Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngàn Hạc Giấy của Sadako

Ngày mùng 6/8/1945, 8 giờ 15 phút sáng, một quả bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima. Bé Sadako hai tuổi may mắn sống sót sau vụ nổ, thậm chí hoàn toàn lành lặn. Nhưng mầm bệnh của chất độc phóng xạ đã ngấm vào người em, nấu ủ suốt mười năm để rồi phát tác khi cô bé còn chưa học xong tiểu học. Dù ốm yếu, thân thể liệt dần từ dưới lên trên, hạch và các vết ung thư da nổi khắp người, nhưng với nụ cười không tắt trên môi và nỗi lòng đau đáu cho gia đình, Sadako vẫn chuyên cần dành những ngày cuối cùng của đời mình để gấp những con hạc giấy đong đầy nguyện ước. Sadako là một biểu tượng của tình thương yêu, của tiếng gọi hòa bình tha thiết. Cô bé cũng là nguyên mẫu cho bức tượng bé gái nâng hạc giấy trên Đài tưởng niệm Hòa bình cho Trẻ em ở Hiroshima. *** Hiroshima một ngày đầu tháng Tám, người đang ăn sáng người bắt đầu đi làm, nhưng ai nấy cùng dừng lại để ngẩng mặt lên trời ngắm nhìn. Ở rất cao, rất xa, có cái gì đó chói sáng rực rỡ lắm. Xuống cách mặt đất chừng 600 mét, cái chói sáng đó phát nổ, sóng xung kích bùng ra, tước đi sự sống của vạn vật. Gần thì biến thành tro bụi, xa thì sụp đổ hoặc nát vụn. Và lửa bốc lên ngùn ngụt, lửa thiêu cháy cả những dòng sông vốn đan dày như tấm lưới ở thành phố cảng này. Rồi mưa đổ xuống, mưa gom cả tro than từ chín tầng trời mang theo và tiếp đất với màu đen đặc, nhuộm đen da và đen cả tế bào sống của những người thoát chết. Từ đó, những mầm bệnh lặng lẽ vươn dài. Sadako là một bé gái thuộc vào trường hợp ấy. Hai tuổi dính mưa nguyên tử, mười năm ủ bệnh, chẩn đoán ung thư máu vào năm mười một tuổi, và mười hai thì từ giã cõi đời. Gần một năm chữa trị là gần một năm ngập tràn nước mắt, đau đớn và hi sinh cho nhau giữa Sadako và mọi người trong gia đình em. Tất cả được khắc họa lại ở cuốn sách này, khiến ta vừa cảm phục, yêu mến, vừa không khỏi xót xa. Với trái tim kiên cường và giàu lòng trắc ẩn, Sadako đã gói gọn bao yêu thương bí mật, bao mong ước thầm kín của mười hai năm ngắn ngủi trên đời vào những cánh hạc giấy. SADAKO VÀ NGÀN HẠC GIẤY phản ánh một câu chuyện bình dị và chân thực, đồng thời cũng là lời lên án thầm lặng mà mạnh mẽ nhất của một thế hệ trẻ em bị ép buộc làm nạn nhân chiến tranh. Bên cạnh Sadako chống chọi với bệnh tật, còn thấp thoáng hình bóng nước Nhật gian khó thời hậu chiến. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, dân cư xoay xỏa kiếm sống bằng chợ đen và vật vã chạy trốn cảnh sát kinh tế... Nhưng ở đó, không có oán hận hay căm thù. Bởi, giống như tình thương bao la trong gia đình, một đất nước cũng cần tình người để tiến bước. *** Sasaki Masahiro sinh năm 1941 tại Hiroshima, Nhật Bản. Cùng gia đình mình, ông đã sống sót qua vụ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima năm 1945. Em gái Sadako của ông, sau một thời gian chống chọi với bệnh ung thư máu do bị nhiễm phóng xạ, đã qua đời khi mới mười hai tuổi. Từ năm 2000, Sasaki bắt đầu đến nhiều nơi trên khắp đất Nhật để kể lại câu chuyện của em gái cũng như lan tỏa thông điệp về hòa bình và tình thương trong xã hội. *** Trước mặt tôi lúc này là Đài tưởng niệm Hòa bình cho Trẻ em. Đài tưởng niệm nằm ở một góc công viên Hòa bình Hiroshima*, phần trên là tượng một bé gái đang đứng, hai cánh tay giơ lên nâng một con hạc giấy lớn. Công trình kiến trúc ở gần tâm vụ nổ nguyên tử Hiroshima nhất. Tòa nhà được bảo tồn nguyên trạng ngay sau vụ nổ, và ngày nay đã trở thành biểu tượng của ước mơ hòa bình mãi mãi trên toàn thế giới. Bức tượng được lấy nguyên mẫu từ em gái tôi, Sasaki Sadako. Cách đây hơn nửa thế kỉ, vào năm 1945, gia đình Sasaki chúng tôi là nạn nhân của bom A thả xuống Hiroshima. Thời điểm đó, Nhật Bản đang chìm trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bố Shigeo đã nhập ngũ, chỉ còn bốn người ở lại thành phố là tôi, bà nội Matsu, mẹ Fujiko và Sadako em gái tôi. Vào cái ngày nghiệt ngã ấy, mái ấm của chúng tôi đã bị thiêu rụi hoàn toàn. “Bom A” còn được gọi là “bom nguyên tử”. Và quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima năm 1945 đánh dấu lần đầu tiên loài người sử dụng vũ khí hạt nhân trong chiến tranh. Sức công phá của vụ nổ tương đương 16.000 tấn bom TNT thông thường. Tuy nhiên, khía cạnh kinh khủng của vũ khí hạt nhân không chỉ nằm ở khả năng tàn phá của nó tại thời điểm phát nổ, mà còn ở lượng lớn chất phóng xạ khuếch tán sau khi thả bom. Nhiều người phải bỏ mạng vì hội chứng nhiễm phóng xạ cấp tính*. Có những người tuy sống sót sau vụ nổ, nhưng hệ lụy của phóng xạ còn kéo dài đến nhiều năm tiếp theo. Kể cả khi chiến tranh kết thúc, không ít người vẫn sống cùng nỗi lo ung thư hay bạch cầu*. Sadako bị chẩn đoán mắc bệnh máu trắng vào năm em học lớp Sáu. Sau khi tiếp xúc với lượng lớn chất phóng xạ trong thời gian ngắn, những triệu chứng sẽ xuất hiện trên toàn thân và nạn nhân sẽ tử vong trong khoảng thời gian từ một đến hai tuần. Hiện tượng bạch cầu trong máu tăng đột biến. Bệnh có thể gây ra các triệu chứng như sốt cao, thiếu máu, nhiễm trùng, chảy máu... Bố mẹ tôi đã làm mọi việc có thể để giúp Sadako đấu tranh với bệnh tật. Cả gia đình cùng nỗ lực tối đa nhằm vượt qua thử thách. Sadako vốn hay nghĩ cho mọi người, dù đau đớn đến đâu khi chống chọi với căn bệnh, em cũng không để lộ ra ngoài, mà luôn giữ khuôn mặt tươi cười vui vẻ để không làm ai lo lắng. Trong câu chuyện này, tôi sẽ kể về sự gắn bó của gia đình mình khi cùng nhau khắc phục gian nan. Sadako chưa từng than thở một lời, em không rên rỉ hay kêu đau bao giờ. Ngày qua ngày, em gấp những điều ước của mình thành hạc giấy. Rồi em mất ở tuổi mười hai, chưa đầy một năm kể từ khi biết mình mắc bệnh. Sadako không phải đứa trẻ duy nhất thiệt mạng vì bom nguyên tử. Tuy em là nguyên mẫu cho bức tượng ở Đài tưởng niệm, nhưng tượng được dựng lên là để an ủi hương hồn của tất cả các em nhỏ cùng cảnh ngộ. Trên bia đá dưới chân Đài tưởng niệm có khắc dòng chữ: Chúng em kêu gọi. Chúng em nguyện cầu. Vì hòa bình cho thế giới. Tôi viết cuốn sách này, không chỉ nhằm thuật lại cuộc chiến chống bệnh tật của Sadako, mà còn muốn các bạn hiểu thêm về những em bé là nạn nhân của mưa bom bão đạn. Khi nhìn bức tượng, ta có cảm giác bé gái đang giúp hạc giấy bay lên trời. Bên trên cánh hạc là vòm không xanh thẳm cao vời vợi, và đằng sau cô bé là những tán lá sum sê của hàng cây xanh lấp lánh. Vào thời điểm bom nguyên tử dội xuống Hiroshima, dù nước Nhật ngùn ngụt khói lửa chiến tranh, chúng tôi vẫn đang sống trong hạnh phúc bé mọn cùng gia đình mình. Buổi sáng mùng 6 tháng Tám năm 1945. Bầu trời cao xanh, tuyệt đẹp. *** Ngàn hạc giấy của Sadako – Những cánh hạc chở khao khát hòa bình. Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc nhưng thảm họa từ vụ nổ nguyên tử ở thành phố Hiroshima vẫn kéo dài mãi về sau. Cô bé Sasaki Sadako, là một trong những nạn nhân từ thảm họa đó. Sadako bị nhiễm phóng xạ, mất vì bệnh máu trắng khi mới 12 tuổi. Và Ngàn cánh hạc của Sadako, là những dòng chữ của anh trai cô bé – Sasaki Masahiro, viết về quãng đời đầy ý nghĩa mà Sadako đã sống.   Đề tài phản chiến trong Ngàn hạc giấy của Sadako Được viết bởi Sasaki Masahiro, một người không chỉ trải qua những giây phút kinh hoàng nhất của thành phố Hiroshima vào thời khắc Mỹ ném trái bom đầu tiên xuống Nhật Bản, mà ông còn là người thân liên quan trực tiếp với nhân vật trung tâm trong cuốn truyện – bé Sadako. Nên có thể nói, những dòng văn của Sadako no Senbazuru – Ngàn hạc giấy của Sadako, những dòng văn được viết lên bằng ngôi kể thứ nhất – tác giả xưng “tôi”, kể lại trải nghiệm, các sự kiện ông tự mình trải qua đã thấm đẫm hơi thở của lịch sử, hơi thở của thời đại. Qua đó mà Sasaki Masahiro gửi gắm, thể hiện tư tưởng phản chiến đầy mạnh mẽ. Cụm từ phản chiến xuất hiện đầu tiên trong tên một phong trào xã hội: Phong trào chống chiến tranh – Phong trào phản chiến. Phong trào này là sự phản đối việc sử dụng bạo lực, gây hấn quân sự, những cuộc xung đột vũ trang giữa các cộng đồng, quốc gia, dân tộc… Trong văn chương, các tác giả thể hiện tinh thần phản chiến bằng nhiều cách thức khác nhau. Như khắc họa, tái hiện hiện thực chiến tranh, những con người thời chiến hay những con người bước ra từ cuộc chiến… mà từ đấy thể hiện những hậu quả do chiến tranh mang lại. Qua đấy, bày tỏ khát vọng yêu hòa bình, mong muốn một thế giới không còn xung đột, làm dấy lên trong lòng người tinh thần phản đối chiến tranh, đoàn kết con người thành một khối, vì một thế giới không còn tiếng súng, tiếng bom, không còn những mảnh đời bất hạnh vì bom đạn. Trong dòng chảy của văn học mang đề tài phản chiến, Ngàn hạc giấy của Sadako vừa góp tiếng nói vào phong trào chung chống chiến tranh trên thế giới, đồng thời, vừa cất lên tiếng nói riêng của một tác giả Nhật Bản, đã trải qua những giờ phút tang thương nhất của cuộc đời, đã phải chứng kiến những người thân yêu lần lượt ra đi trong đau đớn vì chiến trận, khi quả bom nguyên tử đầu tiên được Mỹ đưa vào sử dụng vì mục đích quân sự. Khi nhắc đến đề tài phản chiến trong tác phẩm Ngàn hạc giấy của Sadako, trước hết, cần phải nói rằng đây là cuốn tiểu thuyết nhìn lại: khi con người ở hiện tại, nhìn lại những sự kiện đã xảy ra và viết về những năm tháng đã qua trong lịch sử. Nhưng không chỉ mang tính lịch sử, Ngàn hạc giấy của Sadako còn mang tính tự truyện nhằm khắc họa lên hình tượng một nhân vật có thật, thậm chí là cùng chung dòng máu thân thiết với người viết. Vì thế, đề tài phản chiến ở cuốn sách, vừa thể hiện trong từng mốc thời gian ứng với từng sự kiện có thật, mà còn thể hiện trong những chứng nhân lịch sử, và kết tinh lại, ở hình ảnh cô bé Sadako. Chiến tranh là đau thương, là những mất mát không thể tránh khỏi. Nhưng quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki vào bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ Hai sắp kết thúc, việc Nhật đầu hàng Đồng Minh chỉ còn là vấn đề thời gian thì mãi vẫn là điều gây tranh cãi trong lịch sử. Người dân Nhật Bản nói chung, người dân ở Hiroshima nói riêng, đến tận khi trái bom phát nổ, vẫn đang diễn ra nhịp sống thường nhật. Thậm chí, theo mô tả của tác giả Masahiro, khi trái bom rơi xuống, phát nổ tạo hai vệt sáng chói lọi, người dân còn ra đường ngắm nhìn và thốt lên: “Đẹp quá!” Để rồi, về sau nhìn lại, tất cả hiện về là những ký ức đầy đau đớn, cay đắng: “Tại sao lại quăng quả bom tàn khốc đó xuống nước Nhật chứ?” Quả thực là quá tàn khốc khi vụ nổ nguyên tử không chỉ san phẳng thành phố Hiroshima, tạo lên những cảnh tượng tang tóc ám ảnh mãi những ai còn sống: thành phố chìm trong biển lửa, xác người chết, dòng sông nhuốm máu, mưa đen phóng xạ… Mà hơn cả còn là những di chứng chiến tranh kéo dài đến hàng thế hệ: căn bệnh máu trắng, ung thư da mà Sadako và những trẻ em trên toàn nước Nhật gánh chịu, những đứa trẻ khiếm khuyết về ngoại hình hay trí tuệ… Chiến tranh cướp đi tính mạng con người. Và trong thời bình vãn đi tiếng súng, di chứng chiến tranh lại cướp đi tương lai, hi vọng của bao gia đình, bao đứa trẻ khác. Tái hiện hiện thực chiến tranh thảm khốc, khắc họa lên những số phận bất hạnh như cô bé Sadako vào thời đại mà tiếng súng đã lìa xa, lần nữa, tác giả Sasaki Masahiro đã góp một phần tiếng nói vào phong trào chống chiến tranh nói chung, chống việc sử dụng và thử nghiệm vũ khí nguyên tử, vũ khí hạt nhân nói riêng ở hiện tại và tương lai. Đồng thời, thể hiện tinh thần phản chiến, ủng hộ hòa bình trong Ngàn hạc giấy của Sadako cũng là một cách, Sasaki Masahiro bày tỏ tấm lòng nhân đạo, trĩu nặng yêu thương của ông, của một con người đã nếm trải đủ đau thương quá khứ mang lại: tố cáo tội ác chiến tranh, yêu thương những mảnh đời bất hạnh và khát khao về tương lai tốt đẹp. Chẳng vậy mà, con người ấy đã mang tư tưởng phản chiến cùng tinh thần nhân đạo đó, không chỉ gửi gắm vào những con chữ trong Ngàn hạc giấy của Sadako, mà còn gửi vào những chuyến đi thực tế tới khắp nước Nhật, dành trọn gần như phần đời còn lại để đấu tranh cho hòa bình và lan tỏa yêu thương. Câu chuyện của tình yêu và lòng dũng cảm Bên cạnh việc thể hiện đề tài phản chiến, cất lên tiếng nói chống chiến tranh mạnh mẽ, Ngàn hạc giấy của Sadako còn là câu chuyện của tình yêu và lòng dũng cảm, thông qua hình tượng trung tâm: cô bé Sadako nhỏ bé, bất hạnh mà tốt bụng, kiên cường. Mà đó cũng chính là một phần mục đích của tác giả Sasaki Masahiro khi kể lại quá khứ về người em gái nhỏ đã ra đi vì căn bệnh máu trắng: các tế bào bạch cầu ác tính phát triển thành tế bào ung thư da di căn khắp cơ thể: lan tỏa yêu thương tới nước Nhật, và tới cả thế giới. Thật vậy, Ngàn hạc giấy của Sadako là một câu chuyện bi kịch, câu chuyện về cái chết, buồn thương, day dứt và khắc khoải. Nhưng vượt lên trên tất cả đau thương mà chiến tranh mang lại, vẫn là tình yêu thương ấm áp ẩn sau câu từ, con chữ tưởng như chỉ là lời trần thuật đơn thuần về những gì đã qua. Đó là tình thương mà những con người trong hoàn cảnh gian nan, khó khăn nhất gửi tới nhau: Có hoạn nạn mới thấm thía hai tiếng chân tình. Đó là tình thương của hai tiếng gia đình: dẫu vất vả, cực nhọc vẫn luôn cố gắng, hi sinh vì nhau, bên nhau vượt qua nghịch cảnh. Đó là tình thương của những cô bé, cậu bé bất hạnh đã gửi trao cho nhau sự quan tâm đầy thơ trẻ, trong sáng. Một Nhật Bản, một Hiroshima hoang tàn sau chiến tranh, oằn mình vì nạn đói, chuyển mình trước những bước tiến mạnh mẽ chung của cả xã hội, đã sáng lên những tấm lòng như xua tan đêm đen của đạn bom như vậy đấy. Và giữa yêu thương nhỏ nhặt, giản dị của con người thời chiến và hậu chiến ở thành phố Hiroshima, cô bé Sadako hiện lên như một thiên thần nhỏ, giàu lòng nhân hậu, hi sinh cùng thương yêu. Sadako, cô bé phát bệnh khi mới 11 tuổi, thời gian sống chỉ còn 1 năm, bao dự định, bao ước mơ chưa thành, cô bé ấy đã ra đi khi tuổi thơ còn chưa trọn vẹn. Nhưng tin rằng, với quãng đời ít ỏi, Sadako đã thật sự sống những phút giây không hoài phí, đã sống trọn một cuộc đời ngắn ngủi. Sadako yêu thương thật nhiều, cũng trao gửi đi thật nhiều tin yêu. Giữa cơn bạo bệnh, cô bé đó vẫn chỉ một lòng lo cho gia đình, nghĩ suy đến món nợ của người cha, vẫn dành những quan tâm bình dị tới những người xung quanh. Nụ cười của Sadako, vẫn nở trên môi kể cả khi cơn đau hành hạ. Nơi thân thể bé nhỏ, suy kiệt ấy, là cả trái tim kiên cường, nghị lực, bền bỉ khao khát yêu và được yêu, khao khát sống và được sống trọn từng giây phút của đời người. Giọt nước mắt Sadako rơi, những câu nói nghẹn ngào của em: “Chị ơi, có phải lần sau sẽ đến lượt em không?”, “Bom nguyên tử đáng sợ thật đấy.” như những vết dao cứa vào tim độc giả, đau nhói. Sadako kiên cường trong đau đớn khiến ta khâm phục, nhưng một cô bé lo sợ trước cái chết cận kề lại càng làm ta cảm động, đau xót. Bởi, đó mới thật sự là cuộc đời, đó mới thực sự là chiến tranh và nhắc nhở mỗi người rằng, vết thương chiến tranh khi xưa, vẫn chưa từng khép miệng. Nhưng dẫu cuộc đời có khổ đau, số phận có nghiệt ngã thì yêu thương, tình đời, tình người, lòng dũng cảm vẫn luôn ngời sáng. Như cách Sadako đã kiên cường ra sao, như cánh hạc giấy mỏng manh đã chở nặng tâm tư bé gái 12 tuổi đến lúc giã từ cõi đời thế nào. Bài ca của niềm hi vọng Chợt nghĩ, cuộc đời cô bé Sadako, thật giống với bông hoa anh đào, biểu tượng cho lòng dũng cảm của con người Nhật Bản. Vòng đời của hoa có ngắn ngủi, nhưng khi cánh hoa rụng xuống, cũng chính là lúc loài hoa ấy bước vào quá trình ủ nụ, để mùa xuân năm sau, tiếp tục bung sắc. Sadako ra đi, song yêu thương em trao gửi, đã lan tỏa và nuôi dưỡng tâm hồn người ở lại. Cô bé ấy mất, nhưng tình thương của em vẫn còn sống mãi. Những cánh hạc em gấp, có lẽ không chỉ chứa đựng nguyện ước về một ngày em khỏe bệnh, về một ngày cha em trả được hết nợ, mà còn chứa đựng nguyện ước, hi vọng về một ngày thế giới vắng tiếng bom rơi, để không còn ai, phải chịu nỗi đau em đang mang. Chẳng thế mà, bức tượng bé gái, giơ cao đôi tay ôm cánh chim hạc giơ lên bầu trời xanh ở Công viên Hòa Bình tại thành phố Hiroshima, lấy nguyên mẫu từ cô bé Sadako, đã trở thành một trong những biểu tượng hòa bình của cả nước Nhật. Cô bé Sasaki Sadako, là một nhân vật có thật và Ngàn hạc giấy của Sadako, là câu chuyện có thật kể về cô bé đó. Nhưng Sadako, có lẽ từ lâu đã trở thành một hình ảnh biểu tượng cho tuổi thơ Nhật Bản kiên cường, vươn lên từ đau thương chiến tranh mà lan tỏa yêu thương, mà nói lên tiếng nói hi vọng vì một ngày mai hòa bình. Hình ảnh ấy, cũng như bao hình ảnh trẻ em khác trên toàn thế giới nói chung, và như chính hình ảnh trẻ em Việt Nam nói riêng, vẫn hát mãi những khúc ca hòa bình, về ngày mai, về tương lai không còn tiếng bom rơi, đạn nổ: “Em ước mong sao, bầu trờ chẳng đen bóng mây Em ước mong sao trẻ thơ đừng vương bão giông Vì em biết chân trời đang khép… Vì em biết nỗi đau nghiệt ngã…” (Lời bài hát Em ước mong sao) “Những cánh én chấp chới của mọi tuổi thơ Những cánh én lấp lánh đầy nhạc và thơ Em ước mong sao bầu trời chẳng đen bóng mây Để ngàn chim hót, để đàn én bay” (Lời bài hát Cánh én tuổi thơ) Review Mọt Mọt Mời các bạn đón đọc Ngàn Hạc Giấy của Sadako của tác giả Sasaki Masahiro.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Pierre Và Jean - Guy de Maupassant
Trong thời gian sáng tạo ngắn ngủi – quãng mười năm của cuộc đời không dài (1850-1893), Guy de Maupassant dành nhiều quan tâm cho truyện ngắn, và cũng nổi tiếng nhờ truyện ngắn. Có lẽ vì thế, sáu cuốn tiểu thuyết của ông ít được người đọc cũng như giới phê bình chú ý (tất nhiên vẫn có ngoại lệ, Lev Tolstoi, đại văn hào Nga cùng thời, coi cuốn "Một cuộc đời", cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Maupassant là "cuốn tiểu thuyết Pháp hay nhất, từ sau Những người khốn khổ của Hugo"). Khoảng vài chục năm cuối thế kỷ XX tình hình có khác và trong sự tiếp cận "đổi mới" tiểu thuyết Maupassant, các nhà nghiên cứu dành một vị trí khá đặc biệt cho Pierre và Jean, cuốn tiểu thuyết thứ tư, xuất bản năm 1888. Với dung lượng không lớn, chỉ như một truyện ngắn, Pierre và Jean có cấu trúc giản dị, văn chương trong sáng. Song, khảo sát sâu hơn, sẽ thấy bên dưới vẻ tự nhiên, đơn sơ, là công phu, là sự lão luyện về phương diện ngôn ngữ và thủ pháp thuật truyện. Về mặt sự kiện, chất liệu của cuốn tiểu thuyết khá ít ỏi: trong một gia đình có hai con trai, người em bất ngờ được thừa kế một tài sản lớn. Biến cố không ở bản thân sự kiện, không do sự kiện tạo nên, mà ở những gì chúng tiết lộ. Và câu chuyện là diễn tiến của một phát hiện – người con lớn phát hiện quá khứ của mẹ mình, phát hiện quan hệ thực sự giữa các thành viên trong gia đình mình. Dần dắt truyện vẫn là một người kể biết hết mọi điều, nhưng ở đây sự "biết hết" rằng có chừng mực, bởi người này hay lẩn mình đi tại những khoảnh khắc chủ chốt, hoặc cứ để lửng lơ một số điều không được nói ra (như ý nghĩ của bà mẹ, của nàng thiếu phụ Rosémilly), hoặc cho sự vật được soi rọi từ điểm nhìn của Pierre, người con cả. Phương thức kể chuyện như thế khiến Pierre và Jean chuỷên thành cuốn tiểu thuyết viết về quá trình của một tư duy, thế giới chính của truyện là thế giới tinh thần, tâm trạng. Đó cũng là chất liệu ưa thích của tiểu thuyết thế kỷ XX, khi các tác giả ngày càng có xu hướng đưa người đọc vào thế giới riêng của một tâm tư, một trí óc, với những dằn vặt, ám ảnh, độc thoại nội tâm. Điều này lý giải vì sao hiện nay nhiều nhà nghiên cứu lại đánh giá Pierre và Jean là một bước chuyển từ truyền thống tiểu thuyết thế kỷ XiX sang tính hiện đại đang manh nha. Một yếu tố khác cũng khiến Pierre và Jean được coi như có tinh bán lề giữa tiểu thuyết hai thế kỷ, giữa truyền thống và cái mới, đó là bài Tựa quan trọng, một tiểu luận được Maupassant đặt cho tiêu đề "Tiểu thuyết". Như một tuyên ngôn, bài Tựa phát biểu những suy nghĩ của Maupassant về phê bình, về thể loại tiểu thuyết, về công việc sáng tác, và về chủ nghĩa hiện thực. Maupassant chống lại thiên kiến hẹp hòi trong phê bình và nhận xét rất chính xác về tính chất mở của tiểu thuyết, một thể loại động, tự do, cho đến bấy giờ vẫn theo quy phạm hoá chặt chẽ. Ông cũng nêu lên ý kiến của mình về chủ nghĩa hiện thực, những ý kiến được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay tán thưởng, bởi theo họ, chúng lý giải nghịch lý cũng như tính biện chứng nội tại của khái niệm: sự thật và tính văn chương, phản ánh và hư cấu. Theo Maupassant, bằng việc lựa chọn sự kiện, bằng cách kết hợp, cấu tạo lại các sự kiện, nhà tiểu thuyết truyền đạt cho người đọc cái nhìn riêng của cá nhân anh ta đối với thế giới "tả thực là tạo ra ảo tưởng trọn vẹn về cái thực" do đó "các nhà hiện thực tài ba lẽ ra phải gọi là các nhà gây ảo tưởng thì đúng hơn". Suy nghĩ về công việc của nghệ sĩ, về những gì nghệ sĩ cần và có thể làm, Maupassant đã đặt chân vào con đường trên đó văn học thế kỷ XX sẽ quyết liệt dấn bước, đặt câu hỏi về bản thân, đặt câu hỏi về hành vi viết, hành vi đọc. Có thể đọc Pierre và Jean một cách thoải mái, như một câu chuyện nhẹ nhàng, pha chút ý vị trinh thám. Cũng có thể thưởng thức tác phẩm như một cuốn tiểu thuyết đậm sắc thái hội hoạ ấn tượng chủ nghĩa với hình ảnh trở đi trở lại và vai trò của nước, mô típ ưa thích trong hội hoạ ấn tượng, với tầm quan trọng dành cho sự cải tạo của cái nhìn, với thủ pháp cho nhân vật tự hình thành dần trong mắt độc giả, tương tự cách sử dụng những quệt màu liên tiếp để gợi bức tranh toàn cảnh. Lại cũng có thể, như một vài nhà phê bình phân tâm học Pháp, tìm thấy ở tác phẩm mặc cảm Oedips ngầm ẩn bên dưới cấu trúc gia đình, và sự thấp thoáng của cái vô thức. Đó là cách tiếp cận riêng, là sở thích, là hứng thú cá nhân, tùy thuộc, nói như Maupassant, vào cái tạng của mỗi người NGƯỜI DỊCH *** Henri René Albert Guy de Maupassant (1850–1893) là nhà văn viết truyện ngắn nổi tiếng người Pháp. Guy de Maupassant sinh tại vùng Normandie ở miền bắc nước Pháp, trong một gia đình giàu có. Cha mẹ Maupassant ly thân năm ông lên mười một tuổi, và bà mẹ đã một mình nuôi dạy con. Từ ảnh hưởng ấy, bà đã trở thành nhân vật nữ trong rất nhiều câu chuyện của ông. Maupassant được gửi đến trường nội trú ở Yvetot vì bản tính bất trị, hay nổi loạn. Ông từng học ở trường Phổ thông cao đẳng tại Rouen và được bằng Cử nhân Văn chương. Sau khi tốt nghiệp, Maupassant gia nhập quân đội và tham gia Chiến tranh Pháp–Phổ (1870–1871). Năm 1871, ông đến Paris làm một viên chức nhỏ cho Bộ Hải quân. Từ năm 1878 trở đi ông làm một viên chức Bộ Giáo dục. Cuộc đời làm viên chức nhỏ kéo dài khá lâu, đã để lại nhiều dấu ấn trong tư tưởng và sự nghiệp của ông, góp phần quan trọng vào việc hình thành "hình tượng con người bé nhỏ" - một kiểu nhân vật văn học quan trọng sẽ ra đời vào cuối thế kỷ 19 và thịnh hành suốt nửa đầu thế kỷ 20. Với những khó khăn dồn dập, Maupassant ngày càng trở nên bi quan đến nỗi bị chứng nhức đầu kinh niên không dứt, chỉ có thể làm dịu cơn đau bằng cách hít ether. Việc lạm dụng ether đã gây cho ông nhiều ảo giác và cuối cùng Maupassant bị sụp đổ tinh thần hoàn toàn. Rồi ông trở nên giàu có, và chi tiêu bừa bãi vào thú ăn chơi. Nhưng sau thời gian này, ông trở nên tuyệt vọng, vào năm 1892 tự tử nhưng được cứu sống. Sau đó Maupassant bị giam trong dưỡng trí viện tư nhân Doctor Blanche tại Passy, Paris. Maupassant mất ngày 6 tháng 7 năm 1893, chỉ vừa 42 tuổi, trong thời kỳ thứ ba của bệnh giang mai, căn bệnh đã kết liễu cuộc đời của nhà văn.   Tiểu thuyết Một cuộc đời (Une vie, 1883) Anh bạn đẹp (Bel-Ami, 1885) Mont-Oriol (1887) Pierre et Jean (1888) Fort comme la Mort (1889) Notre Coeur (1890) Truyện ngắn Viên mỡ bò (Boule de Suif, 1880) La Maison Tellier (1881) Une partie de campagne (1881) Cô Fifi (Mademoiselle Fifi, 1882) Contes de la Bécasse (1883) Au soleil (1884) Clair de Lune (1883) Les sœurs Rondoli (1884) Yvette (1884) Miss Harriet (1884) Adieu (1884) Monsieur Parent (1885) Contes du jour et de la nuit (1885) La Petite Roque (1886) Toine (1886) Le Horla (1887) Sur l'eau (1888) Le Rosier de madame Husson (1888) L'héritage (1888) La Main gauche (1889) Histoire d'une fille de ferme (1889) La vie errante (1890) L'Inutile beauté Le père Millon (1899, sau khi chết) Le colporteur (1900) Les dimanches d'un bourgeois de Paris (1900) Bố của Simon (Le Papa de Simon) La Ficelle (1883) La Légende du Mont St Michel (1882) Kịch Histoire du vieux temps (1879) Musotte (1890) La paix du ménage (1893) Une répétition (1910) Phê bình Émile Zola (1883) Étude sur Flaubert (1884) Mời các bạn đón đọc Pierre Và Jean của tác giả Guy de Maupassant.
Những Đứa Con Phố Arbat - Anatoli Rybakov
Anatoly Naumovich Rybakov (Anatoli Rybakov) sinh ngày 14.1.1911 trong một gia đình gốc Do Thái ở Chernygov, từ năm 1919 chuyển về Moskva sống tại phố cổ Arbat. Tốt nghiệp phổ thông, nhà văn tương lai phải làm nhiều nghề kiếm sống: công nhân xưởng hóa chất, bốc vác, lái xe… nên hai mươi chín tuổi mới bước chân vào trường đại học Giao thông vận tải. Thế nhưng, học được ba năm, ngày 5 -11.1933, A. Rybakov bị bắt và lĩnh án tù giam ba năm vì tội “tuyên truyền phản cách mạng”. Mãn hạn tù, không được phép cư trú trong thành phố, anh lang thang hầu khắp nước Nga, nhận làm tất cả các công việc kiếm sống miễn là không phải khai báo, cho đến năm 1938 mới được vào biên chế chính thức, làm kỹ sư trưởng phòng quản lý vận tải đường bộ khu vực Riazan. Năm 1941, chiến tranh bùng nổ, A. Rybakov vào phục vụ trong các đơn vị vận tải quân đội, tham gia chiến đấu ở hầu khắp các mặt trận từ Moskva đến Berlin, năm 1946 làm đến chức trưởng ban cơ giới của quân đoàn, mang hàm kỹ sư thiếu tá. Do những thành tích xuất sắc trong chiến đấu chống quân phát xít, Rybakov được sửa lý lịch, thành “không có tiền sự, tiền án” và đến năm 1960 thì được khôi phục danh dự hoàn toàn. Một trường đời như thế mà để ngoài văn chương thì thậm vô lý - và năm 1947, Rybakov bắt đầu hướng vào hoạt động văn học, mở đầu là thiên truyện phiêu lưu li kỳ dành cho tuổi thiếu niên Thanh đoản kiếm (1948, được đưa lên màn ảnh hai lần, vào năm 1954, 1973) rồi hai phần tiếp theo: Con chim đồng (1956, thành phim năm 1974) và Tiếng súng (1975, trước đó, năm 1974 đã được dựng thành phim Mùa hè cuối cùng của tuổi thơ). Thành công của hai cuốn sách đầu tay giúp nhà văn tự tin đi tiếp mạch truyện viết cho thiếu niên: từ Những cuộc phiêu lưu của Krosh (1960, thành phim năm 1961) ông viết hai cuốn tiếp theo Những kỳ nghỉ của Krosh (1966, thành phim năm 1979), Người lính vô danh (1970, hai lần lên màn ảnh - Phút mặc niệm, 1971 và Người lính vô danh, 1984).  Ở thể loại tiểu thuyết dành cho người lớn, Rybakov thử sức bằng cuốn Những người cầm lái (1950, về những chiến sĩ lái xe vận tải, cựu đồng nghiệp của mình), và năm sau được giải thưởng Stalin hạng nhì. Khi Stalin thấy trong danh sách những nhà văn được đề nghị tặng giải thưởng mang tên mình có Rybakov, ông bèn bảo A. Fadeev, người đứng đầu Hội Nhà văn Liên Xô hồi ấy: “Thế đồng chí có biết người này đã bị khai trừ đảng và ba lần bị tòa xử về tội phản cách mạng?” Và Rybakov đã giải trình được: ông chưa hề được kết nạp nên không có chuyện khai trừ, còn án tù thì đã được hủy từ khi ông đang ở chiến trường. Tiếp đó, Rybakov thành công lớn với Ekaterina Voronina (1955, về đường đời một cô gái mồ côi trở thành nhà quản lý giao thông đường sông với những thăng trầm theo thời cuộc, được dựng thành phim năm 1957) rồi cho ra đời Mùa hè ở Sosnyaky (1964, về nhân tình thế thái tại công trường xây dựng một khu liên hợp hóa chất bên bờ hồ Baikal). Năm 1978, cuốn Cát nặng ra đời. Tiểu thuyết này kể về chặng đời 1910 - 1950 của một gia đình người Do Thái tại một địa phương có nhiều dân tộc chung sống ở miền bắc Ukraina, về mối tình sâu nặng bất chấp mọi rào cản qua hàng chục năm, về thảm kịch lò thiêu người của bọn phát xít làm thiệt mạng hàng triệu người dân tộc thiểu số thuộc những quốc gia khác và xóa sổ gần 1/3 tổng số người Do Thái trên toàn cầu, đồng thời kể lại gương chiến đấu dũng cảm của những chiến sĩ du kích chống phát xít. Tác phẩm đỉnh cao này kết hợp được cả vẻ đẹp văn chương, cả chiều sâu triết học, vừa có sự phân tích lý giải những sự kiện lịch sử, vừa có tính biểu tượng cao: hình tượng nữ nhân vật chính trong mối tình kể trên, và sau đó, ở phần cuối tiểu thuyết, là người mẹ, người vợ của Rakhile đầy tính ẩn dụ về lòng căm thù của dân Do Thái đối với phát xít Đức. Tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập năm 2008. Chịu số phận lận đận hơn cả là tiểu thuyết Những đứa con của phố Arbat: được tác giả viết xong từ những năm 1960, thời Khrutshov, nhưng đến năm 1987 thời Gorbachov phát động cuộc cải tổ mới có thể đến với độc giả và năm 2005 thành phim truyền hình nhiều tập. Trong lứa thiếu niên ở phố Arbat đầu thế kỷ XX khá nhiều người tài, trong đó có nhà thơ - nhạc sĩ Bulat Okudjava và nhà văn Anatoli Rybakov cùng sống ở dãy nhà đánh số lẻ. Cả hai nhà văn bậc thầy này đều đã ra mặt trận chiến đấu: Okudjava - con trai của một tù nhân - tình nguyện nhập ngũ khi mới mười bảy tuổi, còn Rybakov – cựu tù nhân về tội “tuyên truyền phản cách mạng” – sung vào đơn vị vận tải quân sự và được phục hồi danh dự khi Okudjava đã có năm năm tuổi Đảng. Những đứa con của phố Arbat là tác phẩm sớm nhất viết về số phận lứa thanh niên mới lớn vào những năm 1930 và được dịch giả Lê Khánh Trường nhanh chóng chuyển sang tiếng Việt. Cốt truyện tự nhiên dựa trên những biến cố có thật trong đời tác giả, với nhãn quan đúng đắn của nhà văn, nhìn nhận chuyện quá khứ tuy vương nỗi buồn thương, nhưng bao trùm là một thái độ khoan dung, không oán thán, Những đứa con của phố Arbat được coi như một “quả bom tấn trong văn học”, mang lại vinh quang thực thụ cho nhà văn. Được đà, tác giả sau đó viết tiếp cả một chùm ba tiểu thuyết nữa: 1935 và những năm khác (1989), Kinh hoàng (1990), Bụi và tro (1994).  Cũng như đối với nhiều tác phẩm trước đó, Rybakov thường đi tiếp mạch của cuốn truyện thành công để làm thành những cuốn sách trọn bộ. Đặc biệt, giữa bộ truyện này với bộ truyện kia vẫn có mối liên quan gắn bó: nhân vật chính trong Những đứa con của phố Arbat là Sasha Pankratov từng xuất hiện thấp thoáng trong cuốn Tiếng súng. Người đọc có thể thấy nét đặc sắc này khi có trong tay bộ Tuyển tập tác phẩm Anatoli Rybakov gồm bảy cuốn, xuất bản năm 1995.  Anatoli Rybakov mất ngày 23.12.1998 tại New York, được đưa về an táng tại Moskva. Những đứa con phố Arbat NXB văn học 198x Mời các bạn đón đọc Những Đứa Con Phố Arbat của tác giả Anatoli Rybakov.
Người Thầy Thuốc - Noah Gordon
“Người thầy thuốc” (Noah Gordon) là câu chuyện về một cậu bé người Anh vượt qua địa giới châu Âu để đến Ba Tư với ước mơ trở thành thầy thuốc. Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh London (Anh) thế kỷ 11. Lên chín tuổi, Rob Cole và đàn em thơ mất mẹ. Không lâu sau người cha qua đời. Phường hội thợ mộc chia lũ trẻ bơ vơ về các gia đình nuôi nấng. Rob được một phó cạo kiêm thầy lang hay say xỉn bảo hộ. Từ đó, với hành trang đặc biệt là năng khiếu dự cảm cái chết (với những nỗi kinh hãi, bi thương), Rob rong ruổi khắp nước Anh trên một chiếc xe ngựa… Định mệnh đã sắp đặt cho cậu gặp gỡ với một thầy thuốc, người khiến Rob muốn đến được Ba Tư, chạm vào gấu áo vị thầy thuốc nổi danh trong lịch sử y học - Abu Ali at-Husain ibn Abdullah ibn Sina. Trên con đường chông gai đó, dù có lúc phải từ bỏ tình yêu, đối mặt với cái chết, hay đội lốt một người khác, Rob Cole vẫn dần bước. Anh muốn trở thành thầy thuốc. Với “Người thầy thuốc,” Noah Gordon đã kể một câu chuyện ấn tượng về thời kỳ Trung cổ với những chất liệu sinh động liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: lịch sử, tôn giáo, y học… Những trang sách cũng là những câu chuyện đẹp về tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình và nghị lực vượt qua nghịch cảnh, theo đuổi ước mơ. “Người thầy thuốc” được bình chọn là một trong mười cuốn sách được yêu thích nhất mọi thời đại tại Madrid Book Fair năm 1999. Nhà văn Noah Gordon sinh năm 1926 tại Mỹ. Chủ đề chính trong các tiểu thuyết của ông là lịch sử y học và vấn đề y đức. Bên cạnh đó, lịch sử, văn hóa Do Thái cũng là một mảng đề tài lớn trong các sáng tác của ông. Noah Gordon từng được trao nhiều giải thưởng văn học của Tây Ban Nha, Italy và Mỹ... *** "Cuốn tiểu thuyết lôi cuốn của Gordon tái tạo thế kỷ 11 mạnh mẽ đến mức độc giả bị cuốn theo hàng trăm trang sách bởi đợt thủy triều của trí tưởng tượng và những chi tiết lịch sử xác thực." - Publishers Weekly. "Người thầy thuốc mang màu sắc The Pillars of the Earth của Ken Follett, nhưng với sự phát triển sâu hơn ở cả cốt truyện lẫn nhân vật... Quả là một cuốn sách mở mang đầu óc và khó quên." - Zoltaire's Blog. "Câu chuyện phiêu lưu tràn ngập cảm hứng về cuộc tìm kiếm tri thức y học diễn ra trong một thế giới đầy bạo lực, mê tín và thành kiến." - Library Journal. *** Noah Gordon sinh năm 1926 ở Worcester, Massachusetts, Mỹ. Sau khi tốt nghiệp ngành báo chí và Anh ngữ ông theo nghề làm báo. Trong thời gian làm biên tập viên khoa học cho một tờ báo ở Boston ông đã có một số truyện ngắn ra mắt bạn đọc đăng trên các báo hàng đầu ở Mỹ. Ông đã nổi tiếng ngay với tiểu thuyết đầu tay The Rabbi (Giáo sĩ Do Thái). Các tác phẩm tiếp theo The Death Commitee, The Jerusalem Diamond, Shaman... cũng đều trở thành sách bán chạy. Chủ đề chính trong các tiểu thuyết của Gordon là lịch sử y học và y đức. Phần sau sự nghiệp, ông tập trung nhiều hơn vào chủ đề Tòa án dị giáo và lịch sử văn hóa Do Thái. Ông từng nhận các giải thưởng Que Leer Prize (Tây Ban Nha) và Boccaccio Literary Prize (Ý), James Fenimore Cooper Prize for Best Historical Fiction (Mỹ)...   Mời các bạn đón đọc Người Thầy Thuốc của tác giả Noah Gordon.
Người Đẹp Trong Khách Sạn - Hoàng Minh Tường
Người đẹp trong khách sạn là tiểu thuyết được xuất bản năm 1990  Có một lần, sau ba tháng làm việc ở Băng Cốc, nơi đặt trụ sở văn phòng UNESCO khu vực, Pôn Vericơn trở về căn phòng của mình ở khách sạn Hoa Sen. Người ta đã chuẩn bị cho anh một bữa ăn hết sức thịnh soạn với những món ăn mà anh ưa thích. Ngồi xuống bàn ăn mà mắt Pôn cứ nhìn đi đâu đó, tựa hồ như anh vừa bị mất một cái gì, thiếu vắng một cái gì. Và anh cứ ngồi hút hết điếu xì gà này tiếp điếu khác, chai rượu vang còn nguyên trước mặt, những món ăn nguội ngắt. *** Hoàng Minh Tường là một trong những nhà văn hiện đại của Việt Nam, tác giả cuốn Thời của thánh thần Hoàng Minh Tường từng trải qua các nghề dạy học, viết báo và viết văn. Hoàng Minh Tường là một trong những nhà văn hiện đại của Việt Nam, tác giả cuốn Thời của thánh thần vừa phát hành đã bị thu hồi. Tiểu thuyết Đồng chiêm, Nhà xuất bản Thanh niên (1979) Đầu sông, (1981) Những ngả đường, Nhà xuất bản Công an nhân dân (1986) Gặp lại dòng sông, Nhà xuất bản Lao động (1986) Những người ở khác cung đường, Nhà xuất bản Giao thông vận tải (1988) Con hoang (1989) Người đẹp trong khách sạn (1990) Giá như được yêu một người (1994) Thủy hỏa đạo tặc, Nhà xuất bản Văn học (1996) Đen và béo, Nhà xuất bản Kim Đồng (1997) Đồng sau bão, Nhà xuất bản Văn học (2000) Ngư phủ, Nhà xuất bản Công an nhân dân (2005) Thời của thánh thần. Nhà xuất bản Hội nhà văn (2008) Gia phả của đất. Nhà xuất bản Phụ Nữ (2013) Nguyên khí. Nhà xuất bản Dân Khí,NgườiViêtshop,(2014) Le temps des Genies Invincibles - Nhà xuất bản La Fremillerie - Paris,(2014) Thi sĩ sang sông - Bản dịch tiếng Hàn Quốc - Nhà xuất bản B books - Seul,(2015) Thời của Thánh Thân Bản dịch tiếng Nhật - Nhà xuất bản Đại học Ngoại ngữ Tokyo - Tokyo,(3/2016) Những mảnh Rồng Nhà xuất bản Vipen,Berlin,Đức (2018) Truyện ngắn Cưới lại, Nhà xuất bản Hà Nội (1992) Gã viết thuê, Nhà xuất bản Hội nhà văn (1999) Những mảnh đời khác nhau, Hoàng Minh Tường, Phạm Ngọc Chiểu, Nhà xuất bản Tác phẩm mới (1986) Những chuyện tình xưa cũ,Nhà xuất bản Hoi nha van, (2000) Nàng Êva mù, Nhà xuất bản Lao động (2005) Cá hóa Rồng, (2006) Khoảng xanh non, (2007) Ngôi nhà ma,(2013) Bút ký, phóng sự Đa thê: Nhà xuất bản Lao động (1995) Nghìn lẻ một nàng dâu (2002) Thôn quê liệt truyện (2006) Chuyện một người thầy (2007) Bình minh đến sớm, Nhà xuất bản Kim Đồng (1986, 1990), Nhà xuất bản Trẻ (2000) Bạn văn ngoài vùng phủ sóng, Nhà xuất bản Hội nhà văn (2011) Mời các bạn đón đọc Người Đẹp Trong Khách Sạn của tác giả Hoàng Minh Tường.