Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Của Phế Tích

Hoa của phế tích là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Từ câu chuyện một đôi vợ chồng trẻ tự sát vì những lí do bí hiểm mở ra một cuộc điều tra, theo đó là những bước chân lần theo những khu phố cũ, những đại lộ, những tòa nhà… đậm dấu tích của quá khứ. Giọng văn chậm rãi với những câu chữ buồn mà đẹp đến nao lòng của Modiano mang đến cho độc giả những dư âm mãi váng vất. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Buổi tối Chủ nhật tháng Mười một ấy, tôi ở trên phố Abbé-de-l’Épée. Tôi đi dọc theo bức tường lớn của Học viện dành cho người câm điếc. Bên trái là tháp chuông nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas cao cao. Tôi còn giữ kỷ niệm về một quán cà phê nơi góc phố Saint-Jacques, tôi hay đến đó sau khi xem phim, rạp Studio des Ursulines. Trên vỉa hè, lá rụng. Hoặc cũng có thể là các trang đã cháy thui của một quyển từ điển Gaffiot[1] cũ. Đây là khu phố của các trường và các tu viện. Vài cái tên cổ kính quay trở lại trong ký ức tôi: Estrapade, Conttescarpe, Tournefort, Pot-de-Fer... Tôi cảm thấy e sợ khi phải băng ngang những chốn tôi chưa từng đặt chân kể từ tuổi mười tám, hồi tôi còn hay lai vãng một trường trung học trên đồi Sainte-Geneviève[2]. Tôi có cảm giác các địa điểm vẫn cứ ở trong tình trạng mà tôi đã để chúng lại từ đầu thập niên sáu mươi, chúng bị bỏ hoang cùng quãng đó, cách đây đã hơn hăm lăm năm. Phố Gay-Lussac - cái phố im lìm ấy, nơi trước đây người ta từng dỡ đá lát và dựng chiến lũy[3] - cửa ra vào một khách sạn đã bị xây bịt lại và phần lớn cửa sổ không còn kính. Nhưng biển hiệu thì vẫn gắn ở đó, trên tường: Khách sạn Tương lai. Tương lai nào? Là tương lai, đã chấm dứt, của một sinh viên hồi những năm ba mươi, thuê lấy một căn phòng nhỏ tại khách sạn ấy, lúc vừa rời trường Sư phạm, và tối thứ Bảy thì mời các bạn học cũ đến chơi. Và họ đi vòng qua mấy khối nhà để tới rạp Studio des Ursulines xem một bộ phim. Tôi đi qua trước rào sắt và ngôi nhà màu trắng nhiều chớp cửa sổ, với rạp chiếu phim chiếm tầng trệt. Sảnh vào sáng đèn. Hẳn tôi có thể đi tiếp tới Val-de-Grâce, cái vùng yên bình ấy, nơi chúng tôi từng trốn, Jacqueline và tôi, để ông hầu tước không có cơ may gặp được nàng. Chúng tôi sống tại một khách sạn nằm đầu phố Pierre-Nicole. Chúng tôi tằn tiện với số tiền mà Jacqueline kiếm được bằng cách bán chiếc măng tô lông thú của nàng. Phố ngập nắng, vào buổi chiều Chủ nhật. Đám thủy lạp của ngôi nhà gạch nhỏ, đối diện trường Sévigné. Dây thường xuân phủ kín các ban công khách sạn. Con chó ngủ trong hành lang lối vào. Tôi đi đến phố Ulm. Nó hoang vắng. Có tự nhủ rằng vậy thì đâu có gì kỳ cục vào một tối Chủ nhật, tại cái khu phố chuyên cần và nhiều chất tỉnh lẻ này, thì tôi vẫn tự hỏi mình có đang còn ở Paris hay không. Trước mặt tôi là vòm tròn của Panthéon. Tôi sợ lại thấy chỉ có độc mình tôi, dưới chân tòa công trình cho người chết ấy, dưới ánh trăng, thế là tôi vội rẽ sang phố Lhomond. Tôi dừng lại trước trường Ái Nhĩ Lan. Một cái chuông điểm tám tiếng, có lẽ chuông của giáo đoàn Thánh Linh mà mặt tiền đồ sộ đang ở kia, bên tay phải tôi. Thêm vài bước nữa, tôi bước vào quảng trường Estrapade. Tôi tìm số 26 phố Fossés-Saint-Jacques. Một tòa nhà hiện đại, kia, trước mặt tôi. Chắc hẳn tòa nhà cũ đã bị phá đi chừng hai mươi năm về trước. Ngày 24 tháng Tư năm 1933. Cặp vợ chồng trẻ tự sát vì những lý do bí hiểm. Đúng là một câu chuyện lạ thường, những gì đã xảy ra đêm qua trong tòa nhà số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, gần Panthéon, ở nhà ông và bà T. Ông Urbain T., kỹ sư trẻ tuổi, tốt nghiệp thủ khoa trường Hóa học, cách đó ba năm lấy cô Gisèle S., hăm sáu tuổi, hơn ông một tuổi. Bà T. là một phụ nữ xinh đẹp tóc vàng, cao và thanh mảnh. Về phần chồng bà, ông thuộc típ đàn ông tóc nâu đẹp trai. Cặp vợ chồng hồi tháng Bảy vừa rồi chuyển vào sống ở tầng trệt số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, trong một cái xưởng được họ cải tạo thành nhà ở. Cặp vợ chồng trẻ rất gắn bó với nhau. Dường như chẳng mối lo lắng nào nhuốm lên hạnh phúc của họ. Tối thứ Bảy, Urbain T. quyết định cùng vợ ra ngoài đi ăn tối. Họ rời khỏi nhà vào quãng bảy giờ. Mãi khoảng hai giờ sáng họ mới về, cùng hai cặp khác. Gây ồn ào chối tai, họ đánh thức các hàng xóm vốn dĩ chẳng mấy quen thuộc với những biểu hiện ầm ĩ như vậy từ phía những người thuê nhà thông thường rất kín đáo. Chắc hẳn bữa tiệc đã có các biến cố bất ngờ. Quãng bốn giờ sáng, những người khách đi khỏi. Trong vòng nửa tiếng sau đó, vốn dĩ trôi qua trong im lặng, hai phát nổ sượng đục vang lên. Chín giờ, một hàng xóm, ra khỏi nhà, đi qua trước cửa nhà của vợ chồng T. Bà ta nghe thấy có tiếng rên rỉ. Đột nhiên nhớ đến những tiếng nổ trong đêm, bà ta thấy lo lắng nên đập cửa. Cửa mở ra và Gisèle T. xuất hiện. Máu chầm chậm chảy từ một vết thương thấy rõ dưới vú trái. Cô thì thầm: “Chồng tôi! Chồng tôi! Chết rồi”. Một lúc sau, ông Magnan, cảnh sát trưởng, tới nơi. Gisèle T. rên rỉ, nằm trên một cái đi văng. Trong phòng bên cạnh, người ta phát hiện xác chồng cô. Anh vẫn giữ chặt một khẩu súng ngắn trong bàn tay co quắp. Anh ta đã tự sát bằng một viên đạn bắn thẳng vào tim. Bên cạnh anh, một bức thư nguệch ngoạc: “Vợ tôi đã tự sát. Chúng tôi đã say rượu. Tôi tự sát đây. Đừng tìm...”.   Dường như, theo cuộc điều tra, Urbain và Gisèle T., sau bữa tối, đã đến một quán bar ở Montparnasse. Tối hôm trước, từ phố Fossés-Saint-Jacques, tôi đã đi bộ tới giao lộ nơi có quán Dôme và quán Rotonde, sau khi để lại sau lưng khu vườn Đài Thiên văn tối tăm. Vợ chồng T. hẳn đã đi theo cùng con đường như tôi, vào cái đêm năm 1933 ấy. Tôi chợt thấy mình đang ở một cái nơi mà tôi đã tránh kể từ những năm sáu mươi. Cũng như khu Ursulines, khu Montparnasse làm tôi nghĩ đến tòa lâu đài của nàng công chúa trong khu rừng ngủ. Tôi từng có cùng cảm giác ấy, hồi hai mươi tuổi, khi thuê phòng để trú vài đêm tại một khách sạn trên phố Delambre: Thời ấy Montparnasse đối với tôi đã có dáng vẻ của một khu phố sống sót sau chính nó và đang chậm rãi thối rữa, cách xa khỏi Paris. Những lúc trời mưa trên phố Odessa hay phố Khởi Hành, tôi thấy như thể mình đang ở một bến cảng vùng Bretagne, dưới làn mưa phùn. Từ nhà ga, hẵng còn chưa bị phá hủy, bốc lên những bụm không khí của Brest hay Lorient. Bữa tiệc, ở đây, đã kết thúc từ lâu. Tôi còn nhớ rằng biển hiệu của quán Jimmy’s ngày xưa vẫn còn treo trên bức tường của phố Huyghens, và nó bị rơi mất dăm ba chữ, gió ngoài khơi đã thổi tung chúng đi mất. Đó là lần đầu tiên - theo các báo hồi tháng Tư năm 1933 - cặp vợ chồng trẻ bước vào một quán ban đêm của khu Montparnasse. Họ đã hơi quá chén trong bữa tối chăng? Hoặc giả, hết sức đơn giản, họ muốn phá vỡ, dẫu chỉ trong một buổi tối, dòng chảy êm đềm cuộc đời họ? Một nhân chứng khẳng định đã trông thấy họ, quãng mười giờ tối, tại quán Café de la Marine, một sàn dancing, ở số 243, đại lộ Raspail; một người khác, ở quán cabaret tên là Isles, trên phố Vavin, đi cùng hai phụ nữ. Cảnh sát cho công bố ảnh họ nhằm kêu gọi những lời chứng rất có nguy cơ cần phải được thẩm tra kỹ vì có rất nhiều phụ nữ trẻ tóc vàng và chàng trai tóc nâu, như Urbain và Gisèle T. Trong vòng vài ngày, người ta tìm cách xác định hai cặp trai gái mà vợ chồng T. đã đưa về nhà họ, trên phố Fossés-Saint-Jacques, rồi cuộc điều tra được khép lại. Gisèle T., trước khi chết vì các vết thương, đã cất tiếng nói, nhưng những kỷ niệm của cô mơ hồ. Đúng, họ đã gặp, tại Montparnasse, hai phụ nữ, hai người xa lạ mà cô chẳng hề biết gì... Và những người đó đã lôi kéo họ tới Le Perreux, tại một sàn dancing nơi có hai người đàn ông đến với họ. Rồi họ tới một ngôi nhà, ở đó có một cái thang máy màu đỏ. Tối nay, tôi đi theo dấu chân họ trong một khu phố ủ dột được tòa tháp Montparnasse phủ tấm màn tang tóc. Trong ngày, nó che giấu mặt trời và phóng cái bóng của nó lên đại lộ Edgar-Quinet cùng các phố lân cận. Tôi để lại sau lưng quán Coupole mà người ta đang phá đi dưới một mặt tiền bằng bê tông. Tôi thấy thật khó mà tin rằng Montparnasse xưa kia từng biết đến một cuộc sống về đêm... Chính xác thì vào thời nào tôi từng sống ở cái khách sạn trên phố Delambre kia? Quãng năm 1965, khi tôi làm quen với Jacqueline và không lâu trước khi tôi lên đường đi Viên, bên Áo. Căn phòng bên cạnh phòng tôi được thuê bởi một người đàn ông trạc ba lăm tuổi, một người đàn ông tóc vàng mà tôi hay gặp trong hành lang, rốt cuộc tôi cũng bắt đầu quen biết ông ta. Tên ông ta? Cái gì đó giống như Devez hay Duvelz. Lúc nào ông ta cũng ăn vận hết sức chỉn chu và đính một huy chương trên hàng cúc áo. Nhiều lần, ông ta từng mời tôi uống một cốc, rất gần khách sạn, tại một quán bar, Rosebud. Tôi không dám từ chối, ông ta có vẻ rất thích nơi đó. - Ở đây tuyệt quá... Ông ta nói giọng nhiều âm răng, giọng của một người con nhà gia giáo, ông ta đã kể với tôi là ông ta từng ở hơn ba năm “vùng bưng biền”[4] và tại đó, ông ta đã kiếm được tấm huy chương kia. Nhưng cuộc chiến tranh Algérie khiến ông ta thấy lộn mửa. Ông ta đã cần rất nhiều thời gian thì mới hồi phục được từ đó. Ông ta sắp sửa kế tục bố ông ta làm chủ một doanh nghiệp dệt sợi lớn trên miền Bắc. Rất mau chóng, tôi nhận ra rằng ông ta không nói cho tôi sự thật: Về “doanh nghiệp dệt sợi” ấy, ông ta luôn luôn mơ hồ. Và ông ta tự nói ngược với chính mình, một hôm khẳng định với tôi là từng tốt nghiệp trường Saint-Maixent, ngay trước khi sang Algérie, rồi, tới hôm sau, rằng ông ta đã hoàn toàn học bên Anh. Đôi khi, cái giọng đầy âm răng của ông ta nhường chỗ cho giọng đớt của một kẻ bán hàng rong. Chắc cần phải có chuyện tôi bước đi, tối Chủ nhật ấy, trong khu Montparnasse, thì cái tay Duvelz - hay Devez - kia mới có thể đột nhiên hiện ra từ hư vô như thế. Một hôm, tôi còn nhớ, chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trên phố Rennes, và ông ta đã mời tôi một bốc bia - như ông ta nói - tại một trong những quán cà phê thuộc giao lộ Saint-Placide buồn thảm. Quán cabaret tên Isles, trên phố Vavin, nơi hẳn người ta phải để ý thấy sự hiện diện của cặp vợ chồng, chiếm tầng hầm của tiệm Vikings. Bầu không khí đậm màu sắc Scandinavia cùng gỗ ốp tường sáng màu của Vikings trông thật tương phản với cái quán rượu nhọ nhem ấy. Chỉ cần đi xuống hết cầu thang: Từ những ly cocktail và các món nhẹ Na-uy ở tầng trệt, người ta sục thẳng vào giữa những điệu nhảy Martinique. Có phải vợ chồng T. đã gặp hai người phụ nữ ở đó? Tôi có cảm giác phải là tại Café de la Marine, đại lộ Raspail, về phía Denfert-Rochereau. Tôi còn nhớ căn hộ nơi Duvelz từng dẫn chúng tôi, Jacqueline và tôi, đến, cũng nằm ở đầu đại lộ Raspail đó. Cả lần ấy nữa, tôi cũng không dám từ chối lời mời của ông ta. Trong vòng gần một tuần, ông ta đã nằn nì cả hai chúng tôi một tối thứ Bảy nào đó cần phải tới nhà một người bạn gái của ông ta, ông ta rất muốn giới thiệu chúng tôi với người ấy. Bà mở cửa cho chúng tôi và, trong bóng tối lờ mờ của tiền phòng, tôi không nhìn rõ khuôn mặt bà. Phòng khách lớn, nơi chúng tôi bước vào, khiến tôi choáng váng vì vẻ xa xỉ của nó, chẳng hề tương hợp với căn phòng nhỏ của Duvelz, trên phố Delambre. Ông ta ở đó. Ông ta giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã quên mất tên bà: Đó là một phụ nữ tóc nâu đường nét hài hòa, một bên mặt, ở đoạn gò má, có vết sẹo lớn. Chúng tôi, Jacqueline và tôi, ngồi xuống trường kỷ. Duvelz và người phụ nữ, trong phô tơi, đối diện với chúng tôi. Chắc bà khoảng ba lăm, cùng độ tuổi với Duvelz. Bà tò mò nhìn chúng tôi. - Em có thấy họ thật duyên dáng không, cả hai?, Duvelz hỏi, bằng giọng nói nhiều âm răng của mình. Bà chăm chăm nhìn chúng tôi. Bà hỏi chúng tôi: - Hai người có muốn uống gì không? Giữa chúng tôi xuất hiện một quãng ngại ngần. Bà rót rượu porto mời chúng tôi. Duvelz uống một ngụm lớn. - Thoải mái đi, ông ta nói. Đây là một người bạn lâu năm... Bà ném về phía chúng tôi một nụ cười rụt rè. - Thậm chí chúng tôi từng đính hôn với nhau. Nhưng cô ấy đã phải lấy người khác... Bà không hề nhíu mày. Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi, tay cầm ly rượu. - Chồng cô ấy hay đi vắng... Chắc chúng ta có thể tận dụng điều đó để đi chơi chung cả bốn người... Các bạn nghĩ sao? - Đi chơi đâu? Jacqueline hỏi. - Nơi nào các bạn muốn... Thậm chí chúng tôi còn không có nhu cầu ra ngoài. Ông ta nhún vai. - Ở đây thật hay... Phải không? Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi. Bà châm một điếu thuốc lá, có lẽ để che giấu sự căng thẳng. Duvelz đã lại làm thêm một ngụm porto nữa. Ông ta đặt ly của mình lên cái bàn thấp, ông ta đứng dậy và bước về phía bà. - Cô ấy thật xinh đẹp, phải không? Ông ta đưa ngón tay trỏ lướt trên vết sẹo ở má. Rồi ông ta cởi cúc cái áo của bà và vuốt ve hai vú. Bà không hề động cựa. - Hồi trước chúng tôi đã gặp một tai nạn ô tô rất nghiêm trọng, ông ta nói. Bà hất tay ông ta ra bằng một động tác dữ tợn. Bà lại mỉm cười với chúng tôi. - Chắc hai người đói rồi... Giọng bà trầm và thoáng có âm sắc nước ngoài, dường như vậy. - Anh có thể giúp em mang bữa tối vào đây không? bà hỏi ông ta, giọng khá xẵng. - Tất nhiên rồi. Họ đứng dậy, cả hai. - Toàn đồ lạnh thôi, bà nói. Hai người thấy có được không? - Rất được, Jacqueline đáp. Ông ta đã choàng tay quanh vai bà và kéo bà ra khỏi phòng khách, ông ta thò đầu qua khe cửa mở. - Các bạn có thích sâm banh không? Ông ta đã đánh mất cái giọng nhiều âm răng. - Rất thích, Jacqueline đáp. - Có ngay đây. Chỉ còn lại chúng tôi trong phòng khách, vài phút, và tôi dồn hết nỗ lực ký ức để tập hợp lại càng nhiều chi tiết càng tốt. Những cửa sổ bệ thấp nhìn xuống đại lộ mở hé vì trời nóng. Đó là số 19 đại lộ Raspail. Năm 1965. Một cây đàn piano loại có đuôi đặt tận về cuối phòng. Trường kỷ và hai phô tơi đều làm bằng cùng một thứ da màu đen. Cái bàn thấp, bằng kim loại dát bạc. Một cái tên như là Devez hay Duvelz. Vết sẹo trên má. Cái áo bị cởi cúc. Một làn ánh sáng rất rực của đèn chiếu, hay nói đúng hơn là của đèn pin. Nó chỉ rọi sáng một mảnh nhỏ của décor, một giây phút đơn lẻ, mà để những gì còn lại trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được đoạn sau các sự kiện và nói cho đúng thì hai người kia là ai. Chúng tôi lẻn ra khỏi phòng khách và, thậm chí còn không khép cửa lại, chúng tôi đi xuống cầu thang. Lúc nãy, chúng tôi đã dùng thang máy để lên, nhưng nó không màu đỏ, giống cái thang máy mà Gisèle T. từng nhắc đến. Mời các bạn đón đọc Hoa Của Phế Tích của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Quỷ Cái Vận Đồ Prada - Lauren Weisberger
Khi Andrea Sachs đặt chân lên văn phòng lộng lẫy của tờ Runway, cô không biết gì hết. Không biết tới tờ tạp chí thời trang nhất của thế giới, hay nữ Tổng biên tập được sợ hãi và tâng bốc quá đáng của nó, Miranda Priestly. Rồi cô sẽ biết quá nhiều. Và đây, chính là thế giới của đồ hiệu đỉnh cao, nơi những tên "Prada! Armani! Versace!" được vang lên mọi lúc mọi nơi, rồi những bữa tiệc thời thượng, những chuyện hậu trường của giới sành điệu, những gì nối kết sắc đẹp với hình ảnh báo chí, và trên tất cả, một bà chủ khiến người ta mệt mỏi đang thống trị bên trên toàn bộ cỗ máy của Runway, nơi vừa là thiên đường vừa là địa ngục cho các cô gái thích ăn diện đang tìm đường lập thân trong những cao ốc kiêu kỳ của Mahattan. Quỷ cái vận đồ Prada, tác phẩm đầu tay của Lauren Weisberger sau quãng thời gian làm việc cho Vogue Mỹ - một cuốn sách nhẹ nhõm vui tươi về thế giới hào nhoáng đã tìm ra được công thức hấp dẫn để giải trí cho hàng triệu thanh niên đô thị, và trở thành một hiện tượng vang dội của ngành xuất bản thế giới khi liên tục sáu tháng liền đứng trong danh sách bán chạy nhất của The New York Times. *** “Tuyệt diệu, một cái nhìn sáng suốt vào thế giới của các tạp chí và thời trang.” – Red “Kể từ thời hoàng kim của Sex and the City chưa có câu chuyện nào nắm bắt được tinh thần của các quý cô như vậy.” – Harper & Queen “Tươi mát, thấu suốt và thật là Sex and the city! Bạn phải lao tới hiệu sách mà mua cho được một cuốn như thể đó là đồ Prada giảm giá một nửa.” – Company “Một câu chuyện hài hước, vui nhộn… Văn học cho giới sành điệu.” – People “Viên ngọc nhỏ này đã kết hợp vẻ duyên dáng của Sex and the City với chất dí dỏm sắc bén của New York.” – Red “Một cuốn sách kỳ diệu khiến bạn không thể đặt xuống.” – The Sun “Một cuốn tiểu thuyết dí dỏm và lắm chuyện bậc nhất.” – Publisher Weekly “Một món trang sức không thể thiếu của mùa sách năm nay.” – Rocky Mountain News *** Đèn giao thông ở ngã tư đường 17 cắt Broadway chưa kịp chuyển hẳn sang màu xanh thì cả một bầy taxi vàng vênh váo đã vượt qua tôi, trong khi tôi gây ùn tắc cả làn đường bên phải bằng cái bẫy giết người mà tôi phải lái đi khắp phố phường New York. Đạp côn, nhấn ga, vào số (từ mo vào số một hay từ số một lên số hai?) Nhả côn, tôi lẩm nhẩm quy tắc thần thánh ấy cả chục lượt, song giữa đám xe cộ đan như mắc cửi buổi trưa cây thần chú này chẳng giúp gì được. Chiếc ôtô lồng lên hai bận như con ngựa bất kham, để rồi tiếp đó ngật ngưỡng như con thỏ què qua ngã tư. Tim tôi nhảy thình thịch trong ngực. Đột ngột xe thôi ngật ngưỡng và chuyển động trơn tru. Trơn như bôi mỡ. Tôi liếc nhanh xuống xem có đúng là vẫn đang số hai, và khi ngẩng lên thì mũi xe đã gí sát đuôi chiếc taxi vàng phía trước, làm cho tôi không còn cách nào khác ngoài việc nghiến răng đạp trí mạng lên bàn phanh và gãy quặp gót giày. Khốn nạn! Lại một đôi giày 700$ đi tong vì sự vụng về của tôi – đôi thứ ba trong tháng này rồi. Tôi nhẹ cả người khi thấy động cơ chết nhóm (hình như trong lúc đạp cú phanh cứu mạng thì đáng lẽ tôi phải đạp cả côn mới đúng). Giờ thì tôi có mấy giây đồng hồ, đủ để thong thả tháo đôi Manolo quẳng lên ghế phụ, trong khi xung quanh tôi inh ỏi tiếng còi xe và rào rào những cây quát chửi tục tĩu. Lấy gì chùi bàn tay đẫm mồ hôi bây giờ, ngoài cái quần Gucci bó chặt người đến nỗi máu hết đường chảy, và chỉ riêng chui được vào rồi cài đến chiếc khuy trên cùng không khác gì đánh vật. Những ngón tay quẹt thành từng vệt kinh tởm trên lớp da lộn mềm như nhung. Tôi phải làm hơi thuốc thôi, không thì khó mà đưa nổi cái xe mui trần 84.000$ này lành lặn qua khỏi ma trận của Mahattan đúng vào giờ nghỉ trưa. “Biến nhanh đi được không chị gái!” Một tay lái xe trông rất bụi với túm lông ngực thò qua cổ may ô ba lỗ. “Hay là chị gái tưởng đây là bãi học lái xe? Biến!” ... Mời các bạn đón đọc Quỷ Cái Vận Đồ Prada của tác giả Lauren Weisberger.
Mùa Hè Định Mệnh - Karen Robards
Mùa Hè Định Mệnh Chuyện học trò yêu cô giáo, một chuyện xưa như trái đất, nhưng không phải lúc nào cũng cũ. Johnny Harris, cậu học trò thuộc tầng lớp đáy cùng của xã hội, bất cần, ngang ngạnh và cô độc. Một mùa hè, cậu bất ngờ bị bắt vì tội hiếp dâm và giết chết người bạn gái và phải thụ án 10 năm… Cô giáo Rachel Grant hơn cậu năm tuổi, đẹp tựa một thiên thần mong manh, lớn lên trong một gia đình giàu có và gia giáo. Tình yêu và lòng tâm huyết với nghề khiến cô tin cậu học trò của mình không bao giờ phạm một tội ác khủng khiếp như thế. Ngay cả khi cậu đã ra tù, với một vẻ ngoài bụi bặm, khắc nghiệt và một miệng lưỡi sỗ sàng pha chút cay đắng, cô vẫn gồng mình bảo vệ cậu trước ánh mắt hà khắc của những người xung quanh. Nhưng, 10 năm trôi qua, có ai ngờ cậu học trò lặng lẽ cô độc ngày xưa giờ lại trở nên xấc xược, ngang tàng và… quyến rũ đến chừng ấy… Có ai ngờ cậu đã tôn thờ và thầm yêu cô trong suốt ngần ấy năm, và khát khao có được cô đến cháy lòng cháy dạ. Có ai ngờ trong Mùa hè định mệnh này, cô đã tự nguyện bước ra khỏi thế giới hoàn hảo của mình để đặt chân vào cuộc tình mạo hiểm với cậu học trò năm xưa… Mùa hè định mệnh nằm trong Top 100 tiểu thuyết lãng mạn hay nhất thế kỷ do độc giả The Romances Reader bình chọn. Tác giả: Karen Robards (sinh ngày 24/8/1954 tại Louisville, Kentucky, Hoa Kỳ) là một trong những tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn lịch sử hay nhất theo bình chọn của New York Times, USA Today và Publishers Weekly với hơn bốn mươi tiểu thuyết đặc sắc được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bà cũng là chủ nhân của nhiều giải thưởng có giá trị từ Romantic Times hay Affaire de Coeur. *** Kể từ buổi bình minh kinh hoàng đó, Rachel Grant không thể chịu đựng được mùi hoa của cây bụi mùa hè [1] nữa. Thật mỉa mai là đúng vào lúc này, mùi hương đó dường như đang khiến cô ngột ngạt đến khó thở. [1] Nguyên văn: “summersweet” - loài cây bụi sống phía nam và phía đông bờ biển nước Mỹ, có những chùm hoa màu trắng rất thơm. Cô đang đứng trên con đường oi ả trước trạm xe bus ở Greyhound để đón Johnny Harris về nhà. Johnny Harris, cậu học trò ngỗ ngược mà cô đã dạy môn tiếng Anh ở trường cấp ba cách đây nhiều năm. Johnny Harris, đứa con trai nghênh ngang của một kẻ bất hảo trong vùng. Người ta chỉ mong ông ta cư xử với thằng bé như một người bố nhưng thực chất ông ta còn tệ hơn thế rất nhiều. Johnny Harris bị kết án giết người và bị buộc tội cưỡng hiếp một cô gái mười bảy tuổi trong nhóm cổ vũ ở trường cấp ba cách đây mười một năm. Hôm nay, với sự giúp đỡ của cô, Johnny Harris sẽ về nhà. Tiếng động cơ đập vào tai cô trước khi xe bus xuất hiện trong tầm mắt. Rachel căng thẳng, liếc xung quanh xem có ai đang nhìn mình không. Bob Gibson, nhân viên bán vé, trông chẳng khác nào một vết mờ đằng sau ô cửa kính phía trước trạm xe bus vốn là một nhà kho của Tylerville. Jeff Skaggs – mới tốt nghiệp cấp ba tháng Năm vừa rồi và bây giờ làm việc ở cửa hàng 7-Eleven – đang thả tiền xu vào máy bán Coke tự động ở hông tòa nhà. Nhìn qua chiếc xe tải nhỏ đang đỗ của anh ta, cô phát hiện ra bụi cây mùa  hè với những chiếc lá màu xanh lục sáng lấp lánh và những bông hoa trắng tinh. ... Mời các bạn đón đọc Mùa Hè Định Mệnh của tác giả Karen Robards.
Nụ Hôn Trốn Tìm - Suzanne Brockmann
..."Leila Hunt trở về thị trấn Sunrise Key, nằm tách biệt trên một hòn đảo nhỏ yên bình, xinh đẹp; nơi chôn rau cắt rốn của cô để đón mừng năm mới với anh trai trong tâm trạng chán chường vì Elliot Tillis, hôn phu tương lai của cô, một chuyên gia tài chính giàu kinh nghiệm, chỉ biết kiếm tiền, vẫn đang mê mải với dự án tại New York. Thêm vào đó, Leila không đủ can đảm chấm dứt mối quan hệ ấy để rồi phải mạo hiểm đi tìm tình yêu đích thực chẳng biết đang ở tận phương nào. Rắc rối hơn nữa, tại đây, Leila sẽ phải chung một mái nhà với kẻ thù không đội trời chung, Marshall Delvin, chàng bác sĩ duy nhất của đảo, bạn thân Simon – anh trai cô, vì nhà Marshall bị cháy rụi sau một vụ hỏa hoạn. Thế nhưng nàng Lọ Lem Leila không thể ngờ rằng ngay đêm đầu tiên về đảo cô đã bị đánh cắp nụ hôn ngọt ngào đến mê đắm tù một chàng ninja giấu mặt trong bữa tiệc hóa trang chào năm mới do anh trai tổ chức. Chỉ một nụ hôn thôi nhưng cô biết đó chính là nụ hôn của đời mình và nhận ra cảm xúc bấy lâu bị chôn kín. Leila bắt đầu hành trình tìm kiếm nhân dạng chàng ninja của mình, cho dù như thế cũng có nghĩa cô phải đi hôn từng người trong bốn chàng ninja cải trang tại đêm tiệc. Marshall đã yêu thầm Leila từ lâu, nhưng anh che giấu tình cảm đó dưới những lời trêu chọc luôn làm Leila cáu tiết. Marshall phải làm gì khi buộc phải chứng kiến người con gái mình yêu hôn hết người đàn ông này đến người đàn ông khác? Còn Leila sẽ ra sao khi cả bốn chàng ninja đó chẳng là người cô cần tìm? Điều gì sẽ xảy ra khi cả Marshall lẫn Simon đều đã biết sự thật ngay từ những phút đầu giúp Leila lập kế hoạch? Leila cảm thấy như thế nào khi phát hiện cô kẻ ngốc duy nhất không biết sự thật ấy? Liệu tình cảm ngày càng sâu đậm với Marshall có đủ mạnh để Leila tha thứ cho anh, hay hướng đến một cuộc sống chung nơi thị trấn nhỏ bé, tù túng với những con người tò mò, tọc mạch, thích buôn chuyện mà cô đã mất cả chục năm trời để thoát khỏi?"... Ngập tràn các cung bậc cảm xúc từ tức giận, ngạc nhiên tới hạnh phúc, đam mê… Nụ hôn trốn tìm một lần nữa chứng minh rằng, không có gì có thể ngọt ngào và lôi cuốn hơn cảm giác yêu và được yêu trả lại. Cuốn sách hài hước, dí dỏm mà không kém phần sắc sảo, tinh tế này sẽ mang tiếng cười đến cho độc giả và lý giải tại sao không thể bỏ lỡ tình yêu với các tiểu thuyết lãng mạn ngọt ngào. Nếu đây là lần đầu độc giả tiếp xúc với tác phẩm của Suzanne Brockmann, cuốn sách có thể khiến họ trở thành một fan hâm mộ, luôn ngóng chờ các tác phẩm mới của bà. Suzanne Brockmann đã đạt được rất nhiều giải thưởng, trong đó có hai giải RITA, giải cống hiến của Romantic Times, giải tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn được yêu thích nhất tại Mỹ… Hơn 51 tác phẩm của bà đã được xuất bản và rất nhiều trong số chúng được xếp vào hàng best seller. Bà được xem như một trong các tác giả có tầm ảnh hưởng lớn trong giới viết tiểu thuyết lãng mạn. Những tác phẩm của Suzanne Brockmann sẽ được Thái Uyên xuất bản gồm: Kiss And Tell (Nụ hôn trốn tìm), The Kissing Game, Body Language, Frisco’s kid… *** Leila Hunt nhìn đăm đăm vào tấm gương dưới chân cầu thang, và nàng Cinderella chẳng buồn nhìn đáp lại. Thật xấu hổ làm sao, bởi Leila đang ăn vận như Cinderella - từ bộ tóc giả vàng óng tiệp màu với mái tóc quăn cắt ngắn cho tới chiếc áo dạ hội màu trắng ngà lộng lẫy ôm sát thân hình cao và mảnh dẻ, buông rủ xuống đôi giày thủy tinh duyên dáng cô đang đi ở chân. Thực ra, chúng làm từ plastic. Nhưng giống như đôi giày của nàng Cinderella trong cổ tích, chúng vừa như in với chân Leila.   Bất chấp tất thảy những thứ đó, trông Leila vẫn chẳng thể giống Cinderella. Cô xăm soi mình trong gương, tự hỏi lí do đích xác là gì.   Có lẽ bởi cô không có vẻ kiêu sa như nàng công chúa trong truyện cổ tích thường kể. Gương mặt cô hơi quá lanh lợi, hơi giống hình trái tim. Mũi hếch, cằm lại hơi nhọn, khiến cô có vẻ tinh nghịch. Không, từ đó chưa chính xác. Cô quá cao để hợp với từ tinh nghịch. Tinh nghịch đi đôi với nhỏ nhắn, và với chiều cao gần một mét tám cô đã không còn bé nhỏ từ lúc bước vào tuổi vị thành niên.   Cái cô nhìn thấy là vẻ tự đắc. Ôi chao, Leila ghét từ đó.   Cô lại gần gương hơn và cố thay bằng vẻ gợi cảm. Cố làm như mình đang nắm giữ một bí mật trọng đại. Cô thử mỉm cười ra vẻ bí ẩn, chu môi về phía trước một chút. Nụ cười chỉ làm cô trông ranh mãnh. Ranh mãnh một cách nghịch ngợm - giống Peter Pan hơn một nàng công chúa.   Leila quay khỏi gương với tiếng thở dài. Cô vẫn chưa rõ vì sao cô cảm thấy bất an khi rời New York cùng lời nhắn của Elliot ở sân bay báo rằng anh vẫn chưa thể tới Florida cùng cô được.   Giờ cô đang ở noi đây, trở về Sunrise Key, thị trấn quê nhà, phục trang giống nàng Cinderella, như thể hi vọng rằng ở đâu đó ngoài kia, trên sàn nhảy mà anh trai Simon đã thuê, một chàng bạch mã hoàng tử đang đợi cô.Cô nhìn quanh phòng. Một chàng Batman và một anh hề thu lu trong góc. Vua Henry VIII, tay cầm đùi gà quay, ngồi cạnh một thầy phù thủy. Chẳng có chàng hoàng tử nào hết.   Leila đi qua cánh cửa kiểu Pháp ra sân sau, nơi hầu hết khách của Simon đang khiêu vũ dưới mái bạt trong tiếng nhạc sôi động phát ra từ bốn chiếc loa lớn.   “Nom em thật xinh đẹp,” một giọng nói cất cao để át tiếng nhạc vang lên ngay tai cô. “Chiếc áo đó hợp với em đấy,”   Leila có thể nhận ra chất giọng Anh Quốc đặc trưng ấy ở bất cứ đâu. Đó là bác sĩ Marshall Devlin. Bác sĩ Marshall cao ngạo, kẻ cả, bạn chí thân của ông anh trai phiền nhiễu, Devlin với giọng Anh đặc sệt. ... Mời các bạn đón đọc Nụ Hôn Trốn Tìm của tác giả Suzanne Brockmann.
Mơ Về Phía Anh - Ngải Mễ
Mơ về phía anh là tác phẩm được chờ đợi của Ngải Mễ - tên tuổi đã nổi tiếng với tiểu thuyết Chuyện tình cây táo gai được đạo diễn Trương Nghệ Mưu chuyển thể thành phim. Nếu như Chuyện tình cây táo gai là câu chuyện tình yêu thuần khiết, trong sáng nhất thì Mơ về phía anh nói về khát vọng tình dục chân thực nhất. Mơ về phía anh là câu chuyện về Hạ Phiêu – cô gái Trung Quốc sống ở Mỹ từ năm 16 tuổi. Trải qua không ít những trắc trở, thất bại trong tình yêu, để rồi đến năm 30 tuổi, cô nhận thấy cuộc sống của mình dường như đã không còn tình yêu. Yêu cầu của “cô” đối với “anh” đã rơi xuống mức: “Đàn ông, tuổi dưới bốn mươi, không có vợ”. Tình cờ, một ngày kia, tại một ngôi biệt thự bên hồ đẹp như tranh vẽ, Hạ Phiêu gặp được một giáo sư người Hoa của “Học viện Khổng Tử”. “Già, thấp bé, hói đầu”- đó là những tưởng tượng ban đầu của cô về anh. Nhưng khi anh đứng trước mặt cô, cô sững sờ! Người đàn ông đó quá đẹp trai! Hơn nữa, anh ta lại có nụ cười mê hồn! Rồi cô yêu anh, cả ngày chỉ nghĩ đến anh, dành trọn tình cảm cho anh. Thế nhưng, liệu cô có phải là người đàn bà si tình đang tự lừa dối mình? Em đã từng yêu một người, anh ấy là loài hoa sen, đứng nhìn từ xa thấy “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Em có thể ngửi thấy mùi hương thơm ngát từ đằng xa, từng bước bị cám dỗ bởi hương thơm ấy. Em lại gần, và rồi… chỉ nghe một tiếng “Tòm”, cả người đã rơi xuống dưới ao. Mơ về phía anh thể hiện sự biến hóa trong cách viết cũng như trong tư tưởng của Ngãi Mễ, khiến đa số độc giả bất ngờ bởi những trang viết về tình dục trong truyện. Phản ảnh khát khao thể xác của người phụ nữ thế hệ mới nhưng không dứt bỏ kiểu tình cảm lí tưởng, vì thế, mặc dù khiến nhiều người bị sốc vì đi quá xa khỏi những quan niệm truyền thống nhưng Mơ về phía anh vẫn thu hút được đông đảo độc giả bởi sức hấp dẫn của câu chuyện táo bạo và lãng mạn. *** Chật chội.   Giống như những con cá thu bị đóng hộp? NO! NO!   Những con cá thu đóng hộp còn được đặt nằm ngang trong hộp, nhưng trên xe buýt, đám người chen chúc kia đều là đứng thẳng, giống một cái hộp tăm bị mở tung ra thì đúng hơn.   Những cái đầu đen sì che hết cả cửa sổ xe, có muốn cũng chẳng thể nhìn thấy quang cảnh bên ngoài, chiếc xe buýt dường như đang lăn bánh trong màn đêm đen kịt.   Cùng với những cái nghiêng và lắc của xe buýt, các hành khách trong xe cũng nghiêng và lắc lư theo. Xe rẽ về bên trái, quẹo sang bên phải, tiến về phía trước… thỉnh thoảng có người bị ai đó giẫm phải chân. Nếu người bị giẫm chân là đàn ông, lập tức trong xe sẽ vang lên tiếng chửi mẹ của kẻ vừa thực hiện hành động “giẫm chân” đó. Sau đó sẽ là tiếng “bật lại” của kẻ vừa bị chửi.   Ngực của phụ nữ bị “chà xát”, mông bị “đè ép”, nhưng không có ai réo tên của mẹ cái kẻ thực hiện các hành động ấy ra mà chửi cả.   Tại sao ư? Bởi vì phụ nữ không có quyền “chửi bậy”. Nếu như có một bà hay cô nào đó dám réo tên người ta ra mà chửi, lập tức sẽ khiến cho “dư luận” trong xe bất bình: “Đàn bà mà cũng chửi bậy à? Thật là không biết xấu hổ!”   Đàn ông bị giẫm phải chân có thể công khai phẫn nộ. Đàn bà bị đè ngực, ép mông lại phải câm lặng nhịn nhục. Ngực của ai bị đè, đó là nỗi sỉ nhục của người đó. Nếu mà mở mồm kêu la thì sẽ càng nhiều người biết, mà càng nhiều người biết thì nỗi nhục càng lớn. Không ca thán thì sẽ không có ai biết, mà không có ai biết thì đồng nghĩa với việc chẳng có chuyện gì xảy ra hết. ... Mời các bạn đón đọc Mơ Về Phía Anh của tác giả Ngải Mễ.