Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bốn Năm Phấn Hồng - Dịch Phấn Hàn

Bốn năm phấn hồng, mặt trái của một hồi ức đẹp Những nhân cách tha hoá, những tâm hồn mục ruỗng dưới áp lực của hư danh và tiền bạc. “Bốn năm phấn hồng” là những cuộc chiến khắc nghiệt của các nữ sinh chống lại những thử thách của hoàn cảnh: đơn độc, thiếu thốn, bị ức hiếp, bị thôi miên bởi đồng tiền và dục vọng. Càng nếm trải cuộc sống, họ càng chua chát nhận ra tính thị trường hoá của nó… Di Phấn Hàn, Tô Tiêu, La Nghệ Lâm, Trịnh Thuấn Ngôn, Trương Hàm Yên, Trần Thuỷ, Diệp Ly, Lưu Sa Sa, mỗi cô gái một tính cách, một tâm tư, một lối sống, họ là những đại diện của thế hệ sinh viên mới.Khác nhau về quê hương, hoàn cảnh gia đình nhưng họ đã cùng nếm trải những áp lực của cuộc sống xa nhà trong bốn năm kí túc xá. “Bốn năm phấn hồng” là những cuộc chiến khắc nghiệt của các nữ sinh chống lại những thử thách của hoàn cảnh: đơn độc, thiếu thốn, bị ức hiếp, bị thôi miên bởi đồng tiền và dục vọng. Càng nếm trải cuộc sống, họ càng chua chát nhận ra tính thị trường hoá của nó: hàng hoá gia sư, hàng hoá bạn trai, hàng hoá sắc đẹp, hàng hoá tình yêu,…ai trong số các thiếu nữ chưa từng bị lừa trong các cuộc mua bán trá hình này: Trần Thuỷ bị lừa mất sự trong trắng, Lưu Sa Sa sa lầy bán dâm và tự sát, Diệp Ly ăn cắp và bị đuổi học, Tô Tiêu cặp bồ có thai phải đi phá,…. Vấp ngã và đau đớn, và khóc nhưng vẫn phải sống. Bởi cái chết của Lưu Sa Sa lơ lửng trên đầu họ như một lời cảnh cáo cho những kẻ muốn bỏ dở cuộc chơi. Cuốn sách giống như một sự lộn trái đời sống đại học. 439 trang giấy đầy rẫy những toan tính xảo quyệt hay khờ dại. Tô Tiêu hết xoay xở để trở thành tâm điểm thu hút sự tán tỉnh của các chàng trai đến tính toán bồ bịch với đại gia giầu có; La Nghệ Lâm dã tâm như Tư Mã Chiêu, lúc thường thì khinh người, bắt nạt mọi người trong phòng kí túc xá nhưng khi tranh cử lớp trưởng thi xả thân hầu hạ, xu nịnh người khác, sau này lại yêu gã bí thư đoàn trường vừa xấu người xấu tính để dễ thăng tiến chính trị; ngay cả một cô gái không tầm thường như Trịnh Thuấn Ngôn cũng từng đặt điều với người yêu để bôi nhọ Tô Tiêu,….Đồng thời, dường như không ở đâu những thói tật kinh niên của nữ sinh được miêu tả trần trụi và đầy ám ảnh như trong “Bốn năm phấn hồng”: từ thói “buôn dưa”, thói tỵ nạnh đến bệnh hình thức. Sức mạnh sát phạt của miệng lưỡi con gái hiện lên qua cái lưỡi chua ngoa cay nghiệt của La Nghệ Lâm, qua cái lưỡi “nói ngọt lọt đến xương” lẳng lơ của Tô Tiêu đến cái mồm nói như máy khâu của Trần Thuỷ. La Nghệ Lâm từ bêu rếu Diệp Ly chuyện bữa ăn chỉ có củ cái trắng đến tàn tệ chửi mắng cô bạn chuyện vệ sinh hàng ngày, Trần Thuỷ và bạn bè lục trộm tủ quần áo của Tô Tiêu để thẩm định nhãn mác quần áo, Tô Tiêu lẳng lơ buôn điện thoại cả nửa giờ đồng hồ với người yêu bạn cùng phòng. Di Phấn Hàn đã gọi miệng lưỡi con gái là “biển nước bọt”, ngập ngụa những lời bịa đặt nhảm nhí. Độc giả sẽ cảm nhận một cách rõ ràng cái không khí nghẹt thở của môi trường “âm thịnh dương suy”- giống như của nhà giam tội phạm bị tình nghi, bởi mọi hành vi của con người sẽ bị săm soi, mọi sơ hở sẽ được khai thác triệt để để làm phong phú thêm nội dung những bài buôn dưa hùng hồn như những bản cáo trạng. Thông qua những ám ảnh triền miên và khủng khiếp của Di Phấn Hàn, chúng ta rùng mình trước sức băng hoại của cái chất độc ngay trong lòng cuộc sống và trong lòng những người thiếu nữ còn trong trắng như cánh bướm non. Họ không lo sợ thiếu tiền bằng việc bị nhìn như những kẻ không có tiền, họ thà bị kẻ mạnh ức hiếp còn hơn mạo hiểm chống đỡ, nhưng lại sẵn sàng ức hiếp kẻ yếu hơn mình một cách tàn nhẫn, .... Giới trẻ đã sống vô tâm và độc ác như thế. Vụ tự sát kinh hoàng của Lưu Sa Sa, việc Diệp Ly trở thành kẻ ăn cắp không phải do số phận mà là do bị đầu độc đến chết về thể xác và linh hồn. Không phải nữ sinh không cảm thấy sự “vỡ vụn”, “ tàn tạ” của tâm hồn. Di Phấn Hàn, Tô Tiêu, Trần Thuỷ, Diệp Ly, Trịnh Thuấn Ngôn,... đã khóc, đã để tang cho mỗi vết thương không lành đó. Cuốn sách tràn ngập những lời sám hối tuyệt vọng và cay đắng, những sự nức nở của lương tâm:“Chúng tôi đều không phải là người xấu, chúng tôi cũng không có mâu thuẫn gì to tát, chúng tôi không muốn dồn ai đó vào chỗ chết. Nhưng chúng tôi cũng lại là những kẻ ích kỉ và ngu xuẩn. Đó là những mâu thuẫn không thể cứu chữa, không thể điều chỉnh”. Tuy nhiên, thế giới của cuốn sách không chỉ toàn một màu u ám lạnh lẽo. Giống như trong câu chuyện ngụ ngôn mà địa ngục là nơi quỷ sa tăng cất giữ nhứng báu vật của sự sống, cuộc sống đại học càng khan hiếm tình người càng khát khao tình yêu, càng nghèo nàn tiền bạc càng dạt dào mơ ước. Ngay từ đầu cuốn tiểu thuyêt đã quay cuồng trong những cuộc săn đón điện thoại của bạn trai trong phòng kí túc xá. Những hồi chuông diết dóng đó là sự báo trước những cuộc săn lùng tình yêu sẽ nổ ra không ngớt suốt “Bốn năm phấn hồng”. Bạn sẽ tìm thấy trong hàng chục cuộc tinh chớp nhoáng của cô nữ sinh xinh đẹp Tô Tiêu một sự thực lớn hơn sự sa xút về phẩm hạnh, đó là sự đáng thương của nỗi cô đơn tuyệt vọng của con người. Tình yêu với thiếu nữ không chỉ là sự tất yếu của dục vọng mà chính là sự khát khao tìm hồn đồng điệu, tìm sự chở che. Đẹp hơn nữa, cuốn tiểu thuyết viết về tuổi xuân thiếu nữ là độ hoa tình yêu sẽ nở mê đắm. Bởi còn gì mê đắm hơn là khi quyện hoà sự trong trắng và bồng bột, là những con tim lần đầu đập loạn nhịp luôn vội vàng muồn cắn trái tình yêu. Trần Thuỷ say đắm một chàng không quen biết trên mạng, Trịnh Thuấn Ngôn bác học lại yêu khờ dại một tay chơi “Võ lâm truyền kì” đến độ quyên ăn quên ngủ, còn Di Phấn Hàn đã yêu tuyệt vọng một người có vợ,…Đó là những thứ tình yêu dại dột mà khiến người ta mê mẩn vì sự trong trắng tuyệt mỹ của chúng ngay giữa cuộc đời đã bị đồng tiền làm cho nhem nhuốc. “Bốn năm phấn hồng” giống như cuốn nhật kí của một sinh viên đại học. Lối viết dung dị mà tinh tế, sắc sảo mà hài hước của Dịch Phấn Hàn thật dễ đi vào lòng người. Bạn đọc sẽ cảm thấy như đang được nghe lại câu chuyện vê chính cuộc đời mình một cách cực kì hấp dẫn, bất ngờ và thậm chí gây sốc. Dù bạn đã, đang hay chưa từng trải qua cuộc sống đại học như vậy, bạn sẽ không ít lần cảm thấy giật mình về chính mình. Năm 2000, mang theo sự nuối tiếc của kỳ thi đại học, tôi bước vào đại học ở Vũ Hán, một trường đại học trọng điểm. Trong cái thành phố hội tụ rất nhiều trường đại học này, trường của tôi tuy là trường điểm nhưng lại có tiếng tăm chẳng ra sao. Điều này cũng có thể liên quan đến việc trường có quá nhiều nữ sinh. Nơi nào có nhiều con gái, nơi đó có nhiều chuyện thị phi, cho dù họ là những phụ nữ lớn tuổi đã kết hôn hay là những thiếu nữ mới đôi mươi. Bốn năm nay, tôi chưa hề hoà nhập vào cuộc sống ở trường học, chưa hề hoà nhập vào đám nữ sinh trong trường, mặc dù tôi rất gần họ, gần tới mức như không có tí ti khoảng cách nào, gần tới mức mỗi ngày đều cùng ăn, cùng ở, cùng uống, cùng ngủ. Tôi cảm thấy mình giống như một kẻ nhìn bờ đối diện, quan sát cái gọi là cuộc sống sinh viên bình yên đẹp đẽ. Tôi là kẻ ngông cuồng tới mức cảm thấy từ trước tới nay trong trường này, tôi chưa hề có đối thủ. Tôi cho rằng mình luôn đúng, cho đến khi sắp tốt nghiệp mới phát hiện ra rằng mình đã sai. Tôi cho rằng mình là người trong sáng, cho tới khi nhìn lại mới phát hiện ra rằng thời gian bốn năm đã biến tôi thành một người giống như hầu hết những người ở đây, cuối cùng cũng rơi vào vũng bùn nhơ. Tôi cho rằng mình là người thuần khiết, cho tới khi viết ra những dòng này mới biết, mình không khác gì so với những nữ sinh khác, chẳng qua là tự cảm thấy mình tài giỏi hơn một chút. Bốn năm trước, chúng tôi đều từng là gái trinh, hoặc đều thuần khiết thánh thiện như gái trinh, chúng tôi bước vào tháp ngà với tấm thân trong sáng. Chúng tôi là những thiên thần không có đôi cánh. Bốn năm sau, chúng tôi rời nơi này, mang theo một vài thứ, để lại một vài thứ, có được vài thứ, thứ mất đi là nhiều hơn cả. Bốn năm qua đi, nhan sắc tuổi diễm lệ của tuổi xuân cũng đi qua, nhiều lắm cũng chỉ có thể giữ lại được con tim thục nữ. Đây là một cuốn tiểu thuyết về nữ sinh đại học. Nữ sinh viết tiểu thuyết của nữ sinh. Tôi là một nữ sinh thông minh. Tôi tự tin rằng khả năng "nhìn trộm" và khả năng cảm nhận của mình có thể khiến tất cả những nam sinh hay nữ sinh, đàn ông hay phụ nữ có hứng thú với nữ sinh đại học đều cảm thấy hài lòng. Cũng có thể, tôi tự cho rằng mình viết rất thấu đáo, nhưng chẳng qua chỉ là "ếch ngồi đáy giếng" mà thôi. Tất cả các nhân vật chính đều là nữ sinh, tất cả những nhân vật có danh tính đều là nữ sinh. Những câu chuyện giữa nữ sinh với nữ sinh, giữa nữ sinh và đàn ông là những câu chuyện không bao giờ nói hết. *** Dịch Phấn Hàn là tên của một nữ nhà văn trẻ đang nổi trên văn đàn Trung Quốc. Tác phẩm của Dịch Phấn Hàn thường lấy đề tài từ cuộc sống và nhất là từ đời sống tình cảm của những người trẻ trong xã hội hiện đại. Năm 2008, cuốn tiểu thuyết có cái tên khá ấn tượng Cô đơn vào đời của Dịch Phấn Hàn sau khi cuốn hút được bạn đọc Trung Quốc đã được dịch giả Minh Thảo dịch ra tiếng Việt và NXB Văn học ấn hành. *** Sau khi từ toà báo về tôi đã chuyển nhà đến đơn vị thực tập ở Hàn Khẩu. Trong thời gian thực tập của năm thứ tư, tôi và bạn trai bắt đầu sống chung. Đối với tôi việc này còn quan trọng hơn việc thực tập rất nhiều. Nguyên nhân của việc sống chung là đơn vị thực tập của tôi ở Hàn Khẩu mà trường học của tôi lại ở Vũ Xương. Để thuận tiện hơn chúng tôi đã sống chung. Tôi và bạn trai tôi quen nhau thế nào không phải là điều quan trọng. Quan trọng là tôi và anh ấy yêu nhau, và đã về sống với nhau. Không biết sau này tôi có còn yêu anh ấy không nhưng giờ đây tất cả tình yêu của tôi đều dành cho anh ấy, cho cuộc sống chung này, vì thế chúng tôi không phải giấu giếm nhau gì nữa. Lời hứa về "chuyện ấy" là một cam kết rất quan trọng, cách nhìn của tôi từ trước đến giờ vẫn vậy. Trong trường học người ta cho phép được yêu nhau, nhưng sống với nhau thì cấm tuyệt đối. Cho đến tận ngày sống chung, tôi vẫn không ý thức được rõ ràng mình đang làm gì. Anh ấy nói: "Em yêu, chúng ta sống cùng nhau nhé, để mỗi ngày không phải đi đi về về hai lần nữa, mệt lắm". Tôi đồng ý mà gần như không suy nghĩ gì cả. Cách nghĩ của tôi rất đơn giản. Sống với nhau không có nghĩa là buộc phải có chuyện đó. Tôi suy nghĩ ngây thơ như vậy đấy. Điều này cũng đã cho thấy, rõ ràng quan niệm về tình yêu của tôi còn quá non nớt. Tôi khát khao được trở thành người trưởng thành nhưng cũng sợ trách nhiệm mà một người trưởng thành phải gánh vác. Ban đầu chúng tôi tìm được một căn nhà, ở đó phải thuê chung với người khác. Có hai phòng, phòng còn lại cũng là một đôi. Buổi sáng hôm chúng tôi đi xem phòng, ra mở cửa cho chúng tôi là một cô gái vẫn còn mặc nguyên áo ngủ, đầu tóc bù xù. Khi cô ấy đưa tay lên buộc tóc tôi đã kịp nhìn thấy "cỏ" dưới cánh tay cô ấy đen sì như cả tháng nay chưa được dọn dẹp. Còn người bạn trai để nguyên bộ dạng mình trần đi ra. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy sợ. Ý thức được rằng cuộc sống chung sẽ xoá bỏ mọi rào cản giữa tôi và người tôi yêu, nếu cuộc sống ấy biến một người con gái thành một bà già lôi thôi, luộm thuộm, ăn mòn tất cả sự kín đáo dịu dàng của người con gái, tôi sẽ tình nguyện sống độc thân. Trong tôi một nỗi sợ hãi chưa bao giờ có về hai từ "sống thử" đã hình thành. Thực ra chẳng qua là chưa hiểu rõ về tình yêu. Thực ra, chẳng qua là đã ước mong quá cao vời về tình yêu và cuộc sống. Nữ sinh. Một nữ sinh còn chưa rời khỏi ghế nhà trường. Một nữ sinh với những khát vọng cao xa về tình yêu, cuộc sống. Sống thử sẽ biến tình yêu thành gần giống với những thói thường ngày, hiện thực đã làm tan vỡ giấc mộng tình yêu chưa kịp dứt. Tôi không thể chấp nhận một ngày nào đó sau khi sống chung, tôi cũng xuất hiện trước mặt người lạ với bộ dạng đầu tóc rối bù, mặt mày nhem nhuốc, vẫn còn mặc nguyên áo ngủ. Tôi cũng không thể chấp nhận một ngày nào đó sống chung tôi mặc áo sát nách, để lộ nguyên vùng "cỏ" dưới cánh tay chưa dọn sạch cho cả thiên hạ nhìn thấy... Trong trường học, có bao nhiêu nữ sinh ôm ấp niềm mong mỏi về một cuộc sống yêu thương tươi đẹp, nên đã lựa chọn sống chung vói người mình yêu, rồi lại từ tổ ấm đã từng chung sống đó ra đi mang theo tình yêu vỡ vụn. Tôi tin rằng những nữ sinh này sẽ thay đổi không chỉ quan niệm về tình yêu, mà cả những điều nhỏ nhặt nhất khi làm con gái. ... Mời các bạn đón đọc Bốn Năm Phấn Hồng của tác giả Dịch Phấn Hàn.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bản Tin Chiều - Arthur Hailey
Arthur Hailey (người Anh có quốc tịch Canada) (1920 - 2004) là tác giả của mười một cuốn best-sellers, trong đó có "Bản tin chiều" đã được dựng thành phim. Ông có 11 tiểu thuyết bán rất chạy được in ở 40 quốc gia với 170 triệu bản. Hailey được coi là người trường vốn trong sự nghiệp sáng tác. Những cuốn truyện ông viết đã vượt khỏi quê hương, được xuất bản trên 40 nước với hơn 170 triệu bản. Điểm nổi bật trong tác phẩm của ông là những nhân vật có xuất xứ rất tầm thường nhưng khi bị đẩy vào hoàn cảnh bi hùng đã vượt lên thành một số phận khác.  Sinh ngày 5/4/1920, Hailey sớm phải bỏ học ở tuổi mười bốn, bởi cha mẹ không đủ tiền chu cấp ăn học cho con trai. Sau đó, chàng trai Arthur trở thành phi công trong quân chủng Hoàng gia Anh trong đại chiến 2. Năm 1947, nhà văn tương lai rời bỏ xứ sở sương mù đến Canada và nhập quốc tịch tại đây. Thời gian đầu nơi đất khách, Hailey phải kiếm sống như một nhân viên tiếp thị cho nhà máy sản xuất máy kéo. Được một thời gian thì việc viết lách đã cám dỗ Hailey. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông là The Final Diagnosis, xuất bản năm 1959, kể về một bác sĩ chẳng may gây ra cái chết với một bé sơ sinh.  Mải mê với những con chữ trong một thập kỷ, rồi ông trở về công việc kinh doanh, chỉ ngồi vào bàn viết như một thú vui. Bà vợ của Hailey cho biết, nhà văn rất khiêm tốn và giản dị, nhưng ông có một niềm hân hoan đặc biệt khi đọc những bức thư của độc giả tán dương tác phẩm mình. Hậu duệ của ông dự định sẽ tổ chức một bữa tiệc tưởng nhớ ông vào tháng giêng theo đúng nguyện ước của người quá cố. Mười bốn tuổi đã nghỉ học vì cha mẹ không đủ tiền cho ông đi học tiếp, Arthur Hailey tham gia thế chiến thứ 2 với tư cách là phi công trong không lực hoàng gia Anh và trở thành nhà văn khi xuất bản tác phẩm đầu tay The final diagnoisis vào năm 1959.  Arthur Hailey có cách viết tiểu thuyết rất hấp dẫn, mô tả những người bình thường trong hoàn cảnh bất thường. Năm 2001 ông nói với hãng tin AP: "Tôi không thật sự tạo ra ai cả. Tôi chỉ lấy từ đời thật". Một số tác phẩm của ông đã được ra tiếng Việt như Phi trường, Bản tin chiều, Trong khách sạn... *** Partridge biết anh đã tính toán sai. Họ đã bi chậm rất nhiều. Cái anh không tính tới khi chọn Sion thay vì chọn điểm hẹn gần hơn là xuồng gặp sự cố. Việc đó xảy ra khoảng hai tiếng sau khi rời Nueva Esperanza, tức là còn một tiếng nữa mới đến chỗ họ bỏ thuyền lên bờ và bắt đầu đi bộ tới điểm đỗ máy bay. Cả hai máy vẫn đang hoạt động bình thường tuy kêu hơi to, thì bỗng chuông trong máy bên trái xuồng réo ầm lên, Ken O’Hara lập tức giảm ga, về số không, và tắt máy. Chuông và máy đều im lặng. Chiếc máy ở mạn phải vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng lúc này xuồng chạy chậm hẳn lại. Partridge bước về phía cuối xuồng và hỏi O’Hara: "Sao thế? Liệu có sửa được không?". "Tôi e rằng không", O’Hara trả lời. Anh đã tháo nắp máy và đang xem xét bên trong. "Máy nóng quá, vì thế chuông báo. Nước làm mát máy rất trong, chứng tỏ bơm đã hỏng. Cho dù tôi đủ dụng cụ tháo rời máy ra, có thể vẫn cần phụ tùng thay thế. Mà chúng ta không có cả hai thứ…". Anh bỏ lửng không nói hết câu. "Tức là chắc chắn không thể chữa được nữa?". O’Hara lắc đầu: "Rất tiếc là vậy, Harry ạ". "Nếu cứ cho chạy tiếp thì sao?". "Máy sẽ hoạt động một thời gian ngắn, rồi lại bị nóng. Sau đó máy quá nóng, pittong và xilanh chảy dính với nhau. Rồi chỉ còn mỗi một việc là quẳng ra bãi rác". "Cho chạy đi", Partridge bảo. "Nếu không còn cách nào khác, cứ chạy được chừng nào hay chừng ấy". "Được thôi, anh là thuyền trưởng mà", O’Hara trả lời, mặc dù anh rất ghét làm hỏng chiếc máy, mà giá ở hoàn cảnh khác vẫn chữa chạy được. ... Mời các bạn đón đọc Bản Tin Chiều của tác giả Arthur Hailey.
Bệnh Nhân Người Anh - Michael Ondaatje
Bệnh nhân người anh là tác phẩm đầy chất thơ về số phận của bốn con người gặp nhau nơi một tòa biệt thự bỏ hoang ở vùng đồi nước Ý trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai. Câu chuyện như những trang sách được lật giở ngẫu nhiên dần hé mở tâm trạng và cuộc đời của từng nhân vật: Hana, cô y tá với những chấn thương tinh thần, một mực ở lại chăm sóc ông bệnh nhân người Anh khi những người khác trong bệnh viện dã chiến này đã chuyển đi; Caravaggio, một tên trộm, một cựu điệp viên, bị chặt đứt hai ngón tay cái trong một lần bị địch bắt; Kip, anh lính công binh gỡ bom người Ấn dè dặt với người phương tây; và bệnh nhân người Anh, nhân vật trung tâm, bị bỏng đến mức không còn nhận diện được, một ẩn số giữa họ... Bệnh nhân người Anh bí ẩn - ông thực sự là ai? Câu trả lời sẽ được hé lộ qua từng mảnh ký ức giống như tia chớp thi thoảng lé lên trong ông. Ký ức về cuộc đời phiêu lưu và mối tình mãnh liệt nhưng đau đớn của ông sẽ dẫn người đọc bước vào một mê cung cảm xúc rối rắm nhưng đầy thú vị. Hãy cùng đọc, khám phá và suy ngẫm... *** "Bệnh nhân người Anh (The English Patient) là một tác phẩm hấp dẫn của tiểu thuyết - cả với thơ ca và triết học”, Helena Kennedy - chủ tịch Quỹ Giải thưởng Booker cho biết. Bệnh nhân người Anh lấy bối cảnh những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh Thế giới II khốc liệt, một chiếc máy bay bị bắn hạ và rơi xuống khu vực sa mạc Sahara. Trong chiếc máy bay là một người phụ nữ đã chết và một người đàn ông bị bỏng nghiêm trọng. Anh ta được gọi là "bệnh nhân người Anh" và được chuyển cho y tá Hana chăm sóc tại một biệt thự ở Ý bị hủy hoại. Nhưng ở nơi hoang vu đó, những cuộc tình nên thơ vẫn đâm chồi nảy nở. Đó là mối tình đẹp nhưng buồn của nữ y tá Hana với chàng trung sĩ phá mìn Kip, là mối tình buồn được ghi chép trong những trang nhật ký của bệnh nhân người Anh - Laszlo de Almasy với cô gái Katharine Clifton. Bệnh nhân người Anh đã đoạt nhiều giải thưởng và được dịch ra hơn 300 ngôn ngữ khác nhau, nhưng có lẽ bản chuyển thể tốt nhất là khi nó trở thành một bộ phim kinh điển của đạo diễn Anthony Minghella năm 1996. Bộ phim giành được 9 giải Oscar, 2 giải Quả cầu vàng và 6 giải BAFTA cho phim hay nhất năm 1997. *** Philip Michael Ondaatje, CC FRSL, là một nhà thơ, nhà văn tiểu thuyết, nhà tiểu thuyết, tiểu thuyết gia, nhà biên tập và nhà làm phim người Canada gốc Sri Lanka. Ông là người nhận được nhiều giải thưởng văn học như Giải thưởng của Toàn quyền, Giải thưởng Giller, Giải thưởng Booker và Giải thưởng Médicis étranger. Mời các bạn đón đọc Bệnh Nhân Người Anh của tác giả Michael Ondaatje.
Thành Phố Sau Ánh Hào Quang - Denley Lupin
Cuộc đời này những gì đến và đi không phải lúc nào chúng ta cũng có thể quyết định. Điều gì đang có nên trân trọng, thứ gì ra đi nên cảm ơn vì ý nghĩa nó từng đem đến. Nữ tác giả viết: “Thế giới này, chính vì có những con người dám ước mơ, dám thực hiện, dám chấp nhận thất bại nên mới có những phát minh vĩ đại. Bạn không cần trở thành vĩ nhân, hay trở thành người kiến tạo thế giới. Bạn chỉ cần sống đúng với mong ước cuộc đời của riêng bạn, sống một cuộc sống không phải hối hận, là đã đủ hạnh phúc rồi. Hãy theo đuổi hành trình ước mơ của bạn, lên kế hoạch và bắt tay thực hiện nó”. Những trang viết tràn đầy nhiệt huyết tuổi trẻ, sống hết mình với tuổi trẻ và không bao giờ hối tiếc hay phải nói hai từ “giá như”. *** Ba năm sau. M.Y.S đã trở thành nghệ sĩ hàng đẩu ở thời điểm hiện tại. Là con át chủ bài của JND, danh tiếng chẳng hề thua kém gì đàn anh Nam Phong hay Winter ở thời kỳ đỉnh cao. Có thể xem cô là nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất trong lịch sử JND. M.Y.S được săn đón ở khắp mọi nơi nhưng cô luôn chọn cho mình lối sống khá kín đáo sau ánh hào quang. Nam Phong đã lặng lẽ rời khỏi làng giải trí. Đã hai năm qua anh tham gia một tổ chức phi chính phủ, giúp đỡ người khó khăn ở nhiêu nước nghèo đói. Có lẽ danh vọng, sự nổi tiếng trong showbiz đã chẳng còn sức hút với anh. Khi mọi thứ đã đạt được, đã ở đỉnh cao, anh chỉ mong muốn quay về làm những điêu giản dị như cách để trả ơn xã hội, để tìm ra giá trị của cuộc sống. ... Mời các bạn đón đọc Thành Phố Sau Ánh Hào Quang của tác giả Denley Lupin.
Âm Điệu Bóng Đêm
Trong suốt sự nghiệp viết lách nổi tiếng của mình, Julie Garwood đã làm say mê độc giả với những nhân vật hấp dẫn, táo bạo và bùng nổ với cuộc sống. Giờ đây, tiểu thuyết gia nổi tiếng Julie Garwood đã trở về với câu chuyện tình lãng mạn lịch sử, một câu chuyện ly kỳ về tình yêu, giết người, phiêu lưu và bí ẩn chống lại khung cảnh ám ảnh của Scotland thời trung cổ. Đối với Công chúa Gabrielle của St. Biel, Scotland là vùng đất của những khung cảnh tuyệt đẹp, những thủ lĩnh hoang dã, những ánh mắt xảo quyệt, và những bóng tối dốc đứng, skullduggery, phản bội, và giờ là giết người. Được tôn vinh bởi vẻ đẹp tinh tế của mình, con gái của một trong những nam tước có ảnh hưởng nhất nước Anh, Gabrielle cũng là một con bài mặc cả hoàn hảo cho một vị vua cần hòa bình ở vùng núi cao: Vua John đã sắp xếp cuộc hôn nhân của Gabrielle đến một người phụ nữ tốt bụng và hiền lành. Nhưng cuộc hôn nhân này sẽ không bao giờ diễn ra. Mọi thứ thay đổi trong một đợt tự do cuối cùng khi cô và những người bảo vệ của mình bắt gặp một cảnh tàn ác không thể tưởng tượng được. Với một phát bắn từ cây cung và mũi tên của mình, Gabrielle lấy mạng, cứu mạng và bắt đầu một cuộc chiến.Trong vài ngày, vùng núi cao rực lửa một trận chiến hoàng gia bùng lên giữa kẻ thù cũ và mới. Đến Scotland để kết hôn, thay vào đó, Gabrielle bị vướng vào mưu đồ ở vùng cao. Đối với hai nhà quý tộc tàn bạo, việc đánh giá thấp sự dũng cảm và năng lực của Gabrielle có thể sẽ dẫn đến cái chết, nhưng nhờ có một bí mật mà Gabrielle sở hữu , Colm MacHugh - người đàn ông đáng sợ nhất ở Scotland, đã tìm ra một nguyên nhân mới cho sự can đảm. Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn đi sâu vào trái tim của những cảm xúc, niềm đam mê bất khuất của tình yêu, thù hận và sự trả thù. “Âm điệu bóng đêm” là món quà tuyệt vời từ Julie Garwood và một thành tựu đáng nể trong sự nghiệp tuyệt vời của cô. *** Mưa lắm rồi vào cái năm mà những cơn giông bão dữ dội tràn vào từ biển khơi, đám chiến binh đầu tiên từ vùng đất xa xôi băng đồi vượt núi và đặt chân lên bờ biển của chúng ta. Với vũ khí bằng thép đeo trước ngực và bộ giáp được đánh bóng sáng lấp lánh tựa như mảnh kính vỡ dưới ánh mặt trời ban trưa, chúng tuần hành khắp những nơi mà mắt có thể nhìn thấy được. Chúng không cần hỏi han cũng chẳng hề quan tâm rằng mình đang xâm lược. Nói cách khác, chúng đang thi hành nhiệm vụ và chẳng gì có thể ngáng đường chúng. Băng qua đồng bằng của chúng ta, chúng chiếm đoạt ngựa và thức ăn, dẫm đạp lên hoa màu, cướp phụ nữ và giết rất nhiều những trai tráng khỏe mạnh. Chúng hủy diệt tất cả những nơi chúng đi qua… tất cả đều nhân danh Đức Chúa Trời. Chúng tự gọi mình là đội quân Thập Tự Chinh. Chúng cực kỳ tin tưởng rằng sứ mệnh của mình vô cùng thiêng liêng và tốt đẹp vì Đức Giáo Hoàng, người đã ban phước lành và ra lệnh cho chúng thực hiện cuộc hành trình đến phía bên kia của thế giới, đã nói với chúng như thế. Chúng phải trừng phạt những kẻ ngoại đạo và buộc họ phải tôn thờ Đức Chúa Trời và tín ngưỡng của chúng. Nếu những người ngoại đạo từ chối, những binh lính kia sẽ giết họ bằng thanh kiếm thiêng liêng được ban phước của mình. Vượt qua những ngọn núi của chúng ta là con đường duy nhất để đội quân Thập Tự Chinh tiến hành sứ mệnh của chúng, thế là chúng đi thành từng đoàn và khi chúng đặt chân đến bến cảng ở bên kia dãy núi, chúng đánh cắp tàu của chúng ta để giương buồm vượt đại dương đến nơi mà chúng cần đến. Đất nước nhỏ bé của chúng ta được gọi là Monchanceux, được cai trị bởi đức vua Grenier nhân từ. Ngài là người yêu quê hương và muốn bảo vệ nó. Chúng ta chẳng phải đất nước giàu có gì, nhưng chúng ta hài lòng với nó. Thế là đủ. Khi lũ xâm lược cướp bóc của chúng ta, đức vua rất phẫn nộ, nhưng ngài không để cho cơn giận dữ sai khiến. Vì ngài là một đấng minh quân, đức vua Grenier đã đưa ra một giải pháp. Ngài buộc tốp lính xâm lược tiếp theo phải trả phí khi vượt núi. Đường núi chật hẹp, nên có thể dễ dàng phòng thủ. Binh lính của chúng ta được trang bị để chống lại cái lạnh, tuyết và những cơn gió cắt thịt về đêm. Họ có thể bảo vệ rặng núi suốt hàng tháng trời và mùa đông sẽ đến rất nhanh. Kẻ dẫn đầu đoàn xâm lược vì chính nghĩa kia cảm thấy bị xúc phạm khi phải trả phí cho thứ gì đó. Hắn và binh lính của mình đang thực hiện một nhiệm vụ cao cả. Hắn dọa sẽ giết hết tất cả những người dân của Monchanceux, kể cả phụ nữ và trẻ em, nếu bọn chúng bị cản đường. Liệu đức vua Grenier và thần dân của mình có nhận ơn huệ của Giáo hội, hay họ chọn làm những kẻ ngoại đạo ngáng đường của Chúa? Câu trả lời sẽ quyết định số phận của họ. Ngay thời điểm mấu chốt ấy đức vua nhân từ và thông minh của chúng ta đã tiếp nhận tín ngưỡng. Ngài nói với kẻ dẫn đầu đội quân rằng ngài và tất cả thần dân của mình đều thuộc về Chúa và ngài sẽ chứng minh điều đó bằng bất cứ giá nào. Sau đó, Ngài cho gọi tất cả người dân của Monchanceux tập hợp trước ban công của cung điện. Kẻ cầm đầu đoàn quân Thập Tự Chinh đứng ngay sau ngài. “Kể từ giờ trở đi đất nước của chúng ta sẽ mang tên St. Biel, nhân danh vị thánh đỡ đầu của gia tộc ta. Người sẽ phù hộ cho những người vô tội,” đức vua Grenier tuyên bố. “Chúng ta sẽ dựng tượng thánh St. Biel và vẽ tranh của Người trước cửa thánh đường để bất cứ ai đặt chân đến với bờ biển của chúng ta đều sẽ thấy được sự tốt đẹp của Người, chúng ta sẽ cống nạp cho Đức Giáo Hoàng để tỏ lòng thành kính và sự phục tùng của chúng ta. Số lệ phí mà ta thu được sẽ dùng để cống nạp.” Kẻ cầm đầu đám ngoại xâm nhận ra rằng mình đang trong tình thế khó xử. Nếu hắn từ chối trả phí – bằng vàng, đương nhiên, đức vua sẽ không chấp nhận thứ gì khác – vậy khác nào hắn từ chối việc cho phép nhà vua cống nạp cho Đức Giáo Hoàng? Và nếu Đức Giáo Hoàng biết được hắn đã từ chối, Giáo Hoàng sẽ làm gì? Khai trừ hắn? Xử tử hắn? Sau một đêm dài suy ngẫm và quát tháo không ngừng, kẻ cầm đầu đoàn quân đã quyết định trả phí. Đó là một sự kiện trọng đại, một tiền lệ đã được đặt ra kể từ thời khắc đó, bất cứ quân Thập Tự Chinh nào muốn đi qua lãnh thổ của chúng ta đều phải trả phí mà không có bất cứ thắc mắc nào. Đức vua của chúng ta đã giữ đúng lời hứa. Ngài đã nung chảy vàng và làm chúng thành những đồng tiền nhỏ, trên mỗi đồng tiền đều có hình thánh St. Biel, với vầng hào quang trên đầu. Kho bạc hoàng gia phải mở rộng để làm phòng chứa những đồng tiền vàng, một con tàu được chuẩn bị cho chuyến hành trình dâng chúng đến tay Đức Giáo Hoàng. Một ngày trọng đại, những chiếc rương thật nặng được chất xuống hầm tàu, đám đông dân chúng tụ tập tại bến cảng để nhìn chuyến tàu khởi hành đến Rome. Ngay sau cái ngày lịch sử ấy, những tin đồn bắt đầu lan truyền. Chẳng ai có thể chắc chắn mình đã thật sự nhìn thấy số vàng hay ước lượng được bao nhiêu vàng đã được chuyển đi. Vài sứ thần tuyên bố rằng chỉ một khoản rất nhỏ đến được tay Giáo hoàng. Những lời bàn tán về tài sản khổng lồ của đức vua chúng ta dâng lên rồi hạ xuống như những đợt thủy triều vỗ vào bờ của chúng ta. Cuối cùng, một con đường ngắn hơn để đến vùng đất Thánh được tìm ra, đội quân Thập Tự Chinh không còn đi qua đất nước của chúng ta nữa. Chúng ta vô cùng biết ơn sự vắng mặt này. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không được yên bình. Cứ cách vài năm lại có người đến để tìm kiếm số vàng trong truyền thuyết. Một vị bá tước từ Anh quốc tìm đến vì đức vua của ông ta đã nghe được tin đồn, nhưng sau khi người trị vì của chúng ta cho phép ông ta thực hiện một cuộc tìm kiếm toàn diện trong cung điện và các căn cứ, vị bá tước nói với ngài rằng ông ta sẽ trở về Anh quốc với tin tức: không có kho báu nào được tìm thấy. Bởi đức vua Grenier quá hiếu khách, vị bá tước đã lên tiếng cảnh báo ngài rằng hoàng tử John của Anh quốc đang có ý định xâm lược St. Biel. Hoàng tử John, vị bá tước giải thích, muốn thống trị thế giới và đang nóng lòng được kế thừa chiếc vương miện của Anh quốc. Vị bá tước kia tin chắc rằng St. Biel sẽ sớm trở thành một thuộc địa khác của Anh quốc mà thôi. Cuộc xâm lược đến vào một năm sau đó. Khi St. Biel chính thức thuộc về Anh quốc, cuộc tìm kiếm số vàng bị giấu lại được tiếp tục. Những người tham gia cuộc truy lùng thề rằng không có một viên đá nào chưa bị lật lên. Nếu thật sự từng có kho báu nào đó, thì nó đã biến mất. Mời bạn đón đọc Âm Điệu Bóng Đêm của tác giả Julie Garwood.