rối bời, không son phấn. Nhưng anh vẫn không hay biết. Cảm giác đó khiến tôi mê mẩn. Tôi đang trong tối. Anh ở ngoài sáng. Giữa chúng tôi có một bầu tâm sự thầm kín. Rồi tôi viết cuốn tiểu thuyết dài hơi đầu tiên ở Thượng Hải. Còn nhớ chủ đề liên quan tới một cuộc tâm tình. Hình như trong một chuyến lữ hành, trên máy bay, trên tàu thủy hoặc với bạn đồng hành trong cùng một phòng trọ. Biết được thời gian chỉ nhiều nhặn như thế, sau khi chia tay có lẽ sẽ không gặp nhau. Thế là lại tâm tình trong bóng tối. Tháo chiếc mặt nạ. Mở rộng tấm lòng. Có vậy, cuộc tâm sự mới có thể bắt đầu. *** Cô nói, Tôi là một con chim đầy cảnh giác, không dễ đậu lại. Vì thế cứ bay mãi. Tôi luôn cho rằng mình đã quen với thời gian đã trôi và những chuyện cũ. Bất kể ở đâu, gặp phải ai và kết thúc bằng cách nào. Tôi là Kiều. Mùa xuân năm đó, tôi ở Thượng Hải. Hằng ngày viết lách ở nhà, và các mục chuyên đề cho vô số tờ tạp chí. Để mỗi một từ ngữ nảy sinh giá trị phản ánh tinh thần và vật chất. Đó là kỹ năng mưu sinh duy nhất của tôi. Thu nhập tuy không ổn định nhưng có thể duy trì sự sống. Cách sống như vậy trong con mắt mọi ngườicó lẽ hơi tuỳ tiện và thiếu cảm giác an toàn. Nhưng đối với một cô gái đã nhiều năm không có việc làm ổn định và không muốn xuất hiện trong đám đông cũng giống loài cá đắm mình dưới đáy biển. Có con ẩn dưới mấy trăm mét, có con ẩn tới mấy nghìn mét, nóng lạnh tự biết, chỉ vậy mà thôi. Tôi là một đứa con gái thích tự do, ưa nhàn rỗi. Nói một các hkhác, tôi là một con người ích kỷ. Cái được gọi là “tiêu chuẩn của sự ích kỷ” là chỉ sống theo cách của mình. Buông thả thói quen xấu của mình như ngủ nướng, kiếm cơn say trong những quán bar gần nhà. Yếu ớt chìm đắm trong khói thuốc lá và chống chọi với hư vô. Thần kinh mệt nhoài và ăn vận lôi thôi. Thường xuyên ngồi phệt xuống đất, cười phá lên. Cũng có lúc quá nhạy cảm, do vậy cảm thấy quá khác biệt với nhiều mối quan hệ. Nhưng cũng không quá chấp nhặt với mọi người và công việc xung quanh. Không chấp nhặt không có nghĩa là khoan dung. Chẳng thà rằng trong phần lớn thời gian, tôi không hề có hứng thú với mọi chuyện. Mơ màng với tất cả những thứ mà tôi không quan tâm hoặc coi trọng. Không chịu trả giá. Có nhu cầu hưởng thụ đơn độc. Có lẽ tất cả đặc tính này đã quyết định nên việc tôi chỉ có thể lựa chọn viết văn. Tôi thích nó có thể giúp tôi lựa chọn những cách thích hợp chạy trốn hiện thực ồn ào, huyên náo. Tuy cũng cảm giác rằng chỉ có những người bị mắc bệnh trầm cảm dày vò kéo dài mới làm công việc đó. Tháng tư ở Thượng Hải tiết trời vẫn lạnh, nhưng vẫn cảm nhận được mùa xuân dần tới. Có lúc vào một buổi chiều đột nhiên có tâm trạng. Ngồi xe buýt đi ngắm cảnh mùa xuân thành phố. Ngồi ở hàng ghế cuối cùng, đặt chân vào chỗ dễ chịu nhất. Khi chiếc xe chậm chạp đi vào con đường đang bị ách tắc giao thông do sửa chữa, tôi có thể nhàn tản ngắm nghía ánh xuân ngoài cửa sổ và các cô gái xinh đẹp. Buổi chiều yên bình. Những toà nhà cổ theo kiến trúc phương Tây. Cái sân phơi đầy quần áo. Một góc ban công hé nở chùm tường vy màu phấn hồng. Lá cây ngô đồng xanh biếc cứ lấp lánh nắng. Cậu thanh niên Pháp đẹp trai bên đường cười tít mắt dưới ánh mặt trời, nét mặt mơ màng và chân thành. Niềm vui của tôi chỉ là những thứ rất vụn vặt. Cũng giống như tên một ban nhạc Nhật Bản từng yêu thích trước đây - Điều nhỏ bé (Little Thing). Những chi tiết nhỏ nhặt là nguyên nhân tạo nên hạnh phúc. Thích cuộc sống đơn giản. Làm những việc mà mình thích. Sống trong thành phố mà mình yêu. Tốt nhất vẫn có thể gặp được thời tiết mà mình muốn, những người đàn ông và phụ nữ mà mình thích. Chỉ cần cam tâm tình nguyện, việc gì cũng có thể trở nên đơn giản. Không cần bất kỳ lý do phức tạp nào. Đây là nguyên tắc sống mà tôi tin tưởng. ... Mời các bạn đón đọc Hoa Bên Bờ của tác giả An Ni Bảo Bối.
Giải Thưởng Bất Ngờ - Julie Garwood
Royce là một thủ lĩnh nổi tiếng và được biết đến như là một người Norman xuất sắc trong việc huấn luyện binh lính. Anh chỉ huy rất có tổ chức, sống một cuộc sống mẫu mực và yêu cầu tất cả mọi người dưới quyền đều phải phục tùng anh ...cho đến khi anh gặp Nicholaa.  Nicholaa là một cô gái trẻ đầy láu lỉnh không thích những người Norman xâm chiếm quê hương cô. Cô sử dụng mưu kế để thoát khỏi tay Royce khi gia đình cô bị bắt giữ. Nhưng cuối cùng cô cũng bị anh nắm đượcnhược điểm và mang cô về Luân Đôn để Đức vua mang cô làm "Giải thưởng" ban tặng cho một hiệp sĩ xứng đáng. Nicholaa liên tục tìm cách chạy trốn và luôn bị bắt lại vì thế cô rất căm ghét Royce.  Vận mệnh xoay chuyển khi Đức vua quyết định Nicholaa là người "được" chọn thay vì là người "bị" chọn, và cô đã chọn Royce ... để trã đũa anh vì đã bắt giữ cô. Royce sẽ làm gì khi buộc phải nhận "Giải Thưởng" mà anh đã không mong đợi ? *** Julie Garwood sinh tại thành phố Kansas bang Missouri, Mỹ là tác giả khá thành công ở thể loại tiểu thuyết lãng mạn với hơn 27 đầu sách, 35 triệu bản in được phát hành trên khắp thế giới. Hơn 20 tác phẩm của bà lọt vào danh sách bán chạy nhất của tờ New York Times. Julie viết cả tiểu thuyết lịch sử - lãng mạn lẫn hiện đại lãng mạn pha trộn sự hồi hộp, gây cấn, trong đó có một cuốn tiểu thuyết dành cho giới trẻ có tựa đề A girl named Summer (Cô Nàng Mùa Hè). Một số tác phẩm nổi tiếng của Julie Garwood: Gentle Warrior (Chiến Binh Nhân Từ, 1985); A Girl Named Summer (Cô Nàng Mùa Hè, 1986); Prince Charming (Hoàng Tử Trong Mơ, 1994); Các sê-ri: Crown's Spies (Những Chàng Điệp Viên Hoàng Gia); Lairds' Brides (Những Nàng Dâu Quý Tộc); Highlands' Lairds (Những Quý Tộc Miền Cao Nguyên)... Lâu đài hạnh phúc (tựa gốc The Castle) là tác phẩm thứ tư trong sê-ri Crown's Spies của Julie Garwood gồm bốn cuốn nói về bốn anh chàng gián điệp của Chính phủ Anh vào thế kỷ 19, bao gồm: Lyon's Lady, Guardian Angel (Thiên thần hộ mệnh); The Gift và The Castle. Sách đã xuất bản và dịch tại Việt nam: Món Quà Tình Yêu Lâu Đài Hạnh Phúc Thiên Thần Hộ Mệnh Danh Dự Huy Hoàng Cô Nàng Sư Tử Rebellious Desire Kẻ Phá Đám Điều Bí Mật Sizzle The Ideal Man Shadow Music *** Khu vực ngoại thành Luân Đôn đã biến thành thiên đường của màu sắc. Những chiếc lều với sắc cờ của mỗi tướng quân rải rác trên những ngọn đồi nhìn xuống nơi diễn ra các trận đấu. Nơi đóng quân của Đức vua, phía bên kia, thì to lớn và sang trọng hơn những chỗ khác. Nicholaa cho rằng mọi người ở Anh đều đến tham dự. Phụ nữ mặc những chiếc áo dạ tiệc sang trọng nhất, đi dạo bên cạnh khu vực cưỡi ngựa đấu thương để những người đàn ông có thể thấy họ. Trẻ em chạy từ xe đẩy này đến xe đẩy khác, vồ lấy bánh kẹo. Những người hát rong di chuyển xuyên qua đám đông, hát những khúc tình ca lãng mạn. Những người kể chuyện đang chăm chú quan sát mọi người để họ có thể ghi lại chính xác sự kiện lịch sử này trong tâm trí họ để thuật lại trong tương lai. Chỉ sáu tướng quân có được vinh dự mang người của họ đến tham gia vào cuộc đấu. Nếu tất cả các tướng quân đều được phép tham dự, thì lễ hội này sẽ kéo dài cả tháng hoặc hơn. Những người lính có kinh nghiệm được đấu trước. Nicholaa đứng trên đồi với Justin ở bên cạnh và tất cả những tân binh khác đứng sau lưng cô. Họ hoan hô cổ vũ cho Lawrence và nhóm của anh. Binh lính của Tướng quân Hanson gần như ngay lập tức bị đánh bại. Binh lính của Tướng quân George rời khỏi đấu trường tiếp theo. Đến chiều thì chỉ còn lại hai đội. Binh lính của Tướng quân Guy bây giờ sẽ đấu với người của Tướng quân Royce, như mọi người đã dự đoán. Nicholaa quá căng thẳng đến mức không thể hoan hô. Cô cũng không nhìn Lawrence. Cô cứ dán chặt ánh mắt của cô lên người chồng cô. Anh đứng bên lề đấu trường, đối diện với Guy ở phía bên kia sân. Mỗi lần Royce mỉm cười, Nicholaa khẽ thở dài nhẹ nhõm. Khi anh cau mày, ruột gan cô lại lộn nhào. Tiếng gầm rống điếc tai đột nhiên làm cô chú ý. Cô hướng về đấu trường. Bây giờ chỉ còn lại Lawrence và Henry. Thuộc cấp của Royce đang đứng trên người Henry. Tên lính của Guy nằm ngửa trên mặt đất. Mũi gươm của Lawrence chạm vào cổ Henry. Mặc dù vậy Lawrence không nhìn con mồi của anh. Anh đang nhìn chằm chằm vào Royce, chờ tín hiệu của anh. Nicholaa nín thở. Royce tận hưởng khoảnh khắc quyết định ngọt ngào của anh. Sự im lặng bao trùm đám đông. Royce hướng về Đứa vua của anh, bắt được nụ cười của ông, rồi cuối cùng quay lại về phía Lawrence. Cuối cùng Royce lắc đầu. Lawrence ngay lập tức lùi khỏi Henry, cho hắn đủ chỗ để đứng dậy và rời khỏi đấu trường. Lawrence không mất nhiều thời gian để đánh bại Morgan. Nicholaa nghĩ là Lawrence không muốn mất thời gian để đùa giỡn với hắn ta. Anh đánh hắn bất tỉnh trong vòng mười phút. Bây giờ chỉ còn lại lính của Royce ở trên sân. Họ sắp hàng và đi đến gần tướng quân của họ. Bước đi của họ thật kiêu ngạo, nụ cười toét miệng của họ thật ấn tượng. Royce không để lộ chút phản ứng gì với chiến thắng. Khi binh lính của anh đến chỗ anh, anh chỉ gật đầu, sau đó quay lại và đi đến chỗ của Đức vua. Những binh sĩ của anh đi theo sau anh. William đứng lên, đưa tay ra dấu im lặng, và rồi công bố trong tiếng la hét rằng một lần nữa binh sĩ của Tướng quân Royce đã chứng tỏ sự ưu việt của họ. Họ sẽ được tưởng thưởng thích đáng. Tiếng hoan hô vang dậy. ... Mời các bạn đón đọc Giải Thưởng Bất Ngờ của tác giả Julie Garwood.
Điều Tuyệt Vời Nhất của Thanh Xuân - Bát Nguyệt Trường An
“Dư Hoài” “Hử” “Trước đây cậu có thích tớ không?” Cậu ấy dịu dàng nhìn tôi, cười khì khì, cúi đầu gãi gãi gáy, giống như chàng trai 17 tuổi cấp 3 năm đó. Cũng tốt, vấn đề mà Cảnh Cảnh năm 17 tuổi phải hỏi, Dư Hoài năm 17 tuổi trả lời. Rất lâu sau, Dư Hoài nhè nhẹ gật đầu. Bỗng chốc nước mắt tôi rơi ướt đẫm mặt. Thanh xuân là gì? Là những điều chưa dám nói, Những việc chưa dám làm, Những mơ hồ thoáng chốc chưa từng quên, Là khoảng thời gian không thể quay trở lại… dù chỉ một lần. Thanh xuân là gì? Là phát sáng cũng là tiếc nuối. Thanh xuân của chúng ta đều có một “ai đó”. Một cậu bạn cùng bàn bên được vây quanh bởi biết bao cô nàng, một cô bạn ngốc nghếch hay ngủ quên trong giờ học, hay thậm chí là một anh chàng lớp trên phía bên kia hành lang vẫn mỗi sáng rảo mắt qua phía bên này hành lang ấy. Ai cũng được và chỉ ở đó thôi... trong tim. Không hề dám mở lời kết bạn, mở lời yêu thương. Đem theo những cảm xúc non nớt với một tâm hồn mong manh của những cô cậu học sinh cấp 3 còn trẻ dại, chỉ dám đứng bên lề cuộc sống của người đó mà dõi theo, mà thương thầm nhớ trộm. Để rồi, những lời cần nói, không thể nói, những việc phải làm, lại không làm. Chỉ cho đến lúc thanh xuân từ lúc nào bỗng nhiên trôi qua vội vã, không một lời từ biệt, mới nhận ra rằng bản thân thực sự đã bỏ lỡ những gì. Tháng năm trôi đi, ai rồi cũng sẽ lớn. Chuyện ngày cũ, rồi chỉ là quá khứ mà thôi. Sớm muộn gì cũng mờ nhạt trong tâm trí, nhưng mỗi lần nghĩ lại chắc chắn đâu đó trong lòng vẫn còn rất nhiều những khoảng trống, những hoài niệm không tên. Nhưng cũng chẳng sao cả, bởi vì điều tuyệt vời nhất của thanh xuân chính là có một ai đó để đem theo trong tim đến mãi sau này. Điều tuyệt vời nhất của thanh xuân – câu chuyện thanh xuân không dành riêng cho ai. Mà dành cho thanh xuân của tất cả mọi người. Như một thước phim quay chậm, thật chậm, đọc Điều tuyệt vời nhất của thanh xuân để cùng bật cười với những ngốc xít, cùng bật khóc nơi những nuối tiếc và rồi nhắm mắt lại để thấy lòng mình trôi về những ngày thanh xuân đã và đang qua. “Điều tuyệt vời nhất của thanh xuân” là gì? Chẳng là gì cả! Chỉ là những mơ hồ như ánh mắt ấy, nụ cười ấy... Như cậu ấy! Vậy thôi! *** No. 1 Tôi tên là Cảnh Cảnh. Người thân đều nói tên này không hay, Cảnh nhi, Cảnh nhi, nghe giống như phải cật lực nén nhịn uất ức với ai vậy. Nhưng tôi thích cái tên này lắm. Tên có hay hay không chỉ là thứ yếu, điều quan trọng là trong cái tên này chứa đựng tâm ý. Bố mẹ tôi đều họ Cảnh, có lẽ lúc họ đặt tên cho tôi, trong đầu đều là “đoàn kết sức mạnh”, “kết tinh tình yêu” – những ý niệm đẹp đẽ như vậy, cho nên tôi được gọi là Cảnh Cảnh. Có điều sau đó họ ly hôn. Tôi cũng không chắc chắn với cách giải thích tên của mình, có phải chỉ là một bên tình nguyện hay không. No. 2 Năm tôi thi cấp ba gặp phải dịch SARS. Trong thời kỳ rối loạn lúc ấy, là một học sinh bình thường của một trường trung học cơ sở bình thường, tôi đúng là không phúc hậu tiêu tốn tiền tài quốc gia mà. Cuộc thi Tiếng Anh được bỏ qua phần nghe, độ khó đề thi Toán cũng được giảm bớt, đề thi môn Ngữ Văn trở thành đề văn của học sinh tiểu học, Vật lý, Hóa học được điều chỉnh xuống thang điểm thấp nhất trong tổng số điểm. Tóm lại, từ trước đến giờ nhiều lần tham gia cuộc thi thử nhưng bạn học Cảnh Cảnh chưa lần nào được đứng thứ ba cả lớp, vậy mà thi lên cấp đề thi chung lại được đứng thứ ba toàn trường. Sau đó, các bạn cùng lớp kéo tôi đến cửa tiệm Kỳ Hạm của Adidas và cửa hàng Lý Ninh1 chụp ảnh. Lý Ninh: Thương hiệu thể thao nổi tiếng của Trung Quốc, Lining. Lining được biết đến rộng rãi và bị chỉ trích nhiều với khẩu hiệu “biến tấu” của Adidas. Ngoài ra, logo hình chữ “L” của Li-Ning khá tương đồng với dấu ngoắc của Nike, trong khi khẩu hiệu “Nothing is Possible” (Không gì là không thể) chẳng khác biệt mấy so với “Just do it” (Cứ hành động đi!) của Nike. Họ nói bức ảnh này biểu đạt “Nothing is impossible” – Không gì là không thể. Sau đó lại để tôi đến trước cửa tiệm Nike giơ giấy bảng trúng tuyển màu đỏ của trường Chấn Hoa lên để chụp ảnh lưu niệm. Họ nói rằng tấm ảnh thể hiện tinh thần “Just do it” – Hãy làm đi nào! Tôi hỏi họ có hiểu hàm ý của cụm từ “Just do it” không, họ nói, sao lại không biết? Chính là giết nó! Cuối cùng tôi không thể “giết” được Chấn Hoa. Điều này để sau hãy nói đi. Với lại, trong giai đoạn tôi buồn bực lúc đó, nghe nói Adidas vì một sự việc gây kinh ngạc nào đó mà trong lúc giận dữ đã thay đổi khẩu hiệu thành “Nothing is Impossible”. Đây mới là chân tướng sự thật. Trên thế giới, điều duy nhất không thay đổi chính là sự thay đổi và điều duy nhất có thể trên thế giới này chính là điều không thể. No. 3 Khi điền nguyện vọng, tôi điền nguyện vọng ba mục, đó là ban cơ bản Chấn Hoa, ban tự túc Chấn Hoa, ban phân ban Chấn Hoa. Còn nhớ lúc phải nộp nguyện vọng, tôi là người cuối cùng nộp cho giáo viên. Che che giấu giấu, sợ bị người khác nhìn thấy. Phải biết là, người luôn luôn đứng đầu lớp chúng tôi cũng không dám đăng ký vào Chấn Hoa. Cô bạn ấy đã đắn đo rất lâu, cuối cùng vẫn chọn trường trung học trực thuộc đại học sư phạm; chỉ cần đăng ký nguyện vọng trường sư phạm, thi đỗ với số điểm chuẩn là cô bạn có thể được bớt 10 điểm. Lúc đó, trường sư phạm sử dụng phương thức này chính là đoạt đi một nhóm vốn có khả năng thi thi đỗ trường Chấn Hoa nhưng lại không tự tin với lực học xuất sắc của chính bản thân mình. Khi ấy, mỗi khi kết thúc một kỳ thi, các bạn lớp tôi đều nói đùa trước mặt cô ấy rằng, cô ấy là mầm non tương lai của Chấn Hoa. Chúng tôi không có ác ý, nhưng hồi lớp ba, cứ mỗi lần thi thử xong, cô ấy lại vì trò đùa này mà tức giận. Không ít người vì điều này mà cho rằng cô ấy cố tình gây sự. Nhưng tôi hiểu cô ấy, chúng ta không phải chịu trách nhiệm khi dùng mấy câu nói để tâng bốc người khác, song chẳng may ngã xuống sẽ chẳng có ai đến đỡ cô ấy. Về sau tôi kể với bố tôi chuyện này, bố tôi nói kiểu vuốt đuôi mà đánh giá rằng, Cảnh Cảnh à, khi đó con đã có đầy đủ điều kiện để có thể đỗ trường Chấn Hoa rồi, con có thể đứng dưới góc độ là mầm non của Chấn Hoa mà suy xét vấn đề, rất tốt. Bố thật cmn thối mà… Tôi chợt nhớ ra ông ấy là bố tôi, không phải là bạn cùng bàn, vội vàng nuốt lại câu thường nói với bạn bè vào trong bụng. Thực ra, quan hệ giữa tôi và bố tôi, rất giống “bạn cùng bàn”. No. 4 Điền nguyện vọng như vậy là do bố tôi kiên quyết. Mục tiêu của ông là giữ vững phân hiệu, cố gắng tự túc. Nói không chừng có thể đỗ vào ban cơ bản. Tôi ngắt lời ông. Bố ơi, nếu như loại chuyện đó thực sự xảy ra, nhất định sẽ phải trả bằng một cái giá nào đó, ví dụ như giảm tuổi thọ. Sau đó, dĩ nhiên tôi lại hồ đồ mà vào ban cơ bản. Ban cơ bản của Chấn Hoa đó! Đây căn bản là làm cuộc cho vay nặng lãi với lão Diêm vương, hơn nữa lại còn là mắc nợ nặng nề, mẹ nhà nó, lấy mạng của tôi đi! No. 5 Giáo viên chủ nhiệm của lớp tôi nói rằng, trong tất cả 13 lớp, chỉ có ba bạn đăng ký trường Chấn Hoa, một là Dư Châu Châu lớp 7, hai là Thẩm Sằn lớp 2, và người còn lại là tôi. Thẩm Sằn cuối cùng thi không thành. Nghe đồn rằng cô bạn ấy đi vệ sinh cũng mang theo quyển sách từ đơn, cụm từ để học thuộc, là một người rất lợi hại. Ba năm đổi lấy một ngày kết quả thế này, tôi không biết nên nói gì nữa. Vào một ngày mùa hè nắng to, lúc tôi ngồi xổm trước cửa nhà Khẳng Đức Cơ liếm cây kem ốc quế đậu xanh tránh nắng, ngẩng đầu lên vô tình nhìn thấy Thẩm Sằn đi ngang qua. Cô bạn ấy không mang ô, cũng không tránh ánh nắng gay gắt ngoài kia, vẫn như cũ đeo cái balo to, mặt mũi bóng nhẫy, trên trán có nổi mụn nữa. ... Mời các bạn đón đọc Điều Tuyệt Vời Nhất của Thanh Xuân của tác giả Bát Nguyệt Trường An.