Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Năm Chú Heo Con

Giới thiệu tóm tắt tác phẩm: Câu chuyện lấy ý tưởng từ một bài đồng dao của trẻ em Anh, với năm nhân vật là nghi phạm trong một vụ án: Chú heo con này đi ra chợ Chú heo con này ở nhà trông  Chú heo con này ăn bò nướng  Chú heo con này bụng rỗng không  Chú heo con này khóc “oa oa oa” suốt đường về nhà Nhiều năm trước, một vụ án mạng xảy ra làm kinh động xã hội: bà Crale bị buộc tội đầu độc chồng – một họa sĩ tài hoa, và nhận án chung thân. Bà chết sau một năm thụ án. Nhưng con gái bà không tin mẹ mình là thủ phạm, cô đã đề nghị thám tử lừng danh Poirot điều tra lại vụ án này. Poirot đã tiếp cận năm người có mặt khi sự việc xảy ra – năm nghi phạm, và lần về quá khứ 16 năm trước để vén bức màn bí mật, tăm tối quanh cái chết của họa sĩ lừng danh Amyas Crale. Tiểu thuyết đỉnh cao này là một câu chuyện tinh tế và tài hoa, một chuyện tình sâu sắc và một đại diện tiêu biểu của nghệ thuật kể chuyện, trong đó có năm cách kể khác nhau của cùng một vụ giết người. Theo bình chọn của nhiều độc giả, đây là tác phẩm hay nhất của nữ hoàng truyện trinh thám Agatha Christie. *** GIỚI THIỆU CARLA LEMARCHANT Hercule Poirot nhìn người phụ nữ trẻ đang được dẫn vào phòng với sự tò mò thích thú. Không có gì đặc biệt trong lá thư cô viết. Đó chỉ là một lá thư xin hẹn gặp mà không hề có thêm ẩn ý gì bên dưới lời yêu cầu. Một lá thư ngắn gọn và thuần công việc. Chỉ có nét chữ dứt khoát kia biểu lộ Carla Lemarchant là một phụ nữ trẻ. Giờ cô đã xuất hiện bằng xương bằng thịt – một phụ nữ trẻ cao ráo mảnh dẻ mới vừa đôi mươi. Kiểu phụ nữ trẻ mà người ta không thể không ngoái nhìn. Trang phục chỉn chu, áo choàng cắt may đắt tiền cùng với váy và khăn choàng lông thú sang trọng. Vẻ thông minh đĩnh đạc, cô có hàng chân mày xếch, chiếc mũi nhỏ thanh tú, và một chiếc cằm cương nghị. Trông cô đầy sức sống. Hơn cả vẻ đẹp của cô, chính vẻ ngoài đầy sức sống đó mới là thứ giúp cô trở nên nổi bật trong mắt người khác. Trước khi cô đến, Hercule Poirot đang tự thấy mình thật già cỗi, giờ đây ông như trẻ lại lần nữa… người tràn đầy sức sống… mãnh liệt! Khi tiến đến chào cô gái, Poirot nhận ra đôi mắt xám sẫm của cô đang chú mục vào ông. Cô quan sát ông với một sự nghiêm túc cao độ. Cô ngồi xuống và nhận điếu thuốc ông mời. Sau khi châm lửa, cô ngồi yên hút thuốc trong một hai phút, vẫn tiếp tục nhìn ông với vẻ nghiêm túc kia, ánh mắt đầy suy tư. Poirot ôn tồn lên tiếng. “Vâng, trước sau gì cô cũng phải quyết mà, đúng không?” Cô giật mình. “Ông nói gì cơ?” Cô sở hữu một giọng nói thu hút, có một chút khàn khàn dễ chịu trong giọng nói ấy. “Cô đang cân nhắc, đúng không, rằng tôi có phải là một tên bịp bợm, hay chính là người cô cần?” Cô mỉm cười, nói. “Vâng, đúng vậy… đại loại thế. Ông thấy đó, ông Poirot, ông… trông ông chẳng giống tí nào với hình dung của tôi cả.” “Và tôi già rồi, phải thế không? Già hơn cô tưởng?” “Vâng, cả chuyện đó nữa.” Cô ngập ngừng. “Ông thấy đó, tôi sẽ thẳng thắn vậy. Tôi muốn… tôi phải có được người giỏi nhất.” “Cô yên tâm đi,” Hercule Poirot nói. “Tôi chính là người giỏi nhất!” “Ông chẳng khiêm tốn gì cả… Dù vậy, tôi muốn tin ông.” Carla trả lời. Poirot điềm tĩnh nói. “Cô biết đó, người ta không phải lúc nào cũng dùng đến cơ bắp. Tôi không cần phải lăn lê, đo dấu chân hay nhặt những đầu lọc thuốc lá và quan sát những ngọn cỏ gãy. Đối với tôi, chỉ cần ngồi trên ghế và suy luận là đủ. Chính là cái này,” ông gõ gõ vào cái đầu hình quả trứng của mình, “nó mới là thứ hoạt động!” “Tôi biết,” Carla Lemarchant nói. “Đó là lý do tôi đến tìm ông. Ông thấy đó, tôi muốn nhờ ông làm một việc có hơi kỳ quặc!” “Nghe có vẻ hứa hẹn!” Hercule Poirot đáp. Ông nhìn cô gái chờ đợi. Carla Lemarchant hít một hơi dài. “Tên tôi,” cô nói, “không phải Carla. Mà là Caroline. Giống với tên mẹ tôi. Tôi được đặt tên theo bà.” Cô ngập ngừng. “Và tuy là trước nay tôi vẫn dùng họ Lemarchant… nhưng họ thật của tôi là Crale.” Trán của Hercule Poirot thoáng nhăn lại đăm chiêu. Ông lẩm bẩm. “Crale… hình như tôi có nhớ…” Cô nói. “Cha tôi là họa sĩ, một họa sĩ khá nổi tiếng. Vài người nói ông từng là một họa sĩ xuất chúng. Tôi cũng thấy thế.” Hercule Poirot nói. “Amyas Crale ư?” “Đúng thế.” Cô ngập ngừng, rồi tiếp. “Còn mẹ tôi, Caroline Crale, bị xét xử vì tội sát hại ông ấy!” “À ha,” Hercule Poirot nói. “Giờ thì tôi nhớ ra rồi… nhưng vẫn mơ hồ lắm. Lúc đó tôi đang ở nước ngoài. Cũng đã lâu lắm rồi.” “Mười sáu năm,” cô gái đáp. Gương mặt cô giờ trắng bệch, còn đôi mắt thì như hai ngọn đèn rực sáng. Cô nói. “Ông có hiểu không? Mẹ tôi bị đưa ra xét xử và kết án… Bà không bị treo cổ vì họ thấy là có vài tình tiết giảm nhẹ, thế nên hình phạt được giảm xuống còn khổ sai chung thân. Nhưng bà chết chỉ một năm sau đó. Ông thấy không? Chuyện đã qua lâu lắm rồi…” Poirot lặng lẽ hỏi. “Rồi sao nữa?” Cô gái với cái tên Carla Lemarchant ép chặt hai tay vào nhau. Cô nói chậm rãi và đứt quãng nhưng với một sự nhấn mạnh rõ ràng, kì lạ. Cô nói. “Ông phải hiểu – hiểu cho chính xác – chuyện của tôi bắt đầu từ đâu. Tôi chỉ mới năm tuổi khi vụ việc… xảy ra. Quá bé để hiểu được nội tình của nó. Tôi nhớ được mẹ và cha tôi, dĩ nhiên, và tôi nhớ việc mình rời khỏi nhà vô cùng đột ngột… bị đưa đến vùng thôn quê. Tôi nhớ những chú heo và vợ một người nông dân mập mạp tốt bụng, mọi người đó đều rất tử tế, và tôi còn nhớ khá rõ cái nhìn kỳ lạ họ dành cho tôi, tất cả mọi người đều thế, kiểu khi ta lén lút nhìn gì đó. Dĩ nhiên tôi biết, trẻ con luôn biết, rằng có gì đó không ổn… nhưng tôi không rõ đó là gì. “Rồi tôi lên một con tàu, một chuyến đi mới vui làm sao, cuộc hành trình kéo dài suốt mấy ngày, tôi đến Canada và chú Simon gặp tôi, tôi sống ở Montreal với chú ấy cùng cô Louise, và mỗi khi tôi hỏi về cha hay mẹ thì họ trả lời rằng cha mẹ tôi sẽ đến đây sớm thôi. Và rồi… và rồi tôi nghĩ mình đã quên mất… tôi chỉ mơ hồ biết là họ đã chết mà không nhớ nổi có ai thực sự báo tin cho tôi hay không. Bởi lúc đó, như ông thấy, tôi không còn nghĩ về họ nữa. Tôi đã rất hạnh phúc, ông biết đó. Chú Simon và cô Louise rất thương tôi, rồi tôi đến trường, có nhiều bạn bè, và tôi gần như đã quên hẳn là mình từng có một cái tên khác không phải Lemarchant. Ông thấy đó, cô Louise nói với tôi rằng đó là tên của tôi ở Canada và tôi thấy có lý lắm, Lemarchant chỉ là cái tên Canada của tôi thôi, nhưng như đã nói dần dà tôi quên mất là mình còn một cái tên khác nữa.” Cô hất chiếc cằm cương nghị lên. Cô nói. “Nhìn tôi xem. Nếu ông thấy tôi, hẳn ông sẽ nói: ‘Kia là một cô gái vô ưu vô lo!’, đúng không nào? Tôi khá giả, sức khỏe tuyệt vời, tôi nhìn cũng không đến nỗi nào, tôi có thể tận hưởng cuộc sống. Ở tuổi hai mươi, tôi chẳng mong đổi chỗ với cô gái nào khác trên thế giới cả. “Nhưng ông biết đó, tôi bắt đầu đặt câu hỏi. Về cha mẹ ruột của tôi. Họ là ai và họ đã làm gì? Tôi hẳn đã được định trước là sau này sẽ rõ mọi chuyện… “Và đúng như thế, họ đã kể tôi nghe sự thật. Khi tôi hai mươi mốt tuổi. Họ phải làm thế thôi, bởi lẽ tôi đến tuổi được hưởng số tiền của mình. Và rồi, ông thấy đó, còn vì lá thư nữa. Lá thư mẹ để lại cho tôi khi bà chết.” Biểu cảm của cô thay đổi, dịu đi. Mắt cô không còn là hai đốm sáng rực nữa mà như hai hồ nước mờ tối. Cô nói. “Đó là lúc tôi biết được sự thật. Rằng mẹ tôi đã bị kết án vì tội giết người. Điều đó thật… khủng khiếp.” Cô ngừng lại. “Có một chuyện nữa tôi phải nói ông biết. Tôi đã đính ước. Người ta nói chúng tôi phải đợi, chúng tôi chỉ có thể cưới nhau khi tôi hai mươi mốt tuổi. Khi tôi biết mọi chuyện, tôi hiểu ngay lý do.” Poirot cựa mình và bây giờ mới cất tiếng. Ông hỏi. “Và hôn phu của cô phản ứng như thế nào?” “John ư? John không quan tâm. Anh nói với anh chẳng có gì khác biệt cả. Anh và tôi vẫn là John và Carla, còn quá khứ không ảnh hưởng gì hết.” Cô chồm về phía trước. “Chúng tôi vẫn đính ước. Nhưng dù như thế, ông biết không, chuyện rõ ràng là có ảnh hưởng. Nó ảnh hưởng đến tôi. Và nó cũng ảnh hưởng đến John nữa… Không phải quá khứ ảnh hưởng đến chúng tôi, mà chính là tương lai.” Cô siết chặt hai tay. “Chúng tôi muốn có con, ông thấy đó. Cả hai chúng tôi đều muốn có con. Và chúng tôi không muốn chứng kiến cảnh con mình lớn lên và sợ hãi.” Poirot nói. “Cô không biết là ai ai cũng có ông bà tổ tiên với quá khứ bạo lực và độc ác à?” “Ông không hiểu rồi. Dĩ nhiên là có. Nhưng mà này, không phải ai cũng biết về quá khứ của họ. Còn chúng tôi thì biết. Quá khứ đó quá gần với chúng tôi. Và đôi khi… tôi thấy John nhìn tôi. Một cái nhìn lướt qua, chỉ chớp qua thôi. Giả sử là chúng tôi lấy nhau và có một trận cãi nhau đi, rồi nếu tôi thấy John nhìn tôi và… và anh nghi ngại?” Hercule Poirot hỏi. “Cha cô bị giết như thế nào?” Giọng Carla rõ ràng và dứt khoát. “Ông ấy bị đầu độc.” Hercule Poirot đáp. “Tôi hiểu rồi.” Một thoáng im lặng. Rồi cô gái nói tiếp bằng một giọng bình tĩnh, đều đều. “Ơn chúa, ông thật tinh ý. Ông thấy là chuyện đó ảnh hưởng thế nào, và nó can hệ ra sao. Ông không cố tìm cách khỏa lấp hay buông ra những lời an ủi.” “Tôi hiểu rất rõ,” Poirot nói. “Cái mà tôi không hiểu là cô muốn gì ở tôi?” Carla Lemarchant nói đơn giản. “Tôi muốn cưới John! Và tôi sẽ cưới John! Và tôi muốn có ít nhất hai đứa con gái và hai con trai. Và ông sẽ là người khiến chuyện đó thành sự thực!” “Ý cô là… Cô muốn tôi đi nói chuyện với hôn phu của cô ư? À không, tôi nói thế có ngốc không chứ! Cô đang đề nghị tôi làm một chuyện khác hẳn. Nói tôi nghe cô đang nghĩ gì trong đầu nào.” “Nghe này, ông Poirot. Tôi muốn ông hiểu, và hiểu cho rõ. Tôi muốn thuê ông điều tra một vụ án mạng.” “Ý cô là…?” “Đúng, chính là chuyện đó. Một vụ án mạng vẫn cứ là án mạng dù cho nó mới xảy ra hôm qua hay mười sáu năm trước đi nữa.” “Nhưng cô gái thân mến ơi…” “Chờ đã, ông Poirot. Ông vẫn chưa nghe hết chuyện đâu. Còn một điểm vô cùng quan trọng nữa.” “Là?” “Mẹ tôi vô tội,” Carla Lemarchant nói. Hercule Poirot cọ cọ mũi. Ông lẩm bẩm. “Ừ thì, thông thường… tôi hiểu…” “Đó không phải là cảm tính. Có lá thư của mẹ tôi. Mẹ để lại cho tôi trước khi bà chết. Lá thư được định là sẽ trao cho tôi khi tôi hai mươi mốt tuổi. Bà để lại chỉ nhằm khẳng định điều đó, tôi khá chắc như vậy. Trong thư chỉ nói về mỗi việc này. Rằng bà không phải hung thủ, bà vô tội, và tôi luôn có thể chắc chắn về nó.” Hercule Poirot đăm chiêu nhìn gương mặt trẻ trung đầy sức sống kia đang chiếu ánh mắt chăm chú vào mình một cách vô cùng nghiêm túc. Ông chậm rãi nói: “Dù sao đi nữa…” Carla mỉm cười. “Không, mẹ tôi không như thế! Ông đang nghĩ là bà nói dối… nói dối để tôi yên lòng ư?” Cô sốt sắng chồm tới trước. “Nghe này, ông Poirot, có những thứ trẻ con biết rõ. Tôi có thể nhớ được mẹ của mình, dĩ nhiên chỉ là những ký ức rời rạc thôi, nhưng tôi nhớ khá rõ bà là người như thế nào. Bà không nói dối… dù là nói dối vì mục đích tốt. Nếu có gì đó gây ra đau đớn bà cũng sẽ nói thẳng ra cho ta hay. Đi nha sĩ, hay gai đâm vào ngón tay – những thứ đại loại như vậy. Sự thật như là… là một thôi thúc tự nhiên trong con người bà. Tôi không nghĩ ngày đó tôi thực sự yêu quý mẹ lắm, nhưng tôi tin bà. Tôi vẫn tin bà! Nếu mẹ nói rằng bà không giết cha tôi thì tức là bà không giết ông ấy! Bà không phải là loại người long trọng viết ra những lời dối trá khi biết mình sắp chết.” Hercule Poirot chậm rãi, gần như miễn cưỡng, gật đầu. Carla tiếp tục. “Đó là lý do tôi có thể an tâm cưới John. Tôi biết mình có thể. Nhưng anh thì không. Anh tin rằng việc tôi nghĩ mẹ mình vô tội là lẽ tự nhiên thôi. Chuyện này phải được làm rõ, ông Poirot ạ. Và ông sẽ là người làm việc đó!” Hercule Poirot chậm rãi lên tiếng. “Cứ cho những gì cô nói là sự thật đi, thưa cô, nhưng đã mười sáu năm rồi!” Carla Lemarchant đáp ngay. “Ồ! Dĩ nhiên là chuyện này sẽ khó khăn lắm chứ! Không ai ngoài ông làm được cả!” Hercule Poirot khẽ hấp háy mắt. Ông nói. “Cô thật khéo nói, nhỉ?” Carla nói. “Tôi từng nghe danh của ông. Những vụ ông đã làm. Cái cách mà ông giải quyết chúng. Ông hứng thú với tâm lý học, đúng không? Vâng, thứ đó không thay đổi theo thời gian đâu. Những thứ vật chất đã mất rồi: đầu lọc thuốc lá và các dấu chân, những ngọn cỏ gãy. Ông không thể tìm thấy những thứ đó nữa. Nhưng ông có thể xem lại toàn bộ tình tiết vụ án, và có lẽ là nói chuyện với những người liên quan lúc đó nữa, tất cả họ đều còn sống, và rồi… và rồi, như ông vừa mới nói đây thôi, ông có thể ngả người ra ghế và suy luận. Và ông sẽ biết được chính xác chuyện gì đã xảy ra…” Hercule Poirot đứng lên. Một tay vuốt bộ ria mép. Ông nói: “Thưa cô, tôi rất vinh hạnh! Tôi sẽ không phụ lòng tin của cô. Tôi sẽ điều tra vụ án mạng giúp cô. Tôi sẽ lục lại những sự kiện từ mười sáu năm trước và tôi sẽ tìm ra sự thật.” Carla đứng lên. Mắt cô lấp lánh. Nhưng cô chỉ nói. “Tốt quá.” Hercule Poirot lúc lắc ngón tay trỏ đầy dứt khoát. “Chờ tí đã. Tôi nói là tôi sẽ tìm ra sự thật. Nhưng cô hiểu cho, tôi không thiên về phía nào cả. Tôi không tin lời cam đoan mẹ mình vô tội của cô đâu. Nếu bà ấy có tội thật… ây chà, thì sao đây?” Carla kiêu hãnh ngẩng đầu lên. Cô nói. “Tôi là con gái của bà. Tôi muốn sự thật!” Hercule Poirot đồng ý. “Được, vậy thì, tiến tới. À, nói thế không đúng. Phải là ngược lại. Trở về…” Mời các bạn đón đọc Năm Chú Heo Con của tác giả Agatha Christie & Trương Trung Tín (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Điệu Ru Nước Mắt
Đến loại tiểu thuyết gọi là du đãng, Duyên Anh đã cẩn thận nhấn mạnh : “Tuổi trẻ bơ vơ, thèm xả thân cứu giúp đời, mà rốt cuộc tinh thần hào hiệp đó biến thành tinh thần du đãng” . Đã hơn một lần, cũng trong Điệu Ru Nước Mắt, Duyên Anh nói về những người trẻ tuổi này là “những thằng trong sạch nhất trong xã hội” , “du đãng nhiều thằng lương thiện gấp bội những thằng to tiếng đòi giáo dục du đãng” hay “xã hội du đãng cũng ăn đứt xã hội đạo đức giả”. Chúng nổi loạn vì cô đơn, “nổi loạn tâm hồn” vì “bất mãn gia đình, học đường, tổ quốc”, hoặc thù đời, “khinh miệt cuộc đời, vì cuộc đời cứ coi nó là du đãng ” Trong bài nói chuyện với nhà văn Đỗ Tiến Đức, Duyên Anh cho biết khi viết “cuốn tiểu thuyết du đãng đầu tiên là cuốn Điệu Ru Nước Mắt là lúc các tướng lãnh mình đảo chánh nhau, ông tướng này bắt ông tướng kia, nay là tướng anh hùng mai là tướng gian, lung tung hết. Dưới mắt một nhà văn thì tình trạng đó nản quá, chẳng còn gì đáng ca ngợi nữa. Với phản ứng đó, tôi mới đem du đãng ra ca ngợi, thế thôi”. Duyên Anh đã viết về tuổi trẻ du đãng với cái nhìn âu yếm, hiểu biết, có khi ông đã phẫn nộ như trong Ảo Vọng Tuổi Trẻ : “Hình phạt nào mới xứng đáng cho một tên lừa gạt tuổi trẻ, cho những tên làm ung thối một thế hệ mới vươn lên để tìm chỗ đứng cho dân tộc dưới ánh mặt trời” Xã hội này có luật lệ của nó nhưng cũng có những phẩm tính tốt như yêu thương nhau, biết đùm bọc nhau. Có tuổi trẻ vì hoàn cảnh mà đi du đãng như Trần Đại, Nguyễn Đạm, Trần Long, Trần Thị Diễm Châu, Lê Hùng, v.v. đã học xong trung học, có người đậu cả tú tài Pháp. Họ cũng hào hoa phong nhã và “rất nghệ sĩ”. Một đính chính cho cảm thông. Vì tuổi trẻ đường xá này sẽ chấp nhận hoàn lương, vào trường các nữ tu như trong Trần Thị Diễm Châu “xã hội không cải thiện cuộc đời của du đãng thì nội trú Hòa Hưng sẽ cải thiện họ”. Và tuổi trẻ du đãng cũng sẽ nhập ngũ làm bổn phận công dân thời chiến. Một nhân vật của Sa mạc tuổi trẻ : “quân đội là nơi lý tưởng nhất để nó làm lại cuộc đời” và “kỷ luật quân đội dạy người lính trở nên chín chắn, biết yêu biết ghét đúng đắn”. Trần Đại của Điệu Ru Nước Mắt được đàn em James Dean Hùng khen “Anh Trần Đại được làm tướng đi đánh nhau với cộng sản, chắc chắn anh ấy thương lính của anh ấy như thương chúng mình, anh ấy lại ‘cừ” nữa, cộng sản cứ gọi là hết ngáp…” GIA ĐỊNH 6-1-1965 ĐIỆU RU NƯỚC MẮT – Truyện dài của Duyên Anh *** NHÀ VĂN DUYÊN ANH: ĐỜI LƯU VONG BI KỊCH Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội. Là một trong những nhà văn nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975, Duyên Anh được biết đến như một con người nhiều tài, lắm tật, miệng làm hại thân! Duyên Anh thích "tháu cáy" và khích tướng đối thủ, nhưng lại rất cay cú khi bị người khách "tháu cáy". Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó. Lại có lúc quảng cáo cho gánh xiếc rong, rồi giữ xe đạp hội chợ… Sang trọng nhất là làm gia sư, dạy kèm cho trẻ con và dạy đàn ghita, sáo trúc cho những người theo học vỡ lòng nghệ thuật. Duyên Anh làm thơ rất sớm, đến những năm cuối của thập niên 50, ông bắt đầu viết văn xuôi. Viết để thỏa mãn giấc mơ cầm bút, chẳng đăng đâu cả. Mãi đến năm 1960, ông được nhà văn Trúc Sĩ dẫn tới diện kiến nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, lúc đó đang làm chủ bút tờ Chỉ Đạo. Bài thơ "Bà mẹ Tây Ninh" - sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên tờ báo này. Một tháng sau, thêm truyện ngắn "Hoa Thiên Lý", rồi "Con sáo của em tôi" tiếp tục có mặt trên tờ Chỉ Đạo, với lời giới thiệu bốc tới mây xanh của Nguyễn Mạnh Côn. Ngay lập tức, ông được người đọc đón nhận nồng nhiệt. Mỗi truyện được trả nhuận bút 5.000 đồng, thời đó mua được hơn một cây vàng. Nguyễn Mạnh Côn tỏ ra rất ưu ái, tận tình nâng đỡ Duyên Anh để sáng tác của ông thường xuyên xuất hiện trên văn đàn. Và đây cũng là đầu mối oan nghiệt cho cả hai sau này. Đến năm 1961, khi ông Nguyễn Mạnh Côn rời tạp chí Chỉ Đạo thì Duyên Anh đã thành danh. Ông bắt đầu tung hoành làng báo Sài Gòn với nhiều bút danh khác nhau: Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Nã Cẩu, Lệnh Hồ Xung, Độc Ngữ… bằng một giọng văn châm chọc, hết sức cay độc. Thời đó, có hai nhà văn làm báo mà người ta sợ nhất, đó là Chu Tử với bút hiệu Kha Trấn Ác, trong mục Ao Thả Vịt và Duyên Anh. Nạn nhân của Duyên Anh không phải chỉ toàn là người xấu, mà nhiều khi chỉ là một ai đó bị ông ghét, cũng bị ông lôi lên mặt báo, "đánh" không thương tiếc! Sự kiêu căng, miệng lưỡi cay độc của ông đã gây dị ứng cho không ít người. Một nhân vật lãnh đạo chóp bu của VNCH, khi lưu vong ở Mỹ đã bắn tiếng với ông Tô Văn Lai của chương trình Thúy Nga Paris rằng: "Bảo thằng Duyên Anh câm mồm nó lại". Duyên Anh được xem như tay tổ trong loại sách "xúi con nít đập lộn", với những cuốn tiểu thuyết viết về giới du đãng rất ăn khách như "Điệu ru nước mắt", "Sa mạc tuổi trẻ", "Vết thù trên lưng ngựa hoang". Tác phẩm của ông từng ngợi ca tay anh chị Trần Đại (Đại Ca-Thay) như một kẻ giang hồ mã thượng. Trong một bài phỏng vấn, tuần báo Đời hỏi ông: Tại sao trong thời buổi nhiễu nhương lại tôn vinh một tay du đãng, sống ngoài vòng pháp luật lên tận mây xanh? Duyên Anh trả lời: "Chính vì thời buổi nhiễu nhương, không có thần tượng cho tuổi trẻ, nên phải đi tìm cho họ một mẫu thần tượng. Xem ra, Trần Đại là xứng đáng hơn cả". Duyên Anh là người thẳng thắn, yêu, ghét rạch ròi. Đã quý mến ai rồi thì ông sống trọn tình, trọn nghĩa với người đó. Năm 1978, Duyên Anh gặp lại Nguyễn Mạnh Côn trong trại cải tạo. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có thâm niên hơn 40 năm là đệ tử của ả phù dung nên sức khỏe rất yếu. Biến chứng tâm, sinh lý của một con người có quá trình "phi yến thu lâm" (đọc trại cho… sang chữ "phiện, thú lắm") quá dài nên khi bị bắt buộc phải cai, cơ thể ông bị hành hạ liên tục. Do đó, sinh hoạt của ông rất bê bối, khiến đa số trại viên khác, dù có thông cảm đến mấy cũng không muốn gần gũi, chia sẻ, trong đó có Duyên Anh. Người khác chẳng sao, nhưng với Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn cho rằng đó là bội bạc. Nhiều lần ông Côn nói với mọi người: "Không có tôi thì đã không có Duyên Anh! Tôi mà không biên tập nát ra thì truyện của nó ai mà thèm đọc". Và Duyên Anh đã phản ứng theo đúng tính cách kiêu ngạo của ông: "Không có "Côn Hít" thì Duyên Anh vẫn là Duyên Anh. Ông Côn giỏi sao không biến một thằng cha căng chú kiết nào đó thành một văn tài mà phải đợi đến Duyên Anh?" Từ đó, cả hai nhìn nhau tuy bằng mặt, mà không bằng lòng. Cũng chỉ có thế, ngoài ra Duyên Anh không có bất kỳ hành vi, thủ đoạn nào ác ý với Nguyễn Mạnh Côn, như lời đồn đại đầy ác ý của những kẻ thù ghét Duyên Anh sau này. Năm 1981, Duyên Anh được trở về với gia đình khi vợ và các con đã định cư tại nước ngoài. Năm 1983, ông vượt biên sang Malaysia, rồi sinh sống tại Pháp, tiếp tục viết. Cùng phận lưu vong nhưng ông không tiếc lời thóa mạ những đảng phái, phe nhóm chính trị lưu manh đang hoạt động tại hải ngoại. Duyên Anh gọi bọn họ là những kẻ giả hình, những tay lừa bịp, mộng du, chiến đấu trong chiêm bao. Ông cũng lên án đám lãnh đạo, chính khách, tướng tá của VNCH toàn là một lũ vô tài, bất tướng, giàu của cải nhờ bóc lột, nhưng quá nghèo nàn liêm sỉ và nhân cách. Nhưng cho dù Duyên Anh có thế nào đi nữa, thì ông cũng là một người cầm bút, không có lấy một tấc sắc trong tay để tự vệ. Ngày 6/2/1997 ông qua đời vì bệnh xơ gan. Các tác phẩm chính: Đêm thánh vô cùng Hoa thiên lý Ðiệu ru nước mắt Luật hè phố Thằng Vũ Dấu chân sỏi đá Dzũng ÐaKao Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang Bồn Lừa Ảo vọng tuổi trẻ Gấu rừng Cỏ non Ngày xưa còn bé Nặng nợ giang hồ Mùa thu Con suối ở Miền Ðông Danh ná truyện tuổi nhỏ Giặc cờ đỏ truyện tuổi nhỏ Nhóc tì phản động truyện tuổi nhỏ Hồn say phấn lạ tiểu thuyết trường thiên Cầu Mơ Ánh lửa đêm tù Ánh mắt trông theo Thằng Côn Trường cũ Tuổi 13 Nhà tôi Mơ thành người Quang Trung Ðàn bà Chương Còm Mặt Trời nhỏ Lứa tuổi thích ô mai Giặc ôkê Đồi Fanta truyện La colline de Fanta dịch bản tiếng Pháp nxb Belfond Paris Một người Nga ở Sài Gòn truyện (1986) Nam Á, Paris Un Russe à Saïgon dịch bản tiếng Pháp nxb Belfond Paris Un prisonnier Américan au Viêtnam truyện nxb Belfond Paris Hôn em kỷ niệm nhạc (1986) Nam Á, Paris Ru tình ngất ngây nhạc Thơ tù thơ (1984) Nam Á, Paris Em, Sài Gòn và Paris thơ Một người mang tên Trần Văn Bá truyện (1985) Nam Á, Paris Sỏi đá ngậm ngùi truyện (1985) Nam Á, Paris Bầy sư tử lãng mạn truyện (1985) Nam Á, Paris Quán trọ trước cổng thiên đường truyện (1987) Nam Á, Paris Thơ của đàn bà truyện Nhánh cỏ mộng mơ truyện Động lòng chữ nghĩa đoản văn Nhà tù hồi ký (1987) Xuân Thu Hoa Kỳ Trại tập trung hồi ký (1987) Xuân Thu Hoa Kỳ Sài Gòn ngày dài nhất hồi ký, Xuân Thu Hoa Kỳ Nhìn lại những bến bờ hồi ký, Xuân Thu Hoa Kỳ Mời các bạn đón đọc Điệu Ru Nước Mắt của tác giả Duyên Anh.
Xác Không Đầu
Cơ thể bị chia cắt của một người đàn ông được tìm thấy Trong Kênh Saint-Martin. Gần với hiện trường, Maigret gặp chủ nhân ngầm của một quán cà phê, Aline Calas, và tự hỏi liệu cơ thể trong con kênh có phải là của chồng cô không. Như thường lệ, bản năng của Maigret là chính xác. Buộc phải điều tra thêm nhưng với thời gian trên tay khi anh đã giải quyết xong vụ án, Maigret bắt đầu đào sâu vào quá khứ của tất cả những ai quan tâm. Không giống như hầu hết các hư cấu thám tử, nơi tìm kiếm giải pháp là trọng tâm của câu chuyện, cuốn tiểu thuyết này khám phá các động cơ khác nhau có thể dẫn đến phạm tội. Đây là lý do tự thù hận đằng sau những hành động theo đó bạn có thể làm tổn thương và làm tổn thương những người thân thiết nhất với bạn. Simenon, thông qua Maigret, tuyệt vọng cố gắng để tìm ra ý nghĩa thực sự và tham vọng, tin rằng sự hiểu biết có thể dẫn đến sự tha thứ và tha thứ sẽ làm giảm ổ đĩa để phạm tội. *** Nhà văn Georges Simenon sinh ngày 13.2.1903 mất ngày 4.9.1989. Năm 16 tuổi, Simenon là chàng phóng viên trẻ viết tin vắn cho tờ La Gazette de Liège. Mỗi ngày, ông đạp xe đến các bót cảnh sát, nhà băng, sở cứu hỏa, những cuộc thi thể thao để lấy tin cho báo. Năm 1922, ông tới Paris hoa lệ. Tiểu thuyết đầu tay Trên Chiếc Cầu Vòm Cung được xuất bản tại Liège (Bỉ) với bút danh Georges Sun. Nhưng sự thành công chưa vội đến với cây bút trẻ có hàng chục bút danh khác nhau này (Jean du Perry, Gom Gut, Christian Brull...). Mười năm miệt mài viết như người lao động khổ sai giúp ông thành thạo trong “tốc độ” sáng tác. Đây chính là thế mạnh của tác giả “bậc thầy trinh thám” sau này. “Suốt thời kỳ 1928-1931, ông chỉ viết những tác phẩm về Maigret, trung bình mỗi tháng một cuốn”, ông nổi tiếng như cồn khi tiểu thuyết trinh thám Con Chó Vàng (Le chien jaune, 1931) được xuất bản, với tên thật Georges Simenon. 11 tác phẩm in năm đó thì 10 cuốn là tiểu thuyết với nhân vật sáng tạo Thanh tra Maigret. Một đời văn với hơn 300 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp đã được xuất bản, người ta không khỏi thán phục năng lực sáng tác bền bỉ và trí tưởng tượng phong phú của nhà văn Georges Simenon. Bậc thầy tiểu thuyết trình thám thật sự chinh phục hàng triệu người đọc tại nhiều nước trên thế giới. Hơn 80 tiểu thuyết Thanh tra Maigret không nằm trong thể loại truyện hình sự tầm thường. Giá trị văn học của tác phẩm đã được các nhà phê bình nhìn nhận. Sau ngày ông mất, Đại học Liège ở Bỉ đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Georges Simenon và đã xuất bản các tác phẩm nghiên cứu về ông. Cho đến nay, chưa có nhà xuất bản nào tại Pháp in toàn bộ tác phẩm của Georges Simenon. Mới đây, các tiểu thuyết của ông được Nhà xuất bản Ommious in thành 25 tập Tất cả Simenon nhưng chưa đầy đủ. Còn ở Việt Nam mới chỉ có khoảng chục cuốn thuộc thể loại trinh thám hình sự của Georges Simenon. Không học cao, không đọc nhiều, không quan hệ rộng và cũng chẳng mấy khi đi đâu xa, thế nhưng Georges Simenon lại lập kỷ lục về số sách bán được và làm giàu nhờ những tác phẩm được chuyển thể điện ảnh. Bị một số người xem thường suốt thời gian dài, nhà văn viết nhiều và viết nhanh này lại được những đồng nghiệp danh tiếng như André Gide, Henry Miller hết mực kính trọng. Làm thế nào một người rời trường học từ lúc 15 tuổi và thừa nhận mình chưa bao giờ đọc những tác phẩm văn học cổ điển lại trở thành nhà văn viết tiếng Pháp có nhiều người đọc nhất và có tác phẩm được dịch nhiều nhất trên thế giới? Văn phong của Georges Simenon không có gì đặc biệt, không hoa mỹ và không có những hình ảnh ấn tượng. Vốn từ vựng của ông cũng rất hạn chế. Tiểu thuyết của ông không có nhiều yếu tố lịch sử hay triết học. Mọi nhân vật trong truyện đều thuộc tầng lớp trung lưu, có cuộc sống bình lặng, những thị dân tiểu tư sản, chung thủy với vợ, ít ngao du, không tham vọng, không chính kiến rõ rệt. Thế mà không khí trong tiểu thuyết của ông khiến người đọc phải nhớ mãi. Trong 60 năm cầm bút, Georges Simenon trải qua nhiều trào lưu văn nghệ; chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Marx và Tiểu thuyết mới, nhưng không trào lưu nào ảnh hưởng nơi ông. Để hiểu được phần nào bí quyết thành công của Georges Simenon, có lẽ cần trở lại thời thơ ấu của ông. Gia đình sống quanh quẩn trong thành phố quê hương, chẳng mấy khi đi đâu xa. Để thay đổi số phận, năm 16 tuổi, Georges Simenon đến Paris. Vì sinh kế, chàng thanh niên trẻ làm đủ mọi công việc liên quan đến viết lách. Con người rất ít khi đọc sách ấy lại có một năng khiếu đặc biệt: Có thể cùng lúc là thư ký, nhà báo, nhà văn, và viết rất nhanh. Khi một nhà xuất bản yêu cầu một cuốn tiểu thuyết, câu hỏi đầu tiên của Georges Simenon luôn là: “Ông muốn có sách vào thứ sáu này hay tuần tới?” Ông viết nhiều và nhanh đến nỗi khi chưa đến 25 tuổi đã có rất nhiều bút danh. Tất cả các tác giả từng viết tiểu sử Georges Simenon đều nhận định: Để viết cuốn tiểu thuyết “Maigret” (tên vị thanh tra, nhân vật chính trong tiểu thuyết của Simenon), nhà văn chỉ cần 6 ngày và chỉ mất 9 ngày cho những tác phẩm khác mà ông gọi là “tiểu thuyết hắc” (romans durs). Cách viết nhanh như vậy giúp ông đạt được những thành công đầu tiên. Pietr le Letton (1931) là cuốn truyện mở đầu loạt truyện Maigret. Trong vòng hai năm, ông viết hơn 20 tiểu thuyết, đem lại lợi nhuận lớn lao cho nhà xuất bản Fayard. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng, Maigret et monsieur Charles (Maigret và ông Charles) được xuất bản năm 1972. Những cuộc phiêu lưu của thanh tra Maigret trải dài trên 75 tiểu thuyết (với khoảng chừng 10 năm), mà nhân vật chính không già đi, trán không gợn một nếp nhăn. Từ tác phẩm đầu tiên cho đến tác phẩm cuối cùng, thanh tra Maigret vẫn ở tuổi 50. Các nhà nghiên cứu nhận thấy tên Georges Simenon được ký trên hơn 200 cuốn tiểu thuyết và ông cũng viết ngần ấy tiểu thuyết với những bút danh khác (40 bút danh) và gần 1.000 truyện ngắn. Les fiançailles de monsieur Hire (Lễ Đính Hôn Của Ông Hire) và Le Chien Jaune (Con Chó Vàng) là những tác phẩm củng cố danh tiếng của ông. Những trí thức ở Paris không muốn nhắc đến “kẻ xa lạ” trốn tránh kinh đô Ánh sáng và xem thường những nghi thức của xã hội thượng lưu. Nhiều người phê phán Georges Simenon không có văn phong. Ngoại trừ nhà văn Pháp André Gide và nhà văn Mỹ Henry Miller, Georges Simenon không giao tiếp với ai nên bị giới văn học cho “ra rìa”. Ông cũng giữ thái độ mập mờ, không cộng tác với ai, cũng chẳng phản kháng ai. Khi nước Pháp thoát khỏi sự chiếm đóng của phát xít Đức, cũng như nhiều nhà văn khác, Georges Simenon bị buộc nhiều tội, trong đó hai tội chính: Ký hợp đồng với một nhà sản xuất phim người Đức để chuyển thể 9 cuốn tiểu thuyết của ông và Christian Simenon, em trai ông, ủng hộ phong trào chống chế độ đại nghị ở Bỉ, bị kết án tử hình vắng mặt. Năm 1945, Georges Simenon rời châu Âu sang Mỹ, lưu lại đây 10 năm. Nhưng ở nơi sống mới, “nỗi ám ảnh viết lách” không hề dịu đi. Trái lại, trí tưởng tượng của ông càng thêm phong phú nhờ những chuyến phiêu lưu khám phá kinh đô điện ảnh Hollywood. Lúc này ở châu Âu, những lời lên án ông hợp tác với phát xít Đức đã nhạt đi. Georges Simenon sang Thụy Sĩ, sống trong một dinh thự mênh mông ở Epalinges, cách Lausanne 10km. Ông đã là một ngôi sao. Người tra tranh nhau đăng tiểu thuyết của ông trên các báo và chuyển thể thành phim. Từ La nuit du carrefour (1932) đến Monsieur Hire (1989), tổng cộng 56 tiểu thuyết chuyển thể. Thêm một kỷ lục nữa: Georges Simenon trở nên giàu có nhờ số sách bán được và những bộ phim. Thoạt đầu, danh tiếng làm ông thích thú, nhưng rồi ông thấy chán ngán: “Tôi bán bản quyền và chẳng quan tâm nữa. Thậm chí tôi còn không đi xem phim”. Ở Epalinges, cuộc sống của ông rất bình lặng. Ông ít giao tiếp, dành toàn bộ thời gian để viết, đi dạo hai lần mỗi ngày, mỗi tháng gửi một bản thảo cho nhà xuất bản. Cuộc sống cứ thế trôi đi cho đến năm 1972, ông hầu như ngưng viết. Trước khi qua đời năm 1989, ông cho xuất bản 20 tác phẩm tự truyện. Sách của Georges Simenon được dịch sang 50 thứ tiếng. Trong bảng xếp hạng các sách được dịch nhiều nhất trên thế giới, sách của Georges Simenon và Agatha Christie chỉ xếp sau Kinh Thánh và các tác phẩm của Karl Marx. Cùng với việc viết lách, phụ nữ là mối quan tâm lớn của đời ông. Có nhiều lời đồn đoán về “năng lực tình ái” phi thường của Georges Simenon. Ông từng khoe đã yêu 10.000 phụ nữ. Denyse, người vợ thứ hai, cho biết lúc tuổi xế bóng, Georges Simenon vẫn chăn gối 3 lần mỗi ngày. Bà bếp tiết lộ đã dan díu với ông chủ Georges Simenon trong một thời gian dài, và trong lúc đi dạo, cha đẻ của Maigret lại tìm quên trong vòng tay của một cô gái làng chơi. Sinh hoạt tình dục sôi nổi ấy lại không để lại một dấu vết nào trong tác phẩm của Georges Simenon. Bà Maigret là một phụ nữ tiểu tư sản, mờ nhạt và lệ thuộc, luôn ngưỡng mộ chồng. Điểm này cũng là một bí ẩn của Georges Simenon. Ông kết hôn lần đầu tiên năm 19 tuổi với Tigy, có một con trai tên Marc. Marc kết hôn với nữ diễn viên nổi tiếng Mylène Demongeot, Georges Simenon cũng có quan hệ tình ái với ngôi sao nhạc kịch Joséphine Baker và suýt ly hôn với Tigy. Năm 1945, Georges Simenon gặp Denyse Ouimet, thoạt đầu là thư ký của ông, rồi trở thành người tình, người vợ, Georges Simenon và Denyse có 3 con: John, Mary và Pierre. *** Khi trời vừa rạng sáng thì Jules Naud, người anh cả của hai anh em nhà Naud, xuất hiện trên sà lan, trước hết là cái đầu, tiếp đó đến đôi vai và sau cùng là tấm thân cao lều nghều của anh. Đưa tay lên vuốt mớ tóc màu sợi lanh chưa kịp chải, anh nhìn âu thuyền có bến cảng Jemmages ở bên trái và bến cảng Valmy bên phải. Anh vừa cuốn một điếu thuốc lá và châm hút trong buổi sáng còn se lạnh thì ngọn đèn của một quán rượu ở phố Recollets bật sáng. Mặt tiền của quán rượu có màu vàng khè. Popaul, chủ quán, mặc áo không cổ, tóc chưa chải, đang đứng ngoài vỉa hè để tháo những cánh cửa lùa. Jules đi trên tấm ván bắc làm cầu lên bờ và cuốn điếu thuốc thứ hai trong khi đó thì Robert, người em, cũng cao lớn như anh, đã thức giấc và lên trên boong tàu. Anh ta thấy Jules đang tì tay lên quầy hàng đợi chủ quán rót thêm rượu vào tách cà phê của anh.  Robert đang đợi đến lượt mình. Cùng với những cử chỉ như Jules, anh ta cũng cuốn một điếu thuốc lá. Khi người anh cả rời khỏi quán hàng thì người em cũng đã lên khỏi sà lan. Hai người gặp nhau ở giữa đường. - Ta cho nổ máy đây - Jules bảo người em trai. Có những ngày hai người không nói với nhau quá một chục câu theo kiểu ấy. Con tàu của họ mang tên Hai anh em. Họ đã lấy hai chị em sinh đôi của một gia đình sống trên bờ sông. Robert cũng tì tay lên quầy hàng của ông Popaul béo lùn và đợi chủ quán rót rượu. - Hôm nay đẹp trời - Popaul gợi chuyện. Qua cửa sổ, Robert thấy trời đã chuyển sang màu hồng. Những ống khói trên các nóc nhà bắt đầu hoạt động, sương giá đọng trên các mái nhà lợp bằng đá bảng hoặc bằng ngói bắt đầu tan. Người ta nghe thấy tiếng nổ của đầu máy đi-ê-zen. Phía sau sà lan phụt ra những luồng khói đen. Robert đặt tiền lên quầy hàng, cầm lấy chiếc mũ cát-két và đi khỏi quán rượu. Người phụ trách âu thuyền trong bộ đồng phục đã xuất hiện chuẩn bị cho việc mở cửa âu. Người ta nghe thấy những bước chân ở cảng Valmy nhưng không nhìn thấy người. Tiếng trẻ con bi bô trong những khoang tàu, nơi các bà mẹ đang chuẩn bị cà phê. Jules đang cúi xuống nhìn mặt nước ở cuối sà lan. Người em thấy như có chuyện gì không ổn. Sà lan chở đá xây dựng từ Beauvais về. Chuyến này đá chở nhiều hơn thường lệ một vài tấn. Đêm qua sà lan từ bên La Vilette để đi vào kênh đào Saint-Martin. Thông thường thì tháng Ba kênh đào có nhiều nước. Năm nay ít mưa nên bùn trong các con kênh sục lên khi sà lan đi qua. Những cánh cửa âu thuyền được kéo lên. Jules ngồi bên vòng quay của bánh lái. Người em lên bờ tháo neo. Chân vịt bắt đầu quay tít, những bọt nước có bùn nổi lên. Tì người vào cây sào, Jules đẩy sà lan tránh xa bờ kênh. Bỗng nhiên chân vịt khựng lại, tiếng máy nổ rú lên và Robert thấy Jules đang cúi xuống máy. Cả hai đều không hiểu đã có chuyện gì xảy ra. Chân vịt không sát xuống đáy sông. Chắc chắn đã có vật gì mắc vào nó. Có thể là rác đã bị cuốn lên. Cầm một cây sào, Jules đến cuối sà lan và khuấy nước ở đấy lên. Chân vịt vẫn không nhúc nhích. Trong khi Jules đi tìm một chiếc móc bằng sắt thì Laurence từ khoang sà lan nhô đầu lên. - Có chuyện gì vậy? - Không biết. Cái móc bắt đầu làm việc. Vài phút sau đó thì Charles Dambois, người phụ trách âu thuyền, bước tới. Ông ta không hỏi han gì mà chỉ lặng lẽ nhồi thuốc vào tẩu để hút. Trên bờ kênh, người ta thấy nhiều y tá và hộ lý vội vã tới phố Cộng Hoà để làm việc tại bệnh viện Saint-Louis. - Anh đã thấy vật đó chưa? - Đã thấy. - Một sợi dây cáp ư? - Không biết. Jules đã móc được vật ấy lên và chân vịt lại tiếp tục quay. Chiếc móc sắt được nhấc lên khỏi mặt nước và mắc vào đấy là một gói giấy báo buộc kỹ. Giấy báo ngâm nước đã mủn ra. Đấy là một cánh tay người, từ bả vai đến bàn tay, thịt đã xám lại như con cá chết. *** Depoil, hạ sĩ cảnh sát của khu phố Ba, đã hết phiên trực đêm ở bến cảng Jemmages, đang chuẩn bị ra về thì gặp Jules chạy tới. - Tôi ở âu thuyền Recollets cùng với chiếc sà lan Hai anh em. Chân vịt đã không quay được khi chúng tôi cho sà lan chạy và chúng tôi đã gỡ từ đó ra một cánh tay người. Depoil đã làm việc ở quận Mười mười lăm năm, có phản ứng nhanh nhạy của người cảnh sát nên anh nắm ngay sự việc. - Tay của đàn ông ư? - Depoil hỏi với vẻ hoài nghi. - Phải. Cánh tay đầy lông màu hung và... Thường thì người ta vớt được xác chết ở kênh đào Saint-Martin từ chân vịt của tàu thuyền. Hầu hết là xác nguyên vẹn, đại đa số là xác đàn ông, ví dụ như xác của một ông già lang thang quá chén hoặc xác của một thanh niên bị địch thủ cho một nhát dao rồi đẩy xuống dòng kênh. Xác chết bị chặt ra từng khúc cũng không phải là không có, một năm trung bình một hai vụ, mà hầu hết là phụ nữ. Depoil có thể kể ra từng vụ một. Chín phần mười họ đều là gái bán dâm, đi lượn lờ trên bờ kênh vào ban đêm. "Tội ác do những kẻ loạn dâm gây ra" - Báo cáo của anh thường kết luận như vậy. Cảnh sát biết rõ những kẻ năng lui tới chốn này, họ có cả một danh sách những kẻ đáng nghi ngờ. Chỉ cần một vài ngày là đủ để tóm cổ được tác giả của vụ án cướp của giết người hoặc tấn công địch thủ bằng vũ khí. - Anh đã mang nó lên bờ rồi chứ? - Depoil hỏi. - Cánh tay người ư? - Anh để nó ở đâu? Mời các bạn đón đọc Xác Không Đầu của tác giả Georges Simenon & Trần Bình (dịch).
Xin Cho Tôi Gọi Cô Là Em Yêu
Tình cờ, Kerry McGrath - phụ tá uỷ viên công tố, phát hiện ra bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Smith chỉnh hình khuôn mặt cho hai bệnh nhân của ông thành khuôn mặt của cùng một người phụ nữ đã bị ám sát hơn 10 năm trước. Hồ nghi, Kerry mở lại hồ sơ cũ, nàng đã bị sự ngăn cản từ người chồng cũ, từ sếp của nàng, và kể cả vị thượng nghị sĩ mà nàng rất kính trọng. Chẳng bao lâu sau, tính mạng của chính nàng cùng cô con gái nhỏ cũng bị đe doạ nếu nàng vẫn muốn khám phá sự thật.... *** Mary Higgins, sinh năm 1927 ở Mỹ, đã làm nhiều công việc khác nhau trước khi đến được với nghề viết văn. Cha mất sớm, hoàn cảnh khó khăn nên ngay khi học xong trung học, Mary phải lo giúp gia đình bằng cách nhanh chóng tìm một công việc. Bà đã làm thư ký rồi làm tiếp viên hàng không trước khi lập gia đình với Warren Clark. Lấy chồng một thời gian sau, Mary mới có thể theo đuổi sự nghiệp văn chương bằng nghề viết báo. Cuộc sống tưởng chừng đang yên ổn thì người chồng đột ngột qua đời trong một cơn đau tim, để lại một mình Mary với năm đứa con nhỏ. Người phụ nữ này không hề nhụt chí mà còn nỗ lực làm việc hơn bao giờ hết. Bà lao vào viết sách và lấy tên là Mary Higgins Clark. Tác phẩm đầu tiên, Tiểu sử George Washington, ra đời khi bà đã 40 tuổi, không đem lại mấy thành công. Mary quyết định chuyển sang thể loại truyện trinh thám. Cuốn tiểu thuyết Where are the children (Con của chúng ta đâu) xuất bản năm 1975, lập tức trở thành sách best-seller. Sau thành công của tác phẩm này, Mary bắt đầu gặt hái những thắng lợi lớn. Những phụ nữ giàu có, quyến rũ, những tội ác bí hiểm và bầu không khí căng thẳng đáng sợ là những đặc điểm nổi bật khiến cho câu chuyện luôn tạo được một hấp lực mạnh mẽ. Một số độc giả sau khi đọc truyện của bà đã phát biểu: “Cảm ơn Mary đã khiến tôi nhiều lần toát mồ hôi trong những đêm thức trắng đọc truyện của bà. Một khi đã bước vào thế giới đó thì bạn không thể rời xa được, chừng nào bạn chưa đọc xong. A Cry in the night (Tiếng thét trong đêm), The cradle will fall (Lộ diện), No place like home (Không đâu bằng ở nhà mình) đều là những tiểu thuyết tuyệt vời”. Một độc giả khác nhận xét: “Điều mà tôi thích ở nhà văn này là bà biết cách tạo ra những tình tiết lôi cuốn gây cảm giác hồi hộp. Thêm vào đó là phong cách viết dễ đọc nên những câu chuyện của bà hết sức gần gũi với đời thường”. Một con người không mệt mỏi Ba mươi năm viết truyện với 40 tiểu thuyết, trong đó nhiều tác phẩm đã được dựng phim, Mary Higgins Clark đã tạo cho mình một sự nghiệp đáng tự hào với nhiều giải thưởng và vinh quang. Bà đã nhận được nhiều giải của các cơ quan văn hóa, lịch sử xã hội, giáo dục Mỹ, Pháp, Ireland; đã từng làm Chủ tịch Hội các nhà văn trinh thám Mỹ năm 1987; Chủ trì Hội nghị Tội ác quốc tế tại New York năm 1988 và vinh dự đón nhận tước hiệu Hiệp sĩ Văn học và Nghệ thuật của Pháp vào năm 2000. Nhưng giải thưởng có ý nghĩa hơn cả có lẽ vẫn là sự mến mộ mà độc giả dành cho bà. Hầu hết các tác phẩm của Mary đều trở thành sách best-seller. Đối với nhiều người, truyện trinh thám chỉ được đọc để giết thời gian tại các bến xe nên đa phần được in khổ nhỏ bỏ túi, nhưng tại Mỹ, trên 50 triệu cuốn sách khổ lớn của bà đã được bán ra. Còn tại Pháp, con số này trên 20 triệu. Ở VN, độc giả có thể dễ dàng tìm được các tác phẩm của bà tại bất kỳ nhà sách nào trên toàn quốc. Những cuốn sách Chiếc nhẫn oan gia, Xác chết ngoài biển khơi, Rình rập, Lộ diện, Tiếng thét trong đêm đều đã trở nên quen thuộc đối với những người thích thể loại trinh thám. Năm 1999, một cuộc thăm dò đã đưa Mary Higgins Clark lên vị trí thứ hai thế giới trong số các nhà văn được nhiều độc giả trên 18 tuổi ưa thích. Một tâm hồn trẻ trung, hiện đại Đã 77 tuổi nhưng Mary vẫn không ngừng tạo ra những món ăn tinh thần hợp khẩu vị bạn đọc trẻ và chúng vẫn luôn mới mẻ, cuốn hút. Cuốn tiểu thuyết mới đây nhất Two little girls in blue, 2006 (Hai cô bé trong đại dương) đã chứng tỏ điều đó. Câu chuyện kể về gia đình Frawley, trong buổi tối sinh nhật của hai con gái sinh đôi 3 tuổi là Kelly và Kathy, ông bà Frawley đã bị cảnh sát hỏi thăm, chị giữ trẻ bị ngất đi, còn hai cô bé mất tích. Sau khi giao 8 triệu USD tiền chuộc theo yêu cầu của bọn bắt cóc, ông bà Flawley chỉ nhận lại được Kelly trong một chiếc xe hơi bỏ không. Còn số phận Kathy thế nào? Mọi người dường như tuyệt vọng, nhưng Kelly bằng linh cảm vẫn biết người chị song sinh của mình còn sống. Tình huống gay cấn trong câu chuyện khiến người đọc bị cuốn vào số phận các nhân vật cho đến trang cuối cùng. Năm 2007, Mary sẽ cho ra đời tác phẩm mới mang tên Santa Cruise mà bà viết chung với con gái mình là Carol Higgins Clark. Với sự nghiệp thành công và con cái thành đạt, Mary tự nhận mình là người hạnh phúc. Hiện nay, bà đang sống cùng với người chồng thứ hai, John Coheeney, tại Manhattan, New York. Bất chấp tuổi tác, những ý tưởng trong bà vẫn rất dồi dào và bà vẫn tiếp tục viết những câu chuyện ly kỳ, bí hiểm, khiến người đọc luôn phải trông ngóng, mong đợi những điều bất ngờ bà mang tới. Với 200 triệu cuốn sách bán ra trên thị trường, bà là một trong những nhà văn có số lượng độc giả nhiều nhất hiện nay. Với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, bà đã chứng tỏ vị trí số một thế giới trong thể loại truyện trinh thám. Các tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:   1. Where Are The Children? (1975) có 3 bản dịch + Ngôi nhà cạm bẫy + Rình rập + Truy tìm nhân chứng 2. A Stranger Is Watching (1977) / Cáo sa mạc 3. The cradle will fall (1980) / Lộ diện 4. A Cry in the Night (1982) / Tiếng hét trong đêm khuya 5. All around the town (1992) có 3 bản dịch + Một quá khứ kinh hoàng + Thành phố buồn + Vĩnh biệt thơ ngây 6. Remember Me (1994) có 2 bản dịch + Bí ẩn trong tòa nhà cổ + Xác chết ngoài biển khơi 7. Let Me Call You Sweetheart (1995) / Xin cho tôi gọi cô là em yêu 8. The Lottery Winner (1996) / Chuộc chồng 9. Pretend You Don't See Her (1997) có 2 bản dịch + Trang nhật ký đẫm máu + Nhân chứng bị săn đuổi 10. You belong to me (1998) / Chiếc nhẫn oan gia 11. Where Are You Now? (2008) / Giờ này anh ở đâu? ***       Xin đừng phủ lên trên ngôi mộ này Những đóa hồng mà nàng hết sức yêu quí; Tại sao làm cho nàng ngất ngây bằng hoa hồng Mà nàng không thể thấy hoặc ngửi được? Edna St Vincent Millay, Epitaph.       Ông đã làm mọi cách để cố gắng gạt Suzanne ra khỏi tâm trí. Một đôi khi, ông tìm lại được sự yên tĩnh trong vài giờ hoặc thậm chí ngủ suốt đêm. Đó là cách duy nhất giúp ông tiếp tục sống, làm công việc hàng ngày. Phải chăng ông vẫn còn yêu cô hay chỉ ghét cô? Ông không bao giờ có thể chắc chắn. Cô đẹp, với đôi mắt sáng long lanh có cái nhìn chế giễu, với mái tóc sẫm bồng bềnh như mây, với đôi môi có thể mỉm cười một cách hết sức mời mọc hoặc mím lại một cách hết sức dễ dàng giống hệt một đứa bé đang bị cấm ăn kẹo. Trong tâm trí ông, cô vẫn luôn luôn hiện diện, như lúc cô đã nhìn ông vào phút giây cuối cùng của đời cô, trêu chọc ông và quay lưng về phía ông. Và giờ đây, gần mười một năm sau, Kerry McGrath sẽ không để cho Suzanne yên nghỉ. Những câu hỏi, rồi lại thêm những câu hỏi! Không thể chấp nhận được. Cần phải ngăn chặn cô ta. “Hãy để cho người chết chôn vùi người”. Đó là một ngạn ngữ cổ, ông nghĩ, và nó vẫn còn đúng. Phải ngăn chặn cô ta, bằng mọi giá.        Thứ Tư, ngày 11 tháng 11 Mời các bạn đón đọc Xin Cho Tôi Gọi Cô Là Em Yêu của tác giả Mary Higgins Clark & Nguyễn Nhất Nam (dịch).