Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khát Vọng Đổi Đời

Trong Khát vọng đổi đời, Stefan Zweig, bậc thầy về phân tích tâm lý con người, đã phơi bày ra những góc khuất của chủ nghĩa tư bản. Câu chuyện kể về cô gái tên là Christine, nhân viên tại một trạm bưu điện xa xôi thuộc nước Áo. Bố và anh trai đã mất trong chiến tranh, Christine sống với bà mẹ già nua bệnh tật trong một căn phòng ọp ẹp tồi tàn và ngày qua ngày làm công việc nhàm chán. Cho đến một hôm, người dì đã lưu lạc sang Mỹ 25 năm trước của Christine mời nàng đến nghỉ cùng vợ chồng họ trên dãy núi Alps thuộc Thụy Sĩ. Christine gói ghém đồ đạc tới chỗ dì Claire ở Pontresina và hoàn toàn choáng ngợp trước cảnh giàu sang phú quý nơi đây. Dì Claire đã đưa nàng bước chân vào thế giới thượng lưu hào nhoáng. Từ đây, cuộc đời nàng bước sang một trang mới với những mật ngọt cùng những giăng mắc mà nó bày ra. Khát vọng đổi đời được Stefan Zweig hoàn thành trong những năm 30 của thế kỷ XX nhưng chỉ được xuất bản 40 năm sau khi ông qua đời. *** Trong Khát vọng đổi đời, Stefan Zweig đã khám phá từng chi tiết của đời sống thường nhật với một văn phong làm rung động cả khối óc lẫn tâm hồn… Câu chuyện sầu thảm, và có lẽ là một trong những bản cáo trạng u tối nhất từng xuất hiện trong văn chương về việc sự nghèo đói hủy diệt hy vọng, niềm vui, sắc đẹp và tiếng cười như thế nào. - The Spectator (UK) Một tác phẩm vô cùng hấp dẫn cho thấy lịch sử có thể tác động lên đời sống mỗi con người như thế nào. - The Financial Times Khát vọng đổi đời táo bạo, buồn và cảm động… Với hình tượng nhân vật Christine và đặc biệt là Ferdinand, Zweig đã cho chúng ta thấy chân dung của một thế giới đang đến ngày tàn. - The Guardian … Không một tác phẩm nào của Zweig đòi đấu trực diện với di sản của Thế chiến thứ nhất với độ sâu sắc về xã hội lẫn sự chi tiết về con người như Khát vọng đổi đời… chúng ta may mắn có được cuốn sách này, không chỉ bởi nó là bức tranh đau buồn về đời sống nước Áo sau chiến tranh mà còn bởi nó rất khác các tác phẩm khác của Zweig. - William Deresiewicz, The Nationb *** Stefan Zweig sinh ra ở Viên (Áo). Cha ông lầ Moritz Zweig (1845–1926), nhà sản xuất dệt may giàu có người Do Thái; mẹ là Ida Brettauer (1854–1938), con gái một chủ ngân hàng người Do Thái. Ông là bà con của nhà văn Tiệp Khắc Egon Hostovský, người này mô tả Zweig là "một họ hàng xa"; có thuyết nói hai người là anh em họ. Không tìm thấy động lực rõ ràng, ông bỏ học sớm. Việc học của ông chỉ bắt đầu khi ông đi qua nhiều nước ở châu Âu và kết giao với nhiều nhân vật quan trọng vào thời đại của ông. Ông có nhiều chuyến đi đến Ấn Độ, châu Phi, Bắc và Trung Mỹ, cũng như Nga. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, vì lý do sức khỏe yếu, ông không phải ra mặt trận mà được làm thủ thư, phụ trách quản lý tư liệu chiến tranh. Nhưng chỉ đến khi sống một thời gian ngắn gần trận tuyến, ông mới nhận ra sự điên rồ của chiến tranh, và từ đó trở thành người cổ vũ mạnh mẽ cho hoà bình. Là một nhà văn có sức làm việc mạnh, ông đã viết nhiều tập tiểu sử (như quyển Ba bậc thầy bàn về Honoré de Balzac, Charles Dickens và Fyodor Dostoyevsky, xuất bản năm 1920), thêm truyện dài và truyện ngắn. Ông được ca ngợi là có óc phân tích tâm lý độc đáo, và có tài chắt lọc bỏ ra những tiểu tiết khiến cho những tập tiểu sử của ông đọc hấp dẫn như tiểu thuyết. Đến thập niên 1930, ông là một tác giả có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Năm 1934, Adolf Hitler lên nắm quyền tại Đức, Zweig rời Áo sang Anh, ban đầu sống ở Luân Đông, đến năm 1939 chuyển đến Bath. Năm 1939 Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đức Quốc xã nhanh chóng chinh phục Tây Âu, Zweig và người vợ thứ 2 phải vượt Đại Tây Dương sang Hoa Kỳ, định cư tại Thành phố New York năm 1940. Hai người có 2 tháng làm khách của Đại học Yale ở New Haven, Connecticut, về sau thuê 1 căn nhà tại Ossining, New York. Ngày 22 tháng 8 năm 1940, Zweig và vợ di cư tới Brasil, định cư ở Petrópolis, một thị trấn miền núi có đông đảo người Đức sinh sống, cách Rio de Janeiro 68 km về hướng bắc. Tháng 2 năm 1942, trong thời gian lễ hội ở Rio de Janeiro (Brasil), vì tâm trạng cô đơn và mệt mỏi, Stefan Zweig và vợ Lotte cùng nhau tự tử. Năm 1948, truyện Bức thư của người đàn bà không quen biết đã được dựng thành phim có tựa Letter from an unknown woman, với Joan Fontaine thủ vai cô gái nhân vật chính, Howard Koch viết kịch bản và John Houseman là nhà sản xuất. Howard Koch cũng đã viết kịch bản cho phim Casablanca (1942), và John Houseman là nhà đồng sản xuất của phim "Công dân Kane" (Citizen Kane) (1941) – cả hai phim này được xếp vào nhóm 10 phim hay nhất mọi thời đại. Phim Letter from an unknown woman lấy bối cảnh là thành phố Wien vào khoảng năm 1900. Phim làm rơi lệ nhiều khán giả này nằm trong nhóm 100 phim hay nhất mọi thời đại, được Thư viện Quốc hội Mỹ xếp hạng "có ý nghĩa về mặt văn hóa," và được tuyển chọn để lưu trữ tại Cơ quan Lưu trữ Phim ảnh Quốc gia của Hoa Kỳ.   Gần đây (2005), một phim khác được thực hiện ở Trung Quốc cũng dựa trên truyện này. Năm 1968, một truyện khác được chuyển thể thành phim "24 giờ làm phụ nữ" (24 hours in a woman's life), với nữ diễn viên chính là Ingrid Bergman, cũng khá thành công. Năm 2014, Bộ phim Khách sạn Đế vương, xây dựng dựa trên cảm hứng từ các công trình ghi chép của ông với nội dung tôn vinh những "tia sáng mong manh của nền văn minh sót lại trong chốn man rợ vốn từng được biết đến là nhân đạo", ra mắt trong sự ca ngợi của các nhà phê bình phim. Bộ phim dẫn đầu danh sách đề cử giải BAFTA với 11 đề cử, nhiều hơn bất kỳ bộ phim nào khác. Nó cũng giành được Giải Quả cầu vàng cho phim ca nhạc hoặc phim hài hay nhất và chín đề cử giải Oscar, bao gồm cả giải Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất. Bộ phim sau đó đã giành được 4 giải Oscar cho Thiết kế sản xuất xuất sắc nhất, Nhạc phim hay nhất, Thiết kế trang phục và Hóa Trang. *** Ai đã có lần ghé vào phòng làm việc của một trạm bưu điện nông thôn nước Áo thì có thể coi như mình đã biết tất cả các trạm bưu điện khác, bởi lẽ chúng hầu như chẳng khác nhau là bao. Vẫn những đồ vật được sắp đặt, hay nói cho đúng hơn là được quy định sắp đặt theo một quy chế thống nhất, vẫn những dụng cụ có từ thời Franz Josef[1] và ở bất cứ đâu những vật dụng ấy đều mang dấu ấn của thói quan liêu nặng nề, ngay cả ở tận những xóm làng hẻo lánh vùng Tyrol băng giá cũng thế. Trong các trạm bưu điện ấy lúc nào cũng bốc lên mùi tù hãm của thuốc lá rẻ tiền và bụi giấy, những mùi vị đặc trưng cho các phòng giấy của nước Áo cổ. Các trạm bưu điện đó dù có ở nơi nào cũng đều được thiết kế giống nhau: từ tấm vách ngăn bằng gỗ với những ô cửa sổ nhỏ lắp kính chia căn phòng theo một tỷ lệ nhất định, như muốn ngăn đôi thế giới thành hai khu vực - khu vực dành cho khách hàng và cho nhân viên phục vụ. Trong khu vực dành cho mọi người chẳng có lấy một chiếc ghế hoặc những đồ dùng cần thiết dành cho khách hàng, điều ấy đã nói lên một cách rõ ràng rằng chính phủ rất ít quan tâm đến sự có mặt trong giây lát của mọi công dân trong khu vực ấy. Đồ gỗ duy nhất ở đây thường chỉ có một chiếc bàn viết phủ vải sơn dựng hờ hững vào tường. Tấm vải sơn nứt nẻ, loang lổ vết mực dù chẳng ai nhớ nổi trong cái lọ mực được bắt chặt trên mặt bàn đã bao giờ có một thứ gì, ngoài một chất lỏng lổn nhổn như cháo. Còn nếu tình cờ cạnh đấy có một chiếc bút thì chắc chắn là ngòi bút bị tòe, không thể viết được. Cơ quan ngân khố quốc gia chẳng những chỉ tiết kiệm trong các tiện nghi mà ngay cả trong hình thức cũng vậy. Kể từ khi nước Cộng hòa ra lệnh bãi bỏ các bức chân dung của Franz Josef đến nay thì vật trang trí duy nhất ở những nơi công cộng là những tấm quảng cáo lòe loẹt dán đầy trên các bức tường không quét vôi bẩn thỉu, kêu gọi mọi người đến xem các phòng triển lãm đã đóng cửa từ lâu hoặc mua vé xổ số. Còn trong một vài văn phòng khác, ít được ai ngó tới, vẫn treo những tấm áp phích hô hào mọi người mua công trái chiến tranh, với những thứ trang trí rẻ tiền như vậy lại còn kèm theo một lời yêu cầu không được hút thuốc lá và hầu như chẳng ai thèm chấp hành, sự hào phóng của quốc gia trong các văn phòng bưu điện chỉ được giới hạn có từng ấy. Tuy nhiên, ngăn của nhân viên phục vụ trông có vẻ đáng kể hơn nhiều. Tại đây, với một quy mô thích hợp, chính phủ muốn phô trương sự hùng cường của mình dưới mọi hình thức. Ở góc phòng thường đặt một chiếc két sắt chống cháy mà dựa vào những chấn song lắp trên cửa sổ ta có thể đoán được trong chiếc két ấy đôi khi có chứa những khoản tiền lớn. Trên bàn làm việc ngự trị chiếc máy điện báo bằng đồng thau sáng loáng, trông như một vật trang sức quý giá. Cạnh đấy là chiếc máy điện thoại đang yên nghỉ trên cái giá đỡ mạ kền. Hai thứ dụng cụ trên được cố tình để riêng ra trong một vị trí trang trọng như vậy bởi lẽ chúng đã nối liền cái thôn hẻo lánh này với mọi miền của đất nước bằng những dây dẫn bằng đồng. Những dụng cụ vặt vãnh còn lại của ngành bưu điện đành phải chịu cảnh lép vế: những chiếc cân và những chiếc túi đựng thư, các bảng tra cứu, những chiếc cặp giấy nhét đầy sổ sách, cuốn sổ thống kê, chiếc hộp tròn đựng tiền trả cước phí đầy tiền xu hễ cứ động vào là kêu lẻng xẻng, những quả cân, những chiếc bút chì xanh, đỏ, đen và bút chì hóa học, những chiếc kẹp giấy, cuộn giấy buộc hàng, hộp đựng xi, miếng bọt biển thấm nước, cái bàn thấm, con dao rọc giấy, lọ keo cùng với những chiếc kéo - tất cả những dụng cụ khác nhau đó đành phải chen chúc lộn xộn nơi mép bàn. Còn trong các ngăn kéo thì nhét đầy mọi thứ giấy tờ đủ loại và những biểu mẫu. Thoạt nhìn, tất cả cái đống vật dụng ấy có vẻ như được sử dụng rất hoang phí, nhưng cảm giác ấy hoàn toàn sai lầm - Nhà nước thường xuyên kiểm tra rất nghiêm ngặt từng thứ vật dụng rẻ tiền mau hỏng đó. Từ mẩu bút chì cho đến con tem rách, từ tờ giấy thấm nhàu nát cho tới mẩu xà phòng ở chỗ rửa tay, từ chiếc bóng điện chiếu sáng văn phòng cho tới chìa khóa để khóa văn phòng lại - chính phủ yêu cầu các nhân viên phục vụ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tất cả những tài sản quốc gia đó, cho dù chúng đã hỏng hay đang sử dụng. Bên cạnh chiếc lò sưởi bằng gang có treo một bảng đánh máy liệt kê tất cả mọi thứ vật dụng, bên dưới có đóng dấu hẳn hoi và một chữ ký loằng ngoằng. Với một sự chính xác của toán học, tất cả mọi thứ dụng cụ, kể cả những thứ rẻ tiền và không đáng kể của trang thiết bị đã được tính toán, cân nhắc để cung cấp cho từng trạm bưu điện tương ứng. Không một thứ vật dụng nào không có tên ở trong bảng lại có quyền tồn tại trong phòng làm việc, và ngược lại mỗi một dụng cụ có tên trong bảng phải luôn luôn có mặt trong phòng để bất cứ lúc nào cũng có thể sử dụng được. Chính quyền, luật lệ và thể chế đã quy định như vậy. Nghiêm khắc mà nói thì trong cái bảng liệt kê được đánh máy cẩn thận ấy cần phải ghi thêm một nhân vật nữa - đó là người nhân viên cứ sáng sáng vào đúng bảy giờ lại nhấc tấm kính ở vách ngăn ra rồi đưa toàn bộ cái thế giới vô tri vô giác ấy vào hoạt động. Người đó sẽ mở các bao thư, đóng dấu vào các bức thư, thanh toán các giấy chuyển tiền, viết hóa đơn, cân các bưu kiện, ghi chép và đánh những cái dấu bí hiểm không ai hiểu nổi lên giấy tờ bằng bút chì xanh đỏ, nhấc ống nghe lên và quay điện thoại. Nhưng có lẽ vì tế nhị mà người ta không đưa cái nhân vật vẫn thường được khách hàng gọi là nhân viên bưu điện ấy vào trong bảng liệt kê vật dụng nói trên. Tên họ của người đó đã được đăng kí trong một bộ phận khác của ban giám đốc bưu điện. Tuy nhiên cũng giống như những thứ vật dụng khác, người đó cũng nằm trong diện được kiểm tra thường xuyên. Trong căn phòng làm việc đáng tôn kính ấy hầu như không bao giờ xảy ra một sự thay đổi đáng kể nào. Những quy luật vĩnh cửu về cuộc sống và cái chết đành phải lùi bước khi đụng vào bức tường chắn của quốc gia. Xung quanh bưu điện, cây cối đâm chồi nảy lộc rồi trút lá, trẻ con lớn lên còn người già lại chết đi, những ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp đổ sập xuống và người ta lại xây những ngôi nhà mới, chỉ riêng cái công sở của nhà nước ấy là vẫn khoa trương sức mạnh không hề bị khuất phục bởi bất cứ điều gì. Bởi lẽ, trong cái môi trường ấy, mỗi một vật dù bị mòn hay bị mất, bị hỏng hay bị gãy, liền được các nhà chức trách yêu cầu phải thay thế ngay bằng một tiêu bản khác giống y như vậy. Chính điều đó đã chứng minh sự hơn hẳn của cơ quan nhà nước với thế giới bên ngoài đang tàn rữa. Nội dung chứa đựng bên trong có thể chỉ nhất thời nhưng hình thức thì không bao giờ thay đổi. Trên bức tường có treo một tấm lịch. Cứ mỗi ngày trôi qua, một tờ lịch lại được bóc đi. Sau một tuần mất bảy tờ, sau một tháng - ba mươi tờ. Vào ngày ba mươi mốt tháng mười hai, khi lốc lịch đã hết, người ta làm đơn xin cái mới, cũng với kích thước y như vậy, hình thức ấn loát y như vậy. Và thế là một năm mới đã bước sang nhưng tấm lịch thì vẫn như cũ. Trên bàn có một cuốn sổ kế toán với những hàng số chi chít. Khi những dãy số ở hàng bên trái vừa cộng xong, kết quả liền được đưa sang hàng bên phải và công việc tính toán lại tiếp tục, hết trang này đến trang khác. Khi trang cuối cùng được viết kín cuốn sổ cũng coi như hết, lại bắt đầu một cuốn mới, vẫn hình dạng y như thế, chiều dày y như thế, không khác chút nào so với cuốn trước. Còn tất cả mọi công việc đã kết thúc trong ngày hôm ấy thì hôm sau sẽ bắt đầu lại, tẻ nhạt, đơn điệu như chính bản thân công việc. Trên mặt bàn sẽ lại xuất hiện chính những đồ vật ấy, vẫn những tập biểu mẫu in sẵn với những cây bút chì, vẫn những chiếc kẹp giấy và những tờ phiếu ghi, lần nào công việc cũng có vẻ như mới nhưng thực ra vẫn như cũ. Không có chuyện gì thay đổi hoặc thêm vào trong cái thế giới do nhà nước quản lý này. Cuộc sống cứ thế lặp đi lặp lại, không chút sinh khí, nói cho đúng hơn là sự chết dần chết mòn ấy không bao giờ chấm dứt. Điều duy nhất khác nhau giữa những đồ vật là nhịp độ hao mòn và khả năng phục hồi của chúng, nhưng điều đó hoàn toàn không phụ thuộc vào bản thân đồ vật. Chiếc bút chì chỉ tồn tại trong một tuần và sau đó được thay bằng chiếc khác giống y như chiếc cũ. Cuốn sổ bưu điện sống được một tháng, chiếc bóng điện - ba tháng, còn tấm lịch thì một năm. Chiếc ghế mây được quy định phải dùng trong ba năm mới được thay thế còn người ngồi trên đó thì phải ngồi suốt đời - khoảng ba mươi đến ba lăm năm. Sau đó trên chiếc ghế ấy người ta sẽ bổ nhiệm một người khác, song chiếc ghế vẫn như cũ, chẳng khác gì chiếc trước. Vào năm 1926, trong trạm bưu điện Klein-Reifling nằm ở một làng nhỏ bình thường cạnh thành phố Krems và cách thủ đô Vienna khoảng hai giờ xe lửa, thứ vật dụng có thể thay thế được mà ta vẫn thường gọi là “nhân viên phục vụ” lại là một người phụ nữ. Và bởi lẽ trạm bưu điện này được xếp vào loại nhỏ, do đó người nhân viên cũng chỉ được mang tước vị “trợ lý ngành bưu điện”. Qua tấm kính của vách ngăn ta không thể nhìn rõ cô gái được, nhưng có thể thấy một khuôn mặt thiếu nữ nhìn nghiêng không có gì đặc biệt song rất dễ thương: cặp môi nhỏ, đôi má hơi nhợt nhạt, phía dưới cặp mắt có một quầng tối. Vào buổi chiều, khi cô gái bật ngọn điện sáng gắt lên, người tinh mắt có thể nhận thấy một vài nếp nhăn nhỏ trên trán và hai bên thái dương. Mặc dù vậy, bên cạnh cành miên quỳ lấp ló sau khung cửa sổ và bó hoa cơm cháy sáng nay cô vừa cắm trong chiếc lọ bằng sắt tây, cô gái vẫn là một đối tượng sinh động hơn cả giữa những vật dụng của trạm bưu điện Klein - Reifling. Và cũng dễ dàng nhận thấy cô gái ấy còn có thể tiếp tục công việc của mình ít nhất là hai mươi lăm năm nữa. Bàn tay nhỏ nhắn với những ngón tay trắng xanh kia sẽ còn phải nhấc lên đặt xuống hàng nghìn lần nữa cái tấm kính ngăn. Và hàng trăm nghìn lần nữa, mà cũng có thể là hàng triệu lần nữa, bằng những động tác máy móc, cô sẽ còn phải đặt những bức thư lên miếng đệm cao su, rồi cũng hàng nghìn lần nữa có thể hàng triệu lần nữa, đóng cái dấu bằng đồng nhem nhuốc lên những con tem. Có lẽ cái thao tác thành thạo của cánh tay cô gái sẽ ngày càng trở nên chính xác hơn, nhanh nhẹn hơn nhưng đồng thời cũng trở nên vô ý thức hơn. Hàng trăm nghìn bức thư nữa sẽ qua tay cô gái, tất nhiên những bức thư khác nhau nhưng chúng luôn luôn chỉ là những bức thư, và những con tem dẫu có khác nhau, nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là những con tem. Những tháng ngày khác nhau sẽ trôi qua, nhưng ngày nào cũng bắt đầu từ tám giờ sáng, đến mười hai giờ trưa, từ hai giờ chiều đến sáu giờ tối, rồi năm tháng sẽ trôi qua, không chút hứng thú, không chút thay đổi vì vẫn chỉ là những công việc ấy, cứ lặp đi lặp lại mãi. Cũng có thể vào chính cái buổi trưa mùa hạ êm ả ấy, người thiếu nữ có mái tóc màu hung nhạt ngồi sau ô cửa kính đang nghĩ về tương lai của mình, mà cũng có thể nàng chỉ đang mơ mộng. Dù có thế nào thì cô gái vẫn ngồi đấy, hai cánh tay tuột khỏi mặt bàn nằm yên trên đầu gối, những ngón tay thon nhỏ, trắng xanh mệt mỏi đan vào nhau. Vào những buổi trưa tháng bảy oi nồng với bầu trời xanh nhạt như thế này, trong trạm bưu điện Klein - Reifling hầu như chẳng có việc gì làm. Công việc buổi sáng đã kết thúc, người đưa thư Hinterfellner, một người đàn ông gù lưng lúc nào cũng nhai thuốc lá đã chuyển xong những bức thư từ lâu. Từ giờ đến chiều tối sẽ chẳng có một cái công văn hoặc một mẫu hàng nào từ các nhà máy gửi đến nữa, còn người dân trong làng thì chẳng muốn hoặc chẳng có thời gian đâu mà viết thư. Những người nông dân đầu đội mũ rơm rộng vành đang vun gốc nho, đám trẻ con chân đất vẫn đang nghỉ hè thì dẫn nhau ra sông. Mảnh sân lát đá trước cửa vắng hoe bị ánh nắng mặt trời nung nóng. Giá bây giờ được ngồi ở nhà thì thật là tuyệt và cũng thật là tuyệt nếu được ngồi yên mà mơ mộng. Dưới bóng râm của cánh cửa chớp, những tờ biểu mẫu và những tấm bưu ảnh đang ngủ yên trên giá và trong hộp gỗ, chiếc máy điện báo uể oải lười biếng hắt ra ánh kim loại trong bóng tối nhờ nhờ vàng đục. Sự tĩnh lặng giống như một lớp bụi vàng dày đặc bao trùm lên tất cả mọi thứ dụng cụ trong phòng, chỉ còn lại dàn nhạc violon nhỏ xíu của đàn muỗi và của bầy ong đất là vẫn còn tiếp tục chương trình hòa nhạc buổi chiều của mình ngoài khung cửa. Vật duy nhất còn hoạt động trong căn phòng mát mẻ là quả lắc chiếc đồng hồ treo tường vỏ gỗ treo giữa hai khuôn cửa sổ. Mỗi một giây trôi qua, chiếc đồng hồ nuốt chửng một giọt thời gian. Tuy nhiên tiếng lắc đều đều yếu ớt của nó chỉ càng làm cho người ta dễ ngủ hơn là đánh thức người ta dậy. Cô gái trợ lý ngành bưu điện vẫn ngồi yên trong cái thế giới nhỏ bé của mình và uể oải thiếp đi với một cảm giác dễ chịu. Đúng ra mà nói, cô cũng định tranh thủ thêu thùa một chút. Cô đã chuẩn bị sẵn kim chỉ và một chiếc kéo nhỏ, nhưng tấm vải thêu tuột khỏi đầu gối rơi xuống đất, nhặt nó lên thì cô không đủ sức và cũng chẳng có ý định ấy. Ngửa người ra thành ghế, cô gái nhắm mắt lại thở nhè nhẹ, hoàn toàn đắm chìm trong cảm giác khoan khoái, dễ chịu vì được nghỉ ngơi. Những giây phút như vậy thật hiếm trong đời nàng. Chú thích [1] Franz Josef (1830 - 1916): hoàng đế Đế quốc Áo - Hung từ năm 1848 tới năm 1916.   Mời các bạn đón đọc Khát Vọng Đổi Đời của tác giả Stefan Zweig.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Trai
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Con Trai của tác giả Lois Lowry & Mèo Xanh Biển (dịch). Họ gọi cô là Claire Thủy Triều. Khi cô trôi dạt vào bờ biển của họ, chẳng ai biết rằng cô vừa trốn chạy khỏi một xã hội không sắc màu, không cảm xúc. Rằng cô đã trở thành Tàu mẹ ở tuổi mười ba. Rằng cô mang trong mình một Sản phẩm ở tuổi mười bốn. Rằng nó đã bị tước mất khỏi cơ thể cô. Claire có một đứa con trai. Nhưng số phận nó ra sao cô không hề hay biết. Tên nó là gì? Thậm chí nó có còn sống không? Cô phải quên nó đi, nhưng đó là điều bất khả. Không gì có thể ngăn Claire đi tìm con trai mình, kể cả khi điều đó đồng nghĩa với những hy sinh không tưởng. Phần thứ tư và cũng là cuốn cuối cùng của bộ truyện một lần nữa quăng người đọc trở lại thế giới lạnh lùng khủng khiếp của phần một Người truyền ký ức. Hồi kết hằng mong mỏi cho thiên truyện của Lois Lowry lên đến cao trào trong một trận đụng độ cuối cùng giữa cái thiện và cái ác. Nhưng rốt cuộc, còn đọng lại trong ta chẳng phải điều gì gay cấn hay sử thi như thế, mà mạnh mẽ và thấm thía: đó là tình yêu, sự bền bỉ và niềm hy vọng.   Lois Lowry sinh năm 1937 ở Hawaii, Mỹ. Bà xuất bản tiểu thuyết đầu tiên, Mùa hè để chết, năm 40 tuổi, và đến nay đã cho ra đời gần 50 đầu sách, trong đó có những bộ sách thiếu nhi được yêu thích như Người truyền ký ức, Anastasia, Sam Krupnik và Gooney Bird. *** Bộ sách Người Truyền Ký Ức gồm có: Người Truyền Ký Ức Tìm Lại Màu Xanh Người Truyền Tin Con Trai *** Tóm tắt: Claire Thủy Triều, một người phụ nữ trốn chạy khỏi một xã hội không sắc màu, không cảm xúc, đang tìm kiếm đứa con trai bị tước đoạt từ cô. Cuốn sách đưa người đọc trở lại thế giới lạnh lùng trong phần một Người Truyền Ký Ức. Hành trình tìm con của Claire là một cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác, và cuối cùng, tình yêu, sự bền bỉ và niềm hy vọng chiến thắng. Review: Ưu điểm: Câu chuyện cảm động và đầy hy vọng: Cuốn sách ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và sức mạnh của lòng tin. Nhân vật được xây dựng độc đáo: Claire là một người phụ nữ mạnh mẽ và đầy nghị lực. Kết thúc viên mãn: Cuốn sách mang đến một kết thúc đẹp cho bộ truyện Người Truyền Ký Ức. Nhược điểm: Cốt truyện có thể hơi chậm với một số người đọc: Cuốn sách tập trung vào nội tâm nhân vật và diễn biến tâm lý. Giải thích về xã hội không sắc màu chưa đầy đủ: Cuốn sách tập trung vào câu chuyện của Claire, ít giải thích về xã hội dystopian. Đánh giá chung: Con Trai là một cuốn sách hay và ý nghĩa, là phần kết hoàn hảo cho bộ truyện Người Truyền Ký Ức. Cuốn sách ca ngợi những giá trị tốt đẹp của con người và khẳng định sức mạnh của tình yêu thương có thể vượt qua mọi khó khăn. Điểm đánh giá: 4/5 Đối tượng phù hợp: Mọi lứa tuổi Người yêu thích văn học thiếu nhi Người quan tâm đến các vấn đề xã hội Lời khuyên: Nên đọc sách với tâm hồn cởi mở và sẵn sàng đón nhận những thông tin mới. Nên suy ngẫm về những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Nên chia sẻ cảm nhận về cuốn sách với người khác. Trích dẫn: "Tình yêu là sức mạnh mạnh mẽ nhất trên thế giới." - Lois Lowry "Hy vọng là điều luôn tồn tại, dù trong hoàn cảnh nào." - Claire Thủy Triều Tóm tắt nội dung chính: Cuốn sách kể về hành trình tìm con của Claire Thủy Triều, một người phụ nữ mạnh mẽ và đầy nghị lực. Cuốn sách ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và sức mạnh của lòng tin. Liên hệ bản thân: Cuốn sách giúp tôi nhận ra tầm quan trọng của tình yêu thương trong cuộc sống. Cuốn sách cũng giúp tôi hiểu được rằng dù trong hoàn cảnh nào, hy vọng luôn là điều tồn tại. Tôi sẽ luôn trân trọng những người thân yêu của mình và không bao giờ từ bỏ hy vọng. *** Tóm tắt: "Con Trai" là phần cuối cùng trong bộ tứ "Người Truyền Ký Ức" của Lois Lowry, được dịch bởi Mèo Xanh Biển. Câu chuyện xoay quanh nhân vật Claire Thủy Triều, một phụ nữ trẻ sống trong một xã hội không có màu sắc và cảm xúc. Claire mang trong mình một đứa con trai, nhưng số phận của đứa bé là một bí mật và cô quyết định tìm kiếm nó. Claire trở thành Tàu mẹ ở tuổi mười ba và có một Sản phẩm khi cô mười bốn tuổi, nhưng đứa trẻ này đã bị tước mất khỏi cơ thể cô. Cô không biết tên của đứa con và càng không biết liệu nó còn sống hay không. Tuy nhiên, niềm khao khát tìm kiếm con trai của Claire không thể ngăn cản được. Cuốn sách đưa độc giả vào cuộc hành trình của Claire, một hành trình đầy hi sinh và khó khăn để tìm kiếm đứa con bị mất. Truyện kết thúc với một trận đụng độ cuối cùng giữa cái thiện và cái ác, nhưng điều cuối cùng còn đọng lại trong tâm hồn là tình yêu, sự bền bỉ và niềm hy vọng. Review (Đánh giá): "Con Trai" là một kết thúc hoàn hảo cho bộ tứ "Người Truyền Ký Ức". Lois Lowry một lần nữa chứng minh tài năng của mình trong việc xây dựng một thế giới tưởng tượng phức tạp và những nhân vật đầy tính cách. Cuộc phiêu lưu của Claire không chỉ là hành trình vượt qua những thử thách vật lý mà còn là một cuộc chiến tranh tinh thần và trái tim. Câu chuyện tập trung vào tình mẫu tử và lòng hy sinh, tạo nên một câu chuyện đầy cảm xúc và sâu sắc. Bộ sách "Người Truyền Ký Ức" toàn diện và là một hành trình đáng nhớ với độc giả, với những thông điệp về tình yêu, đạo đức và ý nghĩa của cuộc sống. Mời các bạn mượn đọc sách Con Trai của tác giả Lois Lowry & Mèo Xanh Biển (dịch).
Người Truyền Tin
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Người Truyền Tin của tác giả Lois Lowry & Thiên Thanh (dịch). Lại là Trái Đất trong tương lai. Lại một thế giới hoàn toàn khác. Không phải xã hội công nghệ phát triển vượt bậc và quy củ đến lạnh người. Cũng chẳng phải thị trấn lạc hậu nơi kẻ yếu thế bị ruồng bỏ man rợ. Rốt cuộc, trong phần thứ ba của bộ tứ Người truyền ký ức, ta cũng gặp một cộng đồng tốt lành, nơi người người đối xử với nhau thương yêu và trân trọng… … cho đến khi Chợ Buôn xuất hiện. Và người ta bắt đầu trao đổi. Khó mà tưởng tượng họ sẵn sàng đánh đổi những gì để lấy chút tiện nghi hay đôi trò giải trí xuẩn ngốc. Thế giới bắt đầu trở nên xấu xí, và đó là khi chúng ta cần một anh hùng. Không ai xa lạ, ta từng gặp người anh hùng ấy trong phần hai, Tìm lại màu xanh. Từ một thằng nhóc hoang dã bất trị, Matty giờ đã lớn thành một cậu thiếu niên chững chạc và tràn đầy thấu cảm. Cậu nghĩ mình cũng khá đặc biệt, bởi cậu là người duy nhất có thể băng qua khu rừng thâm u bao quanh Làng để truyền tin đến những cộng đồng xung quanh. Nhưng Matty đặc biệt hơn cậu tưởng rất nhiều, vì trong cậu ẩn chứa một sức mạnh lớn lao mà cậu không bao giờ ngờ tới. Cuốn ta đi trong thế giới tưởng tượng choáng ngợp rồi neo giữ ta lại bằng những thông điệp sâu sắc về nhân tính, Lowry vẫn luôn kỳ diệu như thế. *** Bộ sách Người Truyền Ký Ức gồm có: Người Truyền Ký Ức Tìm Lại Màu Xanh Người Truyền Tin Con Trai *** Tóm tắt: Matty, một thiếu niên sống trong một cộng đồng tốt đẹp, là người duy nhất có thể băng qua khu rừng để truyền tin. Khi Chợ Buôn xuất hiện, người dân bắt đầu trao đổi những thứ quý giá để lấy tiện nghi và giải trí, khiến thế giới trở nên xấu xí. Matty nhận ra mình có sức mạnh đặc biệt và sử dụng nó để chống lại Chợ Buôn và bảo vệ cộng đồng. Review: Ưu điểm: Câu chuyện hấp dẫn và ly kỳ: Cuốn sách đưa người đọc vào một hành trình đầy mạo hiểm cùng Matty. Nhân vật được xây dựng độc đáo: Matty là một anh hùng dũng cảm và đầy lòng nhân ái. Thông điệp sâu sắc: Cuốn sách ca ngợi những giá trị tốt đẹp của con người và lên án sự tham lam, ích kỷ. Nhược điểm: Cốt truyện có thể hơi dễ đoán với một số người đọc: Cuốn sách đi theo mô típ anh hùng quen thuộc. Kết thúc có thể gây tranh cãi: Cuốn sách kết thúc một cách mở, có thể khiến một số người đọc cảm thấy hụt hẫng. Đánh giá chung: Người Truyền Tin là một cuốn sách hay và ý nghĩa, phù hợp với mọi lứa tuổi. Cuốn sách ca ngợi những giá trị tốt đẹp của con người và khẳng định sức mạnh của lòng dũng cảm và tình yêu thương. Điểm đánh giá: 4/5 Đối tượng phù hợp: Mọi lứa tuổi Người yêu thích văn học thiếu nhi Người quan tâm đến các vấn đề xã hội Lời khuyên: Nên đọc sách với tâm hồn cởi mở và sẵn sàng đón nhận những thông tin mới. Nên suy ngẫm về những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Nên chia sẻ cảm nhận về cuốn sách với người khác. Trích dẫn: "Lòng dũng cảm không phải là không sợ hãi. Nó là hành động bất chấp sợ hãi." - Matty "Tình yêu thương là sức mạnh mạnh mẽ nhất trên thế giới." - Lois Lowry   Tóm tắt nội dung chính: Cuốn sách kể về câu chuyện của Matty, một thiếu niên dũng cảm sử dụng sức mạnh của mình để chống lại Chợ Buôn và bảo vệ cộng đồng. Cuốn sách ca ngợi những giá trị tốt đẹp của con người và lên án sự tham lam, ích kỷ. Liên hệ bản thân: Cuốn sách giúp tôi nhận ra rằng mỗi người đều có thể trở thành anh hùng trong cuộc sống của chính mình. Cuốn sách cũng giúp tôi hiểu được tầm quan trọng của lòng dũng cảm và tình yêu thương. Tôi sẽ cố gắng sử dụng lòng dũng cảm và tình yêu thương của mình để giúp đỡ mọi người và làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. *** Tóm tắt: "Người Truyền Tin" là phần thứ ba trong bộ tứ "Người Truyền Ký Ức" của Lois Lowry, được dịch bởi Thiên Thanh. Câu chuyện diễn ra trong một thế giới tương lai đầy sáng tạo và kỳ bí. Trái ngược với những xã hội công nghệ cao hay những thị trấn hoang dã bị bỏ rơi, cộng đồng trong "Người Truyền Tin" được mô tả như một nơi tốt lành, nơi mọi người đối xử với nhau với lòng trân trọng và tình yêu thương. Tuy nhiên, sự yên bình của cộng đồng bắt đầu bị đảo lộn khi Chợ Buôn xuất hiện và việc trao đổi bắt đầu. Thế giới trở nên xấu xí hơn, và cả cộng đồng cần một người anh hùng để đối mặt với những thách thức. Matty, một nhân vật quen thuộc từ "Tìm Lại Màu Xanh", nay đã trở thành một cậu thiếu niên trưởng thành và thấu hiểu. Với khả năng đặc biệt là có thể băng qua khu rừng nguy hiểm, cậu được giao trách nhiệm truyền tin đến các cộng đồng lân cận. Tuy nhiên, Matty còn giữ một sức mạnh to lớn mà cậu không hề hay biết. Cuốn sách đưa độc giả đến với một thế giới tưởng tượng đầy phức tạp, với những thông điệp sâu sắc về nhân tính. Review (Đánh giá): "Người Truyền Tin" tiếp tục kể câu chuyện hấp dẫn và đầy sáng tạo trong thế giới của Lois Lowry. Tác giả không chỉ làm cho độc giả mê mẩn bởi cốt truyện hấp dẫn mà còn bởi những thông điệp sâu sắc về tình cảm, đạo đức và sự hi sinh cho cộng đồng. Matty, với sức mạnh bí ẩn, trở thành nguồn động viên và hi vọng cho cộng đồng trong bối cảnh khó khăn. Câu chuyện chứng minh sức mạnh của lòng nhân ái và khả năng của con người khi đối mặt với thử thách. "Người Truyền Tin" không chỉ là một tiểu thuyết tưởng tượng, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật với những điểm nhấn tinh tế về con người và xã hội. Mời các bạn mượn đọc sách Người Truyền Tin của tác giả Lois Lowry & Thiên Thanh (dịch).
Tìm Lại Màu Xanh
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Tìm Lại Màu Xanh của tác giả Lois Lowry & Phạm Quốc Hưng (dịch). Kira đáng ra đã chết lâu rồi. Từ ngày cô sinh ra, với bên chân bị tật, ngay sau khi cha cô bị thú rừng giết hại. Luật của làng là vậy. Nhưng tình yêu của mẹ đã giữ gìn bảo bọc cô trong túp nhà nhỏ bên bếp lửa hồng. Cho đến khi một cơn bạo bệnh cướp mẹ đi, để cô lần nữa đối mặt với những hòn đá, lời rủa mắng và xua đuổi của dân làng. Quyền ở lại làng, và ngay cả mạng sống của cô, đang bị đe dọa. Nhưng Kira có một bí mật, một điều kỳ diệu: điều kỳ diệu nằm trong những ngón tay cô, những ngón tay biết vẽ nên những bức tranh muôn màu trên khung thêu của mẹ. Hội đồng Giám hộ của làng biết điều ấy. Và họ cần một người biết vẽ tương lai. Tương lai nào dành cho Kira, cũng như cả ngôi làng? Là phần thứ hai trong bộ tứ Người truyền ký ức, Tìm lại màu xanh đưa bạn đọc tới một thế giới khắc nghiệt và cằn cỗi để cùng khám phá ra trong đó vẫn có những mảnh đất để ươm trồng những vườn hoa màu sắc, vẫn có người khao khát màu xanh của thanh bình. *** Bộ sách Người Truyền Ký Ức gồm có: Người Truyền Ký Ức Tìm Lại Màu Xanh Người Truyền Tin Con Trai *** Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Tìm Lại Màu Xanh của tác giả Lois Lowry & Phạm Quốc Hưng (dịch) Tóm tắt: Kira, một cô bé với tật chân bẩm sinh, sống trong một ngôi làng có luật lệ hà khắc. Cha cô bị thú rừng giết hại, theo luật làng, Kira cũng phải chết. Mẹ cô che chở cho Kira và dạy cô vẽ tranh. Sau khi mẹ qua đời, Kira phải đối mặt với sự thù hận của dân làng. Hội đồng Giám hộ phát hiện ra khả năng vẽ tranh của Kira và yêu cầu cô vẽ tương lai. Kira vẽ một tương lai tươi sáng với màu xanh hy vọng. Nhờ có Kira, dân làng bắt đầu thay đổi và hướng đến hòa bình. Review: Ưu điểm: Câu chuyện cảm động và đầy ý nghĩa: Cuốn sách ca ngợi tình yêu thương, lòng dũng cảm và sức mạnh của nghệ thuật. Nhân vật được xây dựng độc đáo: Kira là một nhân vật truyền cảm hứng với nghị lực phi thường. Lối viết nhẹ nhàng và sâu lắng: Cuốn sách dẫn dắt người đọc vào một thế giới tưởng tượng đầy màu sắc. Nhược điểm: Cốt truyện có thể hơi chậm với một số người đọc: Cuốn sách tập trung vào nội tâm nhân vật và diễn biến tâm lý. Kết thúc có thể gây tranh cãi: Cuốn sách kết thúc một cách mở, có thể khiến một số người đọc cảm thấy hụt hẫng. Đánh giá chung: Tìm Lại Màu Xanh là một cuốn sách hay và ý nghĩa, phù hợp với mọi lứa tuổi. Cuốn sách ca ngợi những giá trị tốt đẹp của con người và khẳng định sức mạnh của nghệ thuật có thể thay đổi thế giới. Điểm đánh giá: 4/5 Đối tượng phù hợp: Mọi lứa tuổi Người yêu thích văn học thiếu nhi Người quan tâm đến các vấn đề xã hội Lời khuyên: Nên đọc sách với tâm hồn cởi mở và sẵn sàng đón nhận những thông tin mới. Nên suy ngẫm về những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải. Nên chia sẻ cảm nhận về cuốn sách với người khác. Trích dẫn: "Màu xanh là màu của hy vọng. Nó là màu của sự sống. Nó là màu của tương lai." - Kira "Nghệ thuật có thể thay đổi thế giới. Nó có thể mang lại niềm vui, hy vọng và tình yêu." - Lois Lowry Tóm tắt nội dung chính: Cuốn sách kể về câu chuyện của Kira, một cô bé với tật chân bẩm sinh sống trong một ngôi làng có luật lệ hà khắc. Kira có khả năng vẽ tranh đặc biệt, có thể vẽ được tương lai. Nhờ có Kira, dân làng bắt đầu thay đổi và hướng đến hòa bình. Cuốn sách ca ngợi tình yêu thương, lòng dũng cảm và sức mạnh của nghệ thuật. Liên hệ bản thân: Cuốn sách giúp tôi nhận ra rằng mỗi người đều có khả năng riêng của mình, dù là người khuyết tật. Cuốn sách cũng giúp tôi hiểu được sức mạnh của nghệ thuật có thể thay đổi thế giới. Tôi sẽ cố gắng sử dụng khả năng của mình để giúp đỡ mọi người và làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. *** Tóm tắt: "Tìm Lại Màu Xanh" là phần thứ hai trong bộ tứ "Người Truyền Ký Ức" của tác giả Lois Lowry, được dịch bởi Phạm Quốc Hưng. Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là Kira, một cô gái bị tật chân, sống trong một làng nơi những người yếu đuối thường bị loại bỏ để giữ gìn sức khỏe của cộng đồng. Kira sống sót nhờ tình yêu thương của mẹ và khả năng vẽ tranh tuyệt vời của mình. Sau cái chết của mẹ, cô đối mặt với sự khắc nghiệt và đe dọa từ cộng đồng. Tuy nhiên, Kira giữ một bí mật - khả năng vẽ tranh kỳ diệu của mình. Hội đồng Giám hộ của làng phát hiện ra tài năng này và quyết định sử dụng nó cho mục đích lợi ích của cộng đồng. Cuộc phiêu lưu của Kira đưa độc giả đến với một thế giới đầy thách thức và khó khăn, nơi cô phải tìm lại "màu xanh" của thanh bình giữa những khó khăn và đau thương. Review (Đánh giá): "Tìm Lại Màu Xanh" tiếp tục mang đến cho độc giả những trải nghiệm đầy cảm xúc và sâu sắc. Lois Lowry tạo nên một thế giới phức tạp, nơi những khía cạnh đen tối của xã hội được thể hiện qua mắt những nhân vật đầy sức sống. Tác giả không chỉ khám phá những khía cạnh đen tối của xã hội mà còn tôn vinh những giá trị nhân văn và sức mạnh của nghệ thuật. Khả năng vẽ tranh của Kira không chỉ là một kỹ năng, mà là sự giải thoát và hy sinh cho một tương lai tốt đẹp hơn. Người đọc sẽ cảm nhận được sự sáng tạo, tình cảm, và sự lôi cuốn từ câu chuyện, khiến "Tìm Lại Màu Xanh" trở thành một phần quan trọng trong bộ tứ "Người Truyền Ký Ức". Mời các bạn mượn đọc sách Tìm Lại Màu Xanh của tác giả Lois Lowry & Phạm Quốc Hưng (dịch).
Trong Khi Chờ Bojangles
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Trong Khi Chờ Bojangles của tác giả Olivier Bourdeaut & Trần Thị Khánh Vân (dịch). “Một câu chuyện cổ tích kỳ lạ.” – The New York Times Trước ánh mắt ngạc nhiên đầy ngưỡng mộ của cậu con trai, họ khiêu vũ trên nền nhạc lãng mạn của Nina Simone, Mr. Bojangles. Tình yêu của họ giống như một phép mầu, một bữa tiệc vui kéo dài mãi không dứt. Nơi họ chỉ có chỗ cho niềm vui, sự phóng túng, cuồng ngông và bạn bè. Trong những điều đẹp đẽ và ngay cả trong những biến cố bất hạnh xảy ra, chỉ có tình yêu là điều lớn lao hơn cả. Và, “tình điên” chưa bao giờ đúng với tên gọi của nó đến thế. Gặt hái thành công lớn ngay từ những tuần đầu tiên sau khi phát hành (tháng Một năm 2016), Trong khi chờ Bojangles tiếp tục giành được nhiều giải thưởng văn chương, trong đó có giải Tiểu thuyết France Télévisions, Giải thưởng lớn của RTL-Lire, giải Emmanuel-Roblès, giải tiểu thuyết dành cho sinh viên của France Culture-Télérama và giải thưởng của Viện Hàn lâm Văn học vùng Bretagne và Pays de la Loire. Năm 2019, Trong khi chờ Bojangles được đạo diễn sân khấu Victoire Berger-Perrin dàn dựng thành vở kịch cùng tên, giành được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình và báo chí. Trước đó, năm 2017, tác phẩm của Olivier Bourdeaut cũng đã được hai tác giả Ingrid Chabbert và Carole Maurel chuyển thể thành truyện tranh. ĐÔI ĐIỀU VỀ TÁC GIẢ: Olivier Bourdeaut sinh năm 1980 tại Nantes, Pháp. Từ một nhân viên môi giới bất động sản, ở tuổi 30 anh quyết định rẽ hướng sang lĩnh vực văn chương. Anh dành ra hai năm để viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên song không tìm được sự đồng ý từ bất cứ nhà xuất bản nào. Sau đó anh tới sống ở nhà bố mẹ mình tại Tây Ban Nha, tập trung viết tiểu thuyết thứ hai, Trong khi chờ Bojangles, và hoàn thành nó trong vòng bảy tuần lễ. Lần này, câu chuyện nhẹ nhàng và điên rồ mà Olivier Bourdeaut kể lập tức gặt hái được thành công vang dội ngay sau khi được phát hành. *** Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Trong Khi Chờ Bojangles của tác giả Olivier Bourdeaut & Trần Thị Khánh Vân (dịch) Tóm tắt: Cuốn sách xoay quanh câu chuyện tình yêu kỳ lạ và đầy màu sắc của cặp vợ chồng Georges và Camille. Họ sống trong thế giới tưởng tượng của riêng mình, nơi tràn ngập niềm vui, sự phóng túng và tình bạn. Cậu con trai của họ, Gary, chứng kiến ​​tình yêu đặc biệt của cha mẹ và dần bị cuốn vào thế giới tưởng tượng ấy. Tuy nhiên, cuộc sống của họ gặp biến động khi Camille mắc bệnh Alzheimer. Georges phải đối mặt với thử thách lớn khi chăm sóc vợ và giữ gìn thế giới tưởng tượng của họ. Review: Ưu điểm: Câu chuyện tình yêu độc đáo và đầy cảm xúc: Cuốn sách mang đến một góc nhìn mới về tình yêu, không chỉ là sự lãng mạn mà còn là sự đồng hành và hy sinh. Lối viết nhẹ nhàng, tinh tế và đầy ẩn dụ: Tác giả sử dụng những hình ảnh ẩn dụ để miêu tả thế giới tưởng tượng của các nhân vật, khiến cho câu chuyện thêm phần huyền ảo và lãng mạn. Khắc họa chân thực những khó khăn khi đối mặt với bệnh Alzheimer: Cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của bệnh Alzheimer đối với người bệnh và gia đình họ. Nhược điểm: Cái kết gây tranh cãi: Cái kết của câu chuyện có thể khiến một số người đọc cảm thấy hụt hẫng hoặc khó hiểu. Một số chi tiết trong câu chuyện có thể khó hiểu: Cuốn sách sử dụng nhiều ẩn dụ và biểu tượng, có thể khiến người đọc khó nắm bắt được ý nghĩa của câu chuyện. Đánh giá chung: Trong Khi Chờ Bojangles là một cuốn sách đẹp và buồn về tình yêu, mất mát và trí nhớ. Cuốn sách là lời nhắc nhở quý giá về việc trân trọng những khoảnh khắc hiện tại và yêu thương những người xung quanh. Điểm đánh giá: 4/5 Đối tượng phù hợp: Người yêu thích tiểu thuyết lãng mạn. Người quan tâm đến những câu chuyện về tình yêu và mất mát. Người muốn tìm hiểu về bệnh Alzheimer. Lời khuyên: Nên đọc sách với tâm hồn cởi mở và sẵn sàng đón nhận những cảm xúc khác nhau. Nên tìm hiểu thêm về bệnh Alzheimer để hiểu rõ hơn về những khó khăn mà người bệnh và gia đình họ phải đối mặt. Trích dẫn: "Tình yêu là thứ duy nhất còn lại khi chúng ta đã mất tất cả." - Olivier Bourdeaut "Trí nhớ là một thứ mỏng manh, nó có thể tan biến bất cứ lúc nào." - Olivier Bourdeaut "Cuộc sống là một hành trình đầy những điều bất ngờ, hãy trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại." - Olivier Bourdeaut *** Trong khi chờ Bojangles: Một vùng La La Land Sự thật thường rẻ mạt, trừ phi nó nực cười như một lời nói dối, tôi chua xót nhận ra. Những cuốn sách Pháp luôn gợi một cảm giác nào đó vô cùng lạ lùng, như thể những nhát cắn trên chiếc bánh gato nhiều tầng mà mỗi tầng lại chứa những cảm xúc khác nhau. Nhưng điểm chung là chúng hài hòa, đầy đủ hương vị, không cô đọng hay duy ý chí. Những nụ hôn điện ảnh từng mang đến cái đẹp của góc nhìn phía sau màn trập trong những gì hối tiếc đã qua; Hẹn gặp lại trên kia xuyên suốt là nỗi buồn thương, nhưng song song cũng là cái bất cần đời, là cái ngạo nghễ ngao du theo mọi phương hướng. Và Trong khi chờ Bojangles cũng không ngoại lệ. Nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ, Olivier Bourdeaut xắn tay áo pha trộn cho độc giả một ly cocktail với đầy đủ hương vị thoang thoảng: một nỗi buồn vui, kích động, trầm lắng, xót xa trong một bút pháp tinh tế đến mức điêu tàn; và còn gì khác ngoài chờ người đọc đến thưởng? Lý do đầu tiên chọn đọc Trong khi chờ Bojangles không gì hơn ấn tượng ban đầu với bìa sách theo chủ nghĩa tối giản mô tả cặp đôi đang khiêu vũ, phía sau là máy quay đĩa than thời đệ nhị Thế chiến và những khuôn nhạc lẻ tẻ tách dòng. Hơn thế nữa, tựa đề cuốn sách nhắc nhớ đến một bài ca của Nina Simone, Mr. Bojangles trong đĩa Here Comes The Sun. Quay lại quá khứ vào năm 1965, khi bị tống vào nhà tù bang New Orleans vì một vụ ám sát trên đường phố, ca sĩ nhạc đồng quê Jeff Walker đã làm quen với một người đàn ông vô gia cư cùng ngồi trong khám. Ở đó, khi người ta kể lại câu chuyện cuộc đời cho nhau nghe, người đàn ông này đã làm bầu không khí trầm xuống khi kể về chú chó đã chết của mình. Lập tức một ai đó muốn mọi thứ vui tươi trở lại, thế là họ nài nỉ người đàn ông nọ, Mr. Bojangles – đứng lên và nhảy một điệu tap dance. Sau này Bojangles trở thành một danh từ chung ý chỉ những nghệ sĩ đường phố nhảy tap dance thường thấy trong văn hóa Mỹ, bước chân vào Hollywood và phủ rộng các làn sóng văn hóa. Điều cuốn hút hơn nữa còn là màu sắc mà bìa sách sử dụng. Như một cuốn phim âm bản giữa hai màu đen trắng được giản lược đến mức tối đa, cuốn sách như một mồi nhử khiêu khích người đọc – không cần màu mè hoa lá nhưng vẫn cuốn lấy người khác bằng vẻ huyễn hoặc. Và với Trong khi chờ Bojangles, người đọc phần nào cũng có thể phân định nó theo ba màu cơ bản: giữa trắng ngông cuồng, vui tươi; đen trầm uất, xót xa và đỏ của những vết thù hằn lại khi đến tận cùng cuốn sách. Sau khi trang cuối khép lại, chắc hẳn sẽ có ai đó nói đây là một nồi lẩu của tả pí lù mọi chuyện trên đời; nhưng chắc hẳn cũng có những người lật mở được điều gì đó giữa những tầng lớp ấy, để thấy được một tia sáng dù nhỏ mọn soi chiếu nội tâm nhẹ nhàng và thoảng hoặc như một cơn gió. * Cuốn sách kể về câu chuyện của một gia đình Pháp điển hình trong hai ngôi kể đan xen giữa bố và cậu con trai nhưng cùng hướng chung về nhân vật người mẹ. Nếu độc giả dễ dàng nhận ra tình cảm trìu mến trong những phân đoạn của bố, về những trò đùa tuổi trẻ, về tình yêu ngông cuồng; thì cậu con trai là góc nhìn vô cùng hồn nhiên, của những hờn giận, ghen tuông, của những thứ rất dễ chấp nhận khi bi kịch xảy đến. Nút thắt xoay chuyển mọi thứ có lẽ là vào ngày viên thanh tra thuế đến, và mọi thứ sụp đổ, kéo theo cơn điên của người mẹ như cơn bão chạm bờ. Tiếp sau đó là những tháng ngày chống chọi với buồn thương, của kiềm hãm cảm xúc, của tuyệt vọng đôi khi vô vọng. Như đã nói trên, Trong khi chờ Bojangles là cuốn sách tổng hòa của những hương vị, nên dẫu là ai, cuốn sách cũng khép mình đứng đó như chúng ta tự soi chiếu mình. TRẮNG Ngay câu mở đầu cuốn sách, Olivier Bourdeaut đã rào đón người đọc bước vào mảnh đất hài hước của mình bằng cách lựa chọn nhân vật độc đáo, giữa những cá nhân đầy rực rỡ tình yêu tuổi trẻ. Nếu người bố tự nhận mình như một tên hề tràn ngập hạnh phúc, với lối sống phóng túng và bất cần đời của những trò đùa với giới tư bản giàu có, dễ gợi nhắc đến Jack của Titanic; thì vợ anh, người mẹ luôn luôn chuyển động và không có một cái tên chính thức nào, sinh ra như để dành cho nhau. Gặp nhau trong một bữa tiệc vô tình, họ choáng ngợp bởi cái nhìn chếnh choáng say rượu, và ngay sau đó trở thành tình nhân sau chuyến chạy thoát thực tại trong ánh đèn đường. Mối quan hệ không đầu không đuôi ấy mang cho người đọc những tràng cười mê mải, với những chi tiết khôi hài những tưởng chỉ David Williams mới nghĩ ra được, về việc mỗi ngày đặt một cái tên, và sử dụng cái tên ấy không quá hai ngày cho người mẹ; về việc nuôi con sếu mà sau này được gán biệt danh “Quý cô thừa thãi”, về những trận cãi nhau chí chóe giữa bà mẹ và cô giáo cậu con trai… Tất cả làm nên một bầu không khí dễ chịu, vui tươi của những nhân vật kỳ lạ, đôi lúc lạ lẫm đến phi logic. Nhưng người đọc có nề hà gì. Với họ, niềm vui đọng lại đằng sau các nhân vật này mới là trên hết. Sự lãng mạn đậm chất Pháp cũng được Olivier mang vào cuốn sách này với nhạc jazz tụ hội tiệc tùng, với Nina Simone, với slow dance chậm rãi. Ở đó, vào những tối trong ngày, hai vợ chồng họ tổ chức tiệc cocktail cho đầy đủ mọi người, từ người quen thân cho đến chỉ mới gặp lần đầu. Không khí đậm chất hoài cổ mà vương giả ấy cho người đọc một sự ấm cúng giữa những cái chạm, ánh mắt, bờ môi; những cái lắc hông, chạm má tình tứ. Ngoài những nhân vật vui vẻ tràn ngập niềm vui ấy, Trong khi chờ Bojangles cũng đồng thời chứa đựng cái tinh tế mà đẹp đẽ của sự lãng mạn, rất Pháp, rất Âu châu. Nhưng gia đình nhỏ hạnh phúc ấy, những tiệc tùng nhảy múa đến đêm ấy, những chuyến đi đến thiên đường – pháo đài Tây Ban Nha ấy kéo dài không lâu, mà hồi chuông cảnh tỉnh là thời khắc cái bấm chuông của ông thanh tra thuế vang lên. Hàng tá thư dồn đống trong góc mà họ chẳng buồn mở ra, hóa ra là nguồn cơn cho sự sụp đổ manh nha này. Người bố bất ngờ trước tài sản vật chất từng thứ trôi tuột qua tay, trong khi người mẹ suy sụp đến mức cơn điên tìm đến. Cốt truyện từ khoảnh khắc này trở đi hóa thành một màu đen nhẻm, của tuyệt vọng bi thiết. Olivier như một họa sĩ lành nghề của lĩnh vực sắc độ. Ông chuyển mạch truyện êm ả như cú cua gấp trong màn đêm chuyển màu ombre đầy thời trang. Và cũng từ đây, một mùi hương khác lại được thêm vào, nghe chừng ra mùi kết thúc. ĐEN Từ bi kịch ấy, chứng rối loạn lưỡng cực như đến xâm chiếm người mẹ. Bà bị phân thân giữa những tràng cười điên dại bất tận và những trò lố của người mất trí. Bà quên sạch mọi bước khiêu vũ, cứ thể khỏa thân đi mua thức ăn, cố gắng viết sách, sơn phủ lại nhà, rồi cuối cùng đốt chính ngôi đền Pantheon thiêng liêng của cuộc hôn nhân mình. Em đã đốt tất cả các kỷ niệm của chúng ta, chỉ có cách đó họ mới không tìm ra chúng, như câu nói một hôm khi căn hộ của họ bốc cháy, còn bà mụ mị thiếp đi khi tay vẫn ôm chiếc máy quay đĩa phát bài Mr. Bojangles và con sếu mang danh “Quý cô thừa thãi”. Kể từ đó, người bố sống trong việc nhận thức rõ người mình yêu thương nhất đã không hoàn toàn như trước. Anh bình tâm an ủi cậu con trai bằng những câu sáo rỗng, rằng mọi thứ rồi sẽ ổn, rằng cả sự điên rồ này cũng thuộc về bố con ạ, rằng giờ thì đã qua hết rồi. Anh khóc ngay cả bữa sáng hay những bữa xem phim, khóc khi nhìn tấm hình cả gia đình nhỏ bé còn sót lại, khóc vào ban ngày thực sự khác lắm, vì đó là một mức độ đau buồn khác. Anh bất lực đứng nhìn người đàn bà mình yêu bị chuyển vào viện, ở tầng ba dành cho người chưa mất hẳn trí nhớ nhưng được chỉ định là không bình thường. Kể từ nay, ngày nào chúng tôi cũng phải chứng kiến cảnh mẹ nó mê sảng tại một phòng bệnh, rằng mẹ nó là một bệnh nhân tâm thần và nó phải ngoan ngoãn chờ mẹ khuất dần.  Nhưng cặp vợ chồng hoàn hảo ấy dĩ nhiên không dừng chân tại đó. Họ nuôi một kế hoạch khác để làm phong phú cuộc đời như họ vốn đã từng. Bằng cách nào? Cướp ngục bắt cóc bệnh nhân ra khỏi bệnh viện bằng lối cửa chính. Hẳn nhiên bạn không nghe nhầm, thế mới nói, Olivier là một tác gia kì lạ, ông thách thức mọi thứ logic chặt chẽ nhất, dễ thấy nhất; nhưng lạ thay, độc giả dễ dàng chấp nhận cho chính điều này. Tưởng như Catharina Ingelman-Sundberg của bộ Bà già phá luật, hai bố con họ đến giải cứu người mẹ trong viện tâm thần như cuốn phim Ba chàng ngốc. Họ rời khỏi đó, đến tòa lâu đài thiên đường của họ và sống cuộc đời như bao người muốn. Nhưng cơn điên không vì thế mà tha thứ cho họ. Người mẹ và những cơn bùng phát nhất thời, giận dữ và đập phá liên tục sau đó, dẫn đến yêu cầu tối hậu được nhốt riêng trên căn áp mái của tòa pháo đài. Người bố vì tình yêu vô bờ bến cam chịu đồng ý. Ông xoa dịu bà mỗi khi cơn điên ập đến, rồi đến một lúc, ông bế bà lên những bậc thang, lên chốn ẩn nấp dành cho cơn điên quần tụ. Cậu bé thì bịt chặt tai, chạy ra hồ nước tránh xa tiếng hét. Cơn điên như loài gặm nhấm, ăn mòn ăn dần từ trong gốc rễ, từ trong gia đình. Không ai đứng đủ gần để quan sát, mà chỉ còn đó cây thông u linh đứng riêng một mình. ĐỎ Có hai chi tiết ẩn mình khiến người đọc trăn trở mãi trong câu chuyện của Olivier. Dẹp sang đằng sau những hài hước bề ngoài, những phi logic của cuộc giải cứu; thì hình ảnh người mẹ và nước mắt lăn dài khi pháo hoa rơi mang đến một chút gì đó như nhận thức về vẻ đẹp tự hủy. Khi sự sung túc vẫn còn mới chớm, những ngày sinh nhật của bà luôn được đánh dấu bằng những tối liên hoan âm nhạc, với cocktail, rượu vang, với slow dance, đầy đủ mọi thứ. Thế nhưng khi pháo hoa tàn, bà vẫn rơi nước mắt. Có thể là bởi vẻ đẹp tàn lụi nhanh chóng hay có thể đó là khi bà đã nhận ra điều sẽ đến? Không ai biết được. Chỉ biết cũng hình ảnh ấy, trong buổi tiệc địa phương của người Tây Ban Nha khi mọi thứ lụn bại, cuộc sống sắp kết thúc; câu hát của Nina Simone lại cất lên vang vọng, giữa những đỉnh cực trị lên xuống hình sin, của ảo ảnh chòng chành, của khoảnh khắc kết thúc quá sớm. Thời khắc ấy được kéo dãn ra như thời gian nhảy lên hẫng xuống của điệu tap dance, như thời khắc tan biến của tia lửa, như cuộc đời đã đến hồi kết. He jumps so high and then he lightly touches down. Hình tượng thứ hai, cây thông ở trước hồ nước. Đối với người mẹ, trong những tháng ngày ảo ảnh vần chuyển của cơn điên loạn, đây là một trong những thứ khiến bà điên tiết đến mức đòi chặt nó đi. Không ai hiểu rõ được nguyên nhân hơn người trong cơn cuồng nộ ấy, nhưng liệu có phải vì nó đứng đơn độc trơ trụi một mình, thân phận của bà và nó như gần giống nhau? Bà muốn giải thoát nó, muốn nó phiêu diêu trên những con thuyền xuôi ngược đại dương, làm thứ có ích hơn là chỉ đứng yên đó. Còn với người bố đâm mình chán nản vào rượu mỗi tối, việc tưới rượu xuống cây thông ấy như đang mời rượu hay còn dụng ý nào khác? Liệu có âm mưu muốn phá hủy nó, biến nó thành chứng nhân cho tình yêu của ông với bà, chứng nhân cho sự hy sinh đến một đỉnh điểm vô bờ bến? Và cuối cùng khi mọi chuyện đã soi tỏ, rừng thông cũng là nơi ông trở lại, sống với bà, mặc kệ thế thái sau khi mọi thứ đã được nói rõ, mọi câu chuyện đã được kể xong. Cây thông đứng đó như sợi dây liên kết, như nỗi cô độc, như chứng nhân, như sự tan biến. * Trong khi chờ Bojangles không thiếu những điều vô lý, nhưng nếu hỏi độc giả có thể tha thứ cho nó không, e rằng câu trả lời là có. Olivier dựng lên một chuyện tình đẹp đẽ đến siêu thực, và những thứ vô lý ấy, nếu có thêm vào, chẳng qua cũng để sống trong giấc mơ tuyệt vời. Cuộc tình điên dại đầy hoang vu này đôi lúc gợi nhớ đến Mia và Sebastian trong La La Land và vẻ đẹp của sự tự hủy. Có chăng mối tương quan giữa những cuộc tình đẹp và sự kết thúc đầy trái ngoe? Không ai biết được. Nhưng với Trong khi chờ Bojangles, giọng văn kể cả của những trò đùa vỡ bụng và nỗi đau thầm kín đã hòa trộn vào nhau, làm nên tình yêu đẹp đến nghẹt thở. Với giọng văn nhẹ nhàng và sự thấu hiểu nhiều lớp cảm xúc, Olivier Bourdeaut đã viết nên một câu chuyện vô cùng đẹp đẽ, câu chuyện từ rất lâu rồi, từ sau La La Land, từ sau Bọt tháng ngày, từ sau Những nụ hôn điện ảnh độc giả mới một lần nữa lại được trải nghiệm, đắm chìm và dành một phút nhìn lại mọi thứ xung quanh.  Hết. Ngô Thuận Phát Mời các bạn mượn đọc sách Trong Khi Chờ Bojangles của tác giả Olivier Bourdeaut & Trần Thị Khánh Vân (dịch).