Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Casanova Ở Bolzano

Năm 1756, trốn thoát khỏi buồng chì kiên cố ở Venice, không cưỡng nổi sự thôi thúc bí ẩn của định mệnh, kẻ phiêu lưu khét tiếng và phong tình lừng danh của thế kỷ 18 Giacomo Casanova tìm đường trở về Bolzano, nơi chàng từng chạm trán Tử thần trong cuộc quyết đấu cùng vị hôn phu quyền lực của thiếu nữ Francesca tuyệt sắc. Lần trở lại này của Casanova khiến cả thành phố chấn động. Tin tức cũng lan tới lâu đài của Bá tước Parma, lúc này đã kết hôn cùng Francesca. Bá tước tới nơi chàng Casanova trọ để làm một cuộc thương lượng lạ lùng. Một bí mật sẽ vĩnh viễn trở thành kỷ niệm, một nỗi đau sẽ được gói lại lần cuối, để không gì còn xen vào cuộc sống của người đàn bà quý giá của đời ông...  Hư cấu và tưởng tượng, không vay mượn từ Histoire de ma vie của nhân vật có thực Giacomo Cassanova nổi tiếng trong lịch sử, Márai Sándor  đã tạo nên một kiệt tác văn chương tràn ngập hơi thở mãnh liệt, cám dỗ nồng nàn của cuộc sống, với những đối thoại lạ lùng, thông thái, đam mê, bất ngờ và đầy tính cách ngôn sâu xa xoay quanh một tình yêu khắc khoải. Casanova ở Bolzano chứng minh rằng Márai Sándor - một trong những bậc thầy xuất sắc của nền văn học Hungary và thế giới - đã in dấu ấn vô cùng đặc biệt trên diện mạo văn chương thế kỷ 20. *** Lời khen tặng dành cho Casanova ở Bolzano “Câu chuyện mê đắm về tình yêu, tình bạn và sự phản bội…  Phong phú, cám dỗ, nồng nàn và châm biếm.” - Elle   “Sâu sắc và đầy chiêm nghiệm… Tràn ngập niềm vui cuộc sống.” - Vogue “Sáng chói… Cuộc đấu phức tạp của những trí tuệ… Casanova ở Bolzano cung cấp thêm bằng chứng về sự xuất sắc bị quên lãng của tác gia lớn trong thời đại chúng ta: Márai Sándor.”  - Chicago Tribune *** Ghi chú Trong gương mặt và tính cách nhân vật của tôi chắc hẳn độc giả tưởng mình nhận ra diện mạo đặc trưng của Giacomo Casanova1 kẻ phiêu lưu khét tiếng vào thế kỷ 18. Thật khó cưỡng lại nổi sự nhận biết này, mà trong mắt một số người có thể nó cũng là sự phê phán. Nhân vật của tôi cực kỳ giống anh chàng liều lĩnh, vô gia cư và dẫu sao có lẽ vẫn bất hạnh, người vào nửa đêm ngày 31 tháng Mười năm 1756 đã dùng thang dây trèo từ buồng giam mái lợp chì của Công quốc Venice, còn gọi là buồng chì, xuống eo biển và cùng một tu sĩ đã bị tước quyền hành đạo tên là Balbi bỏ trốn khỏi lãnh địa của Nước Cộng hòa2 về phía Munchen. Điều biện hộ cho tôi là từ câu chuyện cuộc đời của nhân vật, tôi không quan tâm đến câu chuyện lãng mạn, mà quan tâm đến tính cách lãng mạn của anh ta. Vì thế những thứ khác, như thời điểm và hoàn cảnh cuộc trốn thoát, tôi không vay mượn từ cuốn Những hồi tưởng3lừng danh. Tất cả những thứ khác mà độc giả tìm thấy trong tiểu thuyết này, đều là chuyện hư cấu và tưởng tượng. M.S. *** Một đức ông, từ Venice Chàng từ biệt những người chèo thuyền ở Mestré; người bạn hư hỏng Balbi thiếu chút nữa đã làm chàng rơi vào tay cảnh sát ở đây, vì đúng lúc chiếc xe ngựa chở khách khởi hành thì chàng hoài công tìm kiếm, mãi rồi mới thấy anh ta trong một quán cà phê - đang vô tư nhâm nhi một cốc sô cô la - và tán tỉnh cô hầu bàn. Đến Treviso thì chàng hết sạch tiền; họ lủi qua cổng Saint Thomas ra cánh đồng, và theo sau những khu vườn, đi men theo ven những cánh rừng, lúc mặt trời lặn thì đến trước những ngôi nhà của Valdepiadene. Đến đây chàng rút con dao găm ra dọa người bạn đường khó chịu, hai người hẹn sẽ gặp nhau ở Bolzano, rồi chia tay. Cha Balbi buồn bã bước đi giữa những thân cây trơ trụi trong rừng ô liu; nom ông gầy guộc và nhếch nhác, vừa đi vừa ngoái nhìn lại bằng cái nhìn vụng trộm tăm tối, lủi thủi như một con chó ghẻ bị chủ xua đuổi. Khi cha cố đã đi khuất, chàng đi vào thành phố, bằng một bản năng mù lòa và đáng tin cậy chàng hỏi chỗ ở trong nhà của viên chánh cẩm. Bà vợ ông ta, một phụ nữ thuần hậu, tiếp đón chàng, cho chàng ăn tối, rửa các vết thương cho chàng - trên gối và trên mắt cá chân máu đã đông lại, trong khi chạy trốn, lúc nhảy từ những mái nhà lợp chì, khuỷu tay và gối chàng bị xước -, và trước khi đi ngủ chàng được biết ông chánh cẩm đang đi vắng, ông đang săn lùng chính chàng, kẻ chạy trốn. Lúc rạng sáng chàng bỏ đi. Chàng ngủ ở Pergine, sang ngày thứ ba thì đến Bolzano trên xe ngựa, vì giữa đường đã moi được của một người quen sáu đồng tiền vàng. Balbi đã đợi chàng. Chàng thuê phòng trong một quán trọ có tên là Con Hươu. Chàng không có đồ đạc gì, quần áo rách mướp, chiếc áo đuôi tôm may từ thứ lụa màu nay chỉ còn lại những mảnh tơi tả, không có áo khoác ngoài. Ở Bolzano, trên những con phố hẹp gió tháng Mười một đã bắt đầu quất mạnh. Người chủ quán lúng túng nhìn những vị khách rách rưới. -      Những phòng đẹp nhất ư?! - ông ta lúng túng. -      Những phòng đẹp nhất! - chàng đáp khẽ, dứt khoát. - Và hãy chú ý đến đồ ăn đấy! -      Ở đây các người hay nấu với các thứ mỡ đã ôi, thay vì dầu, và từ khi rời khỏi Nước Cộng hòa ta chưa được ăn ở đâu một miếng cho tử tế! Hãy quay gà trống thiến và mái tơ vào bữa tối, không phải một, mà ba con, với hạt dẻ. Và kiếm loại vang Cyprus. Ngươi nhìn quần áo ta ư?... Ngươi tìm hành lý của ta ư? Ngươi ngạc nhiên vì ta đến đây tay không ư? Tin tức không tới đây hay sao? Ngươi không đọc Leyden Gazette sao!... Đồ ngốc! - chàng gào lên giọng khản đặc, vì giữa đường chàng bị cảm lạnh, và cơn ho đang hành hạ phế quản chàng. - Ngươi không nghe tin một nhà quý tộc Venice và thư ký cùng đám gia nhân vừa bị cướp ngoài biên giới ư? Cảnh sát còn chưa tới tìm ta ư? -      Dạ chưa thấy, thưa đức ông, - người chủ quán hốt hoảng đáp. Balbi bụm miệng cười. Cuối cùng đúng là họ đã được những phòng đẹp nhất: phòng khách, hai cửa sổ có cánh mở ra quảng trường chính, những đồ gỗ có chân mạ vàng và gương Venice đặt trên lò sưởi. Giường kiểu Pháp có màn che. Balbi ở phía cuối hành lang, gần một cầu thang hẹp và dốc dẫn lên tầng áp mái của những người hầu. Cách bố trí như thế làm chàng rất mãn nguyện. -      Thư ký của ta đấy, - chàng giới thiệu Balbi với ông chủ quán trọ. -      Cảnh sát, - người chủ quán trọ nói như thanh minh. - Ở đây cảnh sát cũng rất nghiêm. Họ sẽ đến đây ngay. Họ xem xét tất cả những người lạ mặt. -      Bảo với họ rằng, - chàng đáp qua loa - có khách quý. Một đức ông... -      Nhưng dù sao! - người chủ quán cố nài, và cúi đầu thật thấp, tay cầm chiếc mũ, tò mò và lễ phép. - Một đức ông, từ Venice! - chàng nói. Chàng nói điều này như thể thông báo một phẩm tước đặc biệt nào đó. Đến mức Balbi cũng phải chú ý tới âm điệu của chàng. Rồi bằng nét chữ nhọn và thành thục, chàng viết tên mình vào quyển sổ lớn. Người chủ quán hồi hộp đến đỏ mặt: day day thái dương bằng những ngón tay mập mạp, và không biết nên chạy đi gọi cảnh sát hay quỳ mọp xuống để hôn tay chàng? Thế là ông ta cứ đứng một chỗ, bối rối và im lặng. Rồi ông châm đèn và đưa các vị khách lên tầng trên. Những người phục dịch đã xếp dọn các phòng: mang nến đến trên những giá đỡ lớn mạ vàng, nước nóng đựng trong các bình bạc, những chiếc khăn lau Limburg bằng vải bông. Chàng bắt đau chậm rãi cởi quần áo, như một đấng quân vương, giữa đám hầu cận: chàng đưa từng chiếc áo bẩn cho người chủ quán trọ và những người hầu phòng, chiếc quần lụa dính máu bết vào da thịt phải dùng kéo cắt ở phía ngoài hai bên ống quần, chàng ngâm chân khá lâu trong cái chậu rửa bằng bạc, người ngả trên một chiếc ghế bành, lim dim ngủ vì mệt mỏi, nom tã tượi và thế thảm. Thỉnh thoảng chàng chợt ngủ trong một khoảnh khac, lẩm bẩm, hét lên một tiếng. Balbi, ông chủ quán, những người hầu phòng há miệng đi đi lại lại quanh chàng: người ta đang trải giường trong buồng ngủ, kéo kín các rèm cửa, tắt gần hết nến. Đến giờ ăn tối họ gõ cửa rất lâu. Sau bữa ăn chàng lại đi ngủ ngay; chàng ngủ đến trưa ngày hôm sau, với gương mặt vô tư và bình thản, lạnh lùng như người mới chết một ngày. Một đức ông, các cô gái bảo nhau rồi ai vào việc nay, khe khẽ hát, cười và thầm thì với nhau, trong bếp và dưới hầm, họ đi rửa xe và lau bát đĩa, chẻ củi, mang nước uống, họ nói nhỏ hơn, đưa ngón tay che miệng, lại khúc khích cười, rồi lại làm mặt nghiêm và truyền nhau cái tin ấy, vẻ quan trọng và cười cợt: một đức ông, đúng, một đức ông, từ Venice. Đến tối thì có hai viên cớm chìm đến quán; tên chàng, đáng ngờ và quyến rũ, hấp dẫn và nguy hiểm, vừa được mạ vàng bởi tin tức về cuộc phiêu lưu lớn, cuộc tẩu thoát, đã thu hút đám mật vụ ở khắp các thành phố. Và họ muốn biết tất cả. Hắn ta ngủ ư?... Không có hành lý gì à? -      Một con dao găm, - chủ quán nói. - Ông ta đến với một con dao găm. Chỉ có thế. -      Một con dao găm, - họ nhắc lại, vẻ am hiểu và ngơ ngác. - Loại dao gì thế? - họ căn vặn. -      Dao găm Venice, - chủ quán đáp vẻ hâm mộ. -      Không còn gì khác? - họ hỏi. -      Không, - chủ quán trọ đáp. - Không có gì khác. Một con dao găm. Chỉ có thế. Tin này làm hai viên cớm chìm bất ngờ. Họ đã không ngạc nhiên nếu chàng tới đây với đầy chiến lợi phẩm, đá quý, túi đựng, vòng cổ và nhẫn quý tháo ra từ ngón tay của những phụ nữ nhà lành trên dọc đường đi. Tiếng tăm chàng đã đến trước, như một kẻ dẫn ngựa đi tiền trạm, và bố cáo tên chàng. Sáng ra đức giám mục đã thông báo cho viên chánh cẩm, và yêu cầu trục xuất ngay vị khách nguy hiểm. Ở Tirol và Lombardia, buổi sáng sau lễ cầu kinh, buổi tối trong các quán rượu, người ta đã kể cho nhau nghe về cuộc tẩu thoát của chàng. -      Hãy cẩn thận với hắn! - đám cớm chìm nói. - Chúng tôi muốn biết hết hắn nói gì. Phải rất chú ý hắn. Hắn có nhận thư không, và nhận từ ai? Hắn có gửi thư không, và gửi cho ai? Hãy để ý đến nhất cử nhất động của hắn! Hình như, - họ thì thầm, dùng bàn tay chụm lại làm loa ghé sát vào tai ông chủ quán, - hắn có người che chở. Cả đức giám mục cũng chẳng làm gì nổi hắn. -      Trước mắt, - ông chủ quán nói với vẻ từng trải. -      Trước mắt, - những tay cớm chìm buồn bã nhắc lại. Rồi họ nhón chân bỏ đi, gương mặt bí hiểm và đầy lo âu. Ông chủ quán ngồi xuống trong phòng nước, thở dài. Ông không thích những người khách có tiếng tăm, những người gây nên sự chú ý của đức giám mục và cảnh sát. Ông nghĩ tới đôi mắt của vị khách, đen ánh lửa tăm tối và than hồng bập bùng uể oải trong đôi mắt ấy, và ông sợ. Ông nghĩ đến con dao găm, con dao găm Venice, đồ vật duy nhất của người khách, và ông sợ. Ông nghĩ đến tin tức theo sau vị khách, và bắt đầu rủa thầm. -      Teresa! - ông cáu kỉnh gọi. Một cô gái, đã bận áo khoác ngoài buổi tối, bước vào. Cô mười sáu tuổi, một tay cầm cây nến đang cháy, tay kia kéo hai vạt áo ngủ trước ngực. -      Nghe đây! - ông thì thầm, bảo cô bé ngồi xuống gối. - Ta chỉ tin con thôi. Chúng ta có một vị khách nguy hiểm. Teresa, ông khách này... -      Từ Venice đến? - cô bé nói giọng học trò, như hát. -      Đúng, từ Venice, từ Venice, - ông nói hốt hoảng. - Từ trong tù. Từ lũ chuột. Từ dưới giá treo cổ. Nghe đây, Teresa. Hãy chú ý xem ông ta nói những gì. Tai mắt con hãy luôn luôn ở cạnh lỗ khóa. Ta yêu con như con gái ta. Con là con nuôi ta; nhưng nếu ông ta gọi vào phòng thì con đừng ngại. Con sẽ đem bữa sáng cho ông ấy. Hãy coi chừng đức hạnh của con và hãy chú ý. -      Vâng, - cô bé đáp. Rồi vẫn cầm cây nến trên tay, cô bé đi về phía cửa, nhẹ nhàng như một cái bóng. Đến trước cửa, cô bé than, kéo dài giọng như giọng trẻ con: -      Cháu sợ. -      Ta cũng thế, - ông chủ quán nói. - Giờ con đi ngủ đi. Trước đó hãy đem cho ta rượu vang đỏ. Nhưng đêm đầu tiên tất cả đều trằn trọc.   Mời các bạn đón đọc Casanova Ở Bolzano của tác giả Márai Sándor & Giáp Văn Chung (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 2
Đào Trinh Nhất (1900-1951), tự Quán Chi, là nhà nhà văn, nhà báo Việt Nam giữa thế kỷ 20. Khi viết văn, viết báo, ông ký nhiều bút hiệu: Nam Chúc, Viên Nạp, Hậu Đình, Tinh Vệ, Bất Nghị, Vô Nhị, Hồng Phong, Anh Đào, XYZ.... Ông được người trong giới cầm bút đánh giá là người có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam Đào Trinh Nhất sinh năm Canh Tý (1900) tại Huế. Nguyên quán tại xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Ông là con trưởng Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng giáp) Đào Nguyên Phổ. Vợ là Lương Thị Hòa, con gái Lương Ngọc Quyến và là cháu nội Lương Văn Can. Thuở nhỏ, Đào Trinh Nhất theo học chữ Hán ở quê nhà, sau lên Hà Nội học chữ Pháp và chữ quốc ngữ. *** Tác phẩm: Vốn là nhà báo viết văn, cho nên hầu hết các tác phẩm của Đào Trinh Nhất đều đăng từng kỳ trên báo rồi sau mới in thành sách. Theo thống kê chưa đầy đủ, sau 30 năm cầm bút (1921-1951), ông đã để lại khá nhiều tác phẩm như sau: Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ.(Thụy Ký - Hà Nội, 1924) Đông Châu liệt quốc (dịch, Sài Gòn, 1928) Thần tiên kinh (Dịch của A lan Kardec, 1930) Cái án Cao Đài (Sài Gòn, 1929) Việt sử giai thoại (Hà Nội, 1934) Nước Nhựt Bổn ba mươi năm duy tân (Đắc Lập, Huế, 1936) Phan Đình Phùng, một vị anh hùng có quan hệ đến lịch sử hiện thời (Cao Xuân Hữu, Hải Phòng, 1936; Đại La, Hà Nội, tái bản 1945; Tân Việt, Sài Gòn, tái bản 1957) Việt Nam Tây thuộc sử (Đỗ Phương Huế, Chợ Lớn, 1937) Ðông Kinh nghĩa thục (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938) Ngục trung thư (Đời cách mạng Phan Bội Châu) (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938; Tân Việt, Sài Gòn tái bản, 1950) Vương An Thạch (Hà Nội, 1943; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1960) Cô Tư Hồng (tiểu thuyết, Trung Bắc Tân Văn Chủ nhật, 1940; Trung Bắc Thư xã, Hà Nội, 1941) Chu Tần tinh hoa (dịch, Hà Nội, 1944) Lê Văn Khôi (1941-1945) Con trời ngã xuống đất đen (Hà Nội, 1944) Chu Tần tinh hoa (1944) Vương Dương Minh-Người xướng ra học thuyết lương tri và tri hành hợp nhất (Hà Nội, 1944; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1950) Kẻ bán trời Con quỷ phong lưu Bùi Thị Xuân Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 (Quốc Dân thư xã, Hà Nội, 1946; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1957). Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ông mới dịch được nửa bộ, đang đăng báo thì từ trần (Bốn Phương xuất bản, Sài Gòn, 1950) Đào Trinh Nhất Tác Phẩm gồm có: Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Lịch Sử Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Triết Học Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 1 Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 2 Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 2 gồm có: Liêu Trai Chí Dị Lê Văn Khôi Mời các bạn đón đọc Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 2 của tác giả Đào Trinh Nhất & Nguyễn Quang Thắng.
Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 1
Đào Trinh Nhất (1900-1951), tự Quán Chi, là nhà nhà văn, nhà báo Việt Nam giữa thế kỷ 20. Khi viết văn, viết báo, ông ký nhiều bút hiệu: Nam Chúc, Viên Nạp, Hậu Đình, Tinh Vệ, Bất Nghị, Vô Nhị, Hồng Phong, Anh Đào, XYZ.... Ông được người trong giới cầm bút đánh giá là người có cách làm việc nghiêm túc, thận trọng và là người đã biết dùng ngòi bút nghệ thuật làm sống lại nhiều tư liệu đã mai một trong lịch sử cận đại Việt Nam Đào Trinh Nhất sinh năm Canh Tý (1900) tại Huế. Nguyên quán tại xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Ông là con trưởng Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng giáp) Đào Nguyên Phổ. Vợ là Lương Thị Hòa, con gái Lương Ngọc Quyến và là cháu nội Lương Văn Can. Thuở nhỏ, Đào Trinh Nhất theo học chữ Hán ở quê nhà, sau lên Hà Nội học chữ Pháp và chữ quốc ngữ. *** Tác phẩm: Vốn là nhà báo viết văn, cho nên hầu hết các tác phẩm của Đào Trinh Nhất đều đăng từng kỳ trên báo rồi sau mới in thành sách. Theo thống kê chưa đầy đủ, sau 30 năm cầm bút (1921-1951), ông đã để lại khá nhiều tác phẩm như sau: Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ.(Thụy Ký - Hà Nội, 1924) Đông Châu liệt quốc (dịch, Sài Gòn, 1928) Thần tiên kinh (Dịch của A lan Kardec, 1930) Cái án Cao Đài (Sài Gòn, 1929) Việt sử giai thoại (Hà Nội, 1934) Nước Nhựt Bổn ba mươi năm duy tân (Đắc Lập, Huế, 1936) Phan Đình Phùng, một vị anh hùng có quan hệ đến lịch sử hiện thời (Cao Xuân Hữu, Hải Phòng, 1936; Đại La, Hà Nội, tái bản 1945; Tân Việt, Sài Gòn, tái bản 1957) Việt Nam Tây thuộc sử (Đỗ Phương Huế, Chợ Lớn, 1937) Ðông Kinh nghĩa thục (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938) Ngục trung thư (Đời cách mạng Phan Bội Châu) (Mai Lĩnh, Hà Nội, 1938; Tân Việt, Sài Gòn tái bản, 1950) Vương An Thạch (Hà Nội, 1943; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1960) Cô Tư Hồng (tiểu thuyết, Trung Bắc Tân Văn Chủ nhật, 1940; Trung Bắc Thư xã, Hà Nội, 1941) Chu Tần tinh hoa (dịch, Hà Nội, 1944) Lê Văn Khôi (1941-1945) Con trời ngã xuống đất đen (Hà Nội, 1944) Chu Tần tinh hoa (1944) Vương Dương Minh-Người xướng ra học thuyết lương tri và tri hành hợp nhất (Hà Nội, 1944; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1950) Kẻ bán trời Con quỷ phong lưu Bùi Thị Xuân Lương Ngọc Quyến và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917 (Quốc Dân thư xã, Hà Nội, 1946; Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1957). Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ông mới dịch được nửa bộ, đang đăng báo thì từ trần (Bốn Phương xuất bản, Sài Gòn, 1950) Đào Trinh Nhất Tác Phẩm gồm có: Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Lịch Sử Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Triết Học Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 1 Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 2 Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 1 gồm có: Cô Tư Hồng Kẻ Bán Trời Bùi Thị Xuân Đóng Cửa Dạy Chồng Con Quỷ Phong Lưu Mời các bạn đón đọc Đào Trinh Nhất Tác Phẩm - Văn Học Tập 1 của tác giả Đào Trinh Nhất & Nguyễn Quang Thắng.
Đại Tiểu Thư Đi Học
Cô tên thật là Kỳ Vân , bỗng nhiên một tin động trời đến với cô vì cha mẹ hiện tại không phải là cha mẹ ruột của cô! Cuộc đời cô đã thay đổi vì khi gặp người đàn ông đó nhận là ông nội của cô... Cô theo ông qua Mỹ để được học hành đến nơi đến chốn để sau này trở thành người thừa kết. Ông nội đã giúp cô trở thành một cô gái sắc sảo tài năng thông minh và xinh đẹp tại Mỹ. Hai năm sau khi hoàn thành khóa học tại Mỹ cô trở về Việt Nam và học tại ngôi trường quý tộc Royal dành cho những Đại Tiểu Thư Đi Học và thiếu gia. Vì thân phận của cô chưa được tiết lộ nên bị họ ức hiếp...Và cô đã gặp được người chở che trong lúc nguy cấp nhất. *** Truyện “Đại Tiểu Thư Đi Học” kể về một cô nàng lọ lem. Đùng một cái một ông lão xuất hiện trước mặt cô và bảo là cô không phải là con gái ruột của ba mẹ mình. Ba mẹ thật của cô đã chết, trong một vụ tai nạn máy bay lúc cô được hai tháng tuổi và ông ta là ông nội của mình, ngoài ra cô còn có một người anh trai tên Kỳ Khôi (anh này rất soái ca). Tên thật của cô là Kỳ Vân. Từ đấy cuộc đời lọ lem được bước sang trang mới. Cô được ông mình cho sang Mỹ để hoàn thành chương trình học cấp ba, đồng thời cô phải tham gia rất nhiều khóa học khắc nghiệt do ông mình đề ra. Trải qua sự rèn dũa thì cô đã đúng như ý của ông trở thành tiểu thư thứ thiệt, không thứ gì là không thông đúng bản chất thông minh của mình, lại xinh đẹp tài giỏi. Sau đó cô nàng được cho về Việt Nam và nhập học quý tộc RoYal nơi mà chỉ dành cho những người thế kế. Người anh trai của cô cũng học tại ngôi trường này. Tại đây cô làm quen với các nhân vật Khắc Thiên, Thiên Vũ, Nhật Nam là các công tử rất đẹp trai (anh Thiên Vũ là vị hôn phu được hứa hôn từ trong bụng mẹ của cô) và là bạn thân cảu Kỳ Khôi. Vì ông nội cô chưa thông báo với bên ngoài là nhà Hoàng Kỳ đã tìm được đứa cháu gái thất lạc, nên ở trường không ai biết thân phận của cô. Chính vì điều này cô gặp phải nhiều rắc rồi từ nhóm tiếu thư nhà giảu rảnh chuyện. Tại ngôi trường này cô cũng tìm được những người bạn tốt và xây dựng được tình bạn khá đẹp với Nguyên Thảo, Tuyết Mai, Ngọc Ninh. Nữ chính của chúng ta bị vướng vào mối tình tay tư với ba hoàng tử điển trai. Liệu trái tim công chúa sẽ thuộc về ai và câu chuyện thú vị như thế nào các bạn cùng tìm hiều thêm truyện nha. Truyện này khá là hay và dễ thương nhưng có một điểm mình không thích lắm là khúc đầu tác giả dành ít đất diễn cho nam chính hơn các anh khác nên ảnh hơi bị lu mờ một chút. Truyện này nếu có thêm một chút ngoại truyện về cuộc sống của anh chị chính thì tuyệt hoàn mĩ rồi. Nhưng tổng thể truyện này rất đáng để bạn dành thời gian để đọc nó. Truyện này luôn thuộc top hot và tìm kiếm của các bạn teen và dân ngôn tình nên các bạn cứ yên tâm sẽ không làm bạn thất vọng đâu nhé. Bảo đảm với bạn truyện này sẽ không nhàm như các truyện teen khác bạn từng đọc đâu nhé. *** Không khí sáng sớm thật dễ chịu, nó vác cái balo to tướng lên vai rồi hì hục đạp. Quãng đường từ nhà nó tới trường không xa lắm nhưng cũng không phải là gần – 4 km. Nó vừa đạp vừa ngước mặt đón những đợt gió sớm thổi vào làm mái tóc dài của nó bay bồng bềnh – nó – thúy Hà – cô gái có khuôn mặt của thiên thần nhưng tâm hồn của quỷ atula.(tại sao lại là quỷ atula thì đọc tiếp các bạn sẽ biết). Con đường tới trường càng lúc càng đông.Cuối cùng cũng tới, tên của ông vua dựng nước là tên trường của nó – Hùng Vương ,nó lò dò dắt con ngựa sắt của mình vào bãi đỗ xe. Bộp – một âm thanh lạ vang lên làm nó đang mơ màng bỗng quay ngắt lại nơi phát ra âm thanh đó Nhân – lớp trưởng 10A1 vừa đâm phải vào đuôi xe nó Này! Mắt để trên mí hả, không thấy đường hay sao mà đâm vào baby của tui hả. Bộ mắt You không có tròng hả – nó làm bộ giận dữ hét thẳng vào mặt anh chàng xấu số, trong lòng đang cười hả hê vì mới sáng đã chộp được con mồi béo bở. Nhân nổi tiếng đẹp trai –dịu dàng của khối 10 giờ bị con nhỏ nổi tiếng là ác quỷ atula của trường là nó chửi không biết úp mặt đi đâu liền cất lời vàng ngọc – mình xin lỗi Nó không vẫn chưa chịu thôi – xin lỗi gì mà xin lỗi, tưởng xin lỗi là xong hả, baby của tui đau rồi nè, mắc đền đi Mới sáng sớm đã gặp phải chằng tinh nên Nhân không biêt làm gì (vốn dĩ anh chàng này hiền như cục đất) vội nói – thế giờ bạn muốn sao? Mua đồ ăn sáng cho baby của tui chứ sao nữa – nó cười thầm trong bụng, mừng vì con mồi đã bị nó chưởng ột cú quá dễ dàng. Nhân không muốn dính thêm vô nó nên lò dò vào căn tin mua cho nó ái bánh mì Kinh Đô.Nó đón lấy cái bánh mĩ bĩu môi rồi đi thẳng vào lớp không quên vứt lại một câu – lần sau đi đường nhớ nhìn trước nhìn sau nghe chưa, còn đụng phải tui thì không dễ dàng như hôm nay đâu. Nhân lắc đầu ngao ngán rồi cũng đi lên lớp ,coi như hôm nay mình ko may. Vừa lên đến cửa lớp nó đã thấy một người đàn ông trung niên trạc tuổi bố nó , mặc một bộ vét đen sang trọng đứng ngay cửa lớp, mặt hầm hầm,thấy vậy nó thầm nghĩ bụng “trời đất sao hôm nay có ông thần canh cửa ở đây vậy, nhìn thấy ghê”. Thấy nó, người đàn ông tiến tới cất lời– chào tiểu thư! Chủ chủ tich đợi tiểu thư đã lâu. Nghe thấy vậy, nó cười ha hả, này chú ơi chú nhầm người rồi, gì mà tiểu thư chứ , con không dám nhận đâu tổn thọ chết.Nói rồi nó toang bước chân vào lớp.Thấy vậy, người đàn ông vẫy tay một cái.Lập tức, 2 người đàn ông khác xuất hiện, mặt lạnh tanh lôi nó đi trong dự ngỡ ngàng của những đứa bạn cùng lớp. Bị lôi đi. Nó la í ới – này mấy chú làm gì vậy ,bắt cóc hả, nhà con ngèo lắm không có tiền chuộc đâu – mấy chú làm gì vậy chứ trò này không vui gì hết thả con ra đi mà.   Mời các bạn đón đọc Đại Tiểu Thư Đi Học của tác giả Nhóc Nhí Nhố.
Chúng Ta Là Đàn Ông
Cuốn sách “Chúng ta là đàn ông” của Steve Senkman (“Мы – мужчины” Стив Шенкман) được dịch và xuất bản ở Việt Nam năm 1987, dưới sự kết hợp của Nhà xuất bản Thế giới Mátxcơva với Nhà xuất bản Thể dục Thể thao Việt Nam. Những người dịch là Phan Bạch Yến[1] và Trần Yến Thoa.   Được cầm nó trên tay lần đầu năm 18 tuổi, từ đó mình ôm cuốn sách này đọc say sưa, và nó giúp mình thành một con người khác. Chơi thể thao; xây dựng lối sống lành mạnh; nói không với thuốc lá, rượu bia; học cách nghỉ ngơi chủ động; sắp xếp thời gian biểu; các quy tắc học tập và làm việc khoa học... và tuyệt nhất ở chương cuối là “How to be a gentleman?”   Cách đây mười mấy năm, lên “nhà ngoại” ở không có chỗ cho mấy nghìn cuốn sách, mình phải để tạm cả đống sách to tướng dưới nhà chú em trai. Riêng cuốn này, ông bạn thân thời “hậu sinh viên” mượn về, bảo “Để tao giữ cho sau ổn định chỗ ở thì lấy về!” Mãi tròn một giáp mới thực hiện được, không phải là “thư viện gia đình" như mong ước, mà là “kho sách.” Cố giữ được khoảng 4000, vứt đi khoảng 6-7000 vì nhiều lý do.   Riêng cuốn này, gọi điện cho ông bạn để đòi nhận được câu trả lời ráo hoảnh: “Làm gì còn, lại chẳng ra hàng đồng nát lâu rồi!” May bây giờ học Phật không thấy hận, nhưng với người yêu quý sách vở như mình, câu trả lời đó quá đau.   Lại bỏ công nhưng không mấy hi vọng, lượn hàng sách cũ. Một ngày thấy trong lòng có gì ngờ ngợ, không dám nghĩ là điều gì. Tranh thủ 10 phút rỗi tạt vào một hàng, gặp nó, cầm nó lên, tay run bắn. Xin chào, người bạn tuổi thanh niên của tôi!   Cuốn sách cực kỳ quý giá cho những ai có con trai đang chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, nó còn là của báu cho bất kỳ người đàn ông nào, ở bất cứ lứa tuổi nào với phương châm “hãy làm, không có gì là quá muộn.”   Đến nay, ngay cả ở Nga, khi mà Liên Xô không còn nữa, cuốn sách vẫn tiếp tục được tái bản nhiều lần do nhu cầu rất lớn của xã hội đối với nó. Mình đã tìm kiếm rất lâu cuốn này, thậm chí có lần trên một diễn đàn bạn nào đó hỏi, nhưng không có ai chia sẻ nó. Thật may đã mua lại được cuốn sách, và ngay lập tức ngồi vào bàn, scan để chia sẻ cho mọi người.   Nào, chúng ta hãy cùng nhau trở thành những người đàn ông đích thực! [1] Chị Phan Bạch Yến, dịch giả cho biết họ của chị đã bị in sai thành họ Phạm khi xuất bản, nhưng cũng không muốn sửa vì sách hồi đó in ở Liên Xô chở về Việt Nam. Mời các bạn đón đọc Chúng Ta Là Đàn Ông của tác giả Steve Senkman.