Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thiên Sứ Tử Thần - Linda Howard

Thiên Sứ Tử Thần Cô - Drea - là nhân tình của một tên trùm buôn ma túy, rất biết cách dùng thân xác để quyến rũ và lợi dụng đàn ông. Còn gã - Simon - là một sát thủ máu lạnh, giết người vì tiền và chưa bao giờ mắc sai lầm. Cảm xúc của cô với gã như những cơn sóng nghịch chiều: vừa hạnh phúc tràn trề sau bốn tiếng đồng hồ hoan lạc, vừa đau đớn bẽ bàng khi bị gã bỏ rơi, lại vừa kinh hoàng tột độ khi bị gã truy lùng trên con đường trốn chạy. Vậy mà sợi dây liên kết vô hình giữa họ đã đưa đến những biến chuyển kỳ diệu trong đời. Những xúc cảm tưởng như thoáng chốc đã trở thành vĩnh viễn. Hai con người, vốn chẳng tốt đẹp, bỗng trở nên khát khao hướng thiện, khát khao được chia sẻ, yêu thương… “Khi gã chạm vào cô, cô thấy tràn ngập tình yêu thương - Drea Rousseau - người chưa bao giờ được quý mến trong cuộc đời, chưa bao giờ được yêu, được trân trọng. Cảm nhận trọn vẹn rằng mình được gã nâng niu, rằng gã quan tâm tới nhu cầu tình cảm, mong muốn, sở nguyện của mình, điều đó vượt quá xa những gì cô có thể tưởng tượng.” “Vì yêu Drea, gã sẵn sàng từ bỏ nghề đâm thuê chém mướn. Vì yêu Drea, gã đã cố gắng mở lòng với cô, để cô bước qua bức tường ngăn cách gã với cả thế giới. Gã vốn thích cô độc trong cái kén của riêng mình, nhưng vì cô, gã không ngại thoát ra, một cách mãnh liệt, để sống phần đời còn lại, chấp nhận bị phơi bày và tổn thương.” *** Linda Howard tên thật là Linda S. Howington. Cô sinh ngày 3/8/1950 tại tiểu bang Alabama thuộc miền Nam Hoa Kỳ. Cô là một trong những tiểu thuyết gia thuộc trường phái lãng mạn nổi tiếng thế giới. Các tác phẩm của cô thường xuyên lọt vào danh sách những cuốn sách bán chạy nhất do tạp chí New York Times bình chọn. Năm 2005, cô đạt giải Career Achievement Award - giải thưởng dành cho các tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn xuất sắc nhất. *** Tác phẩm tiêu biểu: Sắc màu của hoàng hôn Cầu vồng lúc nửa đêm Vịnh tình yêu White Lies - Bản giao hưởng ngọt ngào The way home - Đường về nhà... *** Thành phố New York "Làm khá lắm," Rafael Salinas uể oải nói với gã sát thủ đang đứng phía bên kia căn phòng, gần cửa ra vào. Gã không thích sán lại gần ai, hoặc là gã chẳng tin tưởng gì Salinas và muốn chừa cho mình một đường thoát phòng khi cuộc đàm phán xấu đi - dù gì gã cũng là kẻ thông minh cả. Những kẻ cảnh giác với Salinas thường có nhiều cơ hội sống sót hơn những kẻ tin tưởng hắn. Cô nàng Drea Rousseau đang cuộn mình bên cạnh Salinas, chẳng cần quan tâm lý do của gã sát thủ, miễn nó giữ gã cách cô xa xa một chút.Gã khiến cô ớn lạnh, cái kiểu dường như không bao giờ chớp mắt của gã. Trong lần chạm trán trước đây, gã rõ ràng không ưa sự có mặt của cô. Gã chĩa cái nhìn trừng trừng vào cô lâu đến nỗi cô tự hỏi liệu có phải tên sát thủ này có thói quen khử những ai nhận ra mình. Tất nhiên trừ những người thuê gã ra, và thậm chí tên này cũng xử họ luôn sau khi tiền được chuyển đến tay an toàn, hoặc trong tài khoản, hoặc bất kỳ cách nào mà các sát thủ nhận được thù lao. Drea chẳng biết tên gã, mà cô cũng chẳng muốn biết, bởi trong khi người ta vẫn tin sự thật sẽ đưa bạn đến tự do, thì cô nghĩ trong trường hợp này nó có thể chỉ đưa đến chỗ chết mà thôi. Cô coi gã như một trong số những sát thủ của Rafael, nhưng thực tế gã không phải là một tay sai bình thường mà là kẻ hành nghề tự do, làm cho bất kỳ ai đủ tiền trả gã. Ít nhất đây là lần thứ hai, như cô biết, Rafael chấp nhận giá đó.Để tránh không nhìn vào gã và không cho cái nhìn chòng chọc đáng sợ đó bủa vây lấy mình lần nữa, cô chán nản săm soi lớp sơn màu hồng tím trên móng chân. Cô vừa mới sơn sáng nay, tưởng rằng chúng sẽ nổi bật trên bộ đồ lụa màu kem cô đang mặc, nhưng cái sắc tím này thành ra quá lòe loẹt. Đáng ra cô nên chọn màu hồng nhạt, hoặc một màu gì đó phơn phớt và gần như trong suốt để tôn bộ đồ lên. Cũng chẳng sao, lần sau sẽ rút kinh nghiệm.Khi gã sát thủ không thèm đáp lời, cũng chẳng vội xum xoe rằng mình rất vinh dự được làm việc cho Rafael như những kẻ khác, những ngón tay Rafael bắt đầu gõ gõ một cách mất kiên nhẫn lên đùi. Hắn thường bồn chồn như vậy mỗi khi không thoải mái, một cử chỉ dễ đoán, ít nhất đó là theo Drea để ý. Cô luôn để ý kỹ càng mọi tâm trạng, mọi thói quen của hắn. Không hẳn là hắn sợ, nhưng hắn, cũng như gã kia, đang rình mồi, điều đó có nghĩa là có hai con cáo già đang cùng ở trong căn phòng này. "Ta muốn thưởng thêm cho anh," Rafael ướm lời. "Một trăm ngàn đô. Anh thấy sao?"Dù chẳng ngước lên, nhưng Drea nhanh chóng phân tích lời đề nghị và hàm ý của nó. Cô đã học cách để không bao giờ quan tâm tới các phi vụ làm ăn của Rafael, thỉnh thoảng hắn hỏi cô vài câu vu vơ nhưng thật ra là có chủ đích thì cô luôn giả vờ mình chẳng hiểu hắn đang nói gì. Và thế là, Rafael chẳng hề cảnh giác với cô như đáng ra phải thế. Đối với hắn, cô chẳng thèm để tâm tới bất kể điều gì không ảnh hưởng trực tiếp đến mình. Hẳn cô chẳng quan tâm chút nào đến việc gã sát thủ đã khử ai theo lệnh của hắn, mà chỉ để ý đến việc cô đang mặc gì, tóc tai ra sao, và làm thế nào cho Rafael đẹp mặt bằng cách trông thật sexy và quyến rũ thôi. Cô đương nhiên rất chăm chút đến cái khoản sau; cô làm cho Rafael mát mặt trước mắt những kẻ khác luôn khiến hắn vui vẻ và hào phóng. Drea ngắm nhìn sợi lắc chân đang ôm lấy cổ chân phải, thích thú nhìn những viên kim cương đung đưa lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời và màu bạch kim ánh lên trên nước da rám nắng của cô. Chiếc lắc là một trong những món quà của Rafael khi hắn vô cùng đắc ý về việc gì đó. Hy vọng chiến công của gã sát thủ lần này sẽ khiến tâm trạng hắn vui vẻ tương đương thế - cô không ngại có thêm một cái vòng tay đồng bộ đâu. Tất nhiên cô chẳng bao giờ gợi ý bóng gió điều đó. Cô luôn luôn cẩn thận không bao giờ hỏi xin Rafael bất cứ thứ gì, và luôn ồ à trước mọi thứ hắn tặng cho mình cho dù thứ đó có thể trong như cứt, bởi vì cái thứ cứt cứt đó cũng đáng khối tiền.Cô không có chút ảo tưởng nào về chuyện cả đời được cặp kè mãi bên Rafael. Ngay lúc này cô đang đứng trên đỉnh cao cuộc chơi, đủ chín để thật đàn bà và đủ trẻ để không bận tâm đến mấy sợi tóc bạc hay những nếp nhăn. Nhưng một, hai năm nữa thì sao, ai mà biết được?Cuối cùng Rafael cũng sẽ chán cô, và khi đó cô muốn tự gây dựng một gia tài nho nhỏ, hầu hết là đồ trang sức. Drea Rousseau biết thế nào là nghèo đói, và cô không bao giờ muốn chịu cảnh ấy nữa. Cô đã không còn là Andie Butts nghèo khổ ngày xưa, mục tiêu của những trò đùa quái ác chỉ vì cái tên cũng như mọi điều tệ hại khác. Cô đã biến mình thành Andrea (phát âm là anDRAYuh, nghe có vẻ Pháp Pháp) Rousseau (để vần với thanh âm hoa mỹ kia). "Cô ta," gã sát thủ lên tiếng. "Tôi muốn cô ta."Điều đó làm cô chú ý ngay lập tức - ai là cô ta? Drea ngước lên… và chới với. Gã sát thủ đang nhìn chằm chằm vào cô, vẫn với cái nhìn lạnh lẽo không chớp mắt ấy. Cơn choáng váng dội thẳng vào cô như thủy triều; cô là cô ta mà gã đang nói đến. Đâu có người đàn bà nào khác trong phòng này, gã chẳng thể ám chỉ ai ngoài cô. Những ngón tay lạnh cóng của cơn hoảng loạn kinh hoàng như lũ rắn trườn quanh sống lưng cô, nhưng rồi lý trí quay trở lại và cô thả lỏng. Ơn Chúa Rafael là một kẻ ích kỷ; hắn sẽ không bao giờ…"Chọn thứ gì khác đi," Rafael uể oải nói, vòng tay qua vai Drea và kéo cô vào gần hơn. "Đời nào ta lại cho đi bùa may mắn của mình chứ." Hắn đặt một nụ hôn lên trán cô và Drea cười rạng rỡ, người mềm nhũn ra vì nhẹ nhõm, dù gắng không để lộ ra rằng trong khoảnh khắc mình đã sợ đến lịm người."Tôi chẳng thiết giữ cô ta," gã sát thủ khinh khỉnh nói, không hề rời mắt khỏi khuôn mặt của Drea. "Tôi chỉ muốn ngủ với cô ta. Một lần thôi."Được bảo đảm lần nữa bởi lời từ chối ngay lập tức của Rafael, Drea cười. Cô có tiếng cười ngọt ngào, du dương như những tiếng chuông trong trẻo. Rafael đã từng nói rằng cô làm hắn nhớ đến hình ảnh một thiên thần, với mái tóc vàng quăn dài, đôi mắt xanh to tròn, và tiếng cười ngân vang như tiếng chuông. Cô luôn cố tình sử dụng tiếng cười đó như một thứ vũ khí, ngầm nhắc Rafael rằng cô là thiên thần của hắn, bùa may mắn của hắn.Trước tiếng cười ấy, người ngợm gã sát thủ dường như căng ra, ánh mắt gã gắt gao đến nỗi cô gần như có thể cảm nhận được sự động chạm của nó lên da mình. Mãi về sau này, nếu nghĩ kỹ, Drea sẽ hiểu gã vốn đã cảnh giác, nhưng thời điểm ấy lại càng dè chừng hơn, như thể toàn bộ các giác quan được tăng cường, sự tập trung quá dữ dội đến nỗi cô tưởng như nó thiêu đốt da mình và tiếng cười cô nghẹn lại đột ngột như thể bị một bàn tay bóp chặt cổ. "Ta không dùng chung," Rafael nói, vẻ khó chịu ngầm ẩn trong tông giọng nhẩn nha. Một con đầu đàn không bao giờ chia sẻ con cái; làm thế sẽ đánh mất một lưỡi dao sắc rất quan trọng trong uy quyền mà nó có với người của mình. Chắc chắn rằng gã sát thủ biết điều đó. Nhưng chỉ có ba người họ trong căn hộ trên tầng thượng này, sẽ không có ai chứng kiến việc Rafael đã làm hay không, có lẽ vì thế mà gã nghĩ sẽ đạt được thứ mình muốn. Một lần nữa tên sát thủ chẳng nói gì, chỉ đứng nhìn. Và dù gã không hề cử động, nhưng vẫn có cái gì đó ngột ngạt chết chóc trong không khí giữa ba người. Cuộn tròn bên cạnh Rafael, Drea cảm thấy hắn hơi co người lại, như thể nhận thấy sự thay đổi trong không khí giống cô. "Thôi nào," Rafael nói, giọng phỉnh phờ, nhưng Drea còn lạ gì hắn; cô nhận ra sự không thoải mái mà hắn đang cố gắng che giấu hết mức. Bởi đó không phải là điều cô quen thấy; cô suýt phóng cái nhìn hoảng hốt về phía hắn, nhưng đã kịp giữ bản thân lại và thay vào đó làm bộ săm soi cái móng tay như phát hiện ra một vết xước trên lớp sơn. "Chả đáng phải ném cả đống tiền qua cửa sổ cho cái thứ chóng vánh như thế. Tình dục quá rẻ mạt; với một trăm ngàn đô anh có thể mua được hàng tá."Nhưng gã sát thủ vẫn đợi, không nói một lời. Gã đã đưa ra lời yêu cầu, chỉ chờ xem Rafael có chấp nhận nó hay không. Bằng cách im lặng, gã tỏ rõ rằng mình không nhận số tiền thưởng thêm mà sẽ quay lưng bước đi và chắc chắn Rafael đừng hòng có được sự giúp đỡ của hắn khi cần nữa. Tình huống xấu nhất - Drea không muốn nghĩ xem điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì. Với một gã kiểu này, có gì mà không thể xảy ra.Rafael bất chợt nhìn Drea, ánh nhìn nham hiểm, lạnh lùng và đầy toan tính. Cô hớp lấy không khí, hoảng sợ bởi vẻ lãnh đạm bất ngờ và sự cân đo đong đếm đó. Có phải hắn đang thực sự cân nhắc lời đề nghị, so đo cái giá phải trả nếu gã kia vẫn nói không?"Mặt khác," hắn trầm ngâm, "có lẽ ta phải tự thuyết phục bản thân. Tình dục quả là rẻ mạt, và ta, cũng có thể mua hàng tá với một trăm ngàn đô." Hắn nhấc tay ra khỏi bờ vai của Drea rồi đứng dậy, giũ thẳng quần bằng một động tác thuần thục khiến nếp quần về đúng vị trí. "Một lần thôi, chính anh nói đấy. Ta có việc ở đầu kia thành phố mất chừng năm giờ, thế là quá đủ rồi còn gì." Hắn dừng lại, rồi nhẹ nhàng thêm vào, "Đừng có làm hại cô ấy". Rồi không thèm nhìn cô lấy một lần, hắn bước qua phòng khách và tiến về phía cửa.Cái gì? Drea bật thẳng dậy, không còn nghĩ được gì. Hắn đang nói gì vậy? Hắn đang làm gì vậy? Đây chỉ là đùa thôi, đúng không? Đúng không?Drea ghim chặt ánh nhìn tuyệt vọng, sững sờ vào tấm lưng của Rafael khi hắn bước về phía cánh cửa. Hắn không có ý đó. Hắn không thể có ý đó. Rồi hắn sẽ quay người lại và bật cười, thưởng thức trò đùa của hắn trước cái giá gã sát thủ đưa ra, xem như chưa hề có chuyện vừa suýt làm tim cô ngừng đập. Cô sẽ không để bụng chuyện hắn đã dọa cô sợ gần chết, không nói lại một lời nào về chuyện này, chỉ cần hắn dừng trò này lại, chỉ cần hắn nói, "Mày thực sự nghĩ tao đang nói thật đấy à?"Không thể nào hắn lại đem cô cho gã sát thủ, không đời nào…Rafael đi đến mở cánh cửa… và bỏ đi. Nỗi sợ hãi trào dâng như sóng triều bóp nghẹt hai lá phổi Drea khiến cô không thở nổi. Cô nhìn cánh cửa không chớp mắt. Rafael sẽ mở nó ra ngay bây giờ và cười. Hắn sẽ quay lại ngay thôi.Cô không nhìn gã sát thủ, không cử động, không cả chớp mắt, tê liệt hoàn toàn. Cô nghe thấy mạch đập thình thịch bên tai, và nhịp tim thì thùng thùng như sấm dậy. Toàn thân và phần lớn não bộ của cô tê cứng, chỉ một phần nhỏ trí óc còn hoạt động nhưng vẫn đủ để hiểu rằng Rafael đã ném cô vào miệng cọp rồi bước đi, không hề do dự hay ngoảnh lại một lần.Gã sát thủ di chuyển đến tầm mắt của cô, lặng lẽ tiến về phía cánh cửa và khóa nó lại - tất cả các loại khóa, khóa chống trộm, thậm chí trượt cả xích an toàn vào. Không kẻ nào vào được, kể cả có chìa khóa, mà không đánh động gã.Cơ thể Drea dần sống lại và cô chạy, đôi giày gót nhọn hơn mười phân gõ lộp cộp lên nền đá cẩm thạch. Cơ thể cô tự động phản ứng, theo sự điều khiển nỗi tuyệt vọng, mà không kịp suy nghĩ hay tính toán gì. Cô lao về phía hành lang, rồi nhận thức khiến cô đột ngột dừng lại khi lý trí theo kịp bản năng. Cuối hành lang là phòng ngủ, nơi cuối cùng cô muốn lao vào.Cô tuyệt vọng nhìn quanh. Căn bếp… nơi có những con dao, một cái búa dần thịt - có lẽ cô có thể dùng để tự vệ… Chống lại gã ư? Nỗ lực thế nào cũng chỉ làm trò cười cho gã thôi - hoặc, tệ hơn, khiến gã điên lên, rồi kết liễu cô luôn không chừng. Trong phút chốc, mục đích của cô không còn là trốn chạy mà đơn giản là sống sót. Cô không muốn chết. Bất kể gã có hung bạo với cô thế nào, bất kể gã giở trò gì, cô cũng không muốn chết.Chẳng có nơi nào an toàn cả, không có chốn nào cho cô dung thân. Dù biết rõ điều đó và thừa nhận nó, Drea cũng không thể cứ đứng đó. Và rồi cô phóng thẳng ra ban công nhìn xuống thành phố xa tít ở bên dưới. Cô chạy tới bờ tường và cùng đường, trừ khi cô gắng sức bay lên, bản năng sống quá mạnh thừa sức cho phép cô dám thử việc đó. Chỉ cần được sống, cô sẵn sàng tồn tại bằng cách ấy.Cô mò mẫm vươn ra và nắm lấy chấn song trên gờ tường, những ngón tay cô giữ chặt thanh kim loại khi đôi mắt nhìn chằm chằm vào hư vô. Công viên Central trải dài dưới kia, một ốc đảo xanh tươi, mát mẻ giữa rừng bê tông sắt thép của Manhattan. Những chú chim bay liệng phía dưới, còn trên cao từng đám mây trắng khổng lồ đang lững lờ trôi qua bầu trời xanh trong vắt. Những tia nắng chói chang rọi lên mặt cô, lên bờ vai và cánh tay trần, một cơn gió nhẹ thổi qua khẽ vờn những lọn tóc cô. Drea cảm thấy như bị tách rời khỏi tất cả những thứ ấy, như thể không gì trong số đó là thật cả, ngay cả sức nóng của mặt trời đang bỏng rát trên má cô.Cô cảm thấy gã tới gần và dừng lại ngay phía sau. Chẳng có một âm thanh nhỏ nào ngoài tiếng gió xào xạc và những tiếng ồn xa xăm của thành phố tít dưới kia vẳng lên; dẫu vậy cô vẫn biết kẻ đáng sợ đó đang cận kề. Mọi dây thần kinh dưới da cô thét lên báo động rằng cô sắp rơi vào tay Thần Chết.Bàn tay gã đặt lên bờ vai trần của cô.Cơn hoảng loạn nổ tung trong đầu Drea, lấn át hoàn toàn mọi suy nghĩ và hành động. Cô không phản ứng gì, không thể phản ứng, chỉ đứng đó, run lên cầm cập. Thật chậm rãi, dường như gã đang thưởng thức làn da mịn màng của cô, rồi ve vuốt dần xuống cánh tay. Bàn tay gã rắn đanh và ấm nóng, năm đầu ngón tay và lòng bàn tay ram ráp những vết chai nhưng sự đụng chạm lại đầy kiểm soát, thậm chí là… dịu dàng? Cô đã lường trước sự hung bạo, chuẩn bị đối phó với nó và dồn hết sức để được sống sót đến mức không thể hiểu được thực tế là hắn đang vuốt ve âu yếm mình. Những giác quan của cô quay cuồng.Bàn tay gã trượt xuống, chạm tới những ngón tay đang bấu chặt quanh chấn song của cô, nhẹ nhàng mơn trớn chúng rồi từ từ chuyển hướng lên trên. Lên tới bả vai gã tiếp tục vuốt ve lên cổ, vén những lọn tóc sang một bên và lướt đầu ngón tay qua cổ họng cô, qua đường cong nơi quai hàm. Gã lần theo những cơ bắp mảnh dẻ và đường gân mỏng manh, đem đến những cơn rùng mình chạy khắp thân thể Drea. Rồi gã chuyển sang quai áo lụa của cô, chơi đùa và luồn những ngón tay qua nó, lần theo đường viền vải xuống dưới. Nếu lúc trước gã chưa nhận ra cô không mặc áo ngực, thì bây giờ gã hẳn là đã biết. "Thở," gã nói, từ đầu tiên gã nói với cô. Chất giọng trầm, hơi khàn của gã khiến từ ấy nghe chẳng khác gì mệnh lệnh.Cô làm theo, hổn hển hớp lấy không khí và giải thoát cho hai lá phổi khỏi sự đau đớn. Cô vừa nín thở lâu đến nỗi sắp ngất đi.Thật chậm rãi, vẫn thật chậm rãi, gã lướt bàn tay xuống hai bên hông cô, hơi nóng từ những cái vuốt ve của gã lan qua lớp lụa mỏng. Gã chạm đến gấu áo, rồi những ngón tay luồn xuống dưới lớp vải, khám phá phần cạp co giãn của chiếc quần xếp nếp mềm mại, trượt sâu xuống bên dưới và xung quanh. Bây giờ gã cũng đã biết cô không mặc quần lót rồi. Drea nuốt cục nghẹn trong cổ họng xuống, mắt nhắm nghiền. Nhắm mắt là một hành động bản năng để cô lờ gã đi, ngăn cách cô với những gì đang xảy ra tại đây, ngay lúc này, nhưng thay vì thế, dường như nó càng khiến giác quan của cô nhạy bén hơn. Vì không có gì khiến cô xao nhãng, mọi sự tập trung lập tức dồn hết vào bàn tay đang thong thả lướt trên bụng cô, cảm giác mãnh liệt gần như đau đớn. Cơ bắp cô siết lại, toàn thân căng ra khi tay gã lên cao dần, cao dần, và một lần nữa cô nín thở chờ đợi.Bàn tay gã ôm trọn bầu ngực trái của Drea, và không khí đột ngột rút hết khỏi phổi cô. Gã vừa ôm vừa vuốt ve nó, khum khum lòng bàn tay lại như để ướm, rồi lướt ngón tay cái trên đầu nhũ hoa nhạy cảm cho đến khi nó ửng hồng, se lại và cương cứng. Với bầu vú bên kia gã cũng làm y hệt.Một lần nữa những giác quan của cô quay cuồng. Khoái cảm từ sự mơn trớn ấy làm hỗn loạn mọi suy nghĩ khiến cô hổn hển, hổn hển tìm chỗ bấu víu, hay một thứ gì đó giữ cô không khuỵu xuống. Cô tưởng hắn sẽ giở trò gì chứ không phải là… việc này. Gã sát thủ cúi đầu xuống, hơi nóng từ miệng cùng đôi môi mềm mại chạm vào sợi dây chằng nhạy cảm bên cổ Drea cùng lúc gã rướn người ép toàn bộ cơ thể vào sau người cô. Ôi, Chúa ơi, người gã nóng bừng. Cô cảm thấy lạnh, nhưng hơi nóng ấy làm cô bị thiêu đốt. Cô tưởng sẽ phải đối mặt với sự hung bạo, vậy mà gã đã lách qua bức tường tự vệ của cô chỉ bằng một cái chạm nhẹ tràn trề khoái cảm. "Tôi sẽ không làm cô đau," gã thì thầm, bờ môi mơn man trên da thịt cô trong khi bàn tay trượt xuống dưới lớp áo, âu yếm ngực cô, ve vuốt chúng, kéo nhẹ hai đầu vú. Miệng gã đặt lên cổ cô khiến một lần nữa bụng dạ cô chao đảo, như thể cô đang cưỡi trên một con tàu nâng lên hạ xuống theo từng đợt sóng khoái cảm ngất ngây. Drea không biết họ đã đứng đó bao lâu, chỉ cảm thấy sự lâng lâng choáng ngợp cứ mỗi lúc một trào dâng. Cô chìm đắm giữa đại dương bao la không biết đâu là bờ. Điều này vượt quá xa so với trải nghiệm và dự đoán nên cô chẳng biết phải làm sao. Khoái cảm ư? Quan hệ với Rafael chỉ là làm sao thỏa mãn hắn; cảm giác của cô chả có ý nghĩa gì cả. Cô chấp nhận, chỉ chăm chăm làm mọi thứ để hắn mãn nguyện. Lần cuối cùng một người đàn ông cố gắng thỏa mãn cô là khi nào nhỉ? Những ký ức lờ mờ, phai nhạt theo thời gian, lâu tới nỗi cô đã không còn mong mỏi được hưởng nó cho riêng mình. Giờ đây khi được cảm nhận nó, dưới đôi tay - theo đúng nghĩa đen - của một gã sát thủ máu lạnh, cô thực sự sửng sốt. Gã kéo đầu vú cô, nhẹ nhàng vân vê giữa những ngón tay và cảm xúc mạnh mẽ ấy tạo nên một luồng kích thích xuyên thẳng xuống phần bụng dưới. Cô thấy mình rướn người lên và ngả ra đằng sau, cơ thể tự động uốn cong trong vòng tay gã còn bàn tay lướt quanh gáy gã, cảm nhận sự rắn chắc, vạm vỡ của những cơ bắp. Cô áp sát vào người gã, nghe những âm thanh gọi mời khe khẽ thoát ra từ chính miệng mình. Cơ bụng thắt lại, cô cố quay người về phía gã.Gã vẫn giữ chặt lấy cô, bắt cô quay mặt về phía lan can, cả thành phố trải dài trước mặt và xung quanh họ. Gã tụt mạnh cạp quần cô, không khí mát lạnh đột ngột trùm lên cặp mông trần của cô khi lớp lụa rơi xuống dưới. Sự sợ hãi lại cồn cào, một lần nữa hòa quyện với nỗi hoài nghi xen lẫn khiếp sợ? Ở đây ư? Ngay trên ban công, giữa thanh thiên bạch nhật, nơi kẻ nào cũng có thể nhìn thấy ư? Đường phố ở bên dưới quá xa, nhưng còn người ở những tòa nhà xung quanh thì sao? Ống nhòm nhan nhản trong thành phố này, có cả ngàn, cả ngàn người dò xét nhà hàng xóm của họ, và chắc chắn là có cả FBI, DEA hoặc ai đó đang rình rập Rafael nữa, thế thì họ cũng đang canh chừng cô - và gã đàn ông đang giữ cô trong tư thế gần như trần truồng ngay trên ban công này. ©STE.NTGã lại xích gần hơn nữa, khẽ thì thầm câu gì đó rất êm ái, rồi áp sát lên phần thân thể trần trụi của cô, bàn tay luồn vào giữa. Cô nghe thấy tiếng khóa kéo loạt xoạt, sau đó khớp ngón tay gã đột ngột đẩy vào khe mông cô, làm cô giật mình hét lên, rồi chẳng còn cảm thấy gì ngoài sự lõa lồ nhục nhã và lực ấn dữ dội của vật đó ở cửa mình. "Cúi xuống một chút."Gã đè tay lên gáy cô để đảm bảo cô sẽ vâng lời. Chân gã luồn vào giữa và tách hai chân cô ra xa, chiếc cạp quần quanh đùi dãn hết sức. Gã chùng gối xuống, hạ thấp người ở tư thế thuận hơn, rồi đẩy lên và nhích sâu vào trong cô một cách khó khăn, chậm chạp. Drea đau nhói, bị giữ chặt như một con sâu mắc vào lưỡi câu. Cơ đùi cô căng lên rồi nhũn ra, bủn rủn. Gã túm lấy cô, kéo về phía mình. Tay phải ghì chặt cô vào người, tay trái gã đưa xuống và luồn vào hai cánh môi mềm mại giữa chân cô. Gã mơn trớn những ngón tay quanh đó, vừa giữ chặt nó vừa di chuyển vào trong. Chúa ơi, cô không biết, cô không còn biết gì ngoài chuyện đang tới cao trào nhanh đến không ngờ, rồi cô lên đỉnh dữ dội, cơ bắp bên trong cô quấn chặt lấy gã, những tiếng rên bản năng trong cổ họng vỡ ra.Drea suýt nữa khuỵu về phía trước nếu không có vòng ôm của gã. Gã rút ra và quay người cô lại, ôm lấy cô cho đến khi cô thôi hổn hển, run rẩy và ngừng khóc. Cô khóc vì cái quái gì chứ? Cô chưa bao giờ khóc, ít nhất là khóc thật. Vậy mà giờ đây hai má cô ướt đẫm, hơi thở nặng nhọc và thổn thức. Cố lấy lại bình tĩnh, cô mở mắt ra nhìn lên, và bắt gặp ánh nhìn chăm chú của gã sát thủ. Một lần nữa cô ngạt thở.Cô cứ nghĩ mắt gã màu nâu, nhưng giờ lại thấy chúng màu nâu pha lục nhạt, từ ấy vẫn chưa thật chuẩn để diễn tả màu mắt đó: không chỉ có màu nâu, xanh lá và vàng, mà còn có xanh dương, xám và đen nữa, và cả những đường sọc trắng. Cô nhớ đến loại ngọc opal sẫm, đầy những sắc màu kỳ lạ. Ánh nhìn của gã cũng không hề lạnh lẽo; cô cảm thấy bị thiêu đốt bởi sức nóng trong đó và cả sự khao khát mãnh liệt. Gã vẫn chưa xuống, điều này trái ngược hoàn toàn với những điều cô biết. Một khi đàn ông lên đến đỉnh, họ sẽ chẳng còn hứng thú làm tiếp. Nhưng gã đàn ông này vẫn cứng, vẫn sẵn sàng, và…"Anh chưa lên đỉnh," cô buột miệng, thình lình nhận ra.Gã bắt đầu đưa cô bước về phía cánh cửa kính, nhấc cô lên khi cái quần sắp tuột hẳn xuống. "Chỉ có một lần thôi, nhớ không?" gã nói, ánh mắt lấp lánh với ý định nóng bỏng và dữ dội. ... Mời các bạn đón đọc Thiên Sứ Tử Thần của tác giả Linda Howard.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bắc Cực Quang (Vật Chất Tối của Ngài #1)
Bắc Cực Quang là phần đầu của một câu chuyện gồm ba tập. Bối cảnh của tập đầu tiên được đặt trong một vũ trụ giống như của chúng ta, nhưng lại khác biệt về rất nhiều mặt. Tập thứ hai, Con dao kì ảo, di chuyển giữa ba vũ trụ: vũ trụ của Bắc Cực Quang; vũ trụ mà chúng ta biết; và một vũ trụ thứ ba, cũng rất khác biệt với vũ trụ của chúng ta về nhiều mặt. Tập cuối cùng của bộ ba cuốn, Ống nhòm hổ phách, di chuyển giữa vài vũ trụ khác nhau. *** “Ví như giấc mơ tuyệt vời nhất, luôn đầy thuyết phục và cũng rất phức tạp, ngập tràn những ngạc nhiên, lo sợ và thích thú. Sức sáng tạo của Pullman dành cho nhân vật, cốt truyện và logic khiến người ta phải ghen tị với chất xám của ông.” - Telegraph “Những mạch truyện viễn tưởng, kinh dị và sự điên rồ khủng khiếp hoà lẫn với tài năng hiếm có đầy mê hoặc.” - The Times “Pullman là bậc thầy trong việc kết hợp tạo hình nhân vật hoàn hảo và xây dựng cốt truyện mạch lạc, duy trì một nhịp độ nhanh khi tạo các cảnh chồng nối lên nhau với áp lực khó cưỡng. Viên ngọc lấp lánh này sẽ khiến độc giả thuộc mọi lứa tuổi phải ngóng đợi hồi tiếp theo về những cuộc phiêu lưu của Lyra.” - Publishers Weekly “Một câu chuyện viễn tưởng đầy kinh ngạc, một bộ trinh thám nảy lửa và một sự phản ánh đáng suy ngẫm về tình trạng của loài người. Đây là một cuốn sách có thể được thưởng thức ở nhiều cấp độ.” - Guardian *** VẬT CHẤT TỐI CỦA NGÀI (His Dark Materials), cũng giống như Chúa tể của những chiếc nhẫn - tải eBook, Biên niên sử Narnia - tải eBook và Harry Potter - tải eBook, là một trong những bộ truyện giả tưởng Anh ngữ dành cho trẻ em đã được đánh giá cao của thời đại. Hai tập sau của truyện lần lượt là Kỳ Ảo Đao hay Thanh Gươm Huyền Bí (The Subtle Knife) và Hổ Phách Kính (The Amber Spyglass). Ánh Sáng Phương Bắc đã được hãng phim Hollywood New Line Cinema chuyển thể thành phim "The Golden Compass", đã khởi chiếu vào ngày 5 tháng 12 năm 2007 tại Anh (7 tháng 12 tại Mỹ và 26 tháng 12 tại Úc). Phim là sản phẩm có kinh phí cao nhất của hãng này kể từ phim Chúa tể của những chiếc nhẫn. Ánh Sáng Phương Bắc miêu tả một vũ trụ giả tưởng, nơi mà có phù thủy bay, chiến binh gấu Bắc cực, linh hồn của con người trong dạng thú và một chế độ tăng lữ độc tài. Nhân vật chính của truyện là một bé gái mồ côi 11 tuổi tên Lyra Belacqua. Cô bé được nuôi nấng bởi một khoa học gia, Ngài Asriel. Ngài Asriel bị giáo hội bỏ tù vì nghiên cứu Bụi, một vật chất tối được cho là ẩn chứa đầy tội lỗi. Người bạn thân của Lyra là Roger bị bắt cóc bởi tổ chức Những Kẻ Nuốt Chửng (The Gobblers) và cô bé quyết định lên đường giải cứu bạn mình. Một người phụ nữ quyền lực tên Marisa Coulter đã đề nghị giúp Lyra. Trước khi đi, hiệu trưởng trường Jordan tặng cho cô bé Chân La Bàn (Alethiometer), một dụng cụ thần kỳ chỉ đến sự thật. Tuy nhiên, khi Lyra phát hiện ra bà Coulter là người xấu, cô bé chạy trốn, thoát khỏi sự truy đuổi và được một nhóm người Gypsy cưu mang. Họ tiết lộ Ngài Asriel và bà Coulter chính là cha mẹ ruột của cô bé. Lyra cùng họ vượt biển tiến về Bắc Cực, theo chỉ dẫn của Chân La Bàn. Trên đường, họ bị tấn công và Lyra bị bắt về Bolvangar, nơi giam giữ những đứa trẻ bị bắt cóc. Lyra dùng chiếc Chân La Bàn và trí thông minh của mình vượt ngục cùng những đứa trẻ khác. Chúng được phi hành gia Lee Scoresby, nữ hoàng ma thuật Serafina Pekkala và chiến binh gấu Iorek Byrnison cứu thoát. Sau đó, Lyra đi cứu Lord Asriel. Ông vừa thành công trong việc khám phá ra nguyên lý của Bụi và cầu nối với một vũ trụ song song. Truyện kết thúc khi linh thú của Roger bị té xuống vực, làm cậu bé chết theo. Lyra và Lord Asriel bước qua thế giới mới. *** VẬT CHẤT TỐI CỦA NGÀI (Philip Pullman) là series Fantasy kinh điển và đồ sộ đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá, trong đó có Huân chương Carnegie!! Tác phẩm kể về chuyến phiêu lưu giữa các thế giới song song của Lyra Belacqua và Will Parry – hai đứa trẻ tầm thường có số phận trói buộc với nhau bởi những thế lực vượt xa thế giới của chính mình. Chúng sẽ gặp các phù thuỷ và gấu mặc giáp, thiên thần sa ngã cùng loài quỷ ăn linh hồn. Và cuối cùng, số phận của tất cả những người đang sống - và những người đã chết - sẽ phụ thuộc vào chúng... *** Lyra và linh thú của cô bé bước qua khu Đại sảnh đang tối dần, cẩn thận nép vào phía khuất với căn bếp. Ba chiếc bàn lớn chạy dọc theo chiều dài Đại sảnh đã được xếp ngay ngắn, các bộ đồ bằng bạc và thủy tinh phản chiếu chút ánh sáng le lói, còn những bộ trường kỉ đã được kéo ra sẵn sàng đón khách. Chân dung các vị Hiệu trưởng cũ được treo cao trong bóng tối lờ mờ chạy dọc các bức tường. Lyra tiến tới bục rồi quay lại nhìn cánh cửa bếp đang mở. Khi không thấy ai, cô bé liền bước lên đứng cạnh bàn trên. Các chỗ ngồi được bày biện đồ bằng vàng chứ không phải bạc, mười bốn chiếc ghế không phải trường kỉ bằng gỗ sồi mà là ghế bằng gỗ gụ bọc đệm nhung. Lyra dừng lại bên cạnh chiếc ghế của Hiệu trưởng và dùng móng tay khẽ búng chiếc li lớn nhất. Âm thanh lảnh lót vang khắp Đại sảnh. “Cậu lại nghịch linh tinh rồi,” linh thú của cô bé thì thào. “Cư xử đúng mực đi nào.” Linh thú của cô có tên Pantalaimon, hiện giờ nó đang trong hình dạng một con bướm đêm có màu nâu thẫm hòa lẫn với bóng tối trong Đại sảnh. “Trong bếp ồn lắm, họ không nghe được đâu,” Lyra thì thầm lại. “Ông Quản lí thì còn lâu mới vào trước tiếng chuông đầu tiên. Đừng có loạn lên thế.” Nói vậy nhưng cô vẫn đặt bàn tay lên chiếc cốc pha lê đang rung. Pantalaimon dập dờn bay về phía trước rồi luồn qua cánh cửa hé mở của Phòng nghỉ ở đầu bên kia bục cao. Một lúc sau nó xuất hiện trở lại. “Không có ai trong đó đâu,” Pantalaimon thì thầm. “Nhưng chúng ta phải khẩn trương lên.” Vừa cúi thấp người sau chiếc bàn trên, Lyra vừa lao đi, qua cánh cửa vào Phòng nghỉ, rồi đứng lên nhìn xung quanh. Ánh sáng duy nhất trong phòng tới từ lò sưởi. Cô bé thấy đám củi cháy rực khẽ sụp xuống, tung lên ống khói một dải tia lửa lấp lánh. Cô đã sống phần lớn thời gian trong Học viện, nhưng chưa từng thấy bên trong Phòng nghỉ: chỉ có các Học giả và khách khứa của họ được phép vào, phụ nữ thì không bao giờ. Thậm chí những người hầu gái cũng không dọn dẹp trong này. Đó là việc của riêng Quản gia. Pantalaimon đậu xuống vai Lyra. “Hài lòng chưa? Đi được rồi chứ?” Nó khẽ nói. “Đừng có ngốc thế! Tớ muốn ngắm xung quanh chút đã!” Đó là một căn phòng lớn, với chiếc bàn trái xoan bằng gỗ hồng sắc bóng loáng bày đủ loại bình rượu, cốc chén, cùng cái máy nghiền thuốc bằng bạc với một giá để tẩu thuốc. Trên tủ buffet cạnh đó là một lò hâm nhỏ và giỏ đựng quả anh túc. “Trông cũng tươm tất đấy chứ, phải không Pan?” Lyra thì thào. Cô bé ngồi xuống một trong những chiếc ghế bành da màu xanh lá. Cái ghế sâu đến mức Lyra thấy mình gần như đang nằm ra, nhưng cô liền ngồi thẳng dậy và gấp chân lại để ngắm những bức chân dung trên tường. Chắc lại thêm mấy ông Học giả già nữa đây: khoác áo choàng, để râu, mặt u sầu, họ nhìn ra khỏi khung tranh với vẻ phản đối đầy nghiêm nghị. “Cậu nghĩ họ nói về chuyện gì?” Lyra hỏi; hoặc bắt đầu hỏi, vì trước khi kịp nói hết câu, cô bé nghe thấy có tiếng nói bên ngoài cửa. “Ra sau ghế - nhanh!” Pantalaimon khẽ kêu lên. Chỉ trong một tích tắc, Lyra đã lao ra khỏi ghế bành và núp phía sau nó. Đó không phải là chỗ tốt nhất để trốn: cô bé đã chọn cái ghế ở ngay giữa phòng, và trừ khi cô giữ yên lặng tuyệt đối… Cánh cửa bật mở khiến ánh sáng trong phòng thay đổi: một trong những người bước vào cầm theo đèn và đặt nó lên trên tủ buffet. Lyra có thể nhìn thấy chân ông ta trong ống quần màu xanh thẩm và đôi giày đen bóng loáng. Đó là một người phục vụ. Đột nhiên một giọng nói trầm vang lên: “Ngài Asriel đã tới chưa?” Đó là Hiệu trưởng. Trong lúc nín thở, Lyra nhìn thấy linh thú của người phục vụ (một chú chó, giống như hầu hết linh thú của những người phục vụ khác) rảo bước vào và lặng lẽ ngồi xuống bên chân ông. Sau đó đôi chân của Hiệu trưởng cũng hiện ra, trong đôi giày đen xù xì ông vẫn hay mang. “Chưa ạ, thưa Hiệu trưởng,” Quản gia nói. “Cũng chưa có tin gì từ Cảng hàng không ạ.” “Ta đoán khi tới ông ấy sẽ đói. Anh dẫn ông ấy vào thẳng Đại sảnh nhé?” “Đã rõ, thưa Hiệu trưởng.” “Anh cũng đã chắt sẵn chút rượu Tokay đặc biệt cho ông ấy rồi chứ?” “Vâng, thưa Hiệu trưởng. Rượu năm 1898, như ngài đã lệnh. Tôi nhớ là Ngài ấy rất thích loại đó.” “Tốt. Giờ thì anh đi được rồi.” “Ngài có cần đèn không, thưa Hiệu trưởng?” “Có, cứ để nó lại. Đến bữa tối anh vào khơi bấc được chứ?” Người Quản gia khẽ cúi chào rồi quay đi, linh thú của ông ngoan ngoãn chạy theo sau. Từ chỗ không-hẳn-là-chỗ-trốn của mình, Lyra quan sát ông Hiệu trưởng bước tới bên tủ quần áo lớn bằng gỗ sồi trong góc phòng, gỡ áo choàng dài của mình ra khỏi mắc, rồi vất vả kéo nó lên người. Hiệu trưởng vốn là một người khỏe mạnh, nhưng giờ khi đã quá bảy mươi tuổi, những cử động của ông trở nên khó nhọc và chậm chạp. Linh thú của Hiệu trưởng mang hình dạng một con quạ. Ngay khi ông vừa khoác xong áo, nó liền nhảy xuống khỏi tủ và đậu lên vị trí quen thuộc trên vai phải của ông. Lyra có thể cảm thấy lông của Pantalaimon dựng đứng lên vì lo lắng, dù nó không phát ra tiếng động nào. Bản thân cô bé thì thấy hào hứng một cách dễ chịu. Vị khách mà Hiệu trưởng nhắc tới, Ngài Asriel, là bác của cô, một người đàn ông mà cô bé vừa kính trọng vừa rất e sợ. Nghe nói ông có tham gia vào chính trị cấp cao, thám hiểm bí mật, chiến tranh viễn xứ, và cô bé không bao giờ biết được khi nào ông sẽ xuất hiện. Ngài Asriel rất dữ tợn: ông mà bắt được Lyra ở đây thì cô bé sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng cô có thể chịu đựng được điều đó. Tuy nhiên, điều cô thấy tiếp đó đã thay đổi tất cả. Ông Hiệu trưởng lấy từ trong túi ra một mảnh giấy gấp và đặt nó lên bàn. Ông nhấc nút chiếc bình đựng một loại rượu vàng óng ả ra, mở gói giấy và đổ một dải bột trắng vào bình trước khi vo tròn tờ giấy lại rồi vứt vào lửa. Sau đó ông lấy một cây bút chì ra khỏi túi, ngoáy rượu cho tới khi bột tan và đóng nút lại. Linh thú của ông khẽ kêu lên. Hiệu trưởng nhỏ giọng đáp lại rồi nhìn xung quanh bằng đôi mắt đục sụp mí trước khi bước ra khỏi cánh cửa mà ông đã vào. Mời các bạn đón đọc Bắc Cực Quang (Vật Chất Tối của Ngài #1) của tác giả Philip Pullman & Trang Rose (dịch).
Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh
Từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chúng ta đã luôn chứng kiến một quân đội Hoa Kỳ hùng mạnh, tinh nhuệ và uy hiếp bậc nhất hoàn cầu. Chúng ta thấy bom nguyên tử, tên lửa hành trình, hàng không mẫu hạm, máy bay trực thăng, xe tăng tối tân hay những đơn vị đặc nhiệm SEAL sát thủ…. Nhưng có lẽ hiếm khi người ta có thể có cái nhìn vào đằng sau cỗ máy chiến tranh đó như trong cuốn sách này. Bên dưới tấm màn sắt của khoa học quân sự chính là những thứ khoa học kỹ thuật rất nhân bản, rất đời thường, với trung tâm là “lính trơn”. Tác giả Mary Roach sẽ dẫn chúng ta trải qua một hành trình khám phá và trải nghiệm thực sự lạ kỳ về hậu cần chiến tranh, từ cách người ta lo cái ăn cái mặc cho binh lính, cho đến cách giúp các quân nhân đối phó với “Tào Tháo đuổi” trong khi làm nhiệm vụ, hay những nỗ lực của các bác sĩ quân y trong việc phục hồi khả năng “yêu” của thương binh, hay cách họ “hỏi chuyện” những tử sĩ để cải thiện an toàn cho những người sống… Chiến tranh vẫn gắn liền với sự tàn khốc và cái chết, nhưng nó cũng có thể rất đời thường, đầy ắp hơi thở của sự sống cùng những vấn đề dở khóc dở cười vô cùng sinh động, dưới góc nhìn của một người Mỹ. “Một cái nhìn vui vẻ, đầy ắp thông tin vào sau bức màn khoa học quân sự.” – Washington Post “Roach là một nhà báo điều tra ngoan cường và rất thích nhằn những thứ khó nhằn Lính trơn thuộc hàng đầu trong các tác phẩm của Roach.” – USA Today *** VÀO ĐỀ Pháo bắn gà nòng dài 18m, đủ điều kiện để được xếp vào loại vũ khí của pháo binh. Dù một con gà nặng gần 2kg bắn đi với tốc độ lên tới 644 km/h, là một vật thể phóng có tính sát thương, pháo bắn gà được chế tạo không phải để giết chóc. Ngược lại, nó được thiết kế với mục đích thử nghiệm các biện pháp bảo vệ sinh mạng con người. Xác gà được bắn vào các máy bay trống hoặc được xếp sẵn “tổ bay mô phỏng” để kiểm tra khả năng chịu sự tác động của máy bay, trước thứ được Không lực Mỹ và ngành công nghiệp hàng không, với cách gọi phô trương “nam tính” đặc trưng, gọi là “chim đâm”. Những con gà được sử dụng thay cho ngỗng, hải âu, vịt trời hay chim chóc vốn va chạm với các máy bay quân sự khoảng 3.000 vụ mỗi năm, với mức thiệt hại từ 50 triệu tới 80 triệu đô la Mỹ và cứ vài năm lại cướp đi sinh mạng của tổ bay. Lấy gà “đại diện” cho tất cả các loài chim là một lựa chọn lạ lùng vì chúng không biết bay. Chúng cũng không đâm vào máy bay theo tư thế của vịt trời hay ngỗng - cánh dang rộng, chân duỗi thẳng. Chúng đâm vào máy bay theo đúng kiểu đồ thực phẩm bị ném. Thêm nữa, gà nhà thường có khối lượng riêng lớn hơn mấy loại chim trời thường bay hay bơi ở các vùng đất ngập nước. Với khối lượng riêng là 0,92g/cm3, loài Gallus gallus domesticus (gà nhà) lớn hơn 33% so với hải âu hay ngỗng Canada. Nhưng dù sao thì gà cũng là “vật liệu” được Bộ Quốc phòng Mỹ cho phép sử dụng trong hoạt động thử nghiệm kiểm tra độ bền của kính buồng lái máy bay phản lực. Gà không những dễ dàng kiếm được và chuẩn hóa, chúng còn được coi là một kiểu tình huống tồi tệ nhất trên lý thuyết. Thực tế lại không như vậy. Một con chim nhỏ, chắc gọn như chim sáo, có thể đâm xuyên qua kính buồng lái như một viên đạn, và điều đó xảy ra thường xuyên đến mức một số người thấy cần phải đưa ra một loại thuật ngữ hàng không nào đó (“hiện tượng đạn bọc lông vũ”). Bạn sẽ nghĩ: “Có khi không cho lũ chim bén mảng đến gần đường băng thì dễ hơn?” Tuy nhiên, chim là loài thích nghi cao. Chúng sẽ nhanh chóng tự điều chỉnh để quen dần với bất kỳ âm thanh mô phỏng kẻ săn mồi hay cảnh báo nào, thậm chí là âm thanh của những vụ nổ nhỏ mà bạn tạo ra, chỉ bằng cách “kêu to hơn”* và tiếp tục sống như bình thường. Hãy tham gia với Malcolm Kelley và Đội nghiên cứu/ quản lý nguy cơ chim đâm vào máy bay (BASH) trong Không lực Mỹ. Kelley và cộng sự của mình sử dụng phương pháp tiếp cận xuyên ngành. Kỹ thuật xây dựng kết hợp với sinh học. Điểu học kết hợp với xác suất thống kê. Chúng ta hãy phân tích vấn đề bằng cách bắt đầu với kền kền, họ nói. Dù số vụ đâm máy bay của lũ chim ăn thịt nặng ký này chỉ chiếm khoảng 1%, nhưng lại gây ra 40% thiệt hại trong tổng thiệt hại do chim đâm gây ra. Kelley và nhóm của mình đã gắn các máy phát sóng vào tám con kền kền, theo dõi đường bay và thói quen di chuyển của chúng, kết hợp với các dữ liệu khác để tạo ra một Mô hình Tránh chim (BAM) cho phép những người điều khiển không lưu có thể lên lịch bay tránh những thời điểm và khu vực có nguy cơ cao. Chỉ một nghiên cứu đơn giản “hiểu thêm về chim kền kền”, theo Kelley, đã tiết kiệm được cho Không lực Mỹ 5 triệu đô la mỗi năm cũng như cứu mạng sống của nhiều phi công (và cả chim kền kền nữa). Chắt lọc dữ liệu, Kelley phát hiện ra rằng khi dải tần số âm thanh động cơ máy bay chồng lấn dải tần số âm thanh mà một loài chim nào đó phát ra khi gặp nguy hiểm thì xác suất chim đâm sẽ thấp hơn. Anh đã viết trong một bài báo năm 1998, “Liệu có phải chúng ta đang nói chuyện với lũ chim mà không hề hay biết không?” Liệu có cách nào tạo ra một giải pháp dựa trên cơ chế này không? Anh đã biết có một vấn đề là cả máy bay và chim đều cất cánh ngược gió. Và bởi vậy chim thường không thể nhận ra máy bay đang lao tới từ phía sau. Chính Kelley đã nảy ra ý tưởng thêm một tín hiệu có nghĩa vào dải sóng radar của máy bay, một thứ tín hiệu có thể cảnh báo nguy hiểm cho lũ chim sớm hơn để chúng kịp phản ứng và bay ra khỏi đường bay của máy bay. Câu chuyện dạng này đã khiến tôi hứng thú với khoa học quân sự - những trận chiến thầm lặng, ít người biết, với những kẻ thù ít được chú ý: sự kiệt sức, sốc, vi khuẩn, cơn hoảng loạn, những con vịt. Thật ngạc nhiên, đôi khi những thứ làm thay đổi cục diện trận chiến xuất hiện khi những chuyến bay chở các ý tưởng dị thường* va chạm với nguồn kinh phí nghiên cứu lớn gần như bất tận. Mọi người thường nghĩ rằng khoa học quân sự là nghiên cứu về chiến lược và vũ khí - đánh nhau, thả bom, tiến quân. Tất cả những thứ đó tôi nhường những người viết hồi ký và nghiên cứu lịch sử quân sự. Tôi hứng thú hơn với những điều sẽ không có ai đưa lên phim ảnh - những thứ không phải để giết chóc mà là để cứu mạng binh lính. Dù là những người được cứu cũng chỉ để tiếp tục chiến đấu và lấy mạng người khác. Hãy tạm bỏ qua điều này. Cuốn sách này xin dành để tri ân những nhà khoa học, bác sĩ phẫu thuật, đã xông lên cùng những đoàn quân chiến đấu, vạt áo phòng thí nghiệm bay phấp phới, để chế tạo những cỗ xe tăng an toàn hơn, chiến đấu với loài ruồi nhặng hay cố gắng hiểu rõ hơn lũ kền kền. Pháo bắn gà gần như là tất cả những gì tôi sẽ nói về súng đạn trong cuốn sách này. Nếu như bạn muốn đọc về khoa học kỹ thuật khí tài quân sự, đây sẽ không phải là quyển sách bạn mong ngóng. Đây cũng không phải là truyện 30 phút sau nửa đêm*. Tôi có thảo luận với lính đặc nhiệm - cả lính SEAL Hải quân và Rangers Lục quân - tuy nhiên không phải về việc chiến đấu chống lại quân nổi dậy. Chủ đề của chúng tôi là chiến đấu chống lại cái nóng cực điểm, tiếng ồn chói tai và bụng dạ trở chứng không đúng lúc. Sau lưng mỗi tướng tá hay một người được Huân chương danh dự, có hàng trăm nhà khoa học quân sự, những người mà bạn sẽ không bao giờ nghe danh. Tác phẩm này của tôi chỉ viết về một phần nhỏ của 1% những gì vẫn đang diễn ra. Tôi cũng đã bỏ qua rất nhiều lĩnh vực vốn đầy những nỗ lực đáng trân trọng. Chẳng hạn, không có một chương nào trong quyển sách này nói về các biện pháp đối phó với hậu sang chấn tâm lý (PTSD), không phải vì PTSD không xứng đáng được nói đến mà do đã có quá nhiều tác phẩm viết về nó, trong đó lại có quá nhiều tác phẩm viết tuyệt hay. Những quyển sách và bài viết ấy đã chiếu rọi ánh đèn sân khấu vào đúng chỗ. Còn tôi, về chuyên môn hay tính cách, không phải là một người rọi đèn sân khấu. Tôi chỉ là một kẻ vô tự lự với chiếc đèn pin, đang mò mẫm trong các ngóc ngách và xó xỉnh, không biết đích xác mình cần tìm thứ gì nhưng lại luôn nhận ra ngay khi tìm thấy nó. Dũng cảm không phải luôn là cầm súng, cầm cờ, hay thậm chí là khênh cáng nơi trận địa. Người dũng cảm là bác sĩ không quân của Hải quân Angus Rupert, bay trong tình trạng bịt mắt và lộn ngược đầu để kiểm nghiệm bộ đồ rung cho phép phi công có thể bay nhờ cảm giác khi họ bị mù tạm thời hoặc rối loạn phương hướng. Hoặc như Thiếu tá Hải quân Charles “Swede” Momsen, nghiêm chào những người quan sát khi ông được nhấn chìm xuống dòng Potomac để kiểm nghiệm hệ thống hỗ trợ thở thoát hiểm đầu tiên cho tàu ngầm, hoặc như Đại úy Herschel Flowers, làm việc tại Phòng Nghiên cứu Y khoa Lục quân, tự tiêm nọc độc rắn hổ mang vào cơ thể của mình để kiểm nghiệm khả năng tạo sức đề kháng. Có những lúc, sự dũng cảm chỉ đơn thuần là ý chí dám nghĩ khác biệt với những người xung quanh bạn. Trong một môi trường kỷ luật cao như quân đội, đó là điều dũng cảm hơn nhiều so với những gì bạn tưởng tượng. Dũng cảm là hành động của người lính quân y William Baer trong Thế chiến I, đã cứu được nhiều mạng sống và giúp nhiều người giữ được chân tay khi sử dụng dòi để làm sạch vết thương. Đó là hành động của bác sĩ Herman Muller, tình nguyện tiêm máu từ các tử thi vào cơ thể để kiểm nghiệm độ an toàn của kỹ thuật truyền máu từ tử sĩ cho các thương binh, một kỹ thuật đã được thực hiện trên chiến trường trong cuộc chiến giữa Tây Ban Nha và Mỹ. Các anh hùng không phải lúc nào cũng cần lập được chiến công chói lọi. Đôi khi, những thành tựu nhỏ cùng với những trái tim lớn đã thay đổi cả diễn trình lịch sử. Cũng có khi, một con gà có thể cứu mạng được một con người. Mời các bạn đón đọc Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh của tác giả Mary Roach & Nguyễn An Thái (dịch).
Bọn Rợ Rình Trước Cổng: Mua Lại Có Đòn Bẩy Và Thương Vụ Đình Đám RJR Nabisco
Cuốn sách Bọn rợ rình ở cổng là câu chuyện có thật về cuộc chiến giành quyền kiểm soát công ty bánh quy và Mỹ – RJR Nabisco – nhà sản xuất bánh quy Oreo và RJ Reynolds. Nội dung chính nói về việc mua lại có đòn bẩy (LBO) của tập đoàn RJR Nabisco với nhịp độ nhanh chóng và chi tiết, bao gồm cả những cuộc hội thoại riêng cũng như trong phòng họp giữa các CEO của các công ty. Cuốn sách thể hiện lòng tham đáng kinh ngạc của các chủ ngân hàng đầu tư, nhà quản lý công ty, nhà đầu tư cổ phần tư nhân, các cổ đông… Việc mua lại diễn ra được mở đầu bằng một cuộc chiến đấu thầu giữa ban lãnh đạo (do CEO Ross Johnson dẫn đầu), KKR, công ty cổ phần tư nhân lâu đời, và một số người chơi “nhỏ hơn”. Việc mua lại có đòn bẩy thường khiến công ty bị mua lại phải gánh rất nhiều nợ, đòi hỏi các nhà quản lý phải cắt giảm chi phí (thường bao gồm cả nhân sự) – đó là lý do tại sao những điều này không được nhân viên, công chúng và giới báo chí ưa chuộng. Khoản mua lại trị giá 25 tỷ đô la này, mà cuối cùng KKR đã giành được bởi cũng không khác gì, đặc biệt vì đây là LBO lớn nhất tại thời điểm đó. Những người phản đối nỗ lực mua lại công ty của Johnson, Henry Kravis và anh họ của ông ta là George R. Roberts, là những người tiên phong trong việc mua lại có đòn bẩy (LBO). Kravis là người đầu tiên mà Johnson nói chuyện về việc thực hiện LBO và cảm thấy bị phản bội sau khi biết rằng Johnson muốn thực hiện thỏa thuận với một công ty khác, bộ phận Shearson Lehman Hutton trước đây của American Express. Ted Forstmann và công ty mua lại Forstmann Little của ông cũng đóng một vai trò quan trọng. Khi lên nắm quyền điều hành RJR Nabisco và thấy giá cổ phiếu của công ty đang trì trệ, Ross Johnson đã tìm cách để có được giá trị lớn hơn cho các cổ đông của mình và cuối cùng đã được các cố vấn ngân hàng đầu tư (của Lehman Brothers) thuyết phục rằng ông nên thực hiện một vụ mua lại có đòn bẩy. Và ngay sau khi giá thầu được công bố, các nhà thầu cho công ty đã xuất hiện. KKR đã trở thành con mồi đầu tiên của LBO. Hầu như tất cả các ngân hàng đầu tư lớn đều tham gia với tư cách là cố vấn cho thương vụ này. Một số nhân vật quan trọng trong giới tài chính xuất hiện. Bruce Wasserstein, CEO của Lazard đã tham gia, cùng với Joe Perella, Eric Gleacher, Tom Hill.   Sau khi Kravis và Johnson không thể dung hòa được sự khác biệt của họ, một cuộc chiến đấu thầu đã diễn ra mà cuối cùng Johnson sẽ thua. Tác dụng phụ đáng tiếc của việc tăng giá mua đối với các cổ đông là tạo ra mức nợ đáng lo ngại cho công ty. Cuốn sách bắt đầu chậm rãi với hơn 300 trang xây dựng bối cảnh cho các nhân vật chính và mô tả lịch sử của RJR Nabisco. Sau đó, nó đẩy nhanh tốc độ và sự kịch tính qua các cuộc hội thoại, thời gian và giọng điệu của nhân vật.   Đánh giá của chuyên gia, tổ chức uy tín về cuốn sách cùng các giải thưởng  “Một trong những cuốn sách kinh doanh tuyệt vời nhất từng được biết tới…” — Joe Nocera, New York Times “Một tác phẩm xuất sắc, tái hiện câu chuyện với quy mô ấn tượng… Lối viết hoa mỹ… bố cục chặt chẽ từ đầu đến cuối.” — Scot J. Paltrow, Los Angeles Times Book Review “Nội dung rất ấn tượng… bối cảnh đặc sắc… một tác phẩm có chất liệu điện ảnh nhưng cũng là cuốn sách được viết cực kỳ công phu.” — KeN auletta, New York Daily News “Thật khó để hình dung ra một cuốn sách hay hơn, lột tả hết bản chất của bối cảnh kinh tế những năm 1980… và cũng khó tưởng tượng ra một ai đó có tài viết lách hơn Burrough và Helyar.” — Bill BarNhart, Chicago Tribune *** Hẳn là nhiều người vẫn còn nhớ đến cuộc chiến giành quyền kiểm soát công ty bánh kẹo và thuốc lá Mỹ – RJR Nabisco – nhà sản xuất bánh quy Oreo và thuốc lá RJ Reynolds gây rúng động Phố Wall hơn 30 năm về trước. Việc sáp nhập bắt đầu với quyết định thực hiện mua lại có đòn bẩy (LBO - Leveraged Buyout) của CEO Ross Johnson và kết thúc với chiến thắng trị giá 25 tỷ đô la của công ty cổ phần tư nhân lâu đời KKR, LBO lớn nhất tại thời điểm đó. Toàn bộ những diễn biến của thương vụ đình đám này được Bryan Burrough và John Helyar tái hiện một cách hết sức chân thật trong cuốn tiểu thuyết kinh doanh kinh điển Bọn Rợ Rình Trước Cổng. Đây là cuốn sách đầu tiên cho chúng ta thấy rõ thực hư về những sự kiện gây chấn động một thời, nó đã được chuyển thể thành phim chiếu trên kênh HBO vào năm 1993 và phim tài liệu chiếu trên kênh History vào năm 2002.  Bằng sự chuyên nghiệp và thấm nhuần các chuẩn mực về tính thời sự, tính chính xác khi làm việc cho tờ Wall Street Journal, hai tác giả đã không bỏ sót bất cứ chi tiết nào dù là nhỏ nhất, bao gồm cả những cuộc hội thoại riêng cũng như những bí mật trong phòng họp giữa các CEO của các công ty. Bắt đầu chậm rãi với hơn 300 trang xây dựng bối cảnh cho các nhân vật chính và mô tả lịch sử của RJR Nabisco, sau đó đẩy nhanh tốc độ và sự kịch tính qua các cuộc hội thoại, thời gian và giọng điệu của nhân vật, cuốn sách này sẽ khiến chúng ta phải kinh ngạc vì những mánh khóe, thủ đoạn, lòng tham không đáy của các chủ ngân hàng đầu tư, nhà quản lý công ty, nhà đầu tư cổ phần tư nhân, các cổ đông…  Được New York Times Book Review đánh giá là “Một trong những bản tường thuật hay nhất, hấp dẫn nhất về những gì đã xảy ra với các công ty Mỹ và Phố Wall vào những năm 1980”, qua cuốn sách, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các rủi ro khi thực hiện LBO, những sai lầm có thể khiến cả doanh nghiệp lớn sụp đổ trong nháy mắt. Từ đó, rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Không những vậy, thất bại của CEO Ross Johnson và hàng loạt nhân vật tiếng tăm trong giới kinh doanh đã trở thành những tấm gương, những bài học đắt giá về cái tâm, cái tầm của các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới. Bài học thứ nhất: Bất kỳ thành quách kiên cố nào cũng đều có thể bị phá huỷ từ bên trong, và người dễ dàng làm điều đó nhất, ít bị đề phòng nhất chính là lãnh đạo, chỉ huy của tòa thành ấy. Việc trao quyền cho nhầm người khi không có cơ chế kiểm soát đủ hiệu quả sẽ là nguy cơ tiềm ẩn khôn lường cho doanh nghiệp. Bài học thứ hai: Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự sa đọa tuyệt đối. Khi người lãnh đạo có được những thứ mình muốn quá dễ dàng thì sẽ dễ bị lạc hướng, chìm vào trong những mưu toan, thủ đoạn trục lợi. Vì thế cuốn sách này sẽ bài học về quản trị nhân sự, tuyển dụng nhân tài sao cho vừa phù hợp, vừa hiệu quả, vừa bền vững. Bài học thứ ba: Thành công của một lãnh đạo không chỉ là xây dựng và phát triển một đội ngũ đủ sức đạt được những thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ của mình mà còn phải tạo ra những người lãnh đạo kế nhiệm đủ tầm khác. Bài học thứ tư: Văn hóa của một doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng cho sự phát triển và trường tồn trong một doanh nghiệp. Câu chuyện về văn hóa doanh nghiệp của Reynolds là một ví dụ không thể thuyết phục hơn. Bài học thứ năm: Cần hơn nữa những ý thức và cam kết với các giá trị cốt lõi và bổ sung thường xuyên của những động lực phát triển mới cho doanh nghiệp. Bọn Rợ Rình Trước Cổng - Bài học đắt giá giành cho những nhà quản lý Đây không chỉ là cuốn sách khiến người đọc phải ngạc nhiên, tò mò với những thủ thuật tài chính, mua bán sáp nhập hiện đại và nguy hiểm, mà còn là cuốn sách những người lãnh đạo doanh nghiệp đang trăn trở về cách thức quản trị tổ chức hiệu quả nhất định không thể bỏ qua.  *** Bryan Burrough là đặc phái viên của Vanity Fair và cựu phóng viên của The Wall Street Journal, ông đã báo cáo về nhiều chủ đề, bao gồm các sự kiện dẫn đến cuộc chiến ở Iraq, sự mất tích của Natalee Holloway và vụ Anthony Pellicano. Bryan còn là tác giả của nhiều bài phê bình sách và bài báo trên The New York Times, Los Angeles Times và Washington Post. John Helyar là một nhà báo và tác giả người Mỹ. Ông tốt nghiệp Đại học Boston và đã làm việc cho The Wall Street Journal, Fortune, ESPN.com, ESPN The Magazine và Bloomberg News. Bài viết của ông và Bryan Burrough về RJR Nabisco đã mang về cho cả hai giải thưởng danh giá Gerald Loeb. *** LỜI GIỚI THIỆU cho bản tiếng Việt 1 Bất kỳ thành quách hay pháo đài kiên cố nào cũng đều có thể bị phá hủy từ bên trong. Và người thuận lợi nhất, dễ dàng nhất, ít bị đề phòng nhất để phá hủy lại chính là người lãnh đạo của cái pháo đài ấy. Đây không chỉ là cuốn sách để người đọc ồ à ngạc nhiên, tò mò với những thủ thuật tài chính, mua bán sáp nhập hiện đại và nguy hiểm, mà còn là cuốn sách khiến những người lãnh đạo doanh nghiệp như chúng ta nhức nhối và trăn trở về cách thức quản trị tổ chức hiệu quả (corporate governance). Trăm năm là rất dài. Nhưng trăm năm dường như vẫn là chưa đủ để tích lũy độ dày cần thiết giúp cái vỏ trứng mong manh có thể chống chọi được những sự phá hoại từ bên trong. Những câu chuyện “chất như nước cất” về quá trình khởi nghiệp, tạo dựng và phát triển của các đế chế hàng đầu thế giới như Reynolds trong ngành thuốc lá hay Nabisco trong ngành bánh kẹo có lẽ sẽ là động lực hừng hực cho những chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Nhưng câu chuyện về sự sụp đổ nhanh chóng của những đế chế trăm năm ấy chỉ trong một thời gian rất ngắn có thể làm cho lãnh đạo của những tập đoàn lớn nhiều nghìn tỷ chúng ta lạnh lưng rợn gáy. Việc cho phép những công cụ tài chính nguy hiểm được hoạt động thiếu kiểm soát lại là trách nhiệm và bài học nhức nhối cho những người quản lý nhà nước. Nhưng trao quyền nhầm người trong khi không có cơ chế kiểm soát đủ hiệu quả có lẽ là nguyên nhân lớn nhất. 2 Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự sa đọa tuyệt đối. Có lẽ với một số độc giả, Ross Johnson cũng sẽ là một nhà quản lý hiệu quả nếu được sử dụng ở đúng vai trò, vị trí và kèm với một số cơ chế kiểm soát phù hợp. Khi trái ngọt đến quá dễ dàng thì người ta sẽ dễ bị lạc hướng, chìm vào những thủ đoạn chính trị nội bộ, những mua chuộc dối trá và những ê kíp đoàn kết nhất trí ru ngủ… Cuốn sách này vì thế cũng là một bài học về quản trị nhân sự. Tuyển dụng và phát triển nhân tài như thế nào để vừa phù hợp, vừa hiệu quả và bền vững không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật. Không phải cứ nhanh hơn là hay hơn. Không phải cứ trao quyền là tốt hơn. Không hẳn cứ trọng dụng là tiến bộ hơn. Đúng người (Who), đúng việc (What) nhưng còn phải đúng cách (How) nữa. Và cũng vì thế nên trách nhiệm quản trị nhân sự không phải là của trưởng phòng hay giám đốc nhân sự. Trách nhiệm ấy là của Ban điều hành, Hội đồng quản trị và cả Đại hội đồng cổ đông. Đặc biệt là với những nhân sự nòng cốt. 3 Thành công của một lãnh đạo không chỉ giới hạn trong việc xây dựng, phát triển và lãnh đạo đội ngũ đủ sức đạt được những kết quả hoạt động mong đợi trong nhiệm kỳ của mình. Thành công của lãnh đạo còn được đánh giá bởi kết quả của sự chuẩn bị lực lượng kế thừa đủ chất lượng, đủ sức lãnh đạo tổ chức thành công trong các nhiệm kỳ tiếp theo. Trách nhiệm của người lãnh đạo không phải là tạo ra những người đi theo: Họ cần tạo ra những người lãnh đạo đủ tầm khác. Nhìn từ góc độ này, những người lãnh đạo tiền nhiệm của Ross Johnson tại các doanh nghiệp liên quan đều là những người lãnh đạo tồi, cho dù tính cách và phong cách lãnh đạo của mỗi người đều rất khác nhau. 4 Muốn hủy diệt một quốc gia, hãy lấy hết đất đai của họ. Nhưng muốn hủy diệt một dân tộc, chỉ cần làm ô nhiễm hay pha loãng văn hóa của họ. Trong doanh nghiệp cũng vậy. Văn hóa của một doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng cho sự phát triển và trường tồn của doanh nghiệp ấy. Cuốn sách chia sẻ những câu chuyện tuyệt vời về sức mạnh vô địch của văn hóa doanh nghiệp. Không có một văn hóa đủ mạnh thì chắc là cả Nabisco lẫn Reynolds đã sớm chìm vào dòng lịch sử chứ không thể sừng sững với thời gian như vậy. Văn hóa của một tổ chức không phải là thứ mà họ tuyên bố hay tuyên truyền. Văn hóa ấy được bắt nguồn từ những người lãnh đạo cao nhất và thấm nhuần vào suy nghĩ, hoạt động cũng như hành vi hằng ngày của tất cả các cấp lãnh đạo và nhân viên của tổ chức ấy. Văn hóa ấy không nhất thiết phải là “tốt” dưới con mắt của cộng đồng xã hội. Nhưng nhất thiết phải phù hợp với đặc tính ngành nghề, bổ trợ cho sự phát triển của tổ chức và tăng cường gắn kết với những người quan trọng cần thiết cho sự thành công của tổ chức: cổ đông, nhân viên và khách hàng. Câu chuyện về văn hóa doanh nghiệp ở doanh nghiệp thuốc lá Reynolds là một ví dụ không thể thuyết phục hơn. 5 Kết cục đau thương cho những thương hiệu hàng đầu trong câu chuyện đặt ra câu hỏi nhức nhối về công thức truyền thừa của các tổ chức: Làm sao để trường tồn? Văn hóa mạnh: Đúng rồi. Nhưng sẽ đến lúc chính văn hóa ấy cản trở doanh nghiệp thay đổi và phát triển. Lãnh đạo tâm - tầm - tài: Đúng rồi. Nhưng lãnh đạo nào rồi cũng sẽ ra đi, mà có phải lãnh đạo nào cũng minh mẫn suốt đời đâu. Có lẽ sẽ cần hơn nữa những sự cảm nhận và thôi thúc sứ mệnh, những ý thức và cam kết với các giá trị cốt lõi và sự bổ sung thường xuyên của những động lực phát triển mới cho doanh nghiệp. Nhưng khổ nỗi, tất cả những điều ấy đều đến từ hay bị điều chỉnh bởi lãnh đạo. Làm sao để kiểm soát được lãnh đạo, hoặc ít nhất để lãnh đạo tự kiểm soát được chính mình, thì chỉ có những người tạo ra lãnh đạo trả lời được mà thôi. Vài dòng tâm tư khi đọc cuốn sách Bọn rợ rình trước cổngtrong chuyến đi cứu trợ miền Trung năm 2020. Trần Bằng Việt Chuyên gia tư vấn cao cấp Chủ tịch Giải pháp Phát triển Đông A *** LỜI TÁC GIẢ Năm 1989, chúng tôi viết Bọn rợ rình trước cổng kể về các sự kiện đang diễn ra; bây giờ mọi thứ đã trở thành dĩ vãng. Một số cuốn sách có vòng đời dài hơn các cuốn khác. Chúng tôi nghĩ rằng cuốn sách này là một trong số đó. Nó vẫn được dùng để giảng dạy về nhiều chủ đề cho sinh viên trong các trường đào tạo kinh doanh lớn, từ đạo đức kinh doanh đến nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Năm 1993, cuốn sách được chuyển thể thành phim và chiếu trên kênh HBO. Năm 2002, 14 năm sau khi gây chấn động, cuộc chiến RJR lại được chuyển thể thành một bộ phim tài liệu chiếu trên kênh History. Sự đón nhận này của công chúng là những gì chúng tôi chưa từng dám nghĩ tới khi bắt tay viết cuốn sách. Trên thực tế, mục tiêu chính của chúng tôi chỉ đơn giản là kiểm tra năng lực của chính mình, xem liệu chúng tôi có thể tự viết một cuốn sách hay không; cả hai chúng tôi đều chưa từng thử viết sách. Bọn rợ rình trước cổng cũng không phải là cuốn sách được các nhà xuất bản tranh giành. Trên thực tế, trong số hơn chục nhà xuất bản chúng tôi đã tiếp xúc, chính xác chỉ có nhà xuất bản Harper & Row (nay là nhà xuất bản Harper Collins) tỏ ra quan tâm một chút. Mọi người đã chán ngấy với các câu chuyện xuất hiện nhiều tuần trên những mặt báo về RJR. Còn ai muốn đọc thêm nữa? Là phóng viên của tờ Wall Street Journal, chúng tôi đã cố gắng làm cho Bọn rợ rình trước cổng thấm nhuần các chuẩn mực về tính thời sự và tính chính xác mà chúng tôi đã nắm vững khi viết báo. Thật sự, Bọn rợ rình trước cổng sẽ không thể ra đời nếu không có sự khích lệ mà hai biên tập viên của cuốn sách này, Norman Pearlstine và Paul Steiger, dành cho chúng tôi. Không chỉ vậy, chúng tôi còn được nghỉ phép không lương trong tám tháng để thực hiện cuốn sách này. Tháng 10 năm đó, khi câu chuyện về RJR bùng nổ, tôi là phóng viên của Wall Street Journal, tờ báo đầu tiên đưa tin về vụ sáp nhập và mua lại đình đám ở Phố Wall; còn John, sống tại Atlanta, phụ trách viết bài về công ty. Chúng tôi đã cùng nhau viết về mọi ngóc ngách của trận chiến RJR kéo dài sáu tuần. Chỉ đến khi trận chiến kết thúc, chúng tôi mới thống nhất cùng nhau viết sách, thế là chúng tôi gặp nhau. John giơ một cuốn tạp chí Timelên, trên trang bìa là bức ảnh đáng hổ thẹn của Ross Johnson, để tôi có thể nhận ra anh ở sân bay Atlanta. Chúng tôi thường có chút ngại ngùng khi thừa nhận đã nghiên cứu và viết Bọn rợ rình trước cổng trong tám tháng ngắn ngủi, từ tháng Một đến tháng Tám năm 1989. Đó là quãng thời gian buồn vui lẫn lộn với chúng tôi. Tôi sống trong một căn hộ không có điều hòa ở khu phố Park Slope, quận Brooklyn. Tôi đi tàu điện ngầm đến Manhattan để thực hiện sáu cuộc phỏng vấn mỗi ngày; chúng tôi nhất trí với nhau rằng tất cả các cuộc phỏng vấn nên được thực hiện trực tiếp. Buổi tối, tôi trở về nhà, kiểm tra, đối chiếu thông tin và viết lại những ghi chú trong buổi phỏng vấn. Đôi khi, vì trời mùa hè quá nóng, tôi chỉ mặc chiếc quần bơi và áo phông. John phải di chuyển rất nhiều, qua lại giữa Atlanta, Bắc Carolina và New York để khớp nối các câu chuyện về con đường tiến thân đến đỉnh cao quyền lực của Ross Johnson. Chúng tôi làm việc độc lập, trừ khi có các cuộc phỏng vấn quan trọng với chính Johnson, đã có các cuộc phỏng vấn dài không chính thức ở Atlanta và Manhattan, có thêm bánh pizza và nước ngọt. Khi đang viết sách, chúng tôi đã lo rằng câu chuyện về RJR sẽ bị lu mờ bởi một số thương vụ đình đám hơn, khắc nghiệt hơn. Giữa những kẻ tập kích công ty, các nghệ sĩ LBO và những nhà tài phiệt đầu tư vào trái phiếu rác, toàn bộ giới kinh doanh của những năm 1980 như phát điên. Những cuộc đột kích man rợ diễn ra sau Bọn rợ rình trước cổng có thể làm cho trận chiến RJR từ bản anh hùng ca chỉ còn là vài dòng chú thích. (Đó là lý do tại sao Harper muốn ra mắt cuốn sách thật nhanh.) Chúng tôi đã sẵn sàng cho ngày đen tối đó, nhưng nó không bao giờ đến. Hóa ra cuộc chiến giành RJR vừa xác lập và kết thúc một kỷ nguyên. Trong gần một thập kỷ sau đó, vụ trúng thầu trị giá 25 tỷ đô-la của KKR vẫn được xem là thương vụ lớn nhất mọi thời đại. Có một số yếu tố kết hợp với nhau làm giảm quy mô của các giao dịch trong vài năm. Cỗ máy kiếm tiền siêu đẳng đằng sau LBO - trái phiếu rác - đã ngắc ngoải, và có lúc gần như dừng hoạt động. Mike Milken bị bắt giam; Drexel Burnham phá sản, và trong thời kỳ suy thoái đầu thập niên 1990, các công ty ốm yếu sử dụng đòn bẩy quá mức đã gây tiếng xấu cho LBO. Henry Kravis thôi không nhòm ngó các cuộc chơi lớn nữa. Ông ta còn bận với việc chăm sóc sức khỏe và ăn uống - cũng như chuyện nợ nần của RJR. Những ngôi sao khác của Phố Wall trong thập niên 1980, những kẻ từng chinh chiến để giành lấy RJR đã kiêu ngạo quá mức và trở nên quá đỗi nhạt nhòa. John Gutfreund bị hất cẳng vào năm 1991, khi đang là chủ tịch của Salomon Brothers, sau một vụ bê bối giao dịch trái phiếu kho bạc. Chủ tịch Tom Strauss cũng phải từ chức. Ông này từng tham gia với Peter Cohen trong vụ nhập nhèm ở một quỹ phòng hộ. Những người khác cũng chuyển sang các công ty quản lý quỹ, bao gồm Tom Hill ở tập đoàn Blackstone và Steve Waters ở một quỹ đầu tư tư nhân của châu Âu có tên Compass Partners. Nhân vật duy nhất nổi lên như một ngôi sao trong vụ Bọn rợ rình trước cổng là Steve Goldstone. Vị luật sư từng làm cho Ross Johnson cuối cùng đã trở thành CEO của RJR Nabisco. Nhưng ngay cả việc Goldstone leo lên được vị trí này cũng chủ yếu nhờ sự sụp đổ của công ty hùng mạnh một thời. Năm 1999, ông bán Nabisco cho Phillip Morris, thoái vốn khỏi hoạt động kinh doanh thuốc lá quốc tế của RJR, và đưa công ty trở lại điểm xuất phát: một công ty thuốc lá Mỹ có trụ sở tại Winston-Salem, Bắc Carolina. Kohlberg Kravis đã rời khỏi RJR ngay sau đó, với những khoản lợi nhuận khiêm tốn. Nhưng ngay khi những sát thủ Phố Wall của thập niên 1980 lặng lẽ lùi dần vào sau ánh hoàng hôn, họ đã mở ra buổi bình minh của thập niên 1990 thậm chí còn hỗn độn hơn. Ban đầu, các CEO của Mỹ bị sốc và kinh hoàng bởi những gì bọn rợ đã làm, nhưng cuối cùng lại theo chân họ. Từ vụ RJR, họ đã hiểu những gì mà những kẻ giàu sụ dễ dàng kiếm được. Họ bắt đầu lao vào giành lấy phần của mình. “CEO của các tập đoàn đã học được hai điều từ các vụ LBO,” Dick Beattie, người vẫn tiếp tục với các thỏa thuận lớn cho đến những năm 1990, nói. “Trước tiên, cách để có một khối tài sản kếch xù là thông qua sở hữu cổ phần, chứ không phải là dựa vào tiền lương và tiền thưởng, và thứ hai, anh không cần phải làm LBO mới có trong tay cổ phiếu. Anh có thể cho mình quyền mua bán cổ phiếu. Với cách làm phổ biến đó, các CEO của những năm 1990 đã thu về bộn tiền khiến Ross Johnson phải bối rối và lây lan tính tham lam trên cả Phố Main* lẫn Phố Wall. Tính tham lam đó thậm chí còn lây lan đến cả những công ty kế toán vốn ù lì, nay biến thành các công ty tổ chức sòng bạc hơn là làm công việc kiểm toán. “Lỗi là ở các nhân viên ngân hàng đầu tư,” Paul Volcker gào lên. Ông là cựu Chủ tịch Fed, người đã rất nỗ lực giải cứu Arthur Andersen nhưng bất thành trong một vụ bê bối gây nhiều tranh cãi. Lúc ông mới đến Phố Wall vào đầu năm 2002, những tay đầu cơ cổ phiếu ở đây đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đám đông nhân viên kiểm toán thường đội mũ lưỡi trai màu xanh lá cây để che nắng này*. Volcker kể lại: “Các kế toán viên cảm thấy thế này: ‘Chúng ta cũng giỏi như bọn họ, và chúng ta đang làm mọi việc.’ Bầu không khí bao trùm nơi đây là: ‘Tiền ở đó, đến mà lấy.”’ Hãy gọi đó là “chiến thắng của bọn rợ” cho đó là lý do để cuốn sách này vẫn mãi liên hệ đến những con người của hiện tại. Các CEO khét tiếng ngày nay như Dennis Kozlowski và Bernie Ebbers thực sự là những phiên bản Ross Johnson thời hiện đại. Họ đã phát triển những gì mà ông tiên phong: CEO chỉ là những kẻ tư lợi, không phải là người của công ty. Các CEO như những tay giang hồ liều lĩnh và là những kẻ trơ tráo tước đoạt tài sản của công ty. Chỉ khác là các thương vụ họ thực hiện ở quy mô, tầm vóc lớn hơn, trong thị trường bò (bull market) và thời kỳ bong bóng công nghệ của những năm 1990, khi số cổ phiếu và lượng tiền chiếm đoạt lớn hơn rất nhiều. Ngay cả những kẻ bất tài như Henry Samueli và Henry Nicholas, đồng chủ tịch của một công ty có tên Broadcom, cũng thu về mỗi người 800 triệu đô-la lợi nhuận. Họ bán cổ phiếu thưởng lấy tiền mặt khi ngành viễn thông vẫn còn đang “nổi”. So với số tiền đó, chiếc dù vàng đáng xấu hổ một thời trị giá 53 triệu đô-la của Ross Johnson vẫn còn là ít. Nhưng ngay cả khi có các thương vụ đã vượt qua Bọn rợ rình trước cổng về quy mô tiền mặt, chúng cũng không được dựng thành phim. Và nguyên nhân không nằm ở tài năng của các tác giả, có Chúa mới biết. Đó là vì trong sáu tuần chinh chiến vào năm 1988 đó, khi một nhóm các ông trùm kinh doanh mới phất lên giành giật quyền sở hữu một công ty lớn và trở thành những ông chủ lớn thống trị Phố Wall, trật tự hoàn hảo của thế giới mới đã được thiết lập. Hệ tư tưởng của một thời đại đã được thể hiện đầy đủ trong cuộc chiến giành RJR: những cảm xúc thô thiển xung đột kịch liệt với tính tự cao tự đại: cốt truyện không hề bị méo mó và các nhân vật lại càng không. Các tác giả khác đã cùng viết nên những cuốn sách đáng tự hào, những thiên tiểu thuyết về kinh doanh. Cuốn Indecent Exposure (tạm dịch: Để lộ âm tàng) của David McClintick là khuôn mẫu cho tất cả chúng ta, nhưng không có cuốn sách nào lại đặc biệt với nhiều tư liệu rùng rợn đến vậy. Chúng tôi viết về những nhân viên ngân hàng đầu tư vừa nuốt vội bánh Milk Bone, vừa chạy như bay đến khu trung tâm Manhattan, hạ giá thầu vào phút cuối. Chúng tôi viết về một CEO, người có con chó được sắp xếp bay trên một chiếc máy bay phản lực với khẩu hiệu sống: “Cứ mỗi giây qua đi, vài triệu đô-la lại trở thành quá khứ xa vời.” Chúng tôi mãi mãi biết ơn họ đã cho chúng tôi nguồn tư liệu quý để viết nên cuốn sách này. Bạn không thể cảm nhận được điều đó đâu. Mời các bạn đón đọc Bọn Rợ Rình Trước Cổng: Mua Lại Có Đòn Bẩy Và Thương Vụ Đình Đám RJR Nabisco của tác giả Bryan Burrough & John Helyar & Hoàng Thị Ngọc (dịch).
Vòng Tròn To, Vòng Tròn Nhỏ
[Giới thiệu sách]  Vòng Tròn To, Vòng Tròn Nhỏ - tác giả Rita Nguyễn  “Vòng Tròn To, Vòng Tròn Nhỏ” là câu chuyện kể về chuyến hành trình xuyên lục địa của một mảnh ni lông. Trong thế giới giả tưởng ấy, các loài sinh vật và đồ vật đều có ngôn ngữ và tư duy riêng không kém loài người. Ở chương 1 và chương 2, mảnh ni lông tên Ni Lô chia sẻ những trải nghiệm về cuộc sống ở giai đoạn đầu đời tại Việt Nam. Ni Lô trăn trở về kiếp sống bạc bẽo của những loài động vật hoang dã bị đối xử tệ bạc trong một vườn bách thú. Ni Lô hoang mang về sinh mệnh của bản thân khi bị chỉ trích là “kẻ tội đồ” phá hoại môi trường sống. Từ đó, Ni Lô quyết định đi thật nhiều và thật xa nhằm khám phá thế giới và tìm kiếm lời giải thích cho sự tồn tại của chính mình, cũng như vấn nạn ô nhiễm trên trái đất này. Từ chương 3 đến chương 6, Ni Lô kể về hành trình du lịch đến một số quốc gia cùng những nhân vật đồng hành như con người, con bò, con chim, con cá, chiếc ba lô, v.v.. Đồng thời, bằng những gì đã thấy và đã nghe, Ni Lô chia sẻ nhiều thông tin khoa học về vấn đề ô nhiễm môi trường tại Thái Lan, Ấn Độ, Nepal và Mỹ. Chương cuối “Trở về và chuyển hóa”, Nilo nêu lên câu chuyện nguồn nước bị tàn phá nghiêm trọng đang diễn ra tại biển hồ Tonle Sap ở Campuchia nói riêng và sông Mekong nói chung. Cuối cùng, ở chương 7, mảnh ni lông bé nhỏ mong manh, ham học hỏi và đầy trí tuệ ấy đã được tái chế trở thành một vật liệu vô cùng có ý nghĩa cho cuộc sống của người dân Việt Nam thường hay sống chung với lũ. Đó cũng là lúc, mảnh ni lông nhận ra giá trị tồn tại của bản thân trong sự hòa hợp với đồng loại rác thải nhựa. Đó cũng là lúc, chân lý được nhận ra, kích cỡ vòng tròn của trái đất ngỡ thật to mà hóa ra nhỏ đến không ngờ!   Người đăng: Vô_ngôn