Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kẻ Làm Người Chịu

Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... *** Mấy bữa rày nhựt báo ở Sài Gòn rập nhau mà khen ngợi rạp hát Casino hát tuồng “Les Miserables”[1] hay lắm. Nàng Lý Tố Nga ưa coi hát bộ, chứ ít ham coi hát bóng, nhưng vì nàng ở nhà cứ đọc truyện hoài rồi cũng buồn, mà lại thấy nhựt báo khen quá, nên tối lại nàng rửa mặt, gỡ đầu, thay quần, đổi áo, tính đi coi hát bóng một bữa mà chơi. Nàng bước vô rạp hát thấy có người ta ngồi rải rác các hạng ước chừng năm sáu chục người. Nàng lựa hàng ghế trống rồi phăng phăng đi lại ngồi cái ghế đầu, đặng vãn hát đi ra cho dễ. Nàng Tố Nga mình mặc một cái áo tố đen phía trong lót màu bông hường lợt, dưới bận một cái quần lục trắng chơn mang một đôi giày nhung đen. Tuy tay có đeo một bộ cà rá hột xoàn, tai có đeo một đôi bông hột xoàn, và cổ cũng có đeo một sợi dây chuyền cũng nhận hột xoàn, song sự trang sức của nàng coi cũng tầm thường, chớ không có vẻ chưng diện chi hết. Chẳng hiểu vì cớ nào lúc nàng mới đi vô thì người ta lại chong mắt, day đầu lại mà ngó nàng, rồi chừng nàng kiếm chỗ ngồi yên, người ta lại cũng cứ ngó nàng hoài nữa. Có lẽ nàng thấy người ta ngó thì nàng e lệ, nên nàng lột cái khăn màu hột gà xuống mà bỏ trong lòng, rồi với tay lấy tờ chương trình hát bóng cầm mà coi. Cách chẳng bao lâu có hai người đàn bà đi vô, rồi xăm xăm lại hàng ghế của Tố Nga mà ngồi, người nhỏ chừng mười bảy mười tám tuổi, thì ngồi một bên Tố Nga, còn người lớn, tóc đã bạc hoa râm thì ngồi kế đó nữa. Tố Nga liếc mắt ngó người trẻ tuổi, mà người ấy cũng liếc mắt ngó nàng hai người ngó nhau rồi cười nhưng vì không quen với nhau, nên không chào hỏi chi hết. Hai người mới vô đó vừa ngồi yên chỗ, thì người trẻ tuổi nói với người kia rằng: “Mình ngồi hàng ghế nầy có gần một chút. Chớ chi mình vô sớm, mình mua giấy ngồi phía sau dễ coi hơn?” Người kia đáp nhỏ rằng: “Ngồi đây cũng được. Phía sau có Tây nhiều, khó lòng.” Tố Nga nghe người nhỏ kêu người lớn bằng dì, thì biết không phải là mẹ con. Nàng coi kỹ thấy người lớn mặc áo xuyến đen, quần lãnh đen tay đeo một chiếc huyền, mang một đôi dõn.[2]Người ấy trắng trẻo, mập mạp, tuy tóc đã điểm bạc mà da mặt còn chưa dùn. Còn người nhỏ mặc áo màu nguyệt bạch, quần lãnh đen, đầu choàng khăn lục trắng có thêu bìa, chơn mang giày thêu kim tuyến, tai đeo bông hột xoàn, cổ đeo một sợi dây chuyền nhỏ có nhận ba hột xoàn lớn tay trái đeo một chiếc cẩm thạch, tay mặt đeo một chiếc huyền[3] cẩn. Người dong dảy, không mập không ốm nhưng cườm tay no tròn, ngón tay suông đuột, bàn tay dịu nhiễu, da mặt không dồi phấn mà trắng trong, môi không thoa son mà ửng đỏ, răng nhỏ rức lại trong ngần, mắt hiền lương lại sáng rỡ. Tố Nga thấy người dung nhan thiệt là đẹp đẽ, muốn làm quen đặng hỏi thăm coi người ở đâu, song nàng chưa kiếm được chước mà làm quen, thì lại nghe rung chuông sửa soạn hát. Đèn trong rạp tắt hết, rồi nghe phía ngoài cửa máy quay lạch xạch. Chẳng bao lâu khởi sự coi hát. Người lớn ai cũng ngồi im lìm chống mắt mà coi, duy có sấp con nít la ó rồi lại vỗ tay vang rân. Tố Nga mắc coi, nên cái khăn rớt xuống đất nàng không hay. Người con gái ngồi một bên đó dòm thấy lật đật cúi xuống lượm giùm, rồi đưa cho nàng. Tố Nga cười và nói: “Cám ơn cô.” Tiếng nghe ngọt xớt. Hai người đều có ý muốn làm quen với nhau, lại cũng muốn thừa dịp ấy mà nói, ngặt vì bóng đương chớp, đèn còn tắt, liệu thế nói nhiều không tiện, nên làm lơ mà coi hát. Bóng chớp đến lúc nàng Fantine khốn khổ, phải cắt tóc nhổ răng mà bán đặng lấy tiền trả cho người lãnh nuôi con mình thì hai nàng đều cảm xúc nên ứa nước mắt một lượt. Thình lình hết lớp, họ vặn đèn khí bực lên sáng lòa. Hai nàng người nào cặp mắt cũng ướt rượt, người nào cũng sợ hổ thẹn, nên đồng thò tay vào túi móc khăn nhỏ ra mà lau nước mắt. Tố Nga thấy nàng ngồi một bên đó cũng lạc lõng như mình, thì nàng hết ái ngại nữa, nên nàng day qua má nói rằng: “Tuồng nầy hát coi động lòng quá cô há.” Nàng ấy liền chúm chím cười và đáp rằng: “Nãy giờ tôi khóc ngay. Tôi thấy người đàn bà mà bị khốn khổ quá như vậy tôi chịu không được. Tôi hay mủi lòng lắm, nên tôi ít muốn đi coi hát.” Tố Nga nghe mấy lời thật thà ấy rất hiệp với ý nàng nên nàng nói tiếp rằng: - Tôi cũng vậy. Tôi coi hát hễ tới mấy khúc người ngay mà bị hoạn nạn, thì tôi chảy nước mắt. Hổm nay tôi thấy nhựt báo khen tuồng nầy hay lắm, nên nữa nay tôi đi coi thử, té ra tuồng hay thiệt. - Tôi cũng vậy.Tại tôi thấy nhựt báo khen quá, nên tôi mới xin dì tôi dắt tôi đi coi đây. - Nhà cô ở đâu? - Tôi ở trong Chợ Lớn. - Dì đây là dì ruột của cô hay là dì sao? - Dì ruột tôi. Chị ruột của má tôi. Còn cô ở Sài Gòn hay là ở lục tỉnh lên chơi? - Tôi ở Sài Gòn. Tôi người gốc Trà Vinh, mới mua nhà về ở trên nầy chừng vài năm nay. - Thầy đổi về làm việc ở trên nầy hay sao? - Không. Ở nhà tôi làm việc Tòa án dưới Mỹ Tho. Vì thằng em tôi nó còn học trường Chasseloup, mà tôi muốn gần gũi nó, nên mới mua nhà mà ở trên nầy. - Thầy làm việc dưới Mỹ, sao cô lại ở trên nầy? Tố Nga nghe hỏi câu đó, thì nàng cúi mặt bộ coi buồn xo, song nàng gượng mà đáp rằng: - Vì tôi còn có một mình má tôi, nên tôi phải ở hủ hỉ với má tôi cho vui…Cô có chồng hay chưa? Chuyến nầy tới nàng mặc áo màu nguyệt bạch ấy nghe hỏi như vậy, có sắc hổ thẹn, nên cũng cúi mặt xuống và đáp nhỏ rằng: - Chưa. - Hai bác còn mạnh giỏi hết há? - Tía má tôi đều khuất hết. - Nếu vậy thì bây giờ cô ở với dì đây phải hôn? - Phải. - Cô năm nay được mấy tuổi? - Tôi mười bảy tuổi. - Té ra cô nhỏ hơn tôi ba tuổi. Hai nàng mới nói chuyện tới đó, kế họ tắt đèn hát tiếp nên phải nín thinh để coi hát. Từ đó về sau hễ hết chớp thì hai nàng nói chuyện với nhau, lúc thì luận về tuồng hát, lúc thì hỏi việc gia đình, tuy mới gặp một lần đầu, mà câu chuyện có hơi dan díu, chẳng khác nào như đã quen biết lâu rồi vậy. Gần mười một giờ rưỡi mới vãn hát. Tố Nga khuyên dì cháu nàng ở Chợ Lớn đó ngồi nán đợi họ ra bớt rồi mình sẽ ra sau, cho dễ. Khi đứng dậy đi ra Tố Nga mới nói với hai dì cháu rằng: “Về Chợ Lớn đường vắng quá, tôi sợ đi xe kéo không tiện.” Người lớn tuổi đáp rằng: “Dám đi xe kéo đâu. Để ra ngoài kiếm xe mui mướn đi.” Ra tới cửa rồi, Tố Nga từ giã, bèn nói với người con gái rằng: “Nhà tôi ở đường Thuận Kiều, số 112; tôi mời cô với dì bữa nào có dịp ra ngoài nầy ban ngày thì ghé nhà tôi chơi.” Nàng ấy cúi đầu và đáp rằng: “Cám ơn cô, để khi nào có dịp tôi sẽ ra thăm cô. Còn cô có vô Chợ Lớn chơi, tôi cũng xin cô ghé nhà tôi uống nước. Tôi ở đường Cây Mai, số 82.” Hai nàng cúi đầu chào nhau rồi lên xe kéo mà đi. Tố Nga về dọc đường, trong trí nàng thầm khen nàng ấy hoài, không biết nàng là con của ai mà dung nhan đẹp đẽ văn nói có duyên, tướng đi tướng đứng dịu dàng, cách ngó cách cười đằm thắm, thuở nay chưa gặp một nàng nào ngôn dung được vậy. Nàng nầy là con gái của ông Bang Siêu, tên nàng là Thái Cẩm Vân năm nay được 17 tuổi rồi mà chưa có chồng. Ông Bang Siêu từ Triều Châu ở bên Tàu qua Việt Nam hồi 22 tuổi. Ông buôn bán làm ăn khá lần rồi mới lập một tiệm trà tại đường Gia Long. Ông cưới một người vợ Việt Nam ở phía dưới Cần Giuộc, cách ít năm mới sanh nàng Cẩm Vân. Ông buôn bán ngày càng thêm khá. Vả ông là người chơn chất ngay thẳng bởi vậy người một nước đều tin cậy ông, nên có một năm nọ đều hiệp nhau mà cử ông làm Ban Trưởng. Khi Cẩm Vân được 9 tuổi, ông Bang Siêu để tiệm trà cho vợ coi, đặng ông về Tàu mà thăm tổ quán. Ai cũng tưởng ông về Tàu ít tháng rồi ông trở qua, nào dè ông đi mới có một tháng rưỡi thì có thơ bên Tàu gởi qua nói ông chết. Vợ ông Bang Siêu lấy làm bối rối, phần thì tiệm lớn mua bán bạc muôn, phần thì bà không biết chữ Tàu, bà không xem sổ sách được. Bà sợ tài phú gian lận, bởi vậy bà sang tiệm cho người khác, lấy ba muôn rưỡi đồng bạc bà mua năm căn phố sầu tại đường Cây mai, giá hai muôn tám còn bảy ngàn bà để làm vốn mà nuôi con. Bà dọn ở căn đầu, còn lại bốn căn bà cho mướn, mỗi tháng góp tiền phố được vài trăm đồng. Qua năm sau bà cho Cẩm Vân vào nhà trắng[4] Chợ Lớn mà học, Cẩm Vân sẳn khiếu thông minh, lại nhờ tánh cần cố, nên nàng mới học 5 năm đã biết nói tiếng Tây, biết viết chữ Tây đủ dùng, mà nàng lại biết thêu thùa và may vá khéo lắm. Nàng tính học luôn cho đến 20 tuổi mới thôi chẳng dè khi nàng mới được 15 tuổi, mẹ nàng tỵ trần nhà cửa không ai coi bởi vậy nàng phải thôi học đặng về nhà mà cai quản sự nghiệp. Nàng không có bà con đông: bên nội thì có vài người chú họ mà thôi, chớ không có bà con ruột; còn bên ngoại thì có một người dì, chồng chết không có con, ở dưới Rạch Kiến chớ không còn ai nữa. Vả Cẩm Vân là con khách Triều Châu nhưng vì cha chết hồi nàng còn nhỏ dại, rồi từ ấy về sau ở nhà thì gần gũi với mẹ Việt Nam, vô trường thì bầu bạn với con gái Việt Nam, nàng tập tánh nết lễ nghĩa theo con người Việt Nam bởi vậy nếu ai không rõ cội rễ của nàng thì chẳng bao giờ mà nghi nàng là con khách trú. Khi mẹ nàng khuất rồi nàng liệu ở một mình không tiện, nên năn nỉ với dì, là cô ba Hài, về ở với nàng. Cô ba Hài cũng có vốn năm bảy trăm, chớ không phải nghèo cực gì, nhưng vì bà không chồng, không con, ở một mình quạnh hiu, lại thấy cháu còn nhỏ dại không lỡ không bảo bọc nó, bởi vậy bà mới bán nhà về ở Cẩm Vân. Cẩm Vân cư tang báo hiếu cho mẹ thiệt là chính chắn. Trọn hai năm nàng xẩn bẩn ở trong nhà mà hủ hỉ với dì chẳng khi nào nàng ló ra đường, họ khen hát Quảng đông hay nàng làm lơ mà họ đồn lễ Khổng Tử lớn nàng cũng không kể. Nàng mới mãn tang mẹ được vài tháng mà đã có hai người mái chính[5] với một người con ông Bang cậy mai nói mà cưới nàng. Trong ba chỗ ấy nàng không ưng chỗ nào hết. Hai người chú một họ đến khuyên lơn nàng hết sức, mà nàng cũng không chịu. Họ giận họ rầy và hỏi vì cớ nào mà mấy chỗ đều giàu có xứng đáng mà nàng lại chê hết thảy, thì nàng nói rằng, nàng còn nhỏ, nên chưa muốn lấy chồng, chớ nàng không nói duyên cớ nào khác. Bữa nay nàng đọc nhựt báo thấy có lời khen rạp hát Casino ngoài Sài Gòn hát tuồng mới hay lắm nàng mời dì đi coi thử nên nàng mới gặp nàng Tố Nga mà làm quen đó. Còn nàng Tố Nga là con bà Tổng Hiền, gốc ở Láng Thé, thuộc tỉnh Trà Vinh. Không ai biết ông Tổng Hiền sanh đẻ tại xứ nào. Theo lời mấy ông già bà cả nói tại, thì lúc Hiền còn trai tráng anh ta đến Láng Thé kiếm chỗ làm ăn. Anh ta vào ở đợ với cựu Hương cả Khoan. Hương cả Khoan có chừng vài chục mẫu ruộng mà thôi, chớ không giàu chi lắm.Vợ ông chết sớm, để lại cho ông một đứa con gái tên là Thị Lài. Lúc ông mướn tên Hiền ở thì Thị Lài được 21 tuổi rồi mà chưa có chồng. Tuy Hiền nghèo đi ở đợ, nhưng mà anh ta biết chữ nho chút ít, bộ tướng mạnh dạn, văn nói khôn lanh, mặt mày sáng láng. Anh ta ở được có ít tháng thì đã tư tình với con gái ông chủ nhà, Hương cả Khoan sợ làm rầy ra càng thêm xấu hổ, bởi vậy gả phứt Thị Lài cho tên Hiền, đặng trong khỏi oán thù, ngoài khỏi dị nghị. Hiền là tay khôn ngoan, khi Hương cả Khoan chết rồi, anh ta kế nghiệp thì anh ta tung hoành, quyết dùng gia tài chút đỉnh của cha vợ để lại đó mà làm một sự nghiệp lớn ở trong tỉnh Trà Vinh. Anh ta nghĩ nếu không có quyền thế thì khó mà làm giàu được. Anh ta mới ra làm làng, ban đầu làm Hương hào, xã trưởng, lần lần mò lên chức Hương quản Hương sư. Anh ta dùng cái quyền Hương chức mà hung hiếp lường gạt những Thổ dân khờ khạo ở trong làng, nhờ làm như vậy nên làm tương chức trong mười năm thì ruộng đất đã tăng số lên tới một trăm mẫu. Anh ta tại gặp dịp may, lúc ấy trong tổng khuyết chức Phó Tổng. Anh ta ra tranh cử, nhờ trong nhà có tiền, hể nói đâu người ta nghe đó bởi vậy cho nên lo có một tháng, tốn có một ngàn đồng, mà được làm thầy Phó. Anh ta làm Phó Tổng không có quyền hành gì bao nhiêu, nhưng mà anh ta là người thấy xa, nên không lấy sự đó làm buồn nghĩ vì ông Cai Tổng đã già rồi nếu mình biết nhẫn nhịn trong một ít năm thì cái quyền cai Tổng không lọt khỏi tay mình được. Thiệt quả ông Hiền làm phó Tổng mới ba năm, kế Cai Tổng qua đời, ông ta được cấp bằng làm Cai Tổng. Quyền thế đã sẵn rồi, oai nghi lập thêm không khó gì, ông Hiền mới dùng quyền thế, lập oai nghi mà sửa trị dân làng trong tổng. Cách ông sửa trị khác hơn người ta hết thảy; ông sửa là sửa bộ điền bộ địa; ông trị là trị thổ tá canh chớ không phải ông sửa tục xấu thói hèn, không phải ông trị côn đồ cướp đản như một hai ông Cai Tổng khác. Ông sửa trị có mấy năm mà ruộng đất của dân Thổ mười phần đã sang tên ông đứng bộ hết bảy tám phần. Ông Tổng Hiền có hai đứa con: đứa con gái lớn tên là Lý Tố Nga, đứa con trai nhỏ tên là Lý Chánh Tâm. Tuy ông làm quan ông ít thương dân, nhưng ông làm cha thì ông thương con nhiều lắm. Đứa con gái ông cho lên Nữ học đường mà học, còn đứa con trai thì ông gởi nhà người quen đặng đi học trường tỉnh Trà Vinh. Tố Nga học tới 16 tuổi, có bằng sơ học rồi ông mới đem về tính gả lấy chồng. Cách ba năm trước ông xin phép đi Sài Gòn hầu Toà Phúc Án về vụ ông kiện giành 120 mẫu đất với tên Thạch Gồng. Khi ông về đến nhà thì khí sắc ông hân hoan lắm. Ông nói cho vợ con hay rằng, ông đã đặng kiện rồi, mà ông đã hứa gả Tố Nga cho con trai ông Cai Tổng Hỉ ở Mỹ Tho, chàng ấy tên là Lê Phùng Xuân, đương làm thông ngôn Toà Phúc Án trên Sài Gòn. Mời các bạn đón đọc Kẻ Làm Người Chịu của tác giả Hồ Biểu Chánh.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Giang Hồ Hiểm Ác
Móng Vuốt Quạ Đen luôn đứng đầu danh sách bán chạy của tuần báo New York Times, được vinh danh trong nhiều danh sách giải thưởng, hạng mục bình chọn quốc tế. Tác phẩm kể về một thế giới có phép thuật - nơi một nhóm những kẻ bất hảo tình cờ bị cuốn vào một phi vụ giải cứu đầy hiểm nguy, có khả năng xoay chuyển vận mệnh của thế giới. Đây là series tiểu thuyết Fantasy lừng danh được đón đọc trên khắp thế giới và làm nên tên tuổi của nhà văn Leigh Bardugo. Ketterdam là trung tâm giao thương quốc tế, nơi mọi thứ đều có thể đoạt lấy nếu được trả một cái giá tương xứng - và không ai hiểu rõ điều đó hơn thiên tài tội phạm Kaz Brekker. Kaz được đề nghị thực hiện một phi vụ hiểm hóc với mức tiền công sẽ giúp anh giàu sang hơn bất cứ giấc mơ điên rồ nào của mình. Nhưng anh không thể hoàn thành được nó một mình "Một tù nhân với cơn khát trả thù Một tay thiện xạ không thể cưỡng lại cám dỗ của trò đỏ đen Một người trốn chạy quá khứ trong nhung lụa Một gián điệp mang biệt danh Bóng Ma Một Độc Tâm Y dùng sức mạnh để sinh tồn trong khu ổ chuột Một tên trộm tài năng với những cuộc đào thoát không tưởng." Họ có thể cứu thế giới khỏi sự hủy diệt Nếu như họ không giết lẫn nhau trước Đây là thế giới của các Grisha, gián điệp, tù nhân, thiên tài tội phạm - với những cuộc đào thoát không tưởng. *** Hồi kết của series Fantasy kịch tính MÓNG VUỐT QUẠ ĐEN!! Kaz Brekker và nhóm của mình vừa thực hiện thành công một phi vụ tưởng chừng bất khả, nhưng thay vì nhận được món tiền thưởng béo bở, họ lại phải tiếp tục chiến đấu vì mạng sống của bản thân. Trong lúc suy yếu vì bị chơi khăm, thiếu thốn nguồn lực, đồng minh, và thậm chí là hi vọng, đối thủ cũ và kẻ thù mới buộc cả nhóm phải bước vào một cuộc chiến tàn khốc mới. *** Bộ sách gồm có Móng Vuốt Quạ Đen:  Móng Vuốt Quạ Đen - Sáu Kẻ Bất Hảo - Tập 1 Móng Vuốt Quạ Đen - Phi Vụ Bất Khả - Tập 2 Móng Vuốt Quạ Đen - Mưu Ma Chước Quỷ - Tập 3 Móng Vuốt Quạ Đen - Giang Hồ Hiểm Ác - Tập 4 *** INEJ Khi đêm xuống, khu vực kho bãi của Ketterdam dường như lột xác và khoác lên mình một hình hài mới. Những dãy nhà lụp xụp ở rìa phía đông nhộn nhịp hẳn lên, trong khi những con phố của nó lại trở thành chốn không người, chỉ được lui tới bởi các vệ quân đang canh gác và những thị tuần đi làm nhiệm vụ. Inej và Nina neo thuyền tại con kênh chính rộng lớn chạy ngang qua trung tâm của khu vực, trước khi đi xuôi theo bờ kè yên tĩnh, nép sát vào các dãy nhà kho và tránh xa những ngọn đèn đường nằm dọc bờ nước. Hai người đi ngang qua những con thuyền đầy ắp gỗ xẻ và các sà lan chở đống than đá cao ngất. Chốc chốc họ lại thấy những người đàn ông làm lụng dưới ánh đèn lồng, nhấc bổng những thùng rượu rum hoặc kiện bông vải. Người ta không thể bỏ mặc những thứ hàng hoá có giá trị như vậy suốt cả đêm. Khi đi đến gần Bãi Ngọt, họ thấy hai người đàn ông dỡ thứ gì đó từ một xe hàng lớn đậu bên cạnh con kênh, dưới ánh sáng xanh lét của một ngọn đèn độc nhất. “Đèn tử thi đấy,” Inej thì thầm, và Nina rùng mình. Những ngọn đèn xương được làm từ xương nghiền của những loài cá biển sâu cho ánh sáng xanh lục, còn đèn tử thi thì cháy bằng nhiên liệu khác, nó toả ra thứ ánh sáng xanh lam đáng sợ, cho phép người ta nhận ra những chiếc sà lan chở xác của các đạo tì. “Đạo tì làm gì ở khu Nhà kho này?” “Người ta không muốn thấy các thi thể trên đường phố hay dưới dòng kênh. Khu vực kho bãi gần như vắng bóng người vào ban đêm, do vậy đây là nơi bọn họ mang các thi hài đến. Sau khi mặt trời lặn, họ đi thu gom xác chết và đưa đến đây. Đạo tì làm việc theo ca và theo khu phố. Họ sẽ rời đi vào lúc trời sáng, cùng với chuyến hàng của mình.” Ra đảo Tử Thần để hoả thiêu. “Sao họ không xây một nghĩa trang tử tế?” Nina hỏi. “Hết đất rồi. Em nghe nói từng có bàn luận về việc mở cửa lại Mạng Đen cách đây khá lâu, nhưng tất cả đều chấm dứt khi trận dịch Thị Nữ bùng lên. Mọi người quá sợ bị lây bệnh. Nếu gia đình có điều kiện, họ sẽ đưa chị đến một nghĩa trang hoặc nghĩa địa bên ngoài Ketterdam. Còn nếu không thì…” “Không ai đổ lệ,” Nina nghiêm giọng. Không đổ lệ, không quan tài. Một cách khác để chúc may mắn. Nhưng nó còn mang một ý khác. Một cái nháy mắt rầu rĩ với viễn cảnh sẽ không có đám ma tốn kém chờ đợi những người như họ, không một tấm bia đá để ghi nhớ tên tuổi, cũng chẳng có vòng hoa tang nào dành cho họ. Inej đi trước khi họ tới gần Bãi Ngọt. Những ngọn tháp xi-lô đáng sợ to lớn như các vị thần canh gác, được trang trí bằng chiếc lá nguyệt quế đỏ của công ty Van Eck. Chẳng bao lâu nữa, mọi người sẽ biết biểu tượng đó mang nghĩa gì: sự hèn hạ và dối trá. Cụm tháp xi-lô của Van Eck được bao quanh bởi một hàng rào cao bằng sắt. “Dây thép gai,” Nina lưu ý. “Không thành vấn đề.” Nó được sáng chế để giữ cho gia súc ở yên trong chuồng. Nó sẽ không làm khó được Bóng Ma. Hai người nấp quan sát bên một bức tường gạch đỏ vững chắc của một nhà kho, chờ đợi để xác nhận lịch trình của các vệ quân chưa thay đổi. Đúng như Kaz đã nói, đám lính gác mất gần mười hai phút để đi tuần trọn một vòng rào. Khi bọn họ ở phía đông của khu đất, Inej sẽ có khoảng sáu phút để vượt qua hàng rào. Khi đi sang phía tây, các vệ quân sẽ rất dễ dàng phát hiện Inej nếu cô đang đi trên sợi dây căng giữa các xi-lô, nhưng gần như không thể phát hiện được nếu cô ở trên mái. Trong sáu phút đó, Inej sẽ phải xoay sở để đưa mọt hạt vào trong xi-lô, rồi tháo sợi dây. Nếu có mất nhiều thời gian hơn sáu phút, cô sẽ phải đợi đám lính gác đi khuất. Cô sẽ không thể quan sát được bọn họ, nhưng Nina có một cái đèn xương trong tay. Chị sẽ ra hiệu bằng một tia sáng xanh khi cô có thể băng từ tháp này sang tháp kia một cách an toàn. “Mười xi-lô,” Inej lên tiếng. “Chín lần đi dây.” “Nhìn gần mới thấy chúng cao hơn ta tưởng rất nhiều,” Nina nói. “Em có sẵn sàng làm chuyện này không?” Sự đáng sợ của chúng đúng là không thể chối cãi. “Dù núi có cao đến mấy thì việc trèo lên cũng như nhau cả thôi.” “Về kĩ thuật mà nói thì không hẳn thế. Em cần dây thừng, móc…” “Chị đừng có giống như anh Matthias.” Nina hoảng hốt đưa tay bịt miệng. “Chị sẽ ăn gấp đôi bánh ngọt để quên chuyện này.” Inej gật gù. “Nghe hay đấy.” Tốp tuần tra lại lên đường sau khi đi qua chốt gác. “Inej,” Nina vội nói, “em nên biết điều này, năng lực của chị không còn như trước nữa, kể từ lúc dùng parem. Nếu chúng ta phải chiến đấu…” “Đêm nay thì không. Chúng ta phải hành động như những bóng ma.” Inej siết vai Nina. “Và em không biết chiến binh nào quả cảm hơn chị, dù có hay không có năng lực Grisha.” “Nhưng…” “Nina, đám vệ quân.” Tốp tuần tra đã khuất dạng. Nếu không hành động ngay bây giờ, hai người sẽ phải chờ đến vòng tuần tra kế tiếp và bị chậm so với kế hoạch. “Làm thôi,” Nina nói và tiến về phía chốt gác. Chỉ trong vài bước chân đưa chị vượt qua khoảng cách giữa nhà kho và mảng sáng bao trùm chốt gác, cung cách của Nina đã thay đổi hẳn. Inej không biết phải giải thích như thế nào, nhưng những bước chân của chị trở nên dè dặt hơn, đôi vai chị hơi chùng xuống. Chị dường như co rút lại. Nina không còn là một Grisha được huấn luyện bài bản nữa, chị đã trở thành một cô gái tị nạn căng thẳng, mong chờ một chút lòng thương. “Xin lỗi anh?” Nina nói với chất giọng đặc sệt âm sắc Ravka. Người vệ quân giương súng trong tư thế sẵn sàng, nhưng có vẻ chẳng mấy bận tâm. “Cô không nên ở đây vào ban đêm.” Nina khẽ nói gì đó và ngước đôi mắt to tròn màu lục lên nhìn anh ta. Inej không hiểu bằng cách nào chị có thể tỏ ra ngoan hiền đến thế. “Chuyện gì?” Người vệ quân hỏi và tiến lại gần hơn. Inej ra tay. Cô châm đoạn ngòi dài của quả bom sáng cỡ nhỏ mà Wylan đã đưa cho họ, rồi chạy tới hàng rào, cẩn thận tránh xa vùng ánh sáng, và lặng lẽ trèo lên. Cô gần như ở ngay sau lưng, phía trên đầu người vệ quân và Nina, cô có thể nghe thấy tiếng nói của hai người trong lúc dễ dàng luồn lách qua những vòng dây thép gai. “Tôi đến tìm việc,” Nina nói. “Sản xuất đường.” “Chúng tôi không làm đường ở đây mà chỉ trữ nó thôi. Cô sẽ phải đi tới một trong những xưởng luyện đường.” “Nhưng tôi cần việc làm.Tôi… tôi…” “Ồ, coi kìa, đừng khóc. Nào, nào.” Inej cố nén tiếng cười và khẽ khàng buông mình xuống mặt đất ở phía trong vòng rào. Cô có thể thấy những túi cát mà Kaz đã nhắc đến. Chúng được chất đống dựa vào bức tường phía sau của chốt gác. Cô cũng trông thấy một góc của tấm lưới mà anh định để cho cô sử dụng. “Cả… ờm… bạn trai cô cũng đang tìm việc à?” Tay vệ quân hỏi. “Tôi đâu có… Anh nói sao nhỉ? Bạn trai à?” Mời các bạn đón đọc Giang Hồ Hiểm Ác của tác giả Leigh Bardugo & Hoàng Anh (dịch).
Một Nụ Cười Nào Đó
Sau “Buồn ơi chào mi” vang dội rực rỡ, Françoise  Sagan cho ra mắt thuyết thứ hai “Một nụ cười nào đó” vào năm 1956, tiếp tục khẳng định tài năng và phong cách độc nhất vô nhị. Câu chuyện xoay quanh một cô sinh viên Luật đại học Sorbonne phải lòng một người đàn ông lớn tuổi đã có vợ, oái oăm thay lại là cậu ruột của người bạn trai. Một câu chuyện giản đơn, thậm chí là tầm thường với những nỗi buồn vặt vãnh, những ray rứt trẻ con, những nghi ngờ, khám phá về mặt tinh thần lẫn thể xác mà ở thời đại đó đã bị gán cho cái mác băng hoại đạo đức, khiêu dâm. Nhưng tiểu thuyết thứ hai này cho thấy một sự ngây thơ và dễ tổn thương mà “Buồn ơi chào mi” không có được. Hơn nữa, “Một nụ cười nào đó” đằm thắm hơn, cố chấp hơn với tình yêu  để rồi vỡ mộng hơn, nhưng là một vỡ mộng không tàn bạo mà dịu dàng như một bản nhạc. Nhân vật nam chính – một người đàn ông “mắt xám, trông mỏi mệt, gần như u buồn” – là người duy nhất làm cho cô gái hạnh phúc vì chỉ hai người họ mới giống nhau và chia sẻ cho nhau nỗi chán chường cố hữu của đời sống. Nhân vật nữ chính – trung tâm của cuộc tình tay tư – là một cô nàng vô ưu, lẳng lơ, có những lúc tự nhận bản thân vô sỉ, song từ đầu đến cuối luôn bị giày vò bởi nỗi cô đơn của một đời sống vô vị và nhàm chán. Mối quan hệ lén lút giữa Dominique và Luc sẽ không khiến hai người phải ray rứt và khổ đau như họ đã cảm thấy nếu, Françoise – vợ Luc không tỏ ra là một người phụ nữ ấm áp, dịu dàng và từ ái. Françoise luôn đối xử với Dominique như một người mẹ thương con, bởi vì bà cho rằng cô sinh viên ấy cùng một bản chất với chồng bà: họ là những kẻ có đôi chút bất hạnh cần được vỗ về. Ở cuối tác phẩm, Francoise vẫn không đổi thay trong lối cư xử và trong tình cảm với tình địch dù đã biết câu chuyện dan díu, nhưng chỉ bằng một câu nói, bà đã đập tan cái cố chấp của cô gái trẻ, khiến cô không còn gì ngoài tan nát… *** Một nụ cười nào đó – Françoise Sagan Một chút nỗi buồn cũng đáng giá hơn cả vạn niềm vui, bởi nó đọng lại, day dứt, dằn vặt con người ta quá nhiều, quá sức khủng khiếp. Sagan khi chỉ mới là nàng thiếu nữ chưa trải hết mọi sự đời đã kịp nắm bắt, rồi mô tả lại từng đường nét của nỗi buồn ấy một cách tinh tế và tỉ mỉ nhất có thể. Nếu trong tác phẩm đầu tay Buồn ơi chào mi gây chấn động văn đàn Pháp của mình, Sagan để cô tiểu thư mục ruỗng Cecile gọi tên nỗi buồn khá muộn màng thì tới cuốn sách thứ hai, ra đời chỉ hai năm sau đó, nỗi buồn một lần nữa quấn quýt không rời khỏi từng câu chữ, những lúc Dominique ngơ ngẩn, những khi cô ngắm nhìn mọi thứ xung quanh, những thứ không hề khơi gợi trong cô xúc cảm mãnh liệt nào, hay thậm chí cả tận khi cô khao khát được hồi đáp tình cảm từ nhân tình, người đàn ông với đôi mắt xám u buồn đã gây ấn tượng cho cô ngay buổi đầu gặp gỡ. Chưa từng có phút giây nào nỗi buồn không hiện diện trên trang giấy. Thậm chí tới hình hài của từng nhân vật cũng nhòa dần đi theo cảm giác buồn nản chán chường nhàn nhạt ấy. Ta chỉ còn mơ hồ nhận ra, Dominique hời hợt và dễ dãi, Luc già dặn và dịu dàng, Francoise lại quá đỗi đôn hậu cùng khoan dung, Bertrand tuy đôi phần xốc nổi nhưng vẫn khá rộng lượng. Các nhân vật của Sagan quẩn quanh trong một vòng tròn vốn đã mục ruỗng từ lâu, nơi mỗi cá nhân từ phóng khoáng tới phóng túng, hoặc hiền hòa tới đáng thương. *** TRỌN BUỔI CHIỀU CHÚNG TÔI NGỒI TRONG một quán cà phê đường Saint-Jacques, một buổi chiều mùa xuân như mọi buổi chiều khác. Tôi cảm thấy hơi buồn, buồn một cách khiêm tốn. Tôi đi đi lại lại từ chỗ để cái máy quay dĩa hát đến cửa sổ trong lúc Bertrand đang bàn cãi bài giảng của Spire. Tôi nhớ có một lúc, đứng tựa máy hát, tôi nhìn cái đĩa hát được từ từ nâng lên đến nằm nghiêng bên cây kim “xa-phia”, âu yếm tựa như ta áp má vào một ai. Và, không hiểu tại sao, lúc đó lòng tôi dạt dào hạnh phúc, tôi có trực giác tràn trề một ngày nào đó tôi sẽ chết, bàn tay tôi không còn đặt trên cái cạnh tủ mạ kền nầy nữa, mắt tôi không còn đựng ánh mặt trời. Tôi quay về phía Bertrand. Anh nhìn tôi, và khi thấy tôi mỉm cười anh đứng lên. Anh không chịu được sự tôi sung sướng riêng rẽ một mình, lúc nào cũng phải có anh bên cạnh. Những phút vui sướng của tôi phải chỉ là những lúc cần thiết cho cuộc sống tay đôi của chúng tôi. Điều này tôi cũng đã biết mập mờ từ lâu, nhưng hôm đó nghĩ tới, tôi không chịu được nên quay mặt chỗ khác. Dương cầm bắt đầu chơi bản Lone and Sweet, tiếng kèn cla-ri-nét tiếp sức tiếng đàn, tôi biết rõ từng hơi thổi một. Tôi gặp Bertrand trong mùa thi năm ngoái. Chúng tôi sống cạnh nhau trọn một tuần, cả hai cùng âu lo hồi hộp, sau đó tôi về nghỉ hè tại nhà ba má tôi. Đêm chót, khi chia tay, anh hôn tôi. Rồi anh gởi thư cho tôi. Ban đầu trong thư anh chỉ nói lơ là. Nhưng về sau, giọng thư đổi khác. Tôi theo dõi sự thay đổi đó của anh mà lòng không khỏi run, thành thử khi anh viết : “Tôi thấy sự tỏ tình nầy buồn cười, nhưng có lẽ tôi đã yêu em”, thì tôi có thể trả lời anh cũng bằng một giọng như thế, rất thành thật, không dối trá chút nào : “Sự tỏ tình của anh buồn cười đó, nhưng em cũng yêu anh”. Câu trả lời nầy đến với tôi một cách tự nhiên, hay nói đúng hơn đến với tôi như một tiếng vang. Vườn của ba má tôi nằm trên bờ sông Yonne, ở đó không có gì thú vị để tôi tiêu khiển. Tôi đi xuống bờ sông, nhìn những đám rong vàng uốn mình trên mặt nước rồi nhặt những miếng đá mỏng màu đen ném cho bay lướt trên mặt sông như một bầy chim én. Suốt mùa hè đó, tôi thì thầm gọi tên Bertrand và miên man nghĩ đến tương lai. Kể ra tôi cũng thích cái lối yêu nhau và viết cho nhau như thế. Bây giờ thì Bertrand đang đứng sau tôi. Anh đưa cho tôi cái ly đang uống, lúc quay lại người tôi sát vào người anh. Anh hay làm mặt giận khi thấy tôi tỏ ý lơ đãng không chú ý đến những cuộc thảo luận giữa anh và các bạn anh. Tuy thích đọc nhưng tôi lại không ưa bàn cãi văn chương. Anh không quen được với cái tánh đó của tôi. Anh nói : - Lúc nào em cũng cho nghe điệu nhạc cũ nầy. Nhưng không hiểu sao, anh lại thích. Em có thấy thế không. Câu chót nầy anh nói bằng một giọng bình thản làm tôi nhớ lại lúc mới quen nhau lần đầu hai đứa chúng tôi đã ngồi cạnh nhau để nghe cái đĩa đó. Bao giờ tôi cũng tìm thấy ở Bertrand những lối bộc lộ tình cảm kín đáo như thế, những cái mốc đánh dấu mối tình của chúng tôi, những cái mốc mà hiện giờ tôi không còn nhớ nữa. Đột nhiên tôi nghĩ : “Đối với mình Bertrand nào có nghĩa gì. Mình chán anh ta, mình dửng dưng với mọi sự; mình không là gì, hoàn toàn không là gì cả”. Rồi cũng chính cái cảm giác vô lý nầy đã xâm chiếm trọn tôi. Bertrand nói : - Anh phải đến thăm cậu anh, ông cậu giang hồ. Em đi với anh không ? Nói xong anh quay đi trước và tôi lẽo đẽo theo sau. Tôi không quen ông cậu Bertrand và cũng không muốn quen với ông ta. Nhưng trong tôi có một cái gì thúc giục tôi đi theo sau mớ tóc cắt gọn ghẽ của một chàng trai, có một cái gì khiến tôi hóa ra thụ động để ai muốn dắt đi đâu cũng được mà không cưỡng lại bao giờ. Có những ý nghĩ vụn vặt, lạnh buốt, trơn như những con cá nhỏ len lỏi trong đầu tôi. Lúc đó tôi cảm thấy mến Bertrand lạ. Hai đứa chúng tôi đi dài theo con đường lớn trong thành phố. Bước chân hai đứa ăn nhịp nhau không khác gì xác thịt hai đứa trong những đêm hai đứa yêu nhau. Bertrand cầm tay tôi. Chúng tôi hợp thành một cặp nhân tình mảnh mai, dễ yêu, giống như những cặp nhân tình trong tranh vẽ. Suốt lúc đi trên con đường lớn và suốt lúc đứng trên chiếc xe buýt đưa Bertrand và tôi đến gặp ông cậu giang hồ tôi thấy yêu Bertrand hết sức. Xe xóc, làm tôi ngả vào mình anh, anh cười, choàng tay qua lưng tôi ra dáng che chở. Tôi dựa vào áo anh, nép sát vào vai anh, đôi vai đàn ông cứng cáp rất tiện cho tôi ngả đầu vào. Tôi hít mùi thơm của người anh, mùi quen thuộc, mùi thơm đó làm tôi cảm động. Bertrand là mối tình thứ nhất của đời tôi. Nhờ anh tôi mới biết được mùi thơm của chính người tôi. Bao giờ cũng thế, phải nhờ đến thân thể của một người khác mình mới khám phá được thân thể của chính mình, khám phá cả chiều dài, cả mùi thơm của thân thể đó. Ban đầu với đôi chút ngờ vực, về sau với tất cả sự biết ơn. Bertrand đem những chuyện về ông cậu ra kể cho tôi nghe, coi bộ anh không ưa ông cậu anh cho lắm. Anh kể những chuyện buồn cười đã xảy ra trong cuộc đời rày đây mai đó của cậu anh. Bertrand có một tật xấu : anh thích moi móc những tấn hài kịch xảy ra trong đời thiên hạ đến nỗi lúc nào anh cũng hồi hộp e có ngày thiên hạ sẽ nhìn thấy được những khía cạnh mà anh không ngờ là có thể lố bịch của đời anh. Tôi thường chế nhạo anh về điểm nầy khiến anh nổi khùng vì tôi không ít. Ông cậu Bertrand ngồi chờ Bertrand dưới mái hiên một quán cà phê. Thoạt trông thấy ông ta tôi bảo ngay với Bertrand là ông ta có một bộ dáng không đến nỗi nào. Lúc chúng tôi đến gần ông kéo ghế đứng lên, Bertrand giới thiệu : - Cháu đến với một cô bạn, cô Dominique. Còn đây cậu Luc, ông cậu giang hồ. Tôi ngạc nhiên một cách thích thú. Tôi nói thầm : “Có thể lắm. Đúng là dáng điệu một nhà đại giang hồ”. Ông ta có đôi mắt màu nâu, một vẻ vừa buồn vừa mệt mỏi. Tóm lại, có thể nói ông ta khá đẹp trai. Bertrand hỏi : - Chuyến đi vừa rồi của cậu ra sao ? Vui chớ ? - Chán chết được. Đến Boston lại phải giải quyết một vụ thừa kế rất lôi thôi. Đi đâu cũng gặp toàn những loại thầy cãi gàn đến cái mực chết người. Chán lắm. Còn cháu ? Bertrand đáp : - Hai tháng nữa là bọn nầy thi cử đến nơi. Anh nhấn mạnh khi nói hai chữ “bọn nầy”. Chính điểm đó đã khiến các cô cậu sinh viên Sorbonne cảm thấy gần nhau như vợ với chồng. Họ nói đến thi cử âu yếm như nói đến một đứa con nhỏ. Ông cậu quay nhìn tôi : - Còn cô, cô cũng thi nữa chớ ? Tôi trả lời mơ hồ : - Dạ.
Thằng Pele Bà Chiểu
Lê và Hoàng tần ngần trước một quán ăn… Chúng nó nhìn bảng giá ghi ở ngoài: “Bún bò Huế: 4.000 đồng - 5.000 đồng/tô - Hủ tiếu 5.000 đồng”… Lê quay sang Hoàng: – Tao còn đúng năm ngàn, mày còn bao nhiêu? Thằng Hoàng lục túi, đếm đi đếm lại, rồi giao cho thằng Lê: – Còn đúng bốn ngàn. Đôi mắt Lê sáng lên: – Thế là tao và mày đủ tiền mua hai đứa hai tô bún bò, còn một ngàn uống trà đá, vừa đẹp. – Lỡ họ ghi như vậy , mà bán cao hơn thì tiền đâu mà trả… tao đã bị một lần rồi… Ớn lắm. – Thì mình hỏi kỹ rồi mới ăn. Lê và Hoàng rụt rè bước vào quán, hai đứa khép nép ngồi vào chiếc bàn cạnh cửa… Bà chủ quán nhìn hai đứa, đôi mắt dò xét: – Hai đứa bay có tiền không mà vào đây? – Bác bán cho tụi cháu hai tô bún, mỗi tô bốn ngàn đồng… – Có chắc tụi bay có tiền không, hay ăn xong rồi bỏ chạy. Thằng Lê lôi tiền trong bọc ra, đếm đủ tám ngàn, rồi giao cho bà chủ quán: – Tụi cháu còn một ngàn, bác bán cho hai ly trà đá. – Trà đá thì ly nhỏ thôi đấy nhé. – Dạ. Bấy giờ là một trưa mùa hè… Suốt buổi sáng hai đứa cùng nhóm bạn khu phố tập dượt bóng đá ở một sân nhỏ gần trụ sở khu phố. Chỉ còn một tuần nữa, đội bóng thiếu nhi khu phố A sẽ gặp đội bóng thiếu nhi khu phố B để chọn cầu thủ cho đội bóng thiếu nhi Phường tranh giải đội bóng vô địch thiếu nhi Quận. Trong đội bóng chỉ có Lê và Hoàng là nghèo nhất. Lê sống với bà ngoại sau khi mẹ đi lấy chồng khác. Lê chưa bao giờ gặp cha… Theo lời bà ngoại kể, cha Lê là một ông Mỹ đen, làm hãng thầu của Mỹ tại Sài Gòn, cha Lê về Mỹ khi Lê còn nằm trong bụng mẹ… Ngày Lê chào đời, Sài Gòn giải phóng đúng một tháng… Ngày Lê lên năm, mẹ Lê gởi Lê cho bà ngoại rồi về Đà Nẵng… Một năm sau mẹ Lê có gia đình khác… Mười năm rồi Lê sống trong tình thương của bà ngoại. Mẹ Lê là con đầu. Lê còn một người cậu làm công nhân cao su ở Sông Bé, đã lập gia đình. Hai bà cháu sống trong căn nhà nhỏ trong hẻm. Một khoảng đất rộng không quá mười mét vuông trở thành địa điểm bán cà phê vợt buổi sáng. Từ bốn giờ sáng. Lê thức dậy để đun nước sôi, dọn hàng… Năm giờ thức ngoại dậy, hai bà cháu mở quán bán cho bà con lao động trong xóm khoảng tám giờ thì nghỉ. Đến trưa, sau khi ăn cơm xong, Lê ghé nhà chú Mẫn - thầu vé số - nhận một xấp vé số đi bán dạo. Mỗi ngày nếu bán hết tiền lời chỉ đủ mua gạo trong ngày cho hai bà cháu. Buổi tối Lê học bổ túc văn hóa ở trường cấp hai gần khu phố. Còn Hoàng, mẹ nó mất sớm, ở với cha… Hai cha con sống với gia đình nội, cha Hoàng làm nghề thợ điện cho một xí nghiệp ở Biên Hòa. Sáng đi thật sớm, tối mới về. Hoàng cũng đi bán vé số như Lê và học cùng lớp bảy bổ túc văn hóa như Lê. Trưa nay, bà ngoại Lê đi ăn giỗ, bà nội Hoàng bệnh, hai đứa có dịp ăn quán với số tiền eo hẹp. Thằng Lê ăn rất khỏe, ăn xong tô bún vẫn muốn ăn thêm nữa, nhưng không còn tiền, thằng Hoàng nhìn bạn, nó hiểu những mong ước của Lê. – Để hôm nào kiếm được nhiều tiền hai đứa đi xuống tiệm bà Ba Huế ăn bún bò Huế cho đã… – Thôi, có tiền mua đôi giày Bata để đá banh. – Mày khỏi mua, tao nghe nói bác Hai trưởng khu phố sẽ sắm cho mỗi đứa một đôi. – Tiền đâu mà mua ? – Nghe nói khu phố có quỹ do bà con đóng góp. – Lê, giá mà mười một đứa đều có giày Bata đá thì hay quá. – Tao không thích giày, chỉ thích có áo đồng phục thôi. Chớ không lý khi ra đá, mặc áo mai-dô không giống ai… nhiều khi phải cởi trần để khỏi lầm với đội bóng của tụi khu phố khác. – Bữa nào đá với tụi kia, thằng Minh sắp tao đi hàng giữa, còn mày đi hàng trên nhưng hai đứa đều góc mặt. – Mày có cái tật hay lừa, có banh là tìm cách giao ngay tao sút mới ăn được, mày lừa lên đến gần gôn mà sút khó ăn lắm. Câu chuyện bóng đá trên bàn ăn kéo dài hơn nửa tiếng, nếu bà chủ không nhắc khéo, có lẽ chúng ngồi còn lâu hơn nữa. Hai đứa chia tay nhau tại hẻm phố. Lê về đến nhà, bà ngoại vẫn chưa về. Căn nhà tôn vào trưa quá nóng, hình như bao nhiêu sức nóng của mặt trời trút hết xuống mái tôn nhà nó. Nóng quá không chịu nổi, Lê cởi trần nằm trên sàn nhà. Nó nhớ lại một lần ghé nhà thằng Minh cũng vào một buổi trưa, ngôi nhà mát rượi, nền gạch, phòng nào cũng có quạt, quạt trần, quạt đứng, nghĩ đến mà thèm. Nó mơ ước có tiền để mua một cái quạt cũ. Tội nghiệp cho ngoại, buổi trưa nào ngoại cũng chịu cực với cái nóng nung người như thế này… Nó ít khi có mặt buổi trưa, giờ đó nó đi lòng vòng vào các quán cà phê mời khách mua vé số. Đến ba giờ, bán không hết vé, phải đem trả lại cho đại lý, nếu ham lời bán rán thêm, bán không hết chỉ còn khóc vì lỗ. Lê không dám chơi liều, thà lời ít chắc ăn hơn. Có hôm, bán hết, trên đường về Lê ghé ngang tiệm bánh mua gói kẹo nhỏ cho bà ngoại - loại kẹo chanh - để bà ngậm lúc ho. Tuổi già sức yếu, nhiều đêm ngoại ho sặc sụa. Những lần như thế, Lê đến bên ngoại, đỡ ngoại dậy,vuốt ngực cho ngoại, mếu máo: “Ngày mai ngoại nghỉ bán, ngoại đi khám bác sĩ, ngoại mà chết bỏ con ai nuôi”. Những lần đó Lê nghĩ đến mẹ, người mẹ mà mỗi năm nó chỉ gặp một lần, vào ngày giỗ ông ngoại nó . Sáng nay, cả đội bóng tập dợt đến trưa, Lê nghỉ không bán vé số, thế là tiền thu nhập hôm nay giảm đi. May mà hai hôm trước cậu Ba nó ở Sông Bé về mang theo một bao gạo và đưa cho ngoại nó số tiền vài chục ngàn, hai bà cháu cũng đỡ lo cảnh bữa đói bữa no… Chưa bao giờ thằng Lê cảm thấy thích thú như sáng nay. Trong số những người uống cà phê có chú Nhân vừa ở xa về, sau hai năm ra miền Trung làm ăn. Điều Lê thích nhất là được nghe chú Nhân kể chuyện bóng đá và đánh quyền Anh. Qua lời kể, chú đã từng đá cho đội tuyển hạng A ở Đà Nẵng và cũng từng lên đài tranh giải vô địch. Nghe chú Nhân trò chuyện với bác Năm, vừa phụ bán cà phê Lê vừa mơ ước một ngày kia sẽ được như chú Nhân. Chú kể lại lần đội bóng đá của chú thi đấu với một đội bóng đá tỉnh khác. Hai bên huề nhau sau chín mươi phút thi đấu, phải đá thêm giờ. Chính chú là người ghi bàn ở phút thứ một trăm mười chín. Nếu không nhờ chú, có lẽ hai đội bóng phải đá luân lưu, phạt đền và chưa chắc đội chú thắng. Trận đó, đội chú được vào bán kết bóng đá khu vực miền Trung. Câu chuyện nghe hấp dẫn quá… Khi quán chỉ còn lại chú Nhân, Lê ngồi bên chú nghe chú kể tiếp về trận đấu quyền Anh, mà chú đã thắng sau năm hiệp đấu. – Cháu biết không, sau bốn hiệp đối thủ của chú vẫn chưa thấm đòn mặc dù chú đấm nhiều quả trúng đích, nhưng anh ta khỏe lắm. – Ở hiệp năm làm sao chú thắng được? Chắc chú có bùa? Nghe Lê nói, chú Nhân cười lớn: – Cái thằng này không biết gì về võ cả, làm gì có bùa. Đấu võ hơn nhau ở sức và cả trí nữa. – Thế sao con nghe nói đấu võ tự do, có nhiều người có bùa ngải nên đánh mấy cũng không bị hạ mà bất thình lình đánh lại một cú bên kia thua. – Cháu nghe họ đồn tầm bậy… Đấu võ là sự thi thố giữa tài năng, giữa cái nhanh nhẹn, sức vóc. – Cháu hiểu rồi, thế chú kể cháu nghe trận chú thắng đi. – A, cái trận đó chú phải dùng trí, qua hiệp năm chú chuyển về thủ, ông kia cứ tấn công, chú đỡ… Thình lình, chú phản công bằng một cú đia-réc, đánh ngay vào mặt thật mạnh, ông kia nằm lăn cù, bị nốc ao, thế là chú thắng. – Đia-réc, nốc ao là sao hả chú? – Đia-réc là trực tiếp, nốc-ao là đo ván. – Đo ván là sao chú? – Cái thằng này, thắc mắc quá, thôi được, để chú giảng cho cháu nghe. Đo ván là đối thủ nằm ngay đơ không dậy nổi để đấu tiếp. Nghe chú Nhân giải thích, Lê phục chú Nhân quá. Nó nhìn kỹ chú Nhân, thấy chú to quá, bàn tay rắn chắc, nó tưởng tượng nếu chú Nhân đấm nó một quả, chắc nó đi chầu trời. Như chợt nhớ ra điều gì, Lê hỏi chú Nhân: – Chú vào ở đây luôn hay lại ra Đà Nẵng? – Chú vào chơi vài tháng rồi lại ra. – Thế chú có còn đá cho đội bóng hạng A ngoài đó không? – Chú nghỉ đá vì hơn ba mươi tuổi, chạy không được nhanh . – Còn đấu quyền Anh thì sao chú? – Thỉnh thoảng chú cũng lên đài, nhưng không còn chuyên như trước nữa. – Những chuyện chú kể là xảy ra năm nào? – Mới năm ngoái thôi. – Ước gì năm ngoái cháu ở Đà Nẵng xem chú đá bóng và đấu quyền Anh… À, có chuyện này hay lắm… Ở khu phố tụi cháu có lập đội bóng để chuẩn bị đấu với khu phố khác, nếu chú rảnh chú tập cho tụi cháu. Chú Nhân cười: – Hôm qua, bác Hai trưởng khu phố có nói chuyện đó với chú, nhưng chú vào đây bận chuyện làm ăn. Chú chỉ dám hứa sẽ dành một buổi chiều tập cho các cháu trước khi thi đấu với khu phố B. – Thích quá, thế hôm nào chú? – Nghe bác Hai nói, chủ nhật các cháu thi đấu, chú sẽ luyện cho các cháu vào chiều thứ bảy. Hôm nay thứ năm, vậy là ngày mốt, chú sẽ tập cho các cháu. – Thích quá, cháu thương chú quá… Thôi, chú khỏi trả tiền cà phê. – Tầm bậy, để chú trả, quán cháu nghèo ai lại nỡ uống không trả tiền. – Nhưng nghe chú kể nãy giờ cháu thích quá, cháu xin đãi chú một ly cà phê. – Cháu có lòng tốt, chú cám ơn, nhưng để dịp khác. Cháu tính tiền đi chú còn phải về. Khi chú Nhân ra khỏi quán, Lê vẫn nhìn theo với cái nhìn kính phục, nó ước ao chú Nhân sẽ vào Sài Gòn hoài để được nghe chú Nhân kể chuyện, để nhờ chú huấn luyện cho đội bóng thiếu nhi khu phố. Cái tin chú Nhân sẽ huấn luyện cho đội bóng khu phố trước khi ra quân được Lê loan đi rất nhanh. Ngay hôm đó cả đội bóng mười một cầu thủ nhóc đều hay tin. Trên đường đi bán vé số, Lê đã ghé ngang nhà các bạn để thông báo tin tức quan trọng này. Đứa nào cũng mừng rơn, riêng thằng Minh vẻ mặt quan trọng: – Để tao đề nghị chú Nhân chỉ tụi mình vài ngón đặc biệt… Tao nhờ chú chỉ cách huấn luyện để tao huấn luyện tụi bay. Còn thằng Phan thủ môn thì hỏi Lê: – Liệu chú Nhân có biết giữ gôn không? Lê làm ra vẻ thành thạo: – Đá banh cỡ Quốc tế như chú Nhân cái gì cũng phải biết, không giỏi thì cũng phải khá. – Mày có chắc không? – Tao đọc trong báo, tao thấy mấy cầu thủ giỏi quốc tế đá vai nào cũng được. – Chưa chắc đâu con, nhưng để hôm nào hỏi thì biết. Ngày mong đợi đã đến, trên một sân cỏ ở sau ngôi trường cấp hai của phường, chú Nhân hướng dẫn đội bóng thiếu nhi khu phố. Cả đội rất phấn khởi. Mới đầu chú hướng dẫn cách chạy, từ chạy nước rút đến chạy hàng ngang, rồi đến bài học giao bóng, sút bóng… Chú vừa giảng vừa biểu diễn, cả đội nhìn chú với đôi mắt thán phục. Riêng về vai trò thủ môn, chú hướng dẫn thằng Phan cách đón bóng, cách ra vào đúng lúc để khỏi bị hố. Chú lại chỉ cách té. Một giờ tập dợt trôi qua, mười một cầu thủ nhóc cảm thấy khoái chú Nhân. Thằng Minh chạy ra quán mua một chai nước ngọt có đá mời chú. Nó có vẻ hãnh diện với đám bạn khi chú Nhân vừa cầm ly nước vừa xoa đầu nó: – Ừ, thằng này ngoan quá, tướng cháu làm thủ quân được đấy. Thằng Phan chen vào: – Chú thấy cháu giữ gôn có được không? – Cháu còn yếu điểm là bắt bóng bay chưa chắc, nhưng nếu cố gắng cháu sẽ khá. Lê hỏi chú Nhân: – Sao hồi trước chú không giữ gôn mà đi hàng trên? Chú Nhân cười, nhìn đám học trò mới của mình, chú nói: – Ừ thì khi mới đá bóng ai cũng khoái giữ gôn vì giữ gôn dễ nổi bật giữa sân cỏ… Nhưng mỗi người có một khiếu riêng… Với chú, mới đầu chú cũng giữ gôn như cháu Phan, nhưng sau đó chú được chuyển lên đá hàng trên, khi thì đá hàng giữa, khi thì đá góc, khi thì trung phong… Thằng Hùng lùn suốt buổi tập dợt không nói một tiếng, im lặng nhìn chú Nhân với cái nhìn thán phục, bây giờ mới lên tiếng: – Thưa chú, theo chú trong đội bóng vai trò nào quan trọng nhất? – Vai trò nào cũng quan trọng ngang nhau cả, hàng trên hay nhưng hàng giữa yếu thì sẽ không nhận được bóng để sút, hàng giữa hay mà hàng dưới yếu thì đối phương sẽ tha hồ làm mưa làm gió. Thằng Minh muốn tỏ cho đám bạn biết mình cũng thạo về bóng đá, nó cãi lại chú Nhân: – Theo cháu, hai người quan trọng nhất đó là trung phong và thủ môn. Thủ môn hay có thể cứu thua các bàn trông thấy. Trung phong giỏi có thể lật ngược thế cờ… Nghe Minh nói, chú Nhân gật gù: – Cháu Minh giỏi lắm, cháu nhận xét đúng nhưng không hẳn hoàn toàn như thế, trong một đội bóng có mười một người đều như nhau vẫn mạnh hơn một đội bóng có trung phong giỏi, thủ môn khá còn các vai khác yếu. Cuộc tranh luận bóng đá kéo dài hơn nửa tiếng, nếu chú Nhân không ngăn lại có thể sẽ tranh luận đến tối. – Thôi nhé, chiều mai chúc các cháu đá tốt và thắng lợi. Nghe chú Nhân nói thế, cả độ nhao nhao: – Ngày mai chú nhớ đến, nhất định ngày mai chú phải có mặt… – Cám ơn các cháu, nhưng ngày mai chú phải về Vũng Tàu có việc nhà, chú tin các cháu sẽ giành thắng lợi trước đội bạn. Chúc các cháu thắng. Sáng chủ nhật, cả đội bóng tập dượt dưới sự hướng dẫn của huấn luyện viên “Minh lùn”. Khi sắp xếp lại đội hình, Minh lùn điều Lê từ hàng giữa về vị trí hậu vệ, đổi thằng Hòa mắt lồi thay Lê ở tuyến giữa. Hoà rất thích vị trí mới, nhưng Lê nhăn nhó: – Tao đi giữa quen rồi, đổi vậy khó đá lắm. Hòa mắt lồi nhìn Lê từ đầu đến chân, rồi nói: – Huấn luyện viên Minh lùn sắp mày đúng quá, mày cao lều khều, đá hàng dưới thì được, còn hàng giữa chưa được banh chắc sẽ té. Lê nổi quạu: – Sao mày dám chê tao, mày cũng như tao, mày hơn gì tao? – Nhưng tao đá vai nào cũng được… đáng lý mày cũng không được đá nữa, mày vào sân chỉ làm trò cười cho tụi nó. Lê sấn đến ngay trước mặt Hòa: – Mày nói sao, tại sao mày dám nói tao vào sân thì làm trò cười cho thiên hạ. Hòa cười ngạo mạn: – Mày là thằng Mỹ đen lọt vô đội bóng không giống ai. Cả đội cười ồ lên khi nghe Hòa nói, chỉ có Hoàng là lặng thinh, chúng nó tàn nhẫn với Lê quá. Chưa buông tha. Hòa còn nói tiếp: – Cái thứ Mỹ đen cho đi chỗ khác chơi là vừa. Một cú đấm ngay vào mặt Hòa, nó ngã xuống chưa kịp đứng dậy đã bị Lê bồi tiếp một cú nữa… Hoàng ôm chặt lấy Lê, kéo nó đi sang nơi khác. Lê vùng ra khỏi tay Hoàng: – Tao không chịu nổi nữa rồi, nó còn nói tao là Mỹ đen tao đánh cho nó một trận nên thân. Hòa lủi thủi đứng dậy, nhìn Lê với đôi mắt thù hận, nó nói trong nước mắt: – Để rồi mày coi, mày nhớ đó, mày đánh tao, rồi có ngày mày lãnh đủ… – Mày đừng dọa tao, tao cóc sợ thằng nào. Minh lùn làm thủ quân, nãy giờ chứng kiến màn giao đấu giữa hai võ sĩ nhóc, bây giờ lên tiếng: – Thôi, tao can tụi bây, hai đứa tụi bây đều ẩu cả, thằng Hòa chọc thằng Lê quá, không được. Còn thằng Lê cũng quá nóng, tụi bây đi quá mức, tao cúp, không cho hai đứa đá nữa, tao cho hai đứa trong hẻm nhà tao đá thay, hai đứa nó mới dọn về đây, trước đá cho đội banh trường Cửu Long. Lời dọa của Minh có kết quả ngay, cả Hòa lẫn Lê đều im thin thít, có lẽ chúng sợ thằng Minh loại hai đứa ra khỏi đội bóng thì uổng công tập dượt, và ước mơ trở thành các siêu sao khu phố Bà Chiểu cũng tan theo mây khói… Thôi nhịn là ăn tiền, đợi đá xong rồi hãy tính. Đội bóng tan hàng trong nỗi ấm ức của Lê, của Hòa, trong nỗi buồn và lòng thương bạn của Hoàng… Hoàng và Lê về sau cùng. Trên đường về, Lê phân trần: – Không phải tao ỷ to con hơn thằng Hòa mà đánh nó, nhưng nó nói tao là Mỹ đen, tao tức lắm. – Mày giận nó không đúng, thằng Hòa hay nói ẩu, đứa nào cũng biết, mày đánh nó lỡ tay, nó bị gì là mày phải bồi thường, phải đi ở tù, lấy ai giúp bà ngoại mầy? – Tao cũng biết tao nóng, nhưng nó làm nhục tao, tao phải đánh nó. Chia tay với Hoàng. Lê về đến nhà thì đã gần mười một giờ. Vừa đến sân, Lê đã thấy bà ngoại đợi sẵn: – Nãy giờ ngoại trông con về để ngoại lên thăm cậu Minh, cậu bị bệnh nằm nhà thương. Lê giật mình: – Ngoại nói sao? Cậu Minh bị bệnh, có nặng không ngoại? – Nghe nói cậu bị ung thư, bệnh không chữa được. Ngoại để sẵn cơm ở nồi, ăn xong trông nhà, đừng đi đâu, khoảng hai ba giờ ngoại về. Mời các bạn đón đọc Thằng Pele Bà Chiểu của tác giả Thương Ánh.
Gien Atlantis
Khát khao thoát khỏi bóng ma quá khứ vẫn từ lâu ám ảnh, bác sĩ Kate Warner quyết tâm rời California để đến Jakarta, dồn hết tâm huyết nghiên cứu gene Atlantis – một mã gene bí ẩn nắm giữ chìa khóa lý giải sự tiến hóa của loài người, hy vọng tìm ra liệu pháp mới chữa trị cho trẻ em mắc chứng tự kỷ. Nhưng liệu pháp đó, hóa ra, lại nguy hiểm và quyền năng hơn gấp bội so với những gì cô có thể tưởng tượng. Một cánh cửa dẫn đến bước tiến hóa tiếp theo của loài người và viết lại lịch sử của giống loài có thể mở ra, nhưng đồng thời, nếu lọt vào tay Hội Immari - tổ chức cổ xưa đã 2000 năm lịch sử – đó cũng chính là sự kết thúc cho nhân loại...  Cùng David Vale, đặc vụ của tổ chức tình báo Tháp Đồng Hồ, Kate phải chạy đua với thời gian, giải đáp vô số bí ẩn về nguồn gốc loài người, xâm nhập vào những ngóc ngách khuất nẻo nhất của thế giới, đào bới đến tận cùng những quá khứ đã từ lâu bị chôn vùi…  70000 năm trước, loài người đã sống sót qua nguy cơ tuyệt chủng. Nhưng giờ đây, nhân loại liệu có còn cơ hội? *** Katherine Warner là bác sĩ đứng đầu Trung tâm nghiên cứu và điều trị cho trẻ em tự kỷ tại Jakarta (Indonesia). Ngày nọ, khi kết quả thí nghiệm cho thấy cô đã đạt được bước đột phá trong công việc của mình thì Trung tâm nghiên cứu bị tấn công, hai đứa trẻ bị bắt cóc, bản thân cô không những không được bảo vệ mà còn bị cảnh sát xem như nghi phạm. David Vale là trưởng đơn vị Jakarta thuộc tổ chức Tháp Đồng Hồ - một tổ chức chống khủng bố phi chính phủ hoạt động hiệu quả nhất trên toàn thế giới. David và nhóm người ít ỏi của anh đã phát hiện một âm mưu khủng bố toàn cầu, đe dọa sẽ tiêu diệt hàng triệu nhân mạng. Kate Warner và David Vale có liên quan gì đến nhau và họ có thể làm gì để cứu chính mình đồng thời vãn hồi cục diện tăm tối này của loài người? Sách khổ lớn và dày 590 trang, bìa vô cùng đẹp, lẽ ra phải là một ấn phẩm đem lại 130% mãn nguyện nhưng vì cách viết chưa được hấp dẫn lắm nên thú thật là Biển có chút thất vọng. Phần mở đầu và vài chục chương đầu khiến Biển nghĩ đến sự kết hợp giữa tiểu thuyết Dan Brown, tiểu thuyết Harry Dolan và bộ phim G.I.Joe. Thay vì những đoạn viết về biểu tượng và tôn giáo như trong sách của Dan Brown thì “Gene Atlantis” chứa đựng rất nhiều kiến thức hàn lâm về di truyền học và tiến hóa. Có lẽ vì không hiểu rõ những đoạn đó, thêm nữa là chúng thường được chèn vào giữa các cuộc đối thoại rất dài khiến Biển không đọc nổi, đành phải lướt. Dù có bị chê cười thì Biển cũng phải nói rằng tuy rất nghiêm túc tập trung nhưng đọc hơn nửa quyển sách mà Biển vẫn chưa hiểu rõ nó đang nói về vấn đề gì :( “Loài người là kẻ sát nhân hàng loạt kinh khủng nhất mọi thời đại. Con thử nghĩ mà xem: chúng ta được lập trình để tồn tại. Ngay cả tổ tiên xưa kia của chúng ta cũng bị thôi thúc bởi bản năng này, đủ để nhận ra rằng người Neanderthal và người Hobbit là những kẻ thù nguy hiểm. Có thể họ đã giết hàng chục loài khác trong họ Homo. Và cái di sản đáng hổ thẹn đó đã tồn tại đến tận ngày nay. Chúng ta tấn công bất kỳ thứ gì khác biệt, bất kỳ thứ gì chúng ta không hiểu, bất kỳ thứ gì có thể thay đổi thế giới, môi trường của chúng ta, giảm bớt cơ hội sống sót của chúng ta. Phân biệt chủng tộc, chiến tranh giai cấp, phân biệt giới tính, Đông đấu với Tây, Bắc đấu với Nam, tư bản và cộng sản, dân chủ và độc tài, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, Israel và Palestine, tất cả đều là những mặt khác nhau của cùng một cuộc chiến: cuộc chiến vì một loài người đồng nhất, kết thúc mọi khác biệt giữa chúng ta. Đó là cuộc chiến chúng ta đã bắt đầu cách đây rất lâu và đã chiến đấu từ đó đến giờ”. Yếu tố trinh thám – hành động trong truyện cũng đủ ly kỳ hồi hộp nhưng còn nhiều điểm vô lý. Đây là một câu chuyện khoa học giả tưởng nên độc giả phải sẵn sàng chấp nhận những sự kiện khác biệt và vượt xa lẽ thông thường. Tuy nhiên, xét về chất giả tưởng thì cá nhân Biển cho rằng “Gene Atlantis” không cuốn hút bằng “Cuộc thám hiểm vào lòng đất”của Jules Verne hoặc “Trạm tín hiệu số 23” của Hugh Howey. ____  Diễn tiến truyện được đan xen giữa hiện tại và quá khứ, đôi lúc đoạn quá khứ được viết khá dài, lại xen lẫn thêm “quá khứ của quá khứ” khiến câu chuyện hơi bị loãng. Tính cách nhân vật được miêu tả vừa giống người bình thường vừa có tính chất “anh hùng”: nam chính can đảm + hài hước trong cả những tình huống oái ăm nguy hiểm nhất; nữ chính tuy cũng giỏi giang nhanh nhẹn nhưng vẫn là một nữ bác sĩ yếu đuối không được đào tạo gì về kỹ năng chiến đấu. Khi đọc hết chương 25, Biển có một phút mặc niệm cho tất cả những người dũng cảm đã hy sinh để bảo vệ hòa bình thế giới. Nghe thì có vẻ mông lung xa vời nhưng ai đọc cuốn này sẽ hiểu Biển muốn nói gì. Ở đầu truyện khắc họa một hình ảnh người thi hành công vụ ở Jakarta rất tồi tệ và quan liêu, không biết liệu cuốn này có được bán ở Indonesia không.. Cuối sách có phần nhắn gửi của tác giả, đọc xong thấy thông cảm và muốn viết review ca ngợi thêm một chút nhưng Biển chỉ có thể viết những gì mình nghĩ chứ không thể tự dối lòng. So với bộ sách Dị Chủng – Tàn Thế thì Biển thấy “Gene Atlantis” không lôi cuốn bằng và chắc sẽ không mua những quyển tiếp theo của bộ này. (Sea, 24-10-2018) - Thiên Nhai Hải Giác *** Tôi không hề bất ngờ khi biết thông tin tiểu thuyết “Gene Atlantis” của tác giả A.G.Riddle đang được chuyển thể thành phim, bởi tác phẩm hội tụ đủ các yếu tố để làm nên một bom tấn điện ảnh phiêu lưu, hành động, kịch tính, hấp dẫn. Tôi tò mò tìm đọc “Gene Atlantis” bởi “Atlantis” là từ khóa tôi tìm ra khi giải một câu đố. Câu đố thế này: Thuyết Âm – Dương là thuyết bao trùm vạn vật, biểu thị sự vận động của sinh vật, tự nhiên, vũ trụ. Biến thể của thuyết Âm – Dương là thuyết Ngũ Hành. Thuyết Ngũ Hành quan niệm vũ trụ được hợp thành bởi 5 nguyên tố cơ bản là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tương ứng với 5 màu sắc cơ bản là Trắng, Xanh, Đen, Đỏ, Vàng. Trên thế giới có người da Trắng (ở Châu Âu), người da Đen (ở Châu Phi), người da Đỏ (ở Châu Mỹ), người da Vàng (ở Châu Á). Vậy người “da Xanh” ở đâu? Bằng phương pháp vạch vẽ trên bản đồ thế giới, tìm đọc tài liệu, chắp nối các sự kiện từ thời trước Hồng Thủy, tôi mạo muội đưa ra một “thuyết Âm Mưu” rằng: người “da Xanh” chính là người Atlantis, di sản của họ hiện được bảo vệ ở vùng lạnh giá Tây Tạng. Vừa hay tiểu thuyết của A.G.Riddle viết về Gene Atlantis bí ẩn, tác nhân dẫn đến Bước đại nhảy vọt về di truyền của nhân loại, khiến nhân loại tách hẳn ra khỏi phần còn lại của tự nhiên, thống trị thế giới, cũng có hẳn một phần về Tây Tạng, “tư tưởng gặp nhau” khiến tôi không thể bỏ qua tác phẩm này. Gene Atlantis là phần 1 trong trilogy Atlantis của nhà văn A.G.Riddle. Tác phẩm giả tưởng có nội dung xoay quanh tổ chức Immari bí ẩn, bị ám ảnh bởi tư tưởng “thanh lọc thế giới”, tạo ra một chủng tộc mới bằng cách gây ra một thảm họa quy mô toàn cầu, kích hoạt Gene Atlantis, tạo ra Bước đại nhảy vọt thứ 2 về di truyền. Với một nội dung tầm cỡ như vậy, độc giả đòi hỏi tác phẩm phải có kẻ phản diện xứng tầm, A.G.Riddle đã làm được điều đó (tôi để ngỏ cho bạn đọc tự khám phá). Bố cục của Gene Atlantis liên tục chuyển đổi qua lại giữa các nhân vật và các vùng địa lý khác nhau, giúp nhịp độ và kịch tính của câu chuyện luôn được đẩy lên cao, lôi cuốn đọc giả. Bố cục đặc biệt này cũng gây ra một cảm giác rằng: có một thứ gì đó đang chuyển động và nó đang dẫn động một thứ gì đó lớn hơn rất rất rất nhiều đang từ từ chuyển động theo. Gene Atlantis hấp dẫn, kịch tính và... dễ dọc, nhân vật chính lôi cuốn, thông minh, xử lý tình huống gọn gàng, hợp lý. Phe phản diện hấp dẫn, lối xây dựng kiểu “chính tà khó phân” khiến nội dung rất có chiều sâu. Mời các bạn đón đọc Gene Atlantis của tác giả A. G. Riddle.