Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khu Trại Trong Thảo Nguyên

Bộ tiểu thuyết Sóng Hắc Hải - Valentin Kataev gồm 4 phần: Phần 1: Cánh buồm trắng cô độc Phần 2: Khu trại trong thảo nguyên Phần 3: Gió mùa đông Phần 4: Đường hầm Ô đét xa   KHU TRẠI TRONG THẢO NGUYÊN trong bộ bốn tập - “SÓNG HẮC HẢI” Năm 1910, trên báo “Người đưa tin Ôđexxa” - xuất hiện bài thơ đầu tiên của cậu bé Valia1 mười bốn tuổi - bài thơ “Mùa thu”. Ở đây dường như có điều gì báo trước về một nhà văn tương lai có tâm hồn thơ mộng, sớm gắn bó lòng mình với thiên nhiên. Bài thơ đầu tay là những suy tưởng trữ tình, những nét phác họa về mùa thu, về thiên nhiên Nga tươi đẹp. Mùa hè năm 1913, lần đầu tiên nếm hương vị thành quả văn chương, khi nhận được giấy mời của một tờ báo nhỏ ở Ôđexxa mời các nhà thơ trẻ tham gia câu lạc bộ văn nghệ địa phương, nhà văn tương lai ấy đã đắn đo suy nghĩ: “Liệu một học sinh trung học 16 tuổi đầu đã có thể coi mình là “trẻ”? Với dăm ba bài thơ đăng trên báo hàng ngày liệu đã có thể coi mình là “nhà thơ”?. Nhưng anh vẫn lên đường đến câu lạc bộ. Ở đây việc kết nạp hội viên phải thông qua đầu phiếu. Nhưng trong số những người đã từng đọc thơ mình ở đây chỉ có hai người được hưởng cái vinh dự lớn là được mời thẳng lên đoàn chủ tịch mà không phải bầu bán gì cả. Đó là V. Kataep và E. Bagrixki2. Khi trở thành nhà văn nổi tiếng, V. Kataep đã nhắc lại sự việc trên trong truyện ngắn “Gặp gỡ”. Cái thuở ban đầu ấy có cái gì đã kết tinh, không thể hòa tan mà sau này bạn đọc vẫn còn gặp lại trên nhiều trang sách của nhà văn, đó là nụ cười châm biếm, có khi nhân hậu, có khi cay độc như một nét riêng của miền duyên hải Ôđexxa, bắt nguồn từ quá khứ xa xưa: từ người dân chài trên bãi biển, từ anh công nhân lam lũ, từ người lính thủy can trường hay ở những em bé đồng biển với nước da đen sạm vì sóng gió Hắc hải và mặt trời phương nam. Cũng như nhiều nhà văn khác thuộc thời kỳ này, V. Kataep bước vào làng văn qua lối chiến hào bằng những bản tin và bút ký mặt trận. Tiếp theo là những ngày sôi nổi của Cách mạng. Trong những giờ phút gay go và căng thẳng, con người thường trưởng thành sớm hơn tuổi tác, nhất là nhà văn, và chính trong cơn lốc cách mạng ấy tài năng của nhiều nhà văn, trong đó có V. Kataep đã nảy nở một cách mau lẹ và vững chắc. V. Kataep đã trưởng thành trước khi ông từ giã tuổi thiếu niên. Thế nhưng đối với V. Kataep ngay cả khi tuổi niên thiếu đã qua rồi, ông vẫn còn giữ được rất lâu tâm hồn khát khao được quay lại đầm mình trong tuổi niên thiếu, và quả thực nhà văn đã trở lại sau những lần “trở về” ấy. V. Kataep là một trong những người trong khi vẫn vui vẻ tiếp nhận tuổi đời và say sưa với những công việc của “tuổi tác mình” nhưng vẫn háo hức sống với những năm tháng đã qua, có khi là những tháng năm xa xôi tưởng như chẳng mấy ai còn nhớ tới nữa - những năm tháng có khi vui tươi, đầy mơ ước háo hức, song cũng có khi buồn. Vào những năm thứ hai mươi, khi tuổi đời và tuổi nghề của nhà văn chưa có bao lăm, các nhân vật trong sáng tác của ông thường là những kẻ nhàn tản vô vị: người ta chơi cờ, chơi bài, người ta đùa với tình yêu và dỡn trong đủ mọi quan hệ. Thế nhưng ông chưa có đủ ngay lòng căm thù với những kẻ thù của nhân dân để hành động và chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng, đấu tranh với bản thân để đưa ông đến “Cái giếng thần” (1966), thì lòng căm thù trong ông mới chín muồi, mới trở nên sôi sục, và được sử dụng không đến nỗi uổng phí. Nhà văn đã thấy được mình viết cho ai và chống ai. Lúc này trong sáng tác của ông thể hiện rõ khuynh hướng bi hùng và châm biếm: “Trong thành phố bị bao vây” (1922); “Bút ký về cuộc nội chiến” (1924). Tuy nhiên người ta vẫn thấy trong sáng tác của ông phảng phất “cái thứ triết lý của anh tiểu tư sản, cái thứ triết lý của những người không muốn xây dựng lại cuộc đời, văng vẳng tiếng thở dài mệt mỏi trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo, dốt nát...”. Vào những năm 30, khi nhân dân Liên Xô náo nức hưởng ứng dự định táo bạo của Đảng CSLX: xây dựng trong thảo nguyên hoang vu “Pugatsep” một nhà máy: liên hợp luyện kim, V. Kataep đã say mê với cái nhà máy “Magnitka” tương lai ấy và viết tiểu thuyết thời sự “Thời gian ơi, tiến lên!”, tác phẩm này của ông cũng mới mẻ và táo bạo như bản thân cái công trường xây dựng kia vậy. Cuốn tiểu thuyết đã từng làm cho nhiều bạn đọc ngạc nhiên. Cuốn sách ca tụng những con người chỉ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống trong sự nghiệp xây dựng lại cuộc đời, đấu tranh với đói nghèo, dốt nát, những con người không biết tới khoái lạc tầm thường ngoài lao động quên mình - lao động là nhu cầu sống còn số một. Trong tiểu thuyết, lối văn châm biếm với cái giọng nhát gừng, đầy sức sống kết hợp với lối văn nhanh gọn của báo chí và ngôn ngữ đanh thép, chính xác của các quy phạm công vụ, tạo nên một lối văn phong hỗn hợp, độc đáo mà vẫn gắn bó hữu cơ - người đương thời gọi là phong cách thời đại. Trong cuốn sách đầy nhiệt tình tiến lên phía trước: lao động, lao động vượt mức kế hoạch, tiến trước thời gian! Con người ở đây hăng say lao động như một cơn lốc, cơn lốc của một điệu Vanxơ vui tươi và phấn kích... Lúc này V. Kataep cộng tác với báo “Pravda” và nhiều báo khác, ông có dịp lăn lộn trên khắp các ngả đường của đất nước, viết nhiều bài thơ cổ động phục vụ những nhiệm vụ cấp bách của Đảng, cả trong thời chiến cũng như trong lúc xây dựng hòa bình. Công cuộc lao động xây dựng đất nước đã mang lại cho ông nhiều cảm nghĩ vui tươi, nụ cười của ông trở nên lạc quan và châm chọc đúng chỗ. Ông viết những vở kịch vui “Hình vuông của hình tròn”, “Một triệu nỗi khổ cực”, “Con đường hoa” - ông tiếp tục chế giễu tên tiểu tư sản; mặc dù ông đã nhiều lần đọc điếu văn bên nấm mồ của hắn, vậy mà hắn vẫn ngoan cố, thay hình đổi dạng trở về bằng đủ mọi cách. Ông biểu lộ niềm sung sướng trước thắng lợi của cuộc sống mới, trước những đổi thay ngày một tốt đẹp hơn trong nhiều quan hệ giữa người với người bằng những sáng tác kịp thời. Đến đây bỗng nhiên ta thấy thêm một đổi thay bất ngờ. Khi ông đang say sưa bám sát thời gian và sáng tác theo nhịp độ của công trường, tìm thấy ở đấy những nguồn cảm hứng không bao giờ cạn, đang tiếp tục cười nhạo báng tất cả những gì lạc lõng, sai với nhịp bước của điệu Vanxơ thời đại kia, thì bỗng nhiên cuốn tiểu thuyết “Cánh buồm trắng cô độc” (1936) xuất hiện như một hành trình đường đột, bí mật quay lại thời thơ ấu xa xưa tưởng như đã lu mờ sau khói bụi của công trường và nhà máy - thời gian. Uống nước nhớ nguồn. Cái hôm nay đã bắt đầu từ đâu và bắt đầu như thế nào?! Ông quay lại quá khứ không phải “đơn giản” như người ta tưởng, và sự ra đời của cuốn “Cánh buồm trắng cô độc” cũng không phải là một “bỗng nhiên”, vì một nhà văn nghiêm khắc viết về quá khứ không thể là “bỗng nhiên”. Cuộc sống của ông diễn ra theo hai chiều đối nhau: chạy nhanh lên phía trước sánh bước với thời gian và đồng thời quay lại suy tư về những cái đã qua, đó quả là một quá trình lao động gian khổ: thu thập tư liệu, xác định tâm trạng - cái quyết định sắc thái của cuốn sách. Chính V. Kataep đã xác nhận rằng từ lâu ông vẫn hằng mong ước được hồi tưởng lại thời thơ ấu của mình: - Năm 1905, một ngày tháng sáu oi bức. Trên kè đá bờ biển Ôđexxa chật ních người. Bầu không khí trầm lặng đầy vẻ lo âu, rùng rợn. Một chú bé tám tuổi, trố mắt ra vì kinh ngạc, cố lách mình qua đám đông, len lỏi đến tận hàng rào sắt. Chú bé nhìn thấy chiếc chiến hạm ba ống khói “Pôchômkin” với lá cờ đỏ tung bay trong gió đã nổi dậy và giờ đây đang tiến gần về phía bờ biển Ôđexxa, Và ông kể lại rằng: “Cả thành phố vui mừng chào đón tin nổi dậy của chiến hạm. Và từ giờ phút ấy trong tôi bắt đầu nhen nhóm một ý thức. - Hình ảnh kỳ diệu của con tầu “nổi loạn” cứ bám riết theo nhà văn trên mọi nẻo đường sáng tạo của ông. Nhưng thời thơ ấu ấy không phải chỉ là sự hồi tưởng cá nhân đầy xúc động, mà còn là một giai đoạn lịch sử đẫm máu. Về cái bi tráng của tháng năm này ông đã viết truyện ngắn “Rôđiôn Giukốp” (1926). Rôđiôn Giukốp là một trong 700 thủy thủ của chiến hạm “nổi loạn” “Pôchômkin” đã đổ bộ lên bờ biển Rumani. Sau đó họ tản đi khắp thế giới và không mấy ai biết đến số phận của họ ra sao nữa. Nhưng Rôđiôn Giukốp là một người không thể sống xa tổ quốc, biết là nguy hiểm anh vẫn tìm cách trở về. Anh đã trở về và sau nhiều ngày đêm lang thang trong thảo nguyên Ukrain: ốm yếu, đói khát với tâm trạng phấp phỏng lo âu, anh dốc nốt đồng 50 kôpếch cuối cùng để mua tấm vé tầu trở về Ôđexxa, nhưng anh đã bị bắt ngay trên bến cảng. Truyện được tả lại bằng lối văn thích hợp với đề tài, không cường điệu và phô trương. Nhưng trong, đó dường như vẫn vấn vương một điều gì chưa giải quyết xong, nó tựa hồ như một hạt giống nếu gặp môi trường ắt sẽ nảy sinh. Vào những năm 20, rõ ràng nhà văn không hề nghĩ tới cuộc đời thứ hai của Rôđiôn Giukốp, ông cho rằng nói thế là đủ rồi. Nhưng khi ông có ý định quay về với thời thơ ấu, trở lại năm 1905 thì những cái tưởng đã phai mờ lại sống lại trong ký ức của ông dưới một nhãn quan khác, tinh tường hơn, trong đó có Rôđiôn Giukốp. Khi ông viết “Cánh buồm trắng cô độc” kể về những người bạn ấu thơ giãi dầu trong sóng gió Hắc hải và cháy sạm dưới mặt trời phương nam, thì cái chất bi tráng của câu chuyện mà ông đã viết về Giukốp không thật thích hợp với sắc diện của cuốn sách nữa. Nhưng Giukốp vẫn trở lại, anh trở thành cái cầu để đưa Pêchya và Gavrik đến với cuộc cách mạng đang sinh sôi và phát triển. Trong bộ bốn tập “Sóng Hắc hải”, tuy là nhân vật quan trọng, song Rôđiôn Giukốp vẫn chỉ đứng ở bình diện thứ hai. Từ câu chuyện cũ, chỉ vài ba tình tiết được chọn lọc dựa vào bộ tiểu thuyết bốn tập này, Giukốp con người thực đã nhường chỗ cho Giukốp tượng trưng và Giukốp biểu tượng cho bối cảnh đấu tranh cách mạng đầy nguy hiểm của thời kỳ bí mật. Đối với trẻ em, nhất là đối với cậu học sinh hay mơ mộng Pêchya Batsây, thế giới này đầy những bí ẩn hấp dẫn: những nhiệm vụ bí mật, những cuộc gặp gỡ đáng ngờ văng vẳng những câu nói nghe lạ tai... Ở đây tính lãng mạn nhiều màu sắc vốn có của biển khơi được nâng lên thành tính lãng mạn mộc mạc, kín đáo của cuộc cách mạng. Sự kết hợp hài hòa ấy đã làm cho câu chuyện vừa êm ái, thơ mộng vừa có cái không khí oi nồng, tức tối của lúc trời sắp nổi cơn giông. Ở đây không còn thấy cái nhịp điệu hối hả, dồn dập của bao sự kiện trong tiểu thuyết “Thời gian ơi, tiến lên!”, không còn cái sắc thái bông đùa riễu cợt của những truyện ngắn thuở xưa. Ở đây đã hình thành một phong cách mới - một lối văn xuôi điềm tĩnh, trầm mặc với những sắc thái muôn hình muôn vẻ, một lối viết súc tích cổ điển, chú ý nhiều đến những chi tiết tưởng như vụn vặt, chẳng có gì quan trọng, nhưng lại là chất liệu tạo ra nội dung mềm mại của câu chuyện. Đó là những tình tiết hết sức thông thường và đồng thời cũng rất bất ngờ. Biển ở đây cũng sống một cuộc sống gắn bó với các nhân vật nhỏ bé và với những sự kiện vĩ đại. “Khi thì biển yên tĩnh, xanh biếc màu da trời, đôi chỗ có những dải nước lặng, trăng trắng như những con đường nhỏ. Khi thì nó rực lên một màu xanh lơ bừng chói lấp lánh. Khi thì nó dập dờn như những đàn cừu tung tăng đùa dỡn. Khi thì một làn gió mát thoảng qua, làm nó bỗng nhiên ngả sang màu chàm xẫm và xù lên như lông cừu bị vuốt ngược. Khi thì bão ập tới, biển thay hình đổi dạng nom đến đáng sợ. Một trận cuồng phong rồ lên một đợt sóng lớn. Trên bầu trời màu than chì, những con hải âu vừa bay vừa kêu la ầm ĩ. Những làn sóng hung cuồn cuộn đi và quăng quật dọc bờ biển một cái xác cá heo bóng nhẫy. Phía trên nhưng đám mây nâu của cơn bão biển, chân trời màu lá mạ sáng chói dựng lên như một bức tường lởm chởm. Những con sóng nhào đầy bọt hệt như tấm đá khổng tước chằng chịt những đường vân rộng trắng xóa, đâm xô vào bờ, vỡ tan ra, làm dội lên những tiếng ầm ầm như tiếng súng đại bác. Tiếng dội âm vang ngân lên trong bầu không khí đầy tiếng động inh tai. Bụi nước bắn lên, tạo thành một làn sương mù mỏng mảnh, rủ xuống như một tấm sa mỏng phơ phất trên suốt chiều cao đồ sộ của những bờ dốc đang rung chuyển. Nhưng vẻ mê hoặc chủ yếu của biển là trong khoảng không bao la của nó bao giờ cũng giữ kín một điều gì bí mật. Ánh lân quang của biển chẳng phải là điều bí mật sao, khi mà trong một đêm tháng sáu không trăng, bàn tay ta dúng xuống làn nước ấm đen sì bỗng sáng rực lên, lấp lánh những tia sáng xanh. Hay những đốm lửa chuyển động của những con tàu vô hình và những luồng sáng nhợt nhạt, bừng lên một cách chậm chạp của ngọn hải đăng chưa từng biết? Hay số hạt cát mà trí tuệ con người không thể nào đếm xuể? Cuối cùng là hình ảnh kỳ ảo của chiếc thiết giáp hạm nổi loạn có lần đã xuất hiện ở ngoài khơi xa tắp, chẳng phải là một điều hoàn toàn bí ẩn sao?” Đọc những đoạn văn trên đây ta có cảm tưởng rằng đó không thể là ký ức của nghệ sĩ dù là một nghệ sĩ từng trải và có tài, mà phải là cặp mắt trong sáng và tinh tường của một đứa bé mẫn cảm mới chộp nổi. Ngay từ những dòng đầu của tập I, “Sóng Hắc hải” đã được viết theo một phong cách khác hẳn, tạo nên một tâm trạng khác tất cả những gì ông đã viết, nhất là tiểu thuyết “Thời gian ơi, tiến lên!” Lối văn mô tả chậm rãi, dẫn dắt người đọc đi vào suy tư và hồi tưởng, trong đó hứa hẹn một cái gì chân xác và trữ tình. Chất thơ thấm vào các trang sách và tô điểm cho chúng bằng những màu sắc êm ái, làm cho chúng trở nên hấp dẫn và độc đáo: lúc vui, lúc buồn nhưng bao giờ cũng là sự chân xác lãng mạn. Trong hành động của hai đứa trẻ Pêchya và Gavrik tính tự nhiên không phải chỉ do logic nội tâm mà còn do cả logic cuộc sống riêng của chúng tạo nên: mỗi đứa một vẻ. Song đó cũng là cái logic, và tâm lý thông thường: trẻ con ở tuổi đó thường muốn bứt mình ra khỏi người lớn, muốn sống một cuộc sống độc lập, nhất là trong những hành động hấp dẫn của trẻ con, không muốn cái khôn ngoan chán ngắt của người lớn can thiệp vào. Càng nguy hiểm càng hấp dẫn, càng là việc làm vô cùng thích thú. Bí mật là cái gì đè nặng lên con tim đến ngạt thở, nhưng ngọt ngào xiết bao, cái hương vị của khám phá. Do đó chúng đã bị lôi cuốn vào cuộc cách mạng như tham gia vào một trò chơi thích thú đang tiếp diễn ở giai đoạn gay go, căng thẳng. Bị thua trắng tay trong cuộc chơi uski, Pêchya trở thành “nô lệ” của Gavrik và nó phải theo “hầu” ông chủ, tha cái túi nặng đầy tài sản uski lang thang khắp thành phố giữa lúc hỗn mang, chui rúc qua các ngõ hẻm heo hút và rùng rợn. Thoạt tiên Pêchya không biết cái túi nó mang trên lưng là đạn và việc luồn lánh qua các ngõ ngách kia là làm nhiệm vụ tiếp vận đạn dược cho những người khởi nghĩa đang chống cự với cảnh sát và quân lính chính phủ. Nhưng khi đã vỡ lẽ, nó lại hồ hởi tiếp nhận thêm nhiệm vụ mới. Bây giờ cố nhiên thằng bé đã hiểu rõ nó mang thứ uski gì. Giá vào lúc khác thì có lẽ nó đã vứt tuốt và chạy về nhà. Nhưng hôm ấy, mê say với cái công việc nguy hiểm nhưng hấp dẫn này; niềm mê say còn mãnh liệt gấp trăm lần những lúc ham chơi, nó nhất định không chịu bỏ bạn một mình. Nhưng ngay trong trường hợp này tác giả cũng không quên tuổi đời của nhân vật, tính hiếu danh trẻ con vốn có của lứa tuổi đó. “Hơn nữa, - nhà văn viết thêm, - nó không thể từ bỏ cái vinh quang của Gavrik. Chỉ riêng một ý nghĩ rằng sau này nó sẽ không có quyền kể lại những chuyện mạo hiểm của mình, đã lập tức buộc nó phải coi thường nguy hiểm”. Ở đây bộc lộ cái năng khiếu quan sát tinh tường của nhà văn: ông thận trọng quan sát, không bỏ sót một chi tiết nhỏ để nhận ra những tính chất mới, quan điểm mới đang hình thành trong tâm hồn thằng bé Pêchya, trong khi cuộc sống xung quanh hầu như vẫn bình thường. Tuổi thơ là tuổi của những tìm tòi, khám phá, và quả thực những khám phá vĩ đại đều bắt đầu ngay từ những bước đi đầu tiên, những tiếng nói đầu tiên trong đời người. Mỗi đứa trẻ đều tìm ra một châu Mỹ của mình, và tạo ra cho nó - cái châu Mỹ ấy, một cuộc sống riêng theo ý mình. Những cuốn sách về tuổi thơ là những cuốn sách về tìm tòi và khám phá cái mới - khám phá thế giới. Tuy nhiên bất kỳ một khám phá nào cũng đều xảy ra trong những giờ phút nhất định của lịch sử và trong những tình huống nhất định. Khi nhận ra cái túi nó mang trên lưng là đạn, Pêchya hiểu rõ rằng việc làm của nó và Gavrik không còn là trò chơi trẻ con nữa. Trong hai tập đầu của bộ sử thi “Cánh buồm trắng cô độc” và “Khu trại trong thảo nguyên” sự khám phá thế giới trong tâm hồn cậu bé diễn ra dưới ánh sáng của ngọn lửa cách mạng đang cháy lan ra khắp nước Nga. Thế giới hiện lên trong sự đổ vỡ khốc liệt của năm 1905. Những biểu tượng tưởng như không gì lay chuyền nổi của tuổi thơ về nước Nga, về Sa hoàng, về Thượng đế và về người bố thế là bắt đầu sụp đổ. “... Thì ra nước Nga là một nước bất hạnh, và ngoài bố ra còn có những người ưu tú nào đó đang chết mòn ở những nơi làm việc khổ sai. Thì ra Sa hoàng là thằng ngốc và một tên nát rượu, lại còn bị người ta dùng gậy tre đánh vào đầu. Ngoài ra, các bộ trưởng là những kẻ bất tài, các tướng tá là những kẻ bất tàỉ, và té ra không phải nước Nga đánh bại nước Nhật - điều mà cho đến nay không ai mảy may nghi ngờ - mà là nước Nhật đánh bại nước Nga. Và điều chủ yếu nhất là bố và bác đều nói về việc đó. Tuy nhiên, chính Pêchya cũng đã đoán được đôi điều. Trong bót cảnh sát, người ta nhốt những người hoàn toàn tử tế, không say rượu, thậm chỉ nhốt cả một ông già tuyệt diệu, mà còn đánh cả ông cụ nữa chứ.” Lưng đeo cái xắc cốt nặng, ngoan ngoãn theo Gavrik đi khắp hang cùng ngõ hẻm, lần đầu tiên Pêchya nhìn thấy cái cảnh bần cùng vừa đáng kinh sợ, vừa nên thơ của những khu phố nghèo của Ôđexxa, nhìn thấy cái tử thi có bộ mặt vàng ệch như sáp ong trong trận chiến đấu mà Pêchya có cảm tưởng như một trò chơi trẻ con. V. Kataep là một nhà văn hay viết về trẻ em và hai tập đầu của bộ bốn tập “Sóng Hắc hải” là những cuốn sách viết về niềm sung sướng đầu tiên của bản tính trẻ em và những đau khổ đầu tiên khi tiếp cận với sự thật. Trong cuộc đời của một đứa trẻ, và nhất là của một đứa trẻ mơ mộng, lãng mạn như Pêchya, thì liệu có những tấn bi kịch nào có thể so sánh được với những thất vọng đầu tiên, với việc phải đánh giá lại những giá trị đã ăn sâu trong ý niệm của nó! Cuộc sống không thương tiếc những ảo mộng. Đó là quá trình tất yếu, nhưng lại diễn ra khác nhau tùy theo môi trường của mỗi cá nhân và ảnh hưởng của lịch sử. Ở đây nhà văn phải dựng lại toàn bộ bối cảnh lịch sử và không khí xã hội của những năm ấy một cách chính xác: hoàn cảnh gia đình ông giáo Batsây, quanh cảnh đường phố Ôđexxa và tất cả những gì tạo nên môi trường vật chất và đạo đức của Pêchya. Nhưng tuổi thơ của Gavrik là căn lều nghèo nàn của ông lão đánh cá, ở đây không có chỗ cho những ước mơ và viễn tưởng rực rỡ. Viễn tưởng lãng mạn là cái cốt do môi trường của Pêchya tạo nên. Một chú bé được nuôi dưỡng trong môi trường chính trực, liêm khiết và yêu cái thiện, nó sẽ hướng về cái thiện, cái công bằng. Khi vào đời, cái sức mạnh vốn có của cái ác, mà cái ác bao giờ cũng có khuynh hướng chà đạp lên cái thiện sơ khai của con người, mới bắt đầu tác động đến con người. May mắn thay, vừa bước chân ra khỏi cửa, Pêchya đã gặp ngay Gavrik, một người bạn đường đáng tin cậy, một đứa trẻ nghèo mà tâm hồn trong sáng, ý chí thông minh, bản năng chiến đấu vượt lên trên những thiếu niên cùng lứa tuổi. Do hoàn cảnh gia đình, ngay từ tấm bé, Gavrik đã phải lăn lộn với thiên nhiên để kiếm sống và phải va chạm với đủ loại người, nó sớm trưởng thành và là một đứa trẻ tháo vát, có đầu óc thực tế. Ý thức đoàn kết và công bằng xã hội đã ăn sâu trong tâm khảm nó ngay từ tấm bé. Khi đưa Pêchya. đến tiếp xúc với những người lao động nó không quên giới thiệu: “Đây là con trai ông giáo Batsây” và “đó là một gia đình không có gì làm giàu sang, hiện đang gặp khó khăn.” Như một người lớn, chín chắn không phải do tuổi đời song Gavrik vẫn là một thủ lĩnh tí hon tinh nhanh và nghịch ngợm, nó luôn luôn tự hào với vai trò của mình trong đám trẻ con trên đường phố, nó cũng ham chơi, nhiều khi quên cả công việc. Sắc thái đó làm cho nhà văn có thể mang vào câu chuyện chút ít hài hước, làm cho “chú Gavrôs Tênarđiê của Ôđexxa” có sức cảm hóa đặc biệt. Gavrik tháo vát, đảm đang và chu đáo, Pêchya mơ mộng mà ngờ nghệch trước việc đời. Do đó trong tình bạn của chúng có cái gì thiếu bình đẳng. Những cái mà đứa con của đường phố Ôđexxa nhận thức một cách dễ dàng và chắc chắn thì đối với Pêchya - đứa con của một gia đình trí thức, một học sinh trường quốc lập, lại là một điều bí ẩn. Pêchya chỉ có mỗi một ưu thế là thầy dạy tiếng la tinh cho Gavrik. Tuy vậy Gavrik cũng không xem thường cái khôn ngoan thông thái của nhà trường. Đối với nó những kiến thức sách vở không phải là điều thích thú, nhưng nó hiểu được giá trị thực tiễn của kiến thức đó: cần học, học vẫn là điều bổ ích. Viết về tình bạn của hai đứa trẻ có cá tính khác nhau, được giáo dục trong những môi trường khác nhau, nhưng vẫn giữ được tình thân ái, ngay cả khi chúng đã khôn lớn, là một khó khăn lớn: tình bạn đó rất dễ rơi vào tình trạng gượng gạo, nhưng ở đây tác giả đã khắc phục được khó khăn ấy một cách tài tình. Cái khôn ngoan của Gavrik thường có giá trị thực tiễn hơn kiến thức sách vở của Pêchya, nhất là khi vấp phải những vấn đề không hề có trong giáo trình. Ở đây nhà văn đã giải quyết khá tốt vấn đề khác biệt giữa đôi bạn: dù ảnh hưởng của Gavrik đến Pêchya có mạnh đến mấy, dù tâm hồn của chàng thiếu niên mơ mộng và lãng mạn này có ngây thơ và trong trắng thế nào, dù Pêchya có hướng đến cái thiện, cái công bằng đến mấy thì nó vẫn là một đứa con cưng của một gia đình trí thức đang dao động; hoang mang trước thời cuộc. Mỗi đứa có một thế giới nội tâm riêng của mình. Khi nói đến gia đình Batsây, đến người chủ gia đình ấy, ngay cả khi họ đang gặp khó khăn như trong “Khu trại trong thảo nguyên”, V. Kataep vẫn tả với nụ cười vốn có của ông - nụ cười nhân từ, thấu hiểu, rộng lượng và có cái gì như ái ngại. Thực ra trong cái chất Đôngkisốt của Vaxili Pêtrôvits Batsây có cái gì vừa tức cười vừa cảm động, cũng như trong tình trạng tuyệt vọng của bà bác Tachyana Ivanôvna, khi phẫn nộ bà thốt ra một tràng những lời phỉ báng có tính chất chính trị của bà. Trong gia đình Batsây không phải tất cả bao giờ cũng rõ ràng và luôn luôn nổ ra những cuộc tranh cãi. Ở đây chủ nghĩa duy tâm không phải như một hệ thống triết học mà là một loạt những nguyên tắc sinh hoạt gọi là vô tư, trung thực, lề thói, những ý niệm cao cả về người trí thức và bổn phận, của nó. Với Vaxili Pêtrôvits hai tiếng “chính trị” cũng làm ông e ngại chứ đừng nói tới giai cấp và đấu tranh giai cấp. Thế nhưng trong gia đình ông hầu như người nào cũng thấy rõ cái ranh giới xã hội đã được bàn tay vô hình vạch ra giữa những con người: “Pêchya biết rằng chính ở đây, ở phía trên, bên kia đại lộ Nicolai là cái khu phố rực sáng, ồn ào, vô cùng quyến rũ, cao sang, huyền ảo mà trong gia đình Batsây người ta thường nói đến với một vẻ vừa kính trọng, vừa khinh bỉ là “Khu trung tâm”. Dĩ nhiên là gia đình Batsây không ở “khu trung tâm”. Ở đấy là “những người giàu có”, tức là những người đặc biệt, đi tàu bay hay xe đều đi vé hạng nhất, ngày nào cũng có thể đi xem hát, và không hiểu tại sao mãi bẩy giờ tối mới ăn trưa...” Nhưng không phải vì ghen tức mà ông bất mãn, ông Vaxili Bátsây vốn có thái độ ôn hòa, bất đối kháng, lý tưởng hóa cuộc sống - cái thái độ cố hữu của trí thức Nga. Nhất là ông, một con người nhân từ, đa cảm trong giọng nói thường nhiều nước mắt hơn là sắt thép. Nhưng khi phải đi đến quyết định: chỉ cần tỏ thái độ đầu hàng hay nhượng bộ trong phút chốc thôi để giữ cho cuộc đời yên hòa và sung túc, thì trong con người ông lại bộc lộ cái thái độ cứng rắn trước mọi thứ dọa dẫm và mua chuộc vì sự thánh thiện của đạo lý và vì lòng tự trọng. Cuộc sống nghiệt ngã, những bất công và đau khổ đã mở cho tầm mắt ông nhận ra cái bản chất của thứ uy lực tối thượng mà ông đang thờ phụng. Sau lần xung đột với thượng cấp, lần đầu tiên trong đời ông hiểu: “Ở nước Nga một khi đã ra làm việc Nhà nước thì không thể làm một con người ngay thẳng, không khom lưng cúi đầu được. Chỉ có thể là một quan chức đần độn của Sa hoàng, một viên chức không có ý kiến riêng của mình, chỉ biết tuân lệnh, tức là tuân lệnh quan trên, cho dù đấy là những mệnh lệnh bất chính và tội lỗi đi nữa. Với Vaxili Pêtrôvits, điều khủng khiếp nhất là tất cả cái đó lại bắt nguồn chính từ uy lực tối thượng của người đã được thượng đế ban cho ngai vàng để cai quản nước Nga”. Những giây phút tỉnh ngộ ấy hiếm hoi và quý giá vô cùng. Nó đã hướng ông Batsây đi vào một cuộc đời mới. Khác với gia đình ông Vaxili Batsây, trong xóm Cối xay Gần, ở cái thế giới người nghèo này của Gavrik, tất cả đều được thực hiện một cách dứt khoát, nhanh chóng, chắc chắn và không khoan nhượng. Ở đây, người ta không thừa nhận những cảm lụy, suy tư và dao động, ở họ - những người lao động bao giờ cũng sẵn sàng một quyết định hành động và ai cũng biết rõ là phải thực hiện quyết định đó như thế nào. Đối với V. Kataep, thì Rôđirôn Giukốp, Terenti, Tsernoivanepko, Gavrik và những chiến hữu của họ đều là những anh hùng. Trong “Khu trại trong thảo nguyên” ảnh hưởng của Gavrik đối với Pêchya quá rõ ràng và cụ thể. Nhà văn đã bám sát đôi bạn của mình lang thang đi khắp chốn: trên bãi biển, trên đường phố và chui cả vào những ngõ ngách của Ôđexxa. Đối với Gavrik thì bãi biển, đường phố, xó chợ... chỗ nào cũng thân thuộc như trong căn lều rách nát của ông nó trước đây và ngôi nhà lụp xụp của anh nó hiện nay. Việc kiếm sống đã dạy cho nó tính tháo vát, khôn khéo, đôi khi ranh mãnh và tính thận trọng, đã khơi lên lòng căm thù. Do đó thái độ của nó rất dứt khoát: một lần thôi và suốt đời. Pêchya luôn luôn khâm phục cái khôn ngoan mà bạn nó đã học được trên đường phố. Và tất cả “những gì ở nhà đối với nó đều trở nên chán ngắt và vô vị, mặc dù nó rất yêu bố và bà bác “bướng bỉnh” của nó. Khi đến xóm Cối xay Gần, ở đây cái gì đối với nó cũng mới mẻ và mỗi lúc một khác. Nhưng nó không quay lưng lại với gia đình. Ngôi nhà, bầu không khí gia đình, những ảo tưởng của bố và lòng bất mãn cao thượng của bác là một dòng tư tưởng, những câu chuyện của anh Terenti, tấm gương của Rôđiôn Giukốp, những hoạt động của Gavrik lại là một dòng khác. Và hai dòng tư tưởng đó thoạt nhìn mới trái ngược làm sao. Trong cả bộ sử thi “Sóng Hắc hải” Pêchya luôn luôn là điểm xoáy của các luồng gió từ bốn phương thổi tới. Cuộc đời Pêchya: tham gia cách mạng, tham gia nội chiến và sau này tham gia cuộc chiến tranh yêu nước luôn luôn là sự tiếp diễn và phát triển của điểm giao lưu của các luồng tư tưởng đó. * * *       “Khu trại trong thảo nguyên” là tập thứ hai của bộ “Sóng Hắc hải” đã được mở đầu bằng cuốn tiểu thuyết mang cái tên thơ mộng “Cánh buồm trắng cô độc”, bắt nguồn từ chủ nghĩa lãng mạn trong sáng tô điểm cho những bước đi ban đầu ít nhiều có suy nghĩ của nhân vật trung tâm là Pêchya Batsây và tình bạn của nó với Gavrik Tsornôivanenko. Trong “Khu trại trong thảo nguyên”, vẫn thông qua cuộc sống của hai gia đình ông giáo Batsây và anh công nhân Tsornôivanenko mà tiêu biểu vẫn là Pêchya và Gavrik. V. Kataep tái hiện lại một cách chi tiết cuộc sống của Ôđexxa, của nước Nga và phong trào cách mạng Nga vào những năm 1910 - 1915, cũng như phong trào dân chủ trên quy mô thế giới, thông qua chuyến du lịch của ba bố con Batsây qua một số nước. Sau thất bại của cuộc cách mạng 1905, chính phủ Nga hoàng tăng cường đàn áp phong trào công nhân và truy lùng những người hoạt động cách mạng, Đảng rút vào hoạt động bí mật, đồng thời kết hợp với hoạt động công khai: sự ra đời của tờ báo “Sự thật” và việc chuẩn bị đưa người ra tranh cử vào viện Đuma. Chính việc kết hợp giữa hoạt động hợp pháp với hoạt động bí mật là nét đặc trưng của giai đoạn cách mạng này giai đoạn chuẩn bị điều kiện cho một cuộc cách mạng mới, - cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong những chương đầu của “Khu trại trong thảo nguyên”, vốn là một người trí thức Nga trung trực, một con chiên ngoan đạo, một người yêu nước theo kiểu thánh đường và hết mực tin yêu Sa hoàng, ông giáo Batsây ra sức bảo vệ nhà thờ và nhà nước với tấm lòng chân thiện của một nhà sư phạm mẫu mực. Ông làm ngơ trước mọi hoạt động của những người cách mạng, tuy không chống đối nhưng cương quyết không tham gia và cũng không để họ lợi dụng mình vào mục đích “chính trị” của họ. Hai chữ chính trị bao giờ cũng làm ông bối rối, ông xa lánh nó như người ta xa lánh những kẻ nhiễu sự. Ông không muốn ai quấy rầy cuộc sống “lương thiện” và yên hòa của gia đình ông. Nhưng sự thật đã không như ông tưởng! Trước cái tang lớn của nước Nga - nhà văn vĩ đại Lep Tônxtôi từ trần, ông đã đọc bài diễn văn tưởng niệm - “Mặt trời của nước Nga đã tắt” trước học sinh. Nhưng việc làm trung thực của ông lại trái với “nghĩa vụ” của người viên chức nhà nước, lại là hoạt động chống đối chính phủ. Giữa L. Tônxtôi và nhà nước thì chân lý ở đâu? Một câu hỏi hiện lên và niềm tin của ông bắt đầu lung lay. Còn nhà thờ ư? Sau lần tiếp xúc với lão linh mục đại diện cho nhà thờ ở nghĩa trang, bên nấm mồ của vợ ông, ông thấy rõ đó chẳng qua cũng chỉ là trò xảo trá! Và niềm tin của ông tiêu tan. Sau câu nói “kháng cự” đầy công phẫn: “Ngài làm nhục tôi!” ông bắt buộc phải thôi việc. Sau lần tống cổ tên hối lộ Blagienxki ra khỏi nhà, ông trở nên thất nghiệp và lần này thì vô phương cứu chữa. Ông hiểu ra rằng chẳng qua mình chỉ là một “tên nô lệ”. Tiếng ấy đúng nhất. “Thoạt đầu tôi là tên nô lệ của Bộ giáo dục nhân dân mà đại diện là Xmôlianinôp, đốc học ty giáo dục và y đã đuổi tôi như đuổi một con chó, bởi vì tôi đã cả gan có ý kiến riêng về Tônxtôi. Sau đó tôi trở thành nô lệ của Faigơ, kẻ cải đạo và là kẻ đầu óc thô thiển, y cùng đuổi tôi như đuổi con chó, bởi vì lương tâm tôi không cho phép tôi ghi điểm ba cho Blagienxki, một tên dốt đặc và ba hoa, trong khi người ta muốn tôi cho hắn điểm ba chỉ vì một lý do duy nhất hắn là con trai một nhà triệu phú. Tôi muốn nhổ toẹt vào mặt cả Xmôlianinôp lẫn Faigơ, và đồng thời phỉ nhổ cả toàn bộ chính phủ Nga! Và nếu ở nước Nga ta không thể không làm nô lệ cho kẻ khác, thì thà tôi làm một tên nô lệ bình thường, còn hơn làm tên nô lệ trí thức. Ít ra thì tôi còn giữ được sức sống cho tâm hồn tôi...” Theo sáng kiến của bác Tachiana Ivanôvna - gia đình Batsây thuê khu trại trồng cây ăn quả trong thảo nguyên với ý định cứu sống gia đình bằng lao động của mình. Nhưng trong một xã hội mà quan hệ giữa người với người là chó sói, thì gia đình ông làm sao tránh khỏi tai họa khánh kiệt. Ở đây lại xuất hiện mụ Xtôrôgienkô, một nhân vật hắc ám, ngày xưa buôn hàng cá, đã cướp cơm của ông cháu Gavrik và bao người khác, giờ đây lại chuyển sang buôn trái cây, đang ra sức dìm giá vườn quả của gia đình Batsây với ý định cướp trắng cả vụ trái cây lẫn khu trại. Nhưng mụ đã vấp phải kẻ thù cố cựu của mình: Gavrik. “Có điều hồi xưa nó bé tí và bất lực, mụ muốn làm gì nó thì làm, nhưng giờ đây nó đã hoàn toàn khác, và do bản năng mụ đánh hơi thấy nó có sức mạnh nguy hiểm chưa rõ đến mức nào”. Phải chăng đó là sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, đã đến lúc làm cho kẻ thù kiêng nể. Những cuộc tìm kiếm để xây dựng cuộc sống điền viên, những lo âu và xung đột của Vaxili Batsây rút cục cũng có cái gì giống với tính chất lãng mạn tích cực của những người trong ủy ban bí mật. Giữa ông giáo Batsây và họ có những cái giống nhau: họ có chung một kẻ thù. Trong lúc gia đình Batsây đã bó tay trước sự chèn ép của cái xã hội “cá lớn nuốt cá bé”, mọi người đã an phận chờ đợi cái tai họa phải đến, thì vào một buổi sáng đẹp trời anh em công nhân ở Xóm Cối xay Gần đã đến giúp gia đình Batsây thu hoạch vụ trái cây theo lệnh của ủy ban bí mật. Ở đây có một cái gì rất cảm động, phóng khoáng như một khúc ca đồng nội. Và để trả công, - theo nguyên tắc có đi có lại, ông giáo Batsây giảng cho anh em công nhân một số bài học phổ thông về lịch sử, địa lý, văn học... Sau cái phút tỉnh ngộ kia giờ đây đã đến lúc ông dậm chân quật vào mặt bọn cảnh sát khi chúng ập đến muốn phá rối cuộc sống điền viên của ông “Tôi yêu cầu những người lạ mặt đêm hôm không được xộc vào trang trại của tôi”. Phút tỉnh ngộ đã đưa đến bước ngoặt lớn là sự giác ngộ tư tưởng của ông. Hành động đó làm ta liên hệ tới hành động của ông cách đấy mấy năm (“Cánh buồm trắng cô độc”): chính ông đã che chở cho anh lính thủy của chiến hạm Pôchômkin là Rôđiôn Giukốp thoát khỏi sự truy nã của cảnh sát - lúc này, hành động của ông mới xuất phát từ lòng nhân từ. Về Rôđiôn Giukốp khi anh ra đi thì “Thuyền ai thấp thoáng lẻ loi cánh buồm!” (“Cánh buồm trắng cô độc”) và giờ đây anh trở về thì mặt biển nhộn nhịp những cánh buồm. Khi ra đi anh chỉ là anh lính thủy quả cảm được ông cháu Gavrik cứu sống, giờ đây anh trở về với tư cách là đại diện của Ban chấp hành Trung ương Đảng công nhân xã hội dân chủ. Còn ông giáo Batsây thì đứng nghe anh nói chuyện về “tình hình chính trị” một cách chăm chú đến nỗi Pêchya đi ngang qua và chạm vào người ông cũng không hay. Và trong mỗi mắt kính của ông “lấp lánh một đốm lửa nhỏ”. Chính những tình tiết này làm cho câu chuyện dịu dàng và hấp dẫn về đôi bạn tâm giao trở thành câu chuyện về sự tất yếu của cách mạng, về sự hấp dẫn tất nhiên của cách mạng đối với những tinh hoa của xã hội và của mỗi con người dù đó là cậu học sinh hay ông giáo trung học. Trong cả hai tập “Cánh buồm trắng cô độc” cũng như “Khu trại trong thảo nguyên”, thời đại được quan sát và mô tả một cách xúc động dưới con mắt của những người sống trực tiếp trong các sự kiện. Trong “Khu trại trong thảo nguyên” gia đình Tsornôivanenko hầu như không có gì thay đổi, ngoài việc Gavrik bỏ nghề đi biển và sau khi đã làm đủ nghề để cuối cùng trở thành thợ sắp chữ học nghề. Việc vào nghề in của nó cũng là do yêu cầu của cách mạng. Ở đây thông qua việc mô tả sinh hoạt của gia đình Tsornôivanenko và quan hệ của Terenti để nói lên phong trào công nhân và ngư dân Ôđexxa. Trong trường học nhân dân của ông giáo Batsây, ngoài Terenti ra, còn thấy bác lính thủy già Fêđia, anh Akim Perepelitxki. Và ở đây việc xuất hiện thêm một nhân vật mới: bà quả phụ Pavlôpxkaia, làm cho trường học của ông Batsây trở thành như một nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác trong phong trào công nhân. Khi Rôđiôn Giukốp nhảy lên con thuyền nhỏ nhoi một mình một bóng vượt biển khơi thì Pêchya mới lên tám. Vào năm Lép Tônxtôi qua đời Chương mở đầu của “Khu trại trong thảo nguyên” Pêchya đã 13 tuổi, nó đã có những hồi tưởng. Những sự kiện rối ren nó không thể nào gỡ ra được. Trong đầu nó đã có nhiều điều đáng suy nghĩ hơn là cuộc chơi uski thua lỗ. Nhìn cảnh tượng thành phố trong những ngày có tang bỗng nhiên quá khứ trở về xâm chiếm tâm hồn nó: “bầu không khí lo âu và rùng rợn của “năm thứ năm”, Nỗi lo âu đó khi tỏ, khi mờ đã xuyên suốt cuốn tiểu thuyết thứ hai “Khu trại trong thảo nguyên”. Không gian đã mở rộng ra ngoài phạm vi Ôđexxa. Đi du lịch ra nước ngoài ba bố con ông Vaxili Batsây tiếp xúc với thế giới bao la đủ màu sắc, với nhiều dân tộc và tiếng nói khác nhau, sức tưởng tượng vô hạn và không biết mệt của tuổi thơ bừng lên trước vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ và đầy rẫy những cái bất ngờ hiện lên sau khung cửa tàu xe. Vẫn với nụ cười nhân hậu, nhưng cũng rất hóm hỉnh, tác giả mô tả tình cảm của Pêchya với cô bé người Nga mà nó vừa nhác thấy trên sân ga nước người. Tình cảm say đắm ấy nảy sinh có lẽ vì đã lâu nó chưa được gặp người bạn gái nơi quê nhà. Chúng ta đã mấy ai không có một thời muốn giấu đi “cái đuôi trẻ con” bằng cách cố làm ra vẻ mình là người lớn: từ lời ăn tiếng nói đến dáng điệu, nhất là khi tiếp xúc với bạn nữ. Những cảm giác mơ hồ nhưng vấn vương bồi hồi, khi ta đi bên bạn ở chỗ vắng người, những cảm xúc làm bật ra những ý thơ tuyệt vời mà cho đến lúc đã làm người bố ta vẫn còn thấy xốn xang mỗi khi nhớ lại. Những cảm giác thơ ngây, trong trắng ấy - vào cái thuở chuẩn bị làm người lớn ấy, ta cứ thích gọi là “tình yêu”. Có thể đó sẽ là tình yêu, nhưng không hẳn. Ở đây ta lại thấy nụ cười của V. Kataep khi ông mô tả những xúc cảm yêu đương của cậu học sinh mơ mộng Pêchya Batsây với Môchya và Mariana. Nhưng đối với cậu thiếu niên Gavrik không được học như trẻ khác vì hoàn cảnh gia đình thì lại khác. Niềm khao khát của cậu là được học. Cậu sẵn sàng bỏ những đồng Kôpếch rất khó kiếm và cũng rất cần để nuôi sống gia đình, để trả tiền học phí. Cậu cũng muốn tỏ ra mình là người lớn, nhưng khác với Pêchya, cậu muốn mình là người lớn để làm được những việc lớn hơn. Chính Gavrik đã quắc mắt tống cổ mụ Xtôrôgienko ra khỏi trang trại của ông giáo Batsây. Tuy nhiên, đối với Pêchya trong số những tình tiết dịu dàng và vui vẻ, trong cái ống kính vạn hoa các ấn tượng cứ luôn luôn thay đổi một cách nhanh chóng, qua cả một dòng ngôn ngữ xa lạ đầy huyên náo trên đường du lịch, đôi khi vẫn thoáng hiện lên nỗi lo âu mơ hồ, những phong thanh về đời sống của nước Nga xa xôi và khuất nẻo. Nỗi hốt hoảng của Pêchya khi nó bỏ quên ở tiệm cà phê chiếc mũ lính thủy mà b&a

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lọ Lem đường phố - Quái Vương
Cô gái Lã Thiên Ân có một thân phận không khác cô bé lọ lem quen thuộc trong truyện cổ tích là mấy. Cũng bố mất, cũng cảnh con chồng dì ghẻ, chị em cùng cha khác mẹ. Nhưng lọ lem của thế kỷ 21 không nhu mỳ, chẳng đảm đang, chưa bao giờ tháo vát. Một lọ lem tin vào những điều kì diệu nhưng không tin vào bà tiên. Ông trời thử thách cô? - Cô sẽ thách thức ngược lại. Làm tổn thương cô? - Cô sẽ đạp bẹp tất cả tổn thương. Một lọ lem không cho phép ai đứng trên đầu mình mà sai bảo. Mẹ kế? Em kế? Muốn hành hạ sao? - Cửa sổ cũng không có. Bước vào Lọ Lem Đường Phố chúng ta sẽ như được bước vào thế giới cổ tích với biết bao điều kỳ diệu xảy ra, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác nhưng nó không đem lại cho bạn đọc cái cảm giác quen thuộc là thương cảm, và thấy may mắn khi cô bé lọ lem được bà tiên giúp đỡ mà là cảm giác thú vị, nể với những điều kỳ diệu do chính cô bé lọ lem Lã Thiên Ân tạo ra cho mình. Một cô bé tên Lã Thiên Ân thông minh, tài năng, cứng rắn, mạnh mẽ ngay cả trong ngày bố mất cũng không rơi một giọt nước mắt và luôn có cho mình một thế giới riêng. Với những ý nghĩ khác người đổ ảnh thờ của bố mẹ, thay vì hai bức ảnh chân dung trên bàn thờ thì cô thay bằng một bức ảnh cưới có mặt hai người. Bố mất để lại một di chúc giống như trò chơi cuối cùng ông dành cho cô và mẹ con nhà Nguyễn Ánh Mai và Lã Nguyên Đan. Bí mật về tài sản trong di chúc sau ba năm ông mất mới được công bố.    *** Suốt những ngày mùng Thiện đều đến cô nhi viện Mái Ấm và ở đó cho đến tối mặc cho Ân thờ ơ, lạnh nhạt. Cô không nói chuyện với cậu, cậu nói chuyện với bọn trẻ. Cô đuổi cậu, cậu mua chuộc bọn trẻ để năn nỉ cho cậu ở lại. Tóm lại, Thiện đã “không từ thủ đoạn” để được bên cạnh Ân. Hôm mùng sáu, Thiện đến thì đã thấy Hy đang ở trong nhà trò chuyện cùng Ân, Linh và Phụng. Thấy đông vui, Thiện liền đề nghị mọi người đánh bài cát tê. Sở dĩ Thiện rủ chơi cát tê là vì đây là món bài tủ của cậu. Cậu đoán bài khá chuẩn. Trưng hay cúp đều không trùng nước. Cuối cùng khi kết thúc, mọi người ngồi nhẩm lại thì Ân là người ăn nhiều nhất rồi đến Hy, Linh cũng ăn nhưng không nhiều còn Phụng thì huề, chỉ có Thiện là thua lớn. Cậu nghĩ mãi nghĩ thế nào cũng không ra tại sao bình thường bài cậu rất mạnh nhưng hôm nay lại “hai ba bước đều”. Thua không gỡ được lấy một ván. Trong nét mặt ngây ngô của Thiện, Hy phán rằng: “Đỏ tình đen bạc”. Thiện nghiêng đầu ngẫm nghĩ một hồi không lâu liền quay sang Ân phụng phịu: “Tại cậu đấy!” Trong một buổi trưa mùa xuân, Linh, Phụng và Hy được một trận cười lớn. Mời các bạn đón đọc Lọ Lem đường phố của tác giả Quái Vương.
Là Điều Anh Muốn - Lynn Kurland
Giống như những nhân vật anh hùng trong tác phẩm của Lynn Kurland, Là điều anh muốn kể câu chuyện về kị sĩ Christopher - một chiến binh được mệnh danh là "con rồng xứ Blackmour”. Trong một cuộc tấn công từ kẻ thù, anh bị mù. Sau khi mất đi ánh sáng, Christopher chẳng quan tâm tới bất cứ điều gì. Anh lảng tránh tất cả mọi người, thu mình trong lâu đài và vẽ lên những câu chuyện ma quái về bản tính lạnh lùng, tàn bạo và khắc nghiệt của mình. Tuy vậy, Christopher vẫn thực hiện lời hứa với William - người bạn thân thiết từng đồng cam cộng khổ - rằng anh sẽ cưới cô em gái đáng thương của bạn. Gillian Warewick - em gái của William - suốt bao năm vẫn ẩn mình sau sự bảo vệ của anh trai. Nhưng William lại ra đi quá sớm, bỏ lại cô một mình với người cha ác độc cùng sự tự ti về vẻ bề ngoài mà theo lời cha cô nói, thì thật xấu xí. Những ngày đầu sống cùng Christopher, Gillian luôn nép mình vào sợ hãi và tìm cách bỏ trốn, bởi những lời đồn đại về bản tính ác quỷ trong con người chồng mình. Sự che giấu vụng về song vẫn chứa đựng quan tâm của Christopher đã khiến Gillian nhận ra rằng, lâu đài và vòng tay của kẻ được coi là "tai họa của nước Anh” kia là chốn an toàn duy nhất cho cô. Cũng chính từ đó, cuộc sống của hai con người mang trong mình những mặc cảm và vết thương khó lành dần có sự thay đổi… Là điều anh muốn kể câu chuyện cảm động giữa hai linh hồn mang nhiều tổn thương. Cả hai tưởng rằng trái tim họ sẽ không bao giờ lành lại, nhưng chính sự sắp đặt của số phận đã mang họ đến bên nhau, nhóm lên ngọn lửa của niềm tin và tình yêu. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện tình lãng mạn, mà ẩn chứa trong những trang viết là một niềm tin về giá trị chân thực của tình yêu, thứ duy nhất có thể chữa lành mọi thương đau và đưa hai linh hồn lạc lối về bên nhau. Là điều anh muốn là một trong 29 cuốn tiểu thuyết của Lynn Kurland. Trong gia tài đó, nhiều tác phẩm của nữ nhà văn nằm trong danh sách bán chạy của New York Times, USA Today, Amazon Top 100... *** Lynn Kurland bắt đầu sự nghiệp văn chương từ khi mới lên năm tại Hawaii với series tiểu thuyết ngắn có nhan đề Clinton’s Troubles, xoay quanh vị anh hùng bất đắc dĩ nhận ra bản thân mình đang vướng vào một đống rắc rối. Sau khi trở về đất liền, bà tạm gác niềm say mê sáng tác sang một bên để tập trung vào âm nhạc cổ điển. Những năm tháng học đại học đã mang đến cho Kurland cơ hội được tiếp cận với những kệ sách chất đầy tiểu thuyết lãng mạn trong thư viện trường, chúng không chỉ khiến bà mê mẩn mà còn tiếp thêm can đảm cho bà để đặt bút viết những trang sách của riêng mình. Năm 1996, bà cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay Stardust of Yesterday, và giành được hai giải RITA cho Tiểu thuyết đầu tay hay nhất và Tiểu thuyết huyền bí hay nhất. Tính đến nay, bà đã xuất bản hai mươi chín cuốn tiểu thuyết dài với lịch trình đều đặn, một tác phẩm giả tưởng Nine Kingdoms vào tháng Giêng và một tác phẩm huyền bí/xuyên không vào tháng Tư. Bà cũng đã xuất bản tám tiểu thuyết ngắn, trong đó To Kiss in the Shadows đã giành giải RITA cho Tiểu thuyết lãng mạn ngắn hay nhất. Nhân vật trong phần lớn các tác phẩm của bà đều xuất thân từ ba dòng họ truyền thống: MacLeod, McKinnon và de Piaget, và thường có mối quan hệ đan kết chặt chẽ với nhau. Tiểu thuyết của Kurland luôn nằm trong danh sách bán chạy nhất của tạp chí New York Times, USA Today, Amazon Top 100, Barnes & Noble, Walden và B. Dalton. Tháng 8 năm 1997, Lynn Kurland xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ tư, Là điều anh muốn (This is All I Ask). Tác phẩm thuộc series De Piaget và được viết theo thể loại lãng mạn lịch sử pha giả tưởng. Cuốn sách đã đoạt giải Care Finalist của Romantic Times Bookstores cho Tiểu thuyết lịch sử hay nhất. Hai tác phẩm khác, The More I See You (series De Piaget) và A Garden in the Rain (series The MacLeods), cũng sẽ được BachvietBooks giới thiệu đến độc giả trong thời gian tới. BachvietBooks *** Những nhánh củi khô nổ lách tách trong lò sưởi, mang theo cụm hoa lửa bùng sáng trên mặt đá lạnh lẽo. Chất lỏng màu nâu sóng sánh bên trong chiếc vạc sôi ùng ục dâng cao đến mép rìa như chực tràn ra ngoài, tựa hồ một người trẻ tuổi đang chằm chằm nhìn vào vực sâu tội lỗi và đùa giỡn với ý nghĩ nảy ra trong đầu. “Magda, để mắt cái vạc đun kìa!” Người phụ nữ già nua nhăn nheo nhảy dựng lên như giẫm phải đinh, hất mái tóc bạc khỏi gương mặt mình bằng bàn tay béo múp rồi thổi bùng ngọn lửa. “Ôi Đức mẹ Mary, ta nghĩ ta lại đun quá lửa rồi!”, Magda thút thít. “Bằng Ngọn lửa Địa ngục à, ta rất ghét khi ngươi cứ gọi những tên Thánh linh thiêng ấy”, người thứ hai lên tiếng, bước tới lấy cái muỗng. Bà ta nếm thử rồi chửi rủa, “Thánh thần thiên địa ơi, mọi thứ cứ luôn phải qua tay ta mới được hay sao?”. “Nemain ơi, chúng ta phải làm sao bây giờ?”, Magda kêu lên, siết chặt đôi tay. “Ta không chịu đựng nổi nếu thấy họ đánh mất cơ hội này khi số phận đến lúc này vẫn an bài thật viên mãn và thuận lợi theo mong muốn của chúng ta!” Nemain càu nhàu khi kéo cái vạc ra khỏi lò. “Berengaria, đến nếm thử mà xem. Ta phải nói rằng đây là thứ tình dược tệ nhất Magda từng phối chế.” Berengaria không trả lời. Bà đang bận nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, quan sát quá khứ mở lối cho tương lai. Đó là một món quà bà sở hữu: Tiên tri. Bà thích thú khi đắm chìm trong quá khứ để xem tương lai diễn ra thế nào, hiểu được các bậc đế vương vì sao chết và những lãnh địa do đâu mà thất thủ. Khả năng này cũng tỏ ra hữu ích khi cần biết lúc nào lâu đài bà đang sống gần đó sẽ bị bao vây, giúp bà có đủ thời gian gói ghém hành lý và tìm chỗ ở mới trước khi bọn cướp tới. Nhưng nhiệm vụ bày ra trước mắt bà bây giờ mới là điều quan trọng nhất: Mang hai linh hồn bất đắc dĩ, thẳng thắn và hơi quá quắt đến được với nhau. Vâng, điều này quả xứng với sự khéo léo khiêm tốn của bà. Bà nhận thấy Magda kiễng chân, nghe được Nemain cự nự khi bà ta giậm đôi ủng phù thủy mòn cũ xuống sàn, nhưng bà không thèm chú ý đến họ. Thành bại chỉ trong hơi thở. Nếu Lãnh chúa Blackmour không có chút danh dự nào, hắn sẽ bỏ mặc lời thề bảo vệ một người phụ nữ hắn hầu như chẳng quen biết. Có lẽ, cuối cùng thì danh dự cũng không hẳn là một đức tính hoang phí. Berengaria để hiện tại trôi qua tầm mắt, nhìn gã Rồng tăm tối hung bạo xứ Blackmour gửi đi thông điệp của hắn. Bà nghiền ngẫm kỹ lưỡng người chiến binh được trận mạc trui rèn nọ, hài lòng thấy rằng hắn sẽ không chùn bước cho đến khi đạt được mục đích. Hắn không thể, hoặc sẽ mất tất cả. Chẳng còn cơ hội nào khác cho hắn. “Magda, ôi mũi tôi, mùi đó thật khủng khiếp”, Nemain bịt mũi và thụt lùi tuốt về phía bên kia căn lều. “Đổ nó đi, làm lại. Và lần này hãy cẩn thận! Phải mất hàng chục năm mới tìm được xương ngón tay của một pháp sư, ngươi thì đã dùng gần hết rồi. Ta không có ý định mạo hiểm đến Scotland lần nữa để tìm thêm mẩu xương khác đâu!” “Đừng la lối nữa”, Magda khịt mũi. “Ta chỉ ở đây vài năm thôi.” “Ta dám khẳng định ngay cả linh mục hèn mọn nhất cũng có thể nói vậy. Hắn sẽ sớm nghĩ ngươi giống một nữ tu hơn là một phù thủy.” ... Mời các bạn đón đọc Là Điều Anh Muốn của tác giả Lynn Kurland.
Đợi anh ở Toronto - Nguyễn Thu Hoài
Đợi anh ở Toronto của nữ tác giả Nguyễn Thu Hoài được coi là "Bản tình ca mùa đông Canada" trong lòng đọc giả yêu văn chương, là một câu chuyện đẹp từ đầu đến cuối với màu tuyết trắng, nỗi buồn, niềm vui đều nhịp nhàng, hợp lý. Nguyễn Thu Hoài thuộc thế hệ 7X cuối cùng với những biến động lớn về cả nội tâm lẫn ngoại cảnh. Với ước vọng được kể chuyện, Đợi anh ở Toronto là câu chuyện đầu tiên được kể một cách say mê, hồ hởi lạ kì. Là cựu học sinh chuyên Văn PTTH chuyên Hà Nội- Amsterdam và là một thạc sĩ kinh tế nhưng cô luôn tin rằng: chỉ những chuyện dễ dàng mới có thể giải quyết bằng tiền, chuyện tình cảm mới thật là khó khăn. Là người Hà Nội, hiện đang định cư tại Toronto, cô yêu Hà Nội bằng cả trái tim nhưng Toronto là nơi cô dành cho những cảm xúc lãng mạn nhất cuộc đời mình. Vào những đông lạnh giá, tuyết trắng phủ ngập đường, trên một đất nước xa lạ. Cô - một cô gái Việt Nam nhỏ bé, gặp anh. Anh - lãnh đạm, rắn rỏi và rất thu hút. Ở bên anh, cô như lao đầu vào một trò chơi: những khi tưởng anh thích mình anh lại hờ hững, tưởng anh theo đuổi anh lại lặn mất tăm, tưởng anh tỏ tình anh lại muốn làm bạn. Cuối cùng, khi đã trong vòng tay vững chãi của anh, lại một lần nữa vụt mất anh. “- Vi, tôi rất cần em... - Anh bỏ lửng câu nói, ngừng lại lấy hơi, giọng khàn đi vì xúc động. Trái tim Vi run rẩy, hồi hộp. Cô hoảng hốt nhận thấy mình đang nín thở. Lẽ nào, đây chính là điều anh muốn nói với cô? - … rất cần… một người bạn như em… - Anh kết thúc câu nói của mình bằng một tiếng ho khẽ. Vi thấy hẫng một cái, hệt như cảm giác khi máy bay đang sắp sửa hạ cánh. Có điều, đối với cô đây không phải là một cuộc hạ cánh an toàn. Lòng tự trọng của cô có lẽ đã bị tổn thương đôi chút. Cô thấy tim mình nhói đau, ước gì cô có thể tan biến khỏi nơi này như một làn khói.” Nhiều người ví “Đợi anh ở Toronto” như một bản nhạc - một bản tình ca. Câu chuyện tình yêu của hai nhân vật chính Vi và Nguyên là một bản nhạc nhiều tiết tấu. Có khúc bối rối, gấp gáp theo tâm trạng của Vi lần đầu biết đến tình yêu; có khúc nhẹ nhàng, vui vẻ khi họ yêu nhau; có khúc trầm lặng như nỗi đau đớn khi tình yêu đi xa. Khúc nào “Đợi anh ở Toronto”cũng đẹp, cũng lãng mạn. Thế nên, có hàng vạn chuyện tình trên thế gian này, nhưng chuyện tình ở Toronto vẫn có thể khiến người đọc say mê dõi theo và hòa chung cảm xúc yêu đương với nhân vật.   *** Văn phòng ở downtown(1) Toronto của tập đoàn kiểm toán NKT chiếm trọn toàn bộ một tòa nhà hai mươi sáu tầng bề thế trên đường Front Street. Được làm việc ở đây là ước mơ mà Vi ấp ủ suốt bao nhiêu năm qua. Ước mơ ấy của cô cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực. Vi vẫn còn cảm thấy lâng lâng như đang trong mơ. Cô không thể ngờ rằng, điểm dừng chân của cô trong cuộc hành trình tìm kiếm việc làm lại chính là ở đây, trong tập đoàn kiểm toán đa quốc gia rất nổi tiếng này… Đến bây giờ Vi mới thực sự cảm thấy quyết định chuyển sang học ngành kế toán của cô là một quyết định sáng suốt, vì đó là ngành dễ tìm việc nhất ở đất nước này so với các chuyên ngành kinh tế khác như tài chính hay marketing mà trước đây cô đã định theo học. Vi ngước nhìn một lần nữa biểu tượng của công ty với ba chữ NKT màu trắng giản dị, trước khi bước xuống đường, hòa vào dòng người đang tấp nập trên hè phố trong giờ tan tầm. Cô vừa nhận được quyết định tuyển dụng của công ty, trước hết với vị trí summer student(2). Đây hoàn toàn là một khởi đầu đầy hứa hẹn, bởi nếu quá trình làm việc được đánh giá tốt, cô sẽ có nhiều cơ hội có được một công việc toàn thời gian ổn định. Cô sẽ chính thức bắt đầu làm việc ở đây trong tháng năm này. Chỉ mới một tháng trước đây thôi, Vi vẫn còn mờ mịt về tương lai của mình. Hơn ai hết, cô nhất định phải tìm được một công việc để có thể tồn tại ở đây sau khi tốt nghiệp. Đó chính là yếu tố quyết định đến tương lai của cô và của cả gia đình cô nữa. Chính vì thế, hàng tháng trời nay Vi đã âm thầm chuẩn bị hồ sơ, học hỏi kinh nghiệm trả lời phỏng vấn, tích cực tham gia các công tác ngoại khóa, các buổi hội thảo… để có thể sẵn sàng cho cuộc chạy đua tìm kiếm việc làm. Cô đã cày nát các website về việc làm. Nhưng thật không may cho cô, thời điểm nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khủng hoảng. Các công ty liên tục cắt giảm người. Hiếm hoi lắm mới có một vài vị trí mà cô nghĩ là phù hợp với chuyên ngành học của mình thì lại đòi hỏi các ứng viên phải có kinh nghiệm. Trong hoàn cảnh ấy, sinh viên mới và sắp ra trường kiếm được việc làm hẳn đã là một kỳ tích, huống hồ cô lại là một du học sinh từ nơi khác đến, ngôn ngữ, văn hóa, mối quan hệ… đều hạn chế và không phải là thế mạnh. Cô chỉ có thể trông chờ duy nhất vào điểm số, khả năng làm việc và sự may mắn mà thôi. Giữa lúc Vi gần như mất hết hy vọng nhận được hồi đáp tích cực cho các hồ sơ mà cô đã gửi đi, thì một cơ hội bỗng mở ra cho cô. Hôm đó, khóa của cô nhận được thông báo: tập đoàn NKT sẽ có một buổi career boot camp(3) ở trường cô nhằm giới thiệu về tập đoàn và tìm kiếm những ứng viên xuất sắc cho các vị trí summer student làm việc ở Toronto. Vi không thể để lỡ một cơ hội hiếm hoi như thế. Cả đêm hôm trước cô đã ngồi rà soát lại toàn bộ hồ sơ, kiểm tra chi tiết từng thông tin, từng từ, từng chữ trong đơn xin việc, để đảm bảo bộ hồ sơ của cô được chuẩn bị một cách hoàn hảo nhất. Sáng hôm boot camp, Vi đến thật sớm để kiếm chỗ ngồi ngay hàng đầu tiên, gần với các diễn giả. Hôm nay, sau phần giới thiệu về tập đoàn, còn có hai nhân viên của NKT đến chia sẻ với các bạn sinh viên những kinh nghiệm cá nhân của họ trong quá trình được tuyển dụng và làm việc ở NKT. Vi phát hiện ra một trong hai nhân viên đang thuyết trình là người Việt, hay ít nhất cũng là người gốc Việt, căn cứ vào bảng tên đang cài trên ngực áo của người đó. Cô quyết định sẽ thử một nước cờ táo bạo. Số cô đúng là có quý nhân phù trợ. Vi nhanh chóng tiếp cận được chàng kiểm toán viên đó trong giờ nghỉ giải lao. Chọn đúng lúc đám sinh viên bắt đầu tản ra, và Nam (tên của chàng kiểm toán viên) đang ngồi một mình trước đống giấy tờ, chăm chú nhìn vào màn hình máy tính xách tay, Vi bèn tiến lại gần, cất lời chào bằng tiếng Việt: - Xin lỗi, em có thể hỏi anh một chút được không ạ? ... Mời các bạn đón đọc Đợi anh ở Toronto của tác giả Nguyễn Thu Hoài.
Adeline Bên Sợi Dây Đàn - Thang Vũ Đình
Một cô gái mồ côi cả cha lẫn mẹ. Một chàng trai xuất thân danh giá, nhưng lại bị ghẻ lạnh. Một người theo đuổi giấc mơ, tràn đầy hy vọng về cuộc sống, hy vọng tìm ra người tài trợ bí mật ở đất nước Hàn Quốc xa xôi. Một người trốn tránh hiện thực, thờ ơ với tất cả, một mình cô độc trong ngôi nhà gỗ. Truyền thuyết kể rằng: Có một vị quốc vương tên là Pyg­malion, tạc nên một bức tượng thiếu nữ vô cùng xinh đẹp và đặt tên là Ade­line. Thiếu nữ ấy đã trở thành người bạn duy nhất trong cuộc đời của quốc vương, ngài cầu khấn thần linh, chờ đợi kỳ tích của tình yêu… Tiếng đàn của vận mệnh ngân lên nơi đất khách, Nàng Ade­line liệu có thức tỉnh được trái tim đã ngủ say? Tình yêu có làm nên kỳ tích??? *** Một buổi chiều mùa hạ dịu mát, những cơn gió nhẹ nhàng lướt qua người, không để lại bất kỳ cảm giác nhớt dính nào. Mặt trời đỏ lựng hắt lên ánh hào quang, nhuộm không gian thành sắc đỏ của anh đào, rực rỡ nhưng không chói mắt. Những bông hoa sen kiêu hãnh nở trên hồ nước trong sân trường, không hề bận tâm đến những chú cá nhỏ đang làm nũng dưới mặt lá xanh mơn mởn, quẫy mình tạo thành những gợn sóng lăn tăn. Thỉnh thoảng có mấy tia sáng nghịch ngợm hắt qua song cửa sổ, rọi chiếu vào phòng nhạc. Những hạt bụi bay bay dưới ánh nắng, như đang thì thầm to nhỏ về tiếng đàn du dương trầm bổng. Phòng nhạc trống trải nhưng sáng sủa. Cách bài trí giá để bản nhạc và bàn ghế ở đây theo phong cách cổ điển. Mùi hương của gỗ lan tỏa khắp mọi nơi. Giữa phòng nhạc là một cây đàn tranh cổ tao nhã. Một cô gái thanh tú hơi ngả người về phía trước, hai mắt khép hờ, những ngón tay nhẹ lướt trên dây đàn. Phấn tùng hương lẫn với tiếng đàn bay lượn trong không trung, càng tăng thêm phần hấp dẫn cho người chơi đàn. Mái tóc đen nhánh dài đến eo được vén gọn gàng sau tai. Mười ngón tay dài và trắng mịn. Ngón tay lướt nhẹ tạo thành đường cong hoàn mỹ trong không trung rồi lại từ từ hạ xuống. Những nốt nhạc như nhảy múa giữa không trung, tiếng nhạc du dương trầm bổng say đắm lòng người. Bản nhạc kết thúc, tiếng vỗ tay vang lên giòn giã. Người phụ nữ trung niên đứng trước cửa sổ, quay lưng về phía cô gái lúc ấy cũng quay người lại, mỉm cười và nói: “Rất tốt, rất tốt”. Người phụ nữ nhìn cô học trò giỏi giang của mình với ánh mắt tán thưởng, không tiếc lời khen ngợi: “Bản nhạc Khổng tước đông nam phi(1)này rất khó. Cô còn lo không biết có phải mình chọn sai bản nhạc cho em không. Nhưng em đã hoàn thành rất xuất sắc, ngoài cả sự mong đợi của cô. Dù là kỹ thuật diễn tấu, cách biểu hiện tình cảm hay phương pháp biểu diễn đều rất tốt. Cô tin rằng chắc chắn em sẽ vượt qua vòng phỏng vấn vào trường cấp ba thuộc Học viện Âm nhạc Trung Quốc lần này”. “Thật ạ? Thật sự có thể được ạ?”. Hiểu Tranh nói, nhìn cô Diệp bằng ánh mắt rất chân thành. Đôi mắt to tròn dưới đôi lông mày rậm sáng lấp lánh, toát lên vẻ trẻ con đáng yêu. “Ừ, đúng rồi, trường mình có một suất trao đổi học sinh sang Hàn Quốc. Em đã nghe nói chưa?”. Cô Diệp bước lại gần, khẽ hỏi Hiểu Tranh. “Rồi ạ, nhưng em nghĩ chuyện ấy không liên quan đến em. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của em bây giờ là vượt qua kỳ thi phỏng vấn của trường cấp ba Học viện Âm nhạc”. Hiểu Tranh gấp bản nhạc, ngẩng đầu nhìn cô Diệp với ánh mắt ẩn chứa sự tò mò. “Nếu em đến Hàn Quốc sẽ có thể gặp một người. Cô ấy là một trong những nghệ sĩ đàn tranh vô cùng nổi tiếng hiện nay”. Cô Phó chậm rãi nói. “Sao lại thế được ạ? Đàn tranh là nhạc cụ truyền thống của Trung Quốc. Nghệ sĩ đàn tranh giỏi nhất sao lại là người nước ngoài ạ?”. Hiểu Tranh ngạc nhiên hỏi. Cô Phó không nói gì, hướng ánh mắt ra ngoài cửa sổ, ngước nhìn bầu trời đêm u tối, dường như ký ức đang quay trở về với những năm tháng xa xôi trước đây. ... Mời các bạn đón đọc Adeline Bên Sợi Dây Đàn của tác giả Thang Vũ Đình.