Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hang Động

Lấy cảm hứng từ huyền thoại hang động trong đối thoại triết học của triết gia thời cổ đại Platon, José Saramago đã viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Hang động, để phê phán xã hội tiêu thụ nói riêng và chủ nghĩa tự do mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, thông qua hình ảnh hủng khiếp của Trung tâm thương mại khổng lồ đang từng ngày từng giờ bành trướng về đất đai, về quyền uy, không chỉ về vật chất mà cả tinh thần, “một thành phố trong một thành phố, nhưng lại to hơn chính cái thành phố kia”. Cuốn tiểu thuyết phản ánh bước chuyển biến từ xã hội nông nghiệp - thủ công nghiệp sang xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng trên đất nước Bồ Đào Nha, qua đó chỉ rõ mỗi con người trong quá trình này đang bị đặt vào thế tiến thoái lưỡng nan: khi mà lối sống thực dụng, thói quen tiêu thụ, triết lý thị trường của xã hội tư bản ngày càng phát triển, sinh ra những mối quan hệ mới, những thế giới quan mới, buộc người ta phải quen với một trạng thái nô lệ kiểu mới, “ai không điều chỉnh được sẽ không dùng được”, và cũng như trong tác phẩm của Platon, một số người thoát ra khỏi hang động này, kịp thời nhận ra có thể có một cách sống khác. Câu chuyện xoay quanh số phận của một gia đình ba đời làm nghề gốm ở một vùng quê nghèo và đã bị Trung tâm đẩy vào bước đường cùng. Là nhân viên của Trung tâm, Marcal thì làm việc quần quật, đến nỗi vợ của anh, Maarta “chỉ được tận hưởng sự có mặt của chồng ở nhà và ở trên giường vẻn vẹn có sáu đêm và ba ngày mỗi tháng”. Trước bước phát triển như vũ bão của nền kỹ thuật, công nghiệp, cha con ông Cipriano Algor là những người thợ gốm cuối cùng cũng đành bỏ nghề, một nghề xưa nay vẫn có thể sản xuất ra của cải nay chỉ còn là kỷ niệm, nhà xưởng biến thành nghĩa trang, sản phẩm thành di sản khảo cổ cho hàng ngàn năm sau. Họ chuyển vào sống ở Trung tâm, vốn là ước mơ của bao người, trong gần ba tuần, mà chẳng khác gì bị tù, để rồi người cha phải thốt lên: “tại sao mình lại có thể để bị giam kín trong suốt ba tuần mà không nhìn thấy mặt trời và những ngôi sao…”. Cuộc sống tự do đã thôi thúc họ từ bỏ tất cả, đi tìm một cuộc sống mới không chỉ cho họ mà cho cả con cái của họ nữa. Câu chuyện có ý nghĩa hiện thực sâu sắc và cũng hết sức cảm động về tình cảm vợ chồng, cha con, về tình yêu giữa hai người goá bụa nảy nở trong hoàn cảnh khó khăn cùng cực. Một cốt truyện giản dị, sâu sắc được kể liền mạch như trong một cuộc độc thoại nội tâm dài. Phong cách viết tiểu thuyết của José Saramago hết sức độc đào. Ông thường viết những câu văn rất dài, dùng dấu chấm, dấu phẩy mới nhìn tưởng là sai ngữ pháp, nhưng xem kỹ lại thấy hợp lý, mọi đối thoại đều liền mạch nối dài như mãi không dứt. Xen vào mạch truyện, ông thường đưa ra những nhận xét về mọi bình diện của cuộc sống, tuy đôi khi có những ý kiến rất khó hiểu những độc giả luôn tiếp nhận một cách thích thú. *** José de Sousa Saramago (16/11/1922 - 18/6/2010) là nhà văn, nhà thơ Bồ Đào Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1998. José Saramago sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở một làng nhỏ cách thủ đô Lisboa 100 km. Bố là lính pháo binh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, quyết định bỏ công việc đồng áng lên sống ở Lisboa. Những năm tiểu học, cậu là một học sinh giỏi: hoàn thành lớp ba và lớp bốn chỉ trong một năm. Khi lớn lên, vì không có khả năng tài chính Saramago phải vào học một trường kĩ thuật để trở thành thợ cơ khí. Học xong hai năm, Saramago làm việc cho một tiệm sửa chữa xe hơi, vào buổi tối, ông thường tới một thư viện công cộng ở Lisboa để đọc sách tự học thêm. Năm 1944, José Saramago cưới vợ, chuyển sang làm việc ở cơ quan phúc lợi xã hội. Năm 1947, ông viết xong cuốn tiểu thuyết đầu tiên Viúva (Góa phụ) nhưng do yêu cầu nhà xuất bản đã đổi thành Terra do Pecado (Mảnh đất tội lỗi). Sau đó Saramago còn bắt tay viết thêm mấy tiểu thuyết, nhưng rồi ông hiểu ra rằng mình chưa có gì để nói với thế giới nên đã lặng lẽ biến khỏi văn đàn suốt 19 năm không ai để ý. Vì các lý do chính trị, năm 1949 Saramago bị thất nghiệp nhưng nhờ lòng hảo tâm của một thầy giáo cũ ở trường kĩ thuật, ông tìm được việc làm ở công ty hợp kim. Sau đó ông chuyển sang làm việc với nhà xuất bản Estudios Cor. Đến năm 1966, ông xuất bản Os Poemas Possíveis (Chùm thơ có thể) đánh dấu sự trở lại của ông với văn chương. Năm 1969 ông vào Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha. Năm 1970, ông xuất bản tập thơ Provavelmente Alegria (Có thể đây là niềm vui). Sau khi li dị năm 1970, ông có mối quan hệ với nhà văn Isabel Da Nóbrega. Năm 1971, ông rời nhà xuất bản, làm việc trong hai năm cho tờ báo buổi tối Diario de Lisboa. Năm 1975, Saramago xuất bản tập thơ O Ano de 1993 (Năm 1993) và tiểu thuyết Manual de Pintura e Caligrafia (Tài liệu về hội họa và thư pháp, 1978); tiếp đó ông liên tiếp cho ra đời các tập truyện và tiểu thuyết như Objecto Quase (Mục tiêu Quase, 1978), Đêm tối (1979), Que farei com este livro? (Tôi có thể làm gì với quyển sách này?, 1980)... Năm 1988, ông kết hôn với nhà báo Pilar Del Rio. Năm 1993, ông bắt đầu viết hồi ký gồm năm tập. Năm 1995, ông được trao giải Camoes. Năm 1998 ông được trao giải Nobel Văn học, cho đến nay là người Bồ Đào Nha duy nhất được nhận giải thưởng này. Năm 2000 Saramago hoàn thành tiểu thuyết A Caverna (Hang động), là cuốn cuối cùng trong bộ ba tiểu thuyết - 2 cuốn đã xuất bản là Ensaio sobre a Cegueira (Mù lòa, 1995) và Todos os nomes (Tất cả các tên gọi, 1997). Sáng tác của Saramago đa dạng và đầy mâu thuẫn. Tiểu thuyết Phúc âm theo Jesus Christ (1991) bị nhà thờ Cơ đốc giáo buộc tội "coi thường sự thật lịch sử và xuyên tạc các nhân vật chính trong Tân ước" nhưng lại được tái bản hơn hai chục lần trong nước và được dịch ra 25 thứ tiếng nước ngoài. Một trí thức tự học, gắn bó với văn chương từ trẻ nhưng phải đến sáu chục tuổi mới được thừa nhận, Saramago thường cay đắng nói: "Lên sao Hỏa còn dễ hơn là gọi được cửa trái tim của những kẻ cùng thời". Tuy vậy, giải Nobel có vẻ đã phủ nhận suy nghĩ bi quan này. Một số tác phẩm của được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Mọi Cái Tên Mù Lòa Hang Động ... *** Đồ đạc của bố ở đây, Marta nói, không nhiều lắm, chứa đủ trong chiếc vali nhỏ nhất, hình như bố đã linh cảm thấy mình chỉ ở đây có ba tuần thôi phải không, Đến một lúc nào đó trong cuộc đời người ta chỉ còn vác trên vai cái thân mình nữa thôi, Cipriano Algor nói, Câu nói hay đấy, Vâng, thưa bố, nhưng con chỉ muốn bố nói xem sẽ sống bằng gì nào, Nhìn ngắm những bông hoa loa kèn, chúng đẹp giản dị, chẳng thêu dệt rắc rối. Cũng là một câu nói đẹp, chính vì thế thứ hoa đó mãi mãi cũng chỉ là hoa loa kèn, Con là một kẻ hoài nghi điên cuồng, một kẻ vô sỉ khó chịu, Bố ơi, con xin bố, con đang nói chuyện một cách nghiêm túc, Bố xin lỗi con, Con hiểu chuyện vừa rồi là một cú sốc lớn đối với bố, cả đối với con nữa, dù con không xuống dưới đó, con hiểu rằng những người đàn ông và đàn bà kia không chỉ đơn giản là những người đã chết, còn có ý nghĩa lớn hơn nhiều, Thôi con đừng nói nữa, bởi vì họ không chỉ đơn giản là những người đã chết mà còn có ý nghĩa lớn hơn nhiều nên bố không muốn tiếp tục sinh sống ở đây nữa, Thế còn chúng con, còn con thì sao, Marta hỏi, Các con hãy tự quyết định lấy cuộc đời mình, bố đã quyết định đời của bố rồi, bố sẽ không sống nốt những ngày còn lại của mình trong cảnh bị trói chặt vào ghế đá và nhìn vào bức tường. Thế bố sẽ sống ra sao, Bố có tiền mà người ta thanh toán cho những hình người bằng gốm, đủ sống một hoặc hai tháng, sau đó ta sẽ tính tiếp, Con không nói đến chuyện tiền nong, bằng cách này hay cách khác thì bố cũng không thiếu tiền cho những nhu cầu về ăn, mặc, điều con muốn nói là bố sẽ phải sống một mình, Bố đã có con Achado, rồi hai con thỉnh thoảng lại về thăm bố nữa, Bố ơi, Gì cơ, Thế còn Isaura, Isaura thì có liên quan gì đến chuyện này, Bố đã nói với con là tình hình giữa hai người đã có thay đổi, nhưng lại chẳng giải thích rõ nó thay đổi như thế nào và tại sao bằng, Và đúng vậy đấy, Nếu như vậy, Như vậy thì sao nào, Hai người có thể sống chung với nhau, ý con muốn nói như vậy. Cipriano Algor không trả lời. Ông xách vali lên, Bố đi đây, ông nói. Cô con gái ôm chặt lấy bố, Chúng con sẽ về thăm bố trong ngày nghỉ đầu tiên của Marçal, trong tiếng từ giờ đến lúc đó bố phải luôn thông báo tin tức cho con nhé, khi về đến nơi, bố nhớ gọi điện ngay cho con nói xem căn nhà ra sao, và cả tình hình con Achado nữa, đừng quên con Achado đấy, bố nhé. Với một chân ở ngoài cửa, Cipriano Algor còn nói, Con hãy ôm hôn Marçal thay cho bố nhé, Thì bố đã ôm hôn anh ấy và đã chia tay anh ấy rồi mà, Ừ, nhưng bố cứ nhờ con thêm một lần nữa. ... Mời các bạn đón đọc Hang Động của tác giả José Saramago.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cõi Âm
Tên Ebook: Cõi Âm (full prc, pdf, epub) Bộ Sách: Nữ Thần Báo Tử-Soul Screamers (Tập 7) Tác Giả: Rachel Vincent Thể Loại: Best Seller,  Kỳ Ảo, Tiểu Thuyết, Tình Cảm, Văn học phương Tây Người dịch: Thanh Nga Công ty phát hành: Báo Sinh Viên VN - Hoa Học Trò Nhà xuất bản: NXB Trẻ Trọng lượng vận chuyển: 450 grams Kích thước: 15 x 24 cm Số trang: 300 Ngày xuất bản: 10/2013 Đánh máy: Đào Tiểu Vũ Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - http://www.dtv-ebook.com   Bìa sách Nữ Thần Báo Tử tập 7: Cõi Âm Giới thiệu: Cuộc hành trình của Rachel cùng hai chàng trai Nash-Tod và nhóm bạn chống các Tà Ma cuối cùng cũng đến chặng cuối. Vào ngày 30/10 tới đây, SOUL SCREAMERS tập 7 do tác giả Rachel Vincent chấp bút viết sẽ ra mắt phiên bản tiếng Việt do Hoa Học Trò phát hành. Tập 7 của SOUL SCREAMERS với tựa tiếng Anh “Will All My Soul” mới được tác giả Rachel Vincent cho ra mắt vào ngày 26/3 năm nay. Và Hoa Học Trò đã rất nhanh chóng mua bản quyền tác phẩm để sớm cho ra mắt bản dịch, đáp ứng mong muốn được đọc trọn bộ tác phẩm của cộng đồng teen yêu sách. Bạn nghĩ sao khi trường học của bạn được bầu là ngôi trường nguy hiểm nhất nước Mỹ? Đã đến lúc dạy cho đám tà ma một bài học… Sau cái chết không hề mong muốn của bản thân và cô bạn thân nhất, Kaylee Cavanaugh thề sẽ giành lại trường trung học Eastlake từ tay đám tà ma hắc ám Cõi Âm và trả lại sự bình yên cho ngôi trường. Cô sẽ tìm mọi cách để khiến cho đám hiện thân của Lòng Tham, Sự Đố Kỵ và Phù Hoa kia quay ra chống lại nhau, nhờ đó bảo vệ cho các bạn của mình và kết thúc cuộc chiến tranh này, một lần và mãi mãi. Nhưng rồi cô gặp hiện thân của Sự Phẫn Nộ và hiểu rằng mình đang lâm vào tình thế nguy hiểm hơn bao giờ hết. Và chỉ sau khi mất đi thêm một người thân nữa, Kaylee mới nhận ra rằng cô sẽ không thể cứu được tất cả những người thân yêu của mình nếu không mạo hiểm đánh đổi tất cả những gì cô có… Mời các bạn đón đọc.
Quy Luật của Muôn Đời - Nodar Dumbatze
Tên eBook: Quy Luật Của Muôn Đời (full prc, pdf, epub) Tác giả: Nodar Dumbatze Thể loại: Tiểu thuyết, Kinh điển, Văn học phương Tây Nhà xuất bản Cầu vồng Maxcơva – 1987 In theo bản dịch của Nhà xuất bản văn học Hà nội Người dịch: Phạm Mạnh Hùng Hiệu đính: Lê Anh Hiển File scan: Cải Đánh máy: notrinos Soát lỗi lần cuối: notrinos Chế bản: Tây Phong Lĩnh Nguồn: tve-4u.org Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com Giới thiệu: Quy luật của Muôn Đời là một tác phẩm nổi tiếng của Dumbatzé. Nhân vật chính trong tác phẩm là Batsana, một nhà văn nhà báo lớn, Câu chuyện diễn ra khi ông bị nhồi máu cơ tim, phải nằm trong bệnh viện. “Con người ta cần ốm nặng ít nhất một lần trong đời. Như vậy sẽ có dịp phân tích và đánh giá lại toàn bộ quãng đường đã qua..” (Lời Batsana)   Thân thể nằm bất động trên gường bệnh, bằng suy tưởng, hồi ức, bằng trò chuyện với 2 người bệnh cùng phòng là Đức Cha Iôram và bác thợ giày Bulika, Batsana tìm lời giải đáp cho những câu hỏi: Ta sinh ra đời để làm gì? Hạnh phúc là thế nào? Bản chất của cái Thiện là gì? Cuối cùng ông đã tìm ra câu trả lời: Đó chính là Quy luật của Muôn đời. Mời các bạn đón đọc Quy luật muôn đời của tác giả Dumbatza.  
Kho báu của vua Solomon - H. Rider Haggard
Henry Rider Haggard (1856 - 1925) là một trong những nhà văn nổi tiếng trong lịch sử văn học Anh. Những tác phẩm nổi tiếng với những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn của ông được đông đảo bạn đọc khắp nơi trên thế giới yêu thích và tìm đọc.   Chính từ những cuộc phiêu lưu từ thơ ấu đã giúp cho ông có được kinh nghiệm quý báu trong mảng văn học này. Vào năm 1875, với tư cách là thư ký riêng của Toàn quyền Anh tại thuộc địa Natan, bản thân ông đã trực tiếp gặp không ít cuộc phiêu lưu mạo hiểm, và chính những cuộc mạo hiểm này đã tạo cho ông nguồn cảm hứng để viết tiểu thuyết "Kho báu của vua Solomon". Cuốn tiểu thuyết nhanh chóng thu hút và lôi cuốn được độc giả bởi chuyến phiêu lưu kỳ thú. Tên tuổi của ông đã đi xa khỏi biên giới nước Anh và đến với hầu hết các bạn đọc trên thế giới.   Tác phẩm "Kho báu của vua Solomon" được coi là "tiểu thuyết thuộc địa" rất phổ biến tại văn học Tây Âu những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong tác phẩm, ông đã giúp những người bản xứ, những người thời đó bị coi là "mọi đen" lên án sự áp bức bóc lột của tộc người da trắng. Ngay từ trang đầu ông đã viết: "Trong đời, tôi đã gặp nhiều mọi đen. Không, tôi xin xóa chữ ấy, tôi không thích dùng nó. Tôi đã gặp nhiều người bản xứ thực sự là những người tử tế, đáng kính. Tôi cũng biết không ít những người da trắng đểu cáng, tồi tệ và chẳng bao giờ là người tử tế, dù họ có rất nhiều tiền...".   *** Theo truyền thuyết lịch sử và văn hóa cổ đại, Solomon thường được gọi là một Quốc Vương lý tưởng, một ông vua thánh hiền. Thực ra ông ta là một bạo chúa, ông ta đánh thuế nặng nề, thực thi cưỡng bức lao động, bắt thần dân phải xây dựng một cung điện và miếu thần vô cùng tráng lệ trên Núi Jerusalem. Trong Kinh Thánh đã ghi lại chân thực câu chuyện Solomon xây dựng thần Jéhova: "Solomon cho là cần phải xây cho Thần Jéhova một cung điện thờ, cho mình một cung điện. Thế là Salomon cho tuyển 8 vạn phu khuân vác, 8 vạn thợ đục đá và 3600 đốc công đến xây dựng".   Theo Kinh Thánh viết: Solomon ra lệnh 20 vạn người xây dựng miếu thần đều không phải là người Israel. Ông ta lại chọn trong người Israel được 5 vạn nhân công làm lao dịch. Công trình đó kéo dài đến 7 năm. Điện thần này hướng từ Đông sang Tây dài 250m, rộng hơn 90m được xây dựng cẩn trọng chặt chẽ, nguy nga tráng lệ, phía bên trong trang trí vô cùng hoa mỹ. Thật là một tác phẩm kiến trúc tuyệt vời. Điện thần này đã trở thành trung tâm tôn giáo và hoạt động chính trị của người Do Thái Cổ, đồng thời cũng là biểu tượng của họ.   Hàng ngày, các giáo đồ đến đây để bái yết và hiến tế thần linh. Đá Thánh A La được đặt giữa điện thần. Đá Thánh cao 20m rộng 15m, là một tảng đá hoa cương, được dỡ bởi hai trụ đá cẩm thạch tròn. Phía dưới Đá Thánh là Nham Đường cao 35m, bên trong có bàn thờ, trên bàn thờ đặt một hòm thánh có khắc dòng chữ "Maxi Thập giới" còn gọi là "Mười lời răn của Thánh Jéhova", Jéhova là giáo chủ của Đạo Do Thái. Trong hòm thánh, ngoài những điều răn của Thánh còn có Tây Nại pháp điển. Hòm Thánh được làm bằng vàng ròng, gọi là Hòm của Jéhova cũng còn gọi là Hòm ước vàng. Nó được người Do Thái cổ đại coi là Bảo vật giữ nước liên quan đến việc tồn vong hưng thịnh của dân tộc Do Thái. Ở phía dưới Đá Thánh A La, Solomon cho xây một căn hầm và một đường hầm bí mật. Theo truyền thuyết Solomon đã cất giấu ở căn hầm và đường hầm này rất nhiều châu báu và các đồ vật quý giá. Đó chính là Kho báu của vua Solomon mà cả Thế giới đều đã được nghe nói tới.   Mời các bạn đón đọc Kho báu của vua Solomon của tác giả Henry Rider Haggard.
Nhật ký Sa Tăng - Lâm Trường Trị
Người dịch: Aficio Nguồn: tangthuvien.com Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - www.dtv-ebook.com     Nhật ký Sa Tăng là một tác phẩm tiêu biểu cho văn học mạng thời kỳ đầu, tiếp nối thành công sau Lần đầu tiên thân mật của Thái Trí Hằng. Nó được mệnh danh là: Sử thượng tối bạo tiếu văn học tác phẩm - Tác phẩm văn học gây cười nhất. Tây Du Ký bản thân nó đã là một tác phẩm có chất trào lộng u mặc, thâm thúy hóm hỉnh đặc trưng cho thời đại. Nhật ký Sa Tăng cũng thừa kế cái tư tưởng ấy. Hãy xem xem Sa Tăng tẩm ngẩm tầm ngầm mà đánh chết voi này giấu gì trong lòng nhé... Tác giả là 1 người trẻ tuổi bình thường, có chút hóm hỉnh. Trước những áp lực đè nặng của cuộc sống, anh chỉ viết cho vui, xả Stress, nhưng mấy tên bạn nghịch ngợm đưa lên mạng, cuối cùng lại… nổi tiếng. Nghe nói giờ Lâm Trường Trị chuyển hẳn sang viết thể loại này.     - Viết theo hứng thú cá nhân, nên có chỗ cần ngẫm suy, có chỗ thì hời hợt. Có cái cười thật “nóng”, song có cái cười khá “lạnh”.   - Mấy “ngày” đầu là cái cười “nóng”, về sau sẽ “lạnh” hơn.   - Đọc truyện, bạn cứ coi 4 thầy trò như mấy người đồng nghiệp. Đường Tăng là lão Trưởng phòng lắm lời, cáo già. Ngộ Không là nhân viên lão thành, nhiều công lao. Bát Giới là tay giỏi ăn chơi. Sa Tăng út ít nhất, bị bắt nạt nhiều nhất, là kẻ quan sát tất cả trong thầm lặng. Nhưng cả 4 đều chỉ là những lao động bình thường, tình cờ phải đi làm 1 nhiệm vụ có phần quan trọng mà thôi. Họ phải chịu khá nhiều áp lực, bất công từ bên ngoài.   - Phật tổ, Quan Âm, Ngọc Hoàng,… là những sếp sòng cao cấp, còn đám yêu quái là những kẻ cản trở công việc.   - Tây Du Ký về thực chất, cũng có 1 lớp nghĩa là phản ánh cái bất công trong xã hội thời đó.   - Truyện tuy thế không quá nặng nề, bạn xem nó như Gặp nhau cuối tuần, đưa ra cái nhìn hài hước về những hiện thực trong cuộc sống là được.   - Nếu bạn còn ngồi ghế nhà trường, chưa chịu áp lực công việc, chưa thấy cái mệt mỏi của quan liêu, sẽ hơi khó cảm thụ. Nhưng kể cả không thế, những nhân vật, tình huống truyện vẫn là sự phản ánh đời thực khá rõ nét, bởi vậy, nó đi vào lòng độc giả trẻ tuổi thế hệ mới ở Trung Quốc khá dễ dàng.   - U mặc là gì nếu không phải thứ lợi khí của con người, chống lại những áp lực, sự khô khan tâm hồn trong thời đại?   - Truyện không liên quan mấy tới nguyên bản Tây Du Ký, mà giống “Người Trung Quốc xấu xí” nhiều hơn.