Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Đến Từ Mariupol

Trong bức ghép hình mang tên châu Âu thế kỷ 20, có một mảnh sử rời không ai muốn nhắc. Một mảnh sử rời chính người trong cuộc cũng muốn xóa đi. Đó là là lịch sử của hơn năm triệu lao động cưỡng bức người Đông Âu trong Thế chiến II. Thân phận của họ trở thành một vết nhơ mà quốc gia nào cũng muốn chối bỏ. Cố quốc coi họ là kẻ phản bội, cúi đầu đi làm nô lệ cho kẻ thù. Nước Đức, quốc gia trở nên hùng mạnh một phần nhờ mồ hôi và máu của “đám công nhân Miền Đông,” chỉ coi họ là những con vật người, sinh ra để bị bóc lột sức lao động đến hơi thở cuối cùng, trong điều kiện không hơn gì trại tập trung. Người đến từ Mariupol là khúc bi ca về một cuộc chiến nhỏ đã bị nhấn chìm trong cuộc chiến lớn: cuộc chiến giành lấy sự sống và đòi lại quyền được làm người. *** Câu chuyện hấp dẫn bởi tác giả Natascha Wodin như kéo độc giả cùng tham gia một cuộc thám hiểm trong thế giới Internet, cùng lần mò với bà từ những đầu mối mong manh về người mẹ của nhân vật xưng tôi Natalia Nikolajevna. Mẹ của bà, người phụ nữ Ukraina, một nạn nhân chiến tranh bị dồn đuổi đến Đức, bị cưỡng bức lao động và sống một cuộc đời lưu lạc. 11 năm sau Thế chiến 2, bị "bỏ quên" tại vùng đất thuộc Tây Đức, sống trong một khu vực dành cho những người lưu vong đầy cô độc, người mẹ ấy đã gieo mình xuống sông Regnitz ở tuổi 36 chẳng để lại gì ngoài cái tên Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko, đến từ vùng Mariupol. Nhân vật tôi đã lần lại gốc tích của mẹ mình khi thử gõ tên bà trên Internet mà chính bà cũng nghĩ rằng “gõ cho vui vậy thôi”. Sau đó tình cờ, bà được một người đàn ông chuyên kết nối các hồ sơ sau chiến tranh của vùng Mariupol nơi mẹ bà ra đi, có tên Konstantin, giúp đỡ. “Trong trí nhớ tôi, mẹ chỉ thấp thoáng như một cái bóng, như một cảm giác mơ hồ thì đúng hơn là một kỉ niệm”. Nhưng qua từng trang sách, sự mơ hồ ấy dần được hiện hình, dù ngoài họ tên mẹ, bà chẳng biết gì thêm về người sinh ra mình. Vùng đất Mariupol trong những biến động thăng trầm của lịch sử đã được tái hiện trong kí ức của từng nhân vật thân nhân mà Natalia Nikolajevna tìm thấy trong quá trình lần về nguồn cội. Câu chuyện cứ nở ra dần, mở ra dần, từ chỗ tưởng như vô vọng, bằng một cách kì diệu đã từ từ sáng rõ. Dòng họ Jakovlevitsch Ivashtschenko khi xưa tan tác với những số phận bị cơn địa chấn long trời trước Thế chiến trong cơn vặn mình từ chế độ quân chủ đi lên Chủ nghĩa xã hội đánh bật đi muôn nơi, trải dài khắp dải đất Xô viết rộng lớn, đến những đất nước xa xôi, và đặc biệt là trong lòng nước Đức, kẻ thù trong chiến tranh với Liên Xô, đất nước thuộc phe phát xít bị thua sau Thế chiến. Câu chuyện bắt đầu từ những năm nội chiến trên lãnh thổ Liên bang Xô Viết, cụ thể tại đất nước Ukraine với những thế hệ trước của người mẹ nhân vật. Trong những đối cực chính trị, những xoay chiều đổi thế tại thị trấn nhỏ Mariupol khiến các giá trị, những đúng sai lộn nhào, và mỗi phận người như gió bụi, có những thân phận rơi vào cảnh lạc lõng giữa hai chiến tuyến, ở tình thế này có thể đang là người may mắn, nhưng ngay sau đó, khi chính trị đổi ngôi thì lập tức lại thành những tội phạm chiến tranh, kẻ thù của dân tộc phải xử tử hoặc lưu đày. Tiếp đó những nhân vật bị cuốn vào Thế chiến 2. Một trong những nhánh rẽ của dòng xoáy ấy với một số người là lựa chọn lưu vong cay đắng nơi đất khách quê người, như mẹ của Natalia Nikolajevna. Theo hành trình tìm kiếm của nhân vật tôi, mỗi mảnh vụn thân phận của dòng họ năm xưa văng đến những phương trời mang theo những kí ức của chung, của riêng. Người bác Sergey là nghệ sĩ phục vụ trong Hồng quân Liên Xô, bác Lidia làm giáo viên, từng bị kết án trong một vụ án chính trị. Con cái của họ mỗi người đã tiếp nhận và "thừa kế" những di chứng của thế hệ trước. Sau cuộc chiến, họ như những miệng núi lửa đã ngưng hoạt động, trên bề mặt lạnh lùng sần sẹo là những kí ức bị kẹp chì bởi lí do chính trị: “Hồi ấy, cũng như cả hàng chục năm về sau, có họ hàng với một người như mẹ tôi là rất nguy hiểm, với một người rất có thể đã tình nguyện để bị bắt lùa sang Đức, hoặt chí ít cũng đã không tìm cách trốn, thậm chí cùng đường còn phải tự sát - như Stalin vẫn đòi hỏi những người ái quốc chân chính phải tự hi sinh như thế - để dứt khoát không sang Đức làm nô dịch cho quân thù. Hồi ấy, người ta tránh không cho con cái mình biết đến những bà con thân thích bị liệt vào hạng phản quốc như mẹ tôi, bởi vì, ai mà muốn con cái mình mang vạ vào thân chứ”. Bởi thế mà những kí ức về những người thân như cha mẹ của  Natalia Nikolajevna thường bị chôn kín hoặc đứt gẫy với các thế hệ sau. Phần lớn trong số họ cho đến thời điểm câu chuyện được dựng lại đã mang những bí mật về thế giới bên kia. Bảy mươi năm sau Thế chiến thứ 2, những nạn nhân chiến tranh đã lùi dần vào dĩ vãng, những người thuộc thế hệ thứ hai cũng đã đi đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, nhưng những tổn thương thì dường như vẫn âm ỉ cháy đâu đó trong mỗi gia đình, mỗi phận người. Họ đã ở lại như những nhân chứng cuối cùng, ghi lại những tiểu biên bản, bổ sung vào bộ dữ liệu khổng lồ về chiến tranh bằng những số phận con người. Người mẹ của nhân vật Natalia Nikolajevna, người đã buộc phải li hương đầy cay đắng, chắc hẳn đã nghĩ về nơi cội rễ với những ám ảnh kinh hoàng, và dù cuộc chiến tranh thế giới đã kết thúc cũng không có nghĩa là sự lưu lạc dừng lại, bởi bà không còn có thể cũng như không có lí do để quay về, như sự ngộ ra bi kịch thê thảm của mẹ mình của nhân vật tôi, cũng là tác giả: “Cuộc đời của một kẻ lạ trên đất Đức có lẽ không có gì là mới mẻ đối với mẹ tôi, mà đúng ra, chỉ là sự kéo dài thêm kiếp đời bà từng nếm trải mà thôi. Hóa ra, tự bao giở bao giờ đến nay tôi đã hiểu sai về mẹ tôi. Mẹ vốn không phải là người bị bẩy rễ khỏi quê hương, mà ngay từ đầu bà đã là kẻ vô quê hương, không gốc nguồn, không cội rễ, một kẻ tha hương ngay từ lúc mới mở mắt chào đời”. Bìa sách đề thể loại là tiểu thuyết, nhưng câu chuyện và những bức ảnh các nhân vật sau đề mục bắt đầu mỗi phần đều cho thấy đó là một câu chuyện có thật. Một tiểu thuyết phi hư cấu thành công, như con đường mà một nữ tác giả khác cũng thuộc Liên bang Xô viết trước đây, Liên bang Nga sau này, Svetlana Alexievich, người Belarus, đã đi và giành được vinh quang văn chương với giải Nobel 2015, tác giả của Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ, Những nhân chứng cuối cùng. Ở Natascha Wodin, bà đã đi xa hơn Svetlana Alexievich khi đã xử lí tư liệu một cách nhuần nhuyễn trong một câu chuyện miên viễn trải dài trong một không gian rộng lớn, thời gian kéo dài gần cả trăm năm. Điều thú vị là song song với tư liệu, tác giả đã để nhân vật thả trí tưởng đi xa nhất trong những hình dung, dự đoán về mẹ, tự vẽ ra, tự suy đoán, đưa ra những giả thuyết về cuộc đời của mẹ mình cùng những người thân của bà, mà những giả thuyết, suy đoán, những tình huống ấy chắc hẳn có thể đúng với nhân vật, hoặc đúng với bất kì một phận người nào trong cơn lốc xoáy của chiến tranh trong số hàng triệu công nhân miền Đông trên đất Đức.  Cuốn tiểu thuyết tư liệu pha trộn yếu tố trinh thám này đã khiến độc giả hồi hộp cùng tác giả lần theo cây phả hệ của gia tộc bên ngoại của nhân vật tôi với những kịch tính nhẹ nhàng. Tưởng như vô tăm tích bởi sự lưu lạc theo dòng cuốn tàn khốc của chiến tranh, thế nhưng sự bám víu theo những thông tin mơ hồ trong tiện ích công nghệ của thời đại, khi mà mọi thứ được hòa mạng Internet, câu chuyện được bóc tách, hé lộ từng lớp trên một lối đi chênh vênh giữa khoa học và tâm linh, giữa lí trí và tình cảm, giữa sự mù mờ và sáng rõ. Chiến tranh không ở phía những người ra trận cũng tàn khốc và làm biến dạng biết bao cuộc đời, bẻ lái biết bao số phận. Natascha Wodin đã trả được món nợ quá khứ của mẹ bà, chạm vào trái tim của người đọc với sự đồng cảm sâu sắc. Giống như bác Lidia của bà, người đã vượt qua tất cả những cực hình nơi nhà lao, sự cưỡng bức, hãm hiếp, những hình phạt lao động khổ sai nơi rừng thiêng nước độc, đã vẫn sống, sống để làm nhân chứng cho những gì đã trải qua. Năm mươi năm sau, khi đã ở tuổi tám mươi, bà Lidia đã viết lại những gì đã trải dưới dạng hồi kí vào hai tập vở. Để rồi như một dự báo, nó tưởng như đã bị chôn vùi, quên lãng thì người cháu từ nước Đức sau khi tìm kiếm, chắp nối các mối quan hệ rời rã phập phù đã lần ra manh mối, có được chúng để dựng lại câu chuyện về một góc tối tăm của Đế chế Nga trước đây trong cơn vặn mình lịch sử với những vinh quang và đớn đau của một dân tộc vĩ đại. Với giọng văn nữ tinh tế cùng thái độ khách quan với lịch sử, có thể nói Natascha Wondin đã bay lượn đầy cảm xúc trên nền tư liệu, dung hòa giữa lí trí và tình cảm để gọi hồn cuộc chiến, gọi tên những khuất lấp lịch sử. Có lẽ đây là lí do khiến các nhà phê bình và những người tổ chức hội sách Leipzig tại Đức đã coi cuốn sách này là "một cuốn tiểu sử có những yếu tố của sự hư cấu nghệ thuật". Đọc Người đến từ Mariupol thấy rằng, điều tệ hại nhất của chiến tranh là nó đã bóp chết tâm hồn con người một cách vĩnh viễn. Hoá ra cuộc chiến ấy, sau gần tám mươi năm vẫn còn những sợi dây kết nối đâu đó ở những người của hôm nay, mơ hồ hay hiện hữu là do cách mà mỗi người ứng xử với nó mà thôi. “Nhiều năm nay rồi, tôi bỏ công cố tìm một cuốn sách nào đó viết về những công nhân dạo xưa từng bị cưỡng bức lao động, tức là cố tìm cho ra một tiếng nói văn học về họ để bấu víu dựa dẫm, nhưng đều vô ích. Nạn nhân sống sót từ các trại tập trung trở về đã viết nên hàng loạt các tác phẩm văn chương mang tầm quốc tế, sách họ viết về nạn diệt chủng đối với người Do Thái xếp đầy các thư viện, thế nhưng, những công nhân không phải Do Thái hồi đó bị bắt đi cưỡng bức lao động lại im lặng, chẳng ai viết lách gì”, đó là một đoạn tự sự của nhân vật Natalia Nikolajevna trong tác phẩm và có lẽ cũng là của tác giả. Phải chăng đó cũng là lí do mà Người đến từ Mariupol khi ra đời đã được đánh giá cao tại Đức. Cuốn sách đã giành được một số giải văn chương tại đất nước này như Giải thưởng văn học Alfred Döblin, Giải thưởng Hội chợ sách quốc tế tại Leipzig (CHLB Đức) năm 2017. *** Được giới thiệu là cuốn sách về thân phận 5 triệu người Đông Âu bị biến thành lao động cưỡng bức ở nước Đức trong Chiến tranh thế giới thứ II nhưng mảng truyện hấp dẫn hơn, bi thương hơn, chiếm nhiều trang sách hơn lại là viết về họ dưới một thể chế toàn trị. Là lao động cưỡng bức, họ bị phát xít bóc lột, tra tấn, tàn sát, sự ghê rợn cả thế giới đều biết từ lâu. Nhưng ngay trong và sau chiến tranh, họ bị cố quốc coi là kẻ phản bội, hợp tác với quân thù. Rồi sau chiến tranh, phải cư trú ngay trong lòng nước Đức thua trận, họ còn bị người Đức bản địa kỳ thị, tẩy chay, bức hại, vì bị coi là thuộc phía kẻ thù gây ra thảm họa. Nhưng cuộc sống ngục tù trần gian còn xảy ra trước cả khi họ bị lừa phỉnh trở thành người lao động, phải rời bỏ quê hương để sang nước Đức phát xít. Một lịch sử đau thương được gỡ dần ra ở Ukraine, trải dài từ sau cách mạng, sang nội chiến ở Liên Xô, cho đến khi bị phát xít Đức bao vây trong Chiến tranh thế giới thứ II. Như đã nói, đây là mảng truyện lôi cuốn nhất, được đào xới sâu sắc nhất và lay động tâm can nhất. Đọc Người đến từ Mariupol, người ta cùng lúc nhớ đến hai tác giả đoạt giải Nobel văn chương. Đặt bên Aleksandr Solzhenitsyn (Nobel 1970), câu chuyện của Người đến từ Mariupol sâu đậm hơn và gây chấn động hơn nỗi trần ai ở quần đảo Gulag. Đặt bên những thiên phóng sự của Svetlana Alexievich (Nobel 2015, Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ, Những nhân chứng cuối cùng), vốn là những bản gỡ băng phỏng vấn được sắp xếp có hàm ý, thì khả năng tổng hợp và chọn lọc tư liệu của Natascha Wodin gây ấn tượng hơn. Tác giả thể hiện một phương pháp điều tra báo chí rất tinh xảo và chính xác, đồng thời bộc lộ trí tưởng tượng phong phú trên nền tư liệu. Câu chuyện của đại gia đình, từ ông bà cha mẹ, chú bác cô dì cho đến những người em, đứa cháu, chỉ từ tư liệu mà được trí tưởng tượng của tác giả tái hiện và bóc gỡ đến tận cùng. Phương pháp điều tra, trí tưởng tượng cộng với nhập thân hết mình vào nhân vật là những yếu tố nổi bật ở tác giả, khiến người đọc có lúc say mê đến mức thấy mình có thể đồng nhất và rung cảm với những số phận trong sách. Tác phẩm đã tạo ra một sự kiện văn chương ở CHLB Đức, đoạt giải thưởng của Hội chợ sách quốc tế Leipzig năm 2017 và Giải thưởng văn học Alfred Döblin… Hồ Anh Thái *** Nữ nhà văn Natascha Wodin sinh ra tại Fürth, bang Bayern CHLB Đức, trong một gia đình hai vợ chồng người Ukraine (thuộc Liên bang Xô viết trước đây) bị bắt sang Đức quốc xã làm nhân công lao động cưỡng bức năm 1944. Một năm sau, năm 1945 - cũng là năm kết thúc Thế chiến thứ 2 - Natascha Wodin được sinh ra. Bà lớn lên trong các trại dành cho người di cư trước khi chuyển vào ở nội trú tại một trường nữ sinh trực thuộc Giáo hội Thiên chúa giáo cho đến khi trưởng thành. Bà sinh sống và làm việc tại Đức. Sau khi tốt nghiệp trường chuyên ngữ, bà chuyển sang viết văn và biên dịch. Người đến từ Mariupol xuất bản bởi Nxb Hội Nhà văn, Tao Đàn phát hành, tác phẩm do Hoàng Đăng Lãnh dịch.   Mời các bạn mượn đọc sách Người Đến Từ Mariupol của tác giả Natascha Wodin & Hoàng Đăng Lãnh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bạn Khác Giới
Bạn khác giới được đề cử: - Yoshikawa Eiji Prize for New Writers năm 2015 - Naoki Prize năm 2014 Bạn khác giới, cái từ nghe thật là gian xảo! Người ta hỏi: Sao hai người không yêu nhau luôn đi?Họ đáp: Không được, nếu như thế, làm sao mà ở bên nhau mãi mãi? *** Nữ tác giả Akane Chihaya là một tác giả giấu mặt, bà sinh năm 1979 tại Hokkaido, hiện đang sống và làm việc tại Tokyo.. Nhưng suốt năm tháng đi học, bà dành hơn nửa thời gian học sinh của mình tại Zambia (Đông Phi), nơi mà người cha là một bác sĩ thú y. Để con mình không quên đi văn học nước nhà, mẹ của bà, một giáo viên dạy ngoại ngữ đã cho bà đọc những tác phẩm Nhật Bản được giao hàng sang tận Đông Phi.  Akane Chihaya đã học chuyên ngành mĩ thuật và bắt đầu viết lách khi lên đại học. Tác phẩm đầu tay của bà, Iogami (Chúa của loài cá) đã giành giải thưởng Shōsetsu Subaru và Izumi Kyōka dành cho "Cây bút mới" vào năm 2008. Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là Atokata (Vết sẹo), một tuyển tập 6 câu chuyện ngắn về những tổn thương trong các mối quan hệ. Tác phẩm này đã dành được giải Naoki vào năm 2013. (Hi vọng Atokata cũng sẽ sớm được dịch tại Việt Nam) Otoko Tomodachi (Bạn Khác Giới) được đề cử giải Yoshikawa Eiji cho "Cây bút mới" năm 2015 và giải Naoki năm 2014. Câu chuyện được kể theo góc nhìn của Aoi Kanna, 29 tuổi, một người vẽ minh họa cho các tạp chí. Dù đã có người yêu là Akihito nhưng cô vẫn có tình nhân là Shinji và một đàn anh, người bạn khác giới Haseo. Người đọc sẽ không chỉ được cảm nhận về tình yêu mà còn một niềm khát khao và theo đuổi công việc, những tố chất được Kanna thể hiện xuyên suốt tác phẩm. Và vì sao tôi lại nói "nên đọc trước tuổi 30"? -Vì cuốn sách đã thể hiện được sự băn khoăn, trăn trở và chút gì đó mơ hồ của tuổi trẻ bên cạnh các câu chuyện về tình yêu. Đồng thời tác giả cũng đã cho người đọc hiểu rõ hơn về cái "ranh giới" về tình bạn giữa nam và nữ. Một mối quan hệ mãi mãi, bền chặt hơn thứ tình yêu sớm nở chóng tàn. Dù trong xã hội ngày nay, vẫn còn có những định kiến về bạn khác giới, giống như câu nhận xét đằng sau bìa sách, "bạn khác giới, cái từ nghe thật gian xảo". #Aoi Kanna Nhân vật chính của câu chuyện là một cô gái luôn hết mình vì đam mê mĩ thuật, tôi nghĩ là hình tượng của tác giả Akane Chihaya khi bà cũng từng học cao đẳng mĩ thuật. Cô là một người luôn chạy theo chạy theo tiếng gọi con tim mình, thế nên từ lúc nào đó, tình cảm giữa cô và Akihito có phần rạn nứt. Thật sự thì tôi cảm thấy rất khó chịu khi Kanna đi ngoại tình với Shinji, trong khi ở nhà lại có một người luôn ủng hộ và yêu thương là Akihito. Đối với Haseo, cô chính là chỗ dựa tinh thần của anh và Haseo cũng như thế. Dù có vài điểm mà người đọc không thể chấp nhận ở Kanna, nhưng cô cũng chỉ là một người phụ nữ mềm yếu, sống nội tâm, cô độc trong công việc của mình và hơn hết là luôn tiến về phía trước sau những nỗi đau. Tôi tin là nhiều người đồng trang lứa sẽ thấy đồng cảm ở Kanna, nhất là khi họ chuẩn bị sắp bước sang độ tuổi 30. #Haseo Là đàn anh thời đại học của Kanna, hai người thường ngủ chung nhưng không hề làm tình. Anh trân trọng Kanna, trân trọng mối quan hệ mình đang có. Anh là một kẻ luôn tốt với mọi phụ nữ, không biết tình yêu là gì, anh luôn đi lăng nhăng với mọi phụ nữ mình gặp. Ngoài ra anh còn là một người luôn âm thầm ủng hộ Kanna từ đằng sau, luôn những điều mà khiến người đọc nghĩ "thực sự 2 người này chỉ là bạn thân thôi à?" Câu nói tâm đắc nhất của Haseo mà tôi còn nhớ, cứ như là một cái tát cho những kẻ lụy tình vậy: "Đồ ngốc, lưu luyến chỉ dành cho những kẻ rỗi hơi." Có lẽ vì câu chuyện chỉ tập trung theo góc nhìn của Kanna, thế nên đời tư của Haseo là một ẩn số với người đọc cũng như Kanna. Anh luôn giấu đi những tâm tư, suy nghĩ của mình để không ai bận lòng về mình. Nhưng thực sự thì anh rất cô đơn, mối quan hệ thân thiết mà anh có chắc chỉ là Kanna và Isawa. #Akihito Đây có lẽ đúng chuẩn kiểu đàn ông tốt mà các bạn nữ bây giờ đang tìm kiếm. Dù nhỏ hơn Kanna một tuổi nhưng anh lại có những suy nghĩ vô cùng chững chạc để sẵn sàng sống chung với Kanna. Anh không muốn ràng buộc Kanna quá nhiều mà để cô tự do trong thế giới của mình, Kanna đi đâu anh cũng không tò mò dù có là qua đêm với ai đó. Các chàng trai đã từng từ chối Kanna khi cô nói mình hay ngủ chung với Haseo dù hai người không làm gì, nhưng Akihito lại là người đầu tiên chấp nhận điều đó. Nhưng mọi sự thoải mái cũng dần tàn khi anh nhận ra Kanna càng lúc càng không cần mình nữa. Trong mối quan hệ giữa hai người thì ngay từ đầu Kanna đã dần lạnh nhạt trước. #Shinji Nếu Akihito tốt đến đâu thì Shinji lại là một hình ảnh đối lập. Một gã bác sĩ đã có vợ con nhưng vẫn đi làm tình nhân với Kanna. Dần dần người đọc sẽ thấy đây là một gã đểu cáng thật sự và điều đó đã được Haseo lật mặt một cách vô cùng dễ dàng. Shinji chỉ coi Kanna như một công cụ để thỏa mãn cho nhục dục của mình, thật may mắn rằng Haseo đã cứu Kanna khỏi gã này. #Miho Một nhân vật cho Kanna thấy hậu quả nếu như cô muốn vượt lên ranh giới bạn bè. Cũng như Kanna, Miho là một phụ nữ đã có chồng nhưng vẫn đi ngoại tình. Cô cũng từng có một "anh trai", như Kanna có Haseo, nhưng thay vì duy trì mối quan hệ anh em đó, Miho đã vượt rào. Và kết cục của Miho là hạnh phúc không kéo dài lâu, cô không còn chỗ dựa tinh thần nữa mà luôn trống rỗng trong tình yêu cũng như cuộc sống. Miho và Kanna như hai cục nam châm bắc-nam, cả hai luôn bổ sung các khuyết điểm cho nhau. Nhìn vào Miho, chúng ta có thể hiểu rằng không phải bất cứ ai cũng có thể biến "bạn thân" thành tình yêu, có người hạnh phúc, có người thì không. Ít nhất đến phút cuối, Miho đã lấp đầy được khoảng trống của mình bằng một động lực. #Cảm nhận cá nhân Tôi cũng có một người bạn khác giới thế nên ngay từ lúc cầm cuốn sách đã nghĩ là nó rất hợp với mình. Những mối quan hệ bạn bè của tôi chưa đến mức như Haseo và Kanna đâu. Chỉ là một mối quan hệ mà cả hai không ai muốn phải lòng ai thôi, về mặt đó thì tôi khá giống suy nghĩ của Kanna. Nội dung câu chuyện hấp dẫn, bên cạnh việc nói về các mối quan hệ thì tác giả cũng chia sẻ những cảm xúc của việc vẽ tranh minh họa thông qua nhân vật Kanna. Dù thế nào chăng nữa thì cũng thật khó để nói đây là một công việc ổn định, khi phải chờ những đơn hàng từ các công ty thì bạn mới có việc để nuôi bản thân. Vẽ tranh minh họa đã vốn được coi là một công việc tự do, dù nó phải tốn nhiều chất xám và công sức ra để vẽ. Nếu muốn sống bằng nghề này thì họ phải có một niềm đam mê cực lớn để theo đuổi, dù không phải ai cũng giàu từ nghề này. Người yêu cũ của tôi cũng là một người giống Kanna, hiện cô đang học thiết kế đồ họa dù rằng đã bị người nhà phản đối nhiều vì nghề này sợ không có tương lai. Tôi sẽ chọn làm một Haseo, luôn âm thầm ủng họ những tác phẩm từ đằng sau.  Vì hiện tại tôi vẫn chưa đến tầm tuổi của các nhân vật trong cuốn sách thế nên có những suy nghĩ mà thực sự tôi vẫn chưa thể thấm được. Nhất là "ngoại tình", một chủ đề mà rất nhiều các tác phẩm Nhật Bản đề cập đến nó như là ăn cơm bữa vậy. Một lần tôi đọc bài báo về "Giới trẻ Nhật nghĩ thế nào về ngoại tình?" Thực sự thì suy nghĩ của người Nhật rất là thoáng, họ cho rằng việc nam nữ mà chỉ làm tình với nhau nhưng có tình yêu xen lẫn thì đó chỉ là phục vụ nhu cầu sinh lý mỗi người. Sẽ có một lúc nào đó một trong hai sẽ tìm một tình nhân để biết cảm giác mới lạ hơn...thật sự thì tôi không thể đồng lòng với suy nghĩ đó lắm, nhưng bên Nhật nó vốn thoáng như thế nên cũng không thể bình luận gì thêm. Nếu ai muốn tìm một cuốn sách có nội dung tương tự thì tôi xin phép đề cử "Tháp Tokyo" của Ekuni Kaori. Ekuni Kaori cũng là một tác giả có vài tác phẩm lãng mạn nói về những kiểu tình yêu lạ lùng lắm. Nguồn review navinguyen.blogspot.com *** Tôi đang bị vùi trong một vũng bùn đủ sắc màu hỗn độn. Nhưng tôi biết, đó chỉ là một giấc mơ. Tôi thả mình trôi trong đó, xung quanh là dòng bùn hòa trộn với nhau tạo nên những hoa văn rối rắm và chói lọi. Thi thoảng, có những vệt màu nổi lên thành hình thù hẳn hoi. Mỗi lúc như thế, tôi lại cố tìm quyển vẽ phác thảo nhưng tay ngập trong bùn, không thể cử động được. Đến là bực. Mà kể ra, cứ mặc cho bản thân chìm trong đống màu sắc này cũng hay. Khoái cảm ấy gần giống như khi nhịn tiểu. Đang bập bềnh, chìm nổi trên mặt bùn thì màu chợt bắn tóe ra tứ phía. Tiếng rung trầm trầm kéo ý thức tôi về với hiện tại. Tôi quờ quạng theo phản xạ nhưng các ngón tay chỉ chạm thấy mặt ghế xô pha thô ráp. Phải mất một lúc tôi mới nhớ ra điện thoại di động đã để trên bàn ăn. Nó đang tiếp tục rung, âm thanh tàn nhẫn đó khoan thẳng vào đầu óc còn lơ mơ lúc sáng sớm của tôi. Tôi chẳng buồn nhỏm dậy. Để chế độ rung rồi mà vẫn inh cả tai. Đồng hồ treo tường chỉ hơn 7 giờ sáng. Ánh sáng trong veo lọt qua khe rèm, còn vương sắc xanh nhạt nhòa của bóng đêm. Rốt cuộc tôi cũng tỉnh táo trở lại. Gọi điện vào giờ này chỉ có thể là anh Shinji. Hẳn anh vừa xong ca trực nên nổi hứng gọi. Vẫn nằm ườn trên ghế xô pha, tôi đưa mắt nhìn Akihito đang đứng trước cái bếp ga trong gian bếp mở, quay lưng lại tôi. Mùi thịt xào hành thơm ngào ngạt. Hôm nay lại có món shogayaki[1] rồi. Người ta thường bảo, đàn ông toàn nấu những món chỉ cần một cái chảo rán là xong, nhưng trong năm năm chung sống, thói quen của anh không hề thay đổi, ngày nào cũng tự tay làm cơm hộp. Anh siêng năng đến mức các bà các cô ở chỗ làm đều mến mộ. Mùi mỡ sôi xèo xèo khiến tôi buồn nôn, cơ thể cũng bị đánh thức. Nhắc mới nhớ, từ hôm qua đến giờ tôi chưa ăn gì. Điện thoại trên bàn vẫn rung, Akihito vừa mở nắp nồi cơm điện vừa nhắc: “Em không nghe à? Nhỡ có việc gì thì sao?” Làm sao tôi nhận điện trước mặt Akihito được. Thể nào tôi cũng nổi trận lôi đình với Shinji, vì anh toàn gọi điện vào những giờ oái oăm. Anh Shinji thường tỏ thái độ bực bội mỗi khi tôi gọi điện bất ngờ, nhưng lại tự cho mình cái quyền thích lúc nào gọi lúc đó. Chắc anh nghĩ chỉ người có gia đình như anh mới cần giữ gìn, còn người sống chung với bạn trai như tôi thì chẳng cần ý tứ. “Cả biên tập lẫn thiết kế chẳng ai đi làm sớm thế này, chắc lại điện thoại quấy rối. Gần đây em cũng hay nhận được email làm phiền.” “Tại em không chịu đổi địa chỉ hòm thư đấy. Dạo này tên em xuất hiện nhiều trên truyền thông, hay em thử đổi xem?” “Chắc thế…” Nghe câu trả lời qua loa ấy, Akihito ngoái đầu lại, hơi giơ chiếc thìa xới cơm về phía này, tôi lắc đầu. Tuy dạ dày rỗng tuếch, nhưng thần kinh căng thẳng khiến tôi chẳng thiết ăn. Làm việc thâu đêm luôn là thế. “Em minh họa xong cho tạp chí bói toán rồi à?” Akihito hỏi, sau khi liếc bảng danh sách công việc treo trên tường. Trên đó mới xuất hiện thêm một dấu gạch chéo màu đỏ. “Ừm, vừa kịp. Ai ngờ vẽ các cô gái tượng trưng cho mười hai cung hoàng đạo lại mệt đến thế. Em không thích vẽ theo đúng hình dung của mọi người nên lúc gửi phác thảo đi thì bị chê là chẳng giống gì cả, phải sửa lại hết. Anh nghĩ mà xem, Sư Tử thì phô trương, Bảo Bình thì điềm tĩnh, vậy chẳng hóa ra sinh vào tháng nào thì tính cách đều được hình thành từ trước rồi à? Làm gì có chuyện đó, phải không? Ấy thế mà…” “Ừm…” Akihito gật đầu nhưng vẫn đứng quay lưng lại khiến tôi phải nuốt luôn những lời chưa kịp nói. Dừng thôi, nói tiếp anh sẽ cho rằng tôi đang than vãn mất. Tôi nhìn xuống, cạo cạo những vệt màu vẽ dính trên đầu ngón tay. Màu bong ra thành bụi. Khóc lóc, kêu ca về công việc chỉ là một cách giải tỏa, nhưng Akihito lại nghĩ tôi muốn xin anh lời khuyên. Dù hiểu tính nghiêm túc quá mức của anh nhưng cứ mỗi lần bị góp ý là tôi lại tự ái. Thêm nữa, anh cứ ra vẻ thấu hiểu làm tôi đâm nghi ngờ, có thật anh hiểu tôi đang muốn nói gì không? Và khẩu chiến sẽ nổ ra. Hoặc tôi khai hỏa trước, “Akihito chẳng hiểu gì hết,” hoặc Akihito, “Anh không biết gì về nghề minh họa, được chưa?” Sau vài lần đôi co như thế, chẳng ai bảo ai, chúng tôi chủ động tránh đề tài này. Tuy không đả động đến nhưng Akihito vẫn theo dõi tiến độ làm việc của tôi. Chỉ có thế, không hơn không kém. “Em xong việc rồi thì ăn gì đi, làm nghề tự do cũng phải sinh hoạt điều độ chứ. Để anh đi hâm sữa cho em nhé.” Anh toàn nói những lời chuẩn mực như thế. Nghe tới ba chữ “nghề tự do”, tôi đang gật đầu bỗng khựng lại. Nghề tự do - cảm giác như cái từ ấy bao hàm đủ cả luộm thuộm, bê bối, quái gở, phản xã hội. Người đời cứ thích gán hết những đặc tính này cho chúng tôi, họ cho rằng làm nghề tự do là nhàn cư vi bất thiện, là kỳ quặc. Mỗi lần bị dùng từ đó, tôi lại thấy chạnh lòng. Có lần Akihito bảo tôi nhạy cảm quá, anh chỉ nói vậy thôi. Tôi cũng muốn xem như anh đang quan tâm đến mình rồi quên luôn câu chuyện, nhưng đằng này lời của anh chẳng giải quyết được gì, toàn làm tôi thêm bực bội. Giờ tôi chẳng còn hơi sức để xét nét từng câu chữ của anh nữa, chỉ biết mỉm cười. “Không cần đâu, cảm ơn anh. Đằng nào em cũng phải đợi bên chuyển phát nhanh đến nhận hàng. Giờ ăn vào thì em lăn ra ngủ mất.” Vẫn nằm trên ghế, tôi nhìn lên trần nhà. Khu chung cư này có trần rất cao, tuy không ấm nhưng không gian thoáng đãng dễ chịu. Tôi với lấy cái rổ nhỏ để cạnh xô pha, xé một chiếc kẹo mật ong cho vào miệng. Lúc nào tôi cũng chuẩn bị sẵn bánh kẹo, các loại hạt hay hoa quả sấy để khi bận rộn chỉ cần ăn bằng một tay. Tôi nhắm nghiền mắt lại. Đôi mắt mệt mỏi bắt đầu nhức nhối. Vị ngọt sắc lan tỏa trong miệng, ý thức tôi cũng từ từ bị cuốn trôi. Bên trong mí mắt, các màu sắc bay tứ tán. Đột nhiên, máy nướng bánh kêu inh ỏi. Mời các bạn đón đọc Bạn Khác Giới của tác giả Chihaya Akane & Trịnh Lê Thu Trang (dịch).
Chuyện Làng Nhô
Chuyện làng Nhô, kịch bản phim truyền hình (1995), là tác phẩm đầu tay ở thể loại này của nhà văn Phạm Ngọc Tiến khi anh đầu quân về Trung tâm sản xuất phim truyền hình thuộc Đài truyền hình Việt Nam. Cốt lõi của nó là từ cuôn tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh đồng (Nxb Công An Nhân Dân, 1994) của nhà văn Nguyễn Quang Thiều. Một cuốn tiểu thuyết được viết ra từ chính một sự kiện có thật đã diễn ra ở vùng đồng chiêm Kim Bảng (Hà Nam). Những người nông dân nơi đó do có những mâu thuẫn với một số cán bộ chính quyền địa phương trong việc quản lý đất đai, cách thức làm ăn, đời sống sinh hoạt, đã kiến nghị, đã phản đối, và cuối cùng đã thành ra chống đối khi có kẻ xấu ở làng bày mưu xúi giục, tìm cách lái họ chệch hướng đấu tranh. Vụ việc bùng ra gây chấn động dư luận và cuối cùng đã được giải quyết, lập lại trật tự ở làng quê, để cho người nông dân được sống thực trên mảnh đất của mình. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã về tận nơi tìm hiểu sự việc, lấy tài liệu, gặp gỡ trò chuyện với những người thực trong biến cố đó, và anh soi chiếu nó bằng cái nhìn văn học. Tên sách Kẻ ám sát cánh đồng mang tính biểu tượng, đó không chỉ là một nhân vật cụ thể mà còn có thể là một cách làm sai, một cách nhìn chưa đúng gây ra nhũng loạn, hà hiếp ở nông thôn mới. Ý nghĩa này ở cuốn tiểu thuyết của người bạn văn chắc hẳn đã hấp dẫn Phạm Ngọc Tiến khi anh tìm kiếm một cốt truyện viết kịch bản phim truyền hình đầu tay. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Quang Thiều đã có những nhân vật rõ nét, có những biến cố kịch tính, có những cảnh huống căng thẳng, đủ chất liệu cho phim. Lên phim, Phạm Ngọc Tiến xoáy bật vào cái làng sinh chuyện - Chuyện làng Nhô. Chuyện làng nhưng cũng là chuyện nước, tác phẩm nghệ thuật phải chưng cất, khái quát hiện thực, không chỉ mô tả mà còn phản ánh, sau phản ánh còn là thể hiện, và thể hiện là để nghiền ngẫm. Tác phẩm Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều đã không đơn thuần chỉ là kể về một vụ việc, nó không phải là một báo cáo hình sự, nó là tiểu thuyết. Tác phẩm Chuyện làng Nhô của Phạm Ngọc Tiến chuyển thể từ tiểu thuyết thành phim, biến con chữ nằm im thành hình ảnh chuyển động, là cụ thể hóa rõ hơn, sâu hơn những số' phận người, đập thẳng vào giác quan và tâm trí người xem. Cố nhiên từ sách lên phim thông qua kịch bản là bằng sự đạo diễn và diễn xuất (dựng thành phim năm 1997). Nhưng "có bột mới gột nên hồ", một cuốn sách hay thành một kịch bản hay và được một bộ phim hay. *** Ngôi nhà thờ họ Trịnh nằm ở đầu làng (đó là dòng họ lớn nhất nhì vùng). Ngoài gian chính có điện thờ, còn có một nhà ngang 3 gian nơi ở của cụ Tín, người trông coi việc hương đèn. Nhà thờ họ được quây bằng bức tường đá xám. Lúc này trời đã chạng vạng tối, cụ Tín khóa cổng rồi cập quạng lên gian chính. Điện thờ âm u nhờ nhịt. Cụ Tín đứng trầm mặc trước bàn thờ. Đoạn cụ móc túi lấy bao diêm. Đôi tay già lẩy bẩy quẹt đến bốn năm lần que diêm mới bắt lửa. Cụ lập cập tháo thông phong chiếc đèn dầu nhỏ. Tiếng gió rít nhẹ rờn rợn. Lửa tắt. Lại lẩy bẩy quẹt diêm. Lần này lửa được châm vào đèn. Bập bùng thứ ánh sáng vàng vọt ma quái liếm nhòe nhoẹt các bức ảnh chân dung tiền nhân họ Trịnh. Cụ Tín châm hương, run rẩy cắm vào bát hương, chắp tay. Bên ngoài nhà thờ, làng Nhô lùm lùm thành khối trong màn đêm sầm sẫm. Lác đác những ngọn đèn điện đỏ tòng tọc. Chó sủa thành vệt dài đến nhà thờ họ thì tắt. Một bóng đen đứng tần ngần ở cổng. Tiếng khóa, xích xoeng xoẻng. Bóng đen khẽ gọi: - Cụ Tín… cụ Tín… Gọi thêm vài lượt, không thấy động tĩnh gì, bóng đen chặc lưỡi, đu mình qua tường tiến vào gian thờ. Trong gian thờ cụ Tín vẫn chắp tay không quay lại. Giọng cụ rành rọt. - Chào anh Khả! Bóng đen giật nảy mình: - Hả? - Anh Khả mới về? - Dạ! Nhưng bỗng dưng sao cụ lại biết là con? - Biết chứ. Mắt tôi bây giờ cập bà nhèm nhưng trời thương còn để cho đôi tai. Không phân biệt nổi tiếng chân người họ Trịnh, sao dám chường mặt ở chốn này. - Dạ, con chịu cụ. - Anh Khả về hẳn? Trịnh Khả run bắn người: - Ơ… cụ Tín… sao… . Một tràng cười của cụ Tín cất lên. Tiếng cười nhẹ, mảnh, lạnh, sắc: - Nghe tiếng chân của anh ta biết. Nó nặng nề lắm. Trịnh Khả hơi chồm lên bối rối: - Cụ Tín. Cụ là người hay là… - Ta là con cháu họ Trịnh. Mà thôi, về là phải, con cá chết một giờ ngửa bụng với nước. Con cáo chết ba năm quay đầu về núi. Huống hồ con người… Anh Khả vào thắp hương đi. Cụ Tín quay trở lui ra sân. 2 - Nhà thờ họ Trịnh, tối. Khả châm hương vái. Lần lượt hiện về những khuôn hình thờ. Tiếng gió rít. Các bức ảnh đảo chung chiêng. Mắt Khả đậu lại ở một bức ảnh. Khả thẫn thờ: - Cha ơi. Từ bức ảnh hiện dần lên một người đàn ông mặc áo dài khăn xếp. giọng người ảnh trầm trầm, âm âm: - Anh đã về đấy ư? - Con là Trịnh Khả. Giọt máu buồn, giọt máu lưu lạc của họ Trịnh. Con đã trở về. Người ảnh nhếch mép cười: - Về hẳn à? Hưu à? Làm gì đến tuổi, đúng không nhỉ? Trịnh Khả cung kính: - Con mới 52 tuổi nhưng ở lại làm gì nữa, buồn lắm. Cả đời chẳng đâu vào đâu, vài năm nữa ở lại làm gì. Người ảnh: - Về cũng được. Rút cục anh là người sướng nhất họ Trịnh. Được đi tận Liên Xô học. Gõ đầu người khác, lại ở bậc đại học, lớn lắm đấy. Chả bằng mấy làm quan ư? Trịnh Khả hằn học: - Nước non gì cái chức thầy đồ. Hơn nữa ai để ý gì đến con. Họ thù bố ngày xưa làm sao con ngóc đầu lên được. Xin tổ tiên đừng bỏ rơi con. Người ảnh cất tiếng cười ha ha: - Thù à, ha ha… Trịnh Khả, tuổi kia rồi phải biết phân biệt phải trái chứ, ha ha… Trịnh Khả lùi dần, lùi dần ra cổng, miệng lắp bắp: - Xin đừng bỏ rơi con. Khả lùi sát cổng, hoảng hốt. Tiếng cười vây bủa ghê rợn. Người ảnh lừ lừ trôi phía trước mặt. Thoắt cái, người ảnh biến thành ông cụ Tín, tay cầm đèn cao ngang mặt: - Kìa anh Khả, về nhà đấy à? Còn túi hành lý kia nữa. Khả trân mắt nhìn cụ Tín. Đoạn Khả cầm túi hành lý rút vào bóng đêm. Chó lại sủa rộ thành vệt. 3 - Nhà Trịnh Khả, tối. Khả lùi lũi đi vào ngõ nhà mình. Con chó vàng nhảy chồm chồm ném từng tiếng sủa vào mặt Khả. Khả lậm lừ tiến. Con chó vừa sủa, vừa lùi. Khả lẩm bẩm chửi: - Tiên sư, toàn chó là chó. Trong căn nhà tối om, vẳng ra tiếng đàn bà tru tréo: - Tiên nhân đứa nào trêu chó nhà bà đấy. Khả dằn giọng: - Khả đây! Đèn nhà bật tách sáng. Vợ Khả mừng rỡ: - Ôi thầy nó. Tôi cứ tưởng đứa nào trêu chọc. - Con đâu? - Con Lụa, thằng Khảm lớn rồi, tởn lắm. Chưa cơm nước xong đã tấp tểnh. Kệ xác chúng nó. À chết, bố nó ăn uống gì chưa? - Ăn rồi! - Vậy để tôi pha ấm nước. Vợ Khả đi xuống bếp. Khả ngồi xuống chiếc ghế cũ chợt nhổm người nhăn nhó: - Mẹ kiếp, nhà cửa bẩn thỉu, hôi hám quá. Vợ Khả xách phích nước lên, vừa lúi húi pha trà, vừa lẩm bẩm khẽ: - Nhà không chủ nó thế đấy. Có đàn ông, đàn ang đâu… . Khả vằn mắt: - Cô nói cái gì? Vợ Khả không đáp đi vào buồng. Một lát sau bước ra, tóc tai đã chải gọn gàng, chiếc áo gụ nhàu nát đã được thay bằng chiếc áo cộc tay màu mỡ gà còn mới. Bây giờ vợ Khả mới đáp: - Anh cứ đi biền biệt, có bao giờ ngó ngàng gì đến nhà với cửa. Vợ Khả nấc lên tức tưởi: - Mấy tháng trước con Lụa bị bệnh mắt, suýt mù phải đi Hà Nội chữa. Tìm đến bố, nào có thấy… Khả, giọng đã dịu: - Tôi phải đi công tác liên miên. Thôi, Liên này, tôi sẽ ở nhà. Ở hẳn! - Già rồi còn gì. Ở nhà với vợ, với con lại chả chán vạn lần hơn. Khả nhìn kỹ vợ: - Cô dạo này thay đổi nhiều nhỉ. Nói năng cũng khác. Ai dám bảo tôi già. Sự nghiệp của tôi còn dài. Liên lau nước mắt, chợt bật cười: - Đi cả đời chẳng thấy sự nghiệp đâu. Giờ về dưỡng già lại sự với nghiệp. Đâu, đồ đạc anh để đâu hết. Khả nhăn mặt: - Chỉ có cái túi ấy chứ còn gì nữa. Liên lôi ra bộ quần áo, vài thứ đồ lặt vặt: - Khốn nạn, cả đời công tác, giờ chỉ có ngần này thứ. Sự nghiệp ở đây chắc. Khả rít liên: - Im mồm. Đàn bà biết gì mà nói. Liên khóc: - Tôi thật khổ cả đời! Khả như nhận thấy mình vô lý, đặt tay lên vai vợ: - Thôi, đừng trẻ con, tôi đã về, không phải lo nữa. Rồi cô xem, còn lâu Khả mới già. Khả đẩy Liên vào buồng. Đèn tắt. Tiếng dế rúc. 4 - Làng Nhô buổi sáng. Nhà gạch, mái ngói san sát. Một vài ngôi nhà mái bằng. Đường làng lát gạch nghiêng. Khả, quần áo chỉnh tề, gặp ai cũng sởi lởi chào. Đến cuối làng, hết con đường độc đạo, Khả nhìn ra cánh đồng. Lúa đang trổ. Mắt Khả mông lung. Mời các bạn đón đọc Chuyện Làng Nhô của tác giả Phan Ngọc Tiến & Nguyễn Quang Thiều.
Bố Già
Bố Già là tên một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Mỹ gốc Ý Mario Puzo được xuất bản lần đầu vào năm 1969 bởi nhà xuất bản G. P. Putnam's Sons. Bố Già là câu chuyện về một gia đình mafia gốc Sicilia tại Mỹ được tạo lập và lãnh đạo bởi một nhân vật được gọi là Bố Già-Godfather, Don Vito Corleone. Các sự kiện chính của tiểu thuyết xảy ra từ năm 1945 đến 1955 ngoài ra cũng đề cập đến thời thơ ấu và giai đoạn thanh niên của Vito Corleone vào đầu thế kỉ 20. Thế giới ngầm được phản ánh trong tiểu thuyết Bố già là sự gặp gỡ giữa một bên là ý chí cương cường và nền tảng gia tộc chặt chẽ theo truyền thống Mafia xứ Sicily với một bên là xã hội Mỹ nhập nhằng đen trắng, mảnh đất màu mỡ cho những cơ hội làm ăn bất chính hứa hẹn những món lợi kếch xù. Trong thế giới ấy, hình tượng Bố già được tác giả dày công khắc họa đã trở thành bức chân dung bất hủ trong lòng người đọc. Từ một kẻ nhập cư tay trắng đến ông trùm tột đỉnh quyền uy, Don Vito Corleone là con rắn hổ mang thâm trầm, nguy hiểm khiến kẻ thù phải kiềng nể, e dè, nhưng cũng được bạn bè, thân quyến xem như một đấng toàn năng đầy nghĩa khí. Nhân vật trung tâm ấy đồng thời cũng là hiện thân của một pho triết lí rất “đời” được nhào nặn từ vốn sống của hàng chục năm lăn lộn giữa chốn giang hồ bao phen vào sinh ra tử. Với kết cấu hoàn hảo, cốt truyện không thiếu những pha hành động gay cấn, tình tiết bất ngờ và không khí kình địch đến nghẹt thở, Bố già xứng đáng là đỉnh cao trong sự nghiệp văn chương của Mario Puzo. Nhận định “Bố già là sự tổng hòa của mọi hiểu biết. Bố già là đáp án cho mọi câu hỏi.” (Diễn viên Tom Hanks) “Bạn không thể dừng đọc nó và khó lòng ngừng mơ về nó.” (New York Times Magazine) “Một tác phẩm kinh điển về mafia… Tự bản thân nó đã tạo ra một thứ bùa mê hoặc độc giả.” (The Times) *** Tác giả Mario Puzo, quốc tịch Mỹ, gốc Ý, sang Mỹ sống ly hương trong khu dành riêng cho dân ngụ cư người Ý ở Long Island (New York). Khởi sự bằng những truyện ngắn viết nhỏ ở ban đầu, tiền nhuận bút kiếm chẳng đủ nuôi miệng. Vợ làm nghề thợ may chẳng đủ nuôi miệng vợ và chồng chưa đủ nuôi thân chồng. Chồng dại vợ đi ngủ, khẽ gập bàn máy may lại, kê bàn máy chữ lên, dưới để chiếc chăn không gây tiếng động, bắt đầu viết. Thật cuộc sống không ngày mai; nhưng kiên nhẫn vẫn cứ kéo dài ngày qua ngày. Khi Mario Puzo hàn vi, cũng may mắn gặp dược một người bạn thật tốt. Hàng ngày bạn này lui tới, khuyến khích chàng văn sĩ, không những về tinh thần mà giúp cả vật chất nữa. Thường là cho Mario Puzo vay tiền, lúc năm, hoặc mười đô la; khi hai chục. Rồi một ngày, bạn đưa ra ý kiến: khuyên nên viết một tác phẩm theo ý thích: nhân vật, chất liệu, tình tiết cũng như bối cảnh mà chàng có được. Nếu cứ viết như bây giờ, chuyện nhỏ theo lối đặt hàng chủ báo, thì cuộc đời văn sĩ sẽ chẳng bao giờ mọc mũi, sủi tăm - tiền cũng chẳng có mà sự nghiệp cũng không! Mario Puzo nghe tới đây rất thích thú, nhưng có một điều; chẳng lẽ chàng lại nói ra. Cuối cùng đành phải tiết lộ, món tiền nhuận bút kia nhỏ thật; nhưng đủ uống nước lạnh và gặm mẩu bánh mì dằn bụng. Chàng cũng đành thú thật, viết tác phẩm theo sở thích, thì lấy đâu ra tiền để sống hàng ngày? Bạn chàng gật dầu, đáp ứng ngay, hôm nay hai; mai ba; mốt bốn; kia năm mươi đô đủ sống mà viết. Ngày, tuần, tháng; bạn lui tới kiểm tra sáng tác tới đâu. Và mỗi lần cho vay tiền đều rút sổ tay ghi nợ. Một ngày kia, khi gần hoàn tất tác phẩm, bạn chàng cho vay số tiền khá lớn, và cầm bản thảo đến các nhà xuất bản thương lượng. Các tác phẩm của Mario Puzo: Đấu trường u ám (1955) Đất khách quê người (1965) The Runaway Summer of Davie Shaw (1966) Six Graves to Munich (1967), với bút danh Mario Cleri Bố già (1969) Những kẻ điên rồ phải chết (1978) Sicilian Miền đất dữ (1984)  Đời Tổng Thống K thứ tư (1991) Ông Trùm Quyền Lực Cuối Cùng (1996) Luật im lặng (2000) phần tiếp theo tới Bố già Gia đình Giáo hoàng (2002) (tựa bản dịch khác Cha Con Giáo Hoàng) *** Lão Amerigo Bonasera ngồi tại tòa đại hình số 3 ở New York mà chờ đợi, lão chờ đợi công lý trả thù cho lão, trả thù những thằng quá tàn bạo với con gái lão, định xâm phạm tiết hạnh con bé. Ngài chánh án đường bộ xắn hai tay áo chùng đen lên, cứ như sắp thẳng tay trừng trị hai thằng nhóc đang đứng trước tòa. Mặt ngài lạnh lùng, nghiêm nghị. Nhưng lão Amerigo Bonasera cảm thấy tất cả cái màn này có cái gì đó có vẻ giả tạo, mà lão chưa đoán ra được là trò gì. Ngài chánh án gay gắt cất tiếng: – Các ngươi hành động như những kẻ mạt hạng, tồi bại nhất. Đúng vậy, lão Amerigo Bonasera nghĩ, đúng là đồ thú vật. Hai thằng ranh con tóc tai thẳng thớm, mặt mày sáng sủa, đầu cúi gục đầy vẻ ăn năn, hối hận. – Các ngươi hành động như thú dữ trong rừng, cũng may là các ngươi đã không xâm phạm tiết hạnh của cô bé tội nghiệp kia, chứ nếu có chuyện đó thì tòa phải xử các ngươi hai chục năm tù. Ngài ngừng lại, cặp mắt dưới đôi lông mày rậm rì thoáng nhìn khuôn mặt thiểu não của lão Amerigo Bonasera, rồi cúi xuống chồng hồ sơ xin được tại ngoại, cải tạo tại gia. Ngài nhăn mặt, nhún vai, cứ như phải ép lòng làm một chuyện ngoài ý muốn. Ngài lên tiếng: – Xét vì các người còn trẻ người, non dạ, lý lịch sạch, con nhà tử tế, và xét vì tính nghiêm minh của luật pháp không phải nhằm trả thù, do đó, tòa tuyên án mỗi đứa ba năm tù. Được hưởng án treo. Suốt 40 năm làm nghề mai táng, lão Amerigo Bonasera biết cách không để lộ mối hờn căm lộ ra ngoài mặt. Chứ đứa con xinh đẹp của lão vẫn phải đang nằm viện với cái cằm vỡ nát, phải kẹp bằng dây, mà hai con thú vật kia lại được tự do thoải mái như vậy sao? Tất cả màn xử án vừa qua là trò hề sao? Cha mẹ hai thằng khốn đang xoắn xuýt lấy chúng. Tất cả bọn chúng đang hớn hở, vui cười với nhau. Cảnh đó làm lão Amerigo Bonasera điên tiết, tim gan phèo phổi lão như sắp phọt ra khỏi hai hàm răng nghiến chặt. Lão phải móc cái khăn mùi xoa trắng, bịt lên miệng. Lão đứng thận ra mà nhìn hai thằng nhóc phản phơ, trơ tráo, không thèm liếc tới lão, tỉnh bơ ra về thơ thới hân hoan. Lão cứ câm như hến khi chúng đi qua mặt lão, tay lão vẫn ghì chặt cái khăn lên miệng. Cha mẹ chúng, hai thằng đàn ông, hai mụ đàn bà trạc tuổi lão, nhưng quần áo có vẻ Mỹ hơn lão; khi đi qua mặt, chúng thoáng nhìn lão, mặt có vẻ sượng sùng, nhưng ánh mắt chúng vẫn thấp thoáng sự đắc thắng ngạo mạn. Không nín nổi nữa, Bonasera xông ra lối đi, gào theo: – Chúng mày sẽ phải khóc như tao đã khóc. Con tụi bây làm tao phải khóc, tao cũng sẽ bắt tụi bây phải khóc, rồi lão đưa khăn lên mắt. Đám luật sư bào chữa vội tiến lên cùng thân chủ, bao bọc lấy hai thằng nhóc, vì cả hai thằng đều chớm quay lại như để bảo vệ cha mẹ chúng. Một tay thừa phát lại to đùng mau mắn chạy lại chặn lối Bonasera. Nhưng rồi chẳng có gì ầm ĩ xảy ra. Suốt bấy nhiêu năm sống trên đất Mỹ, lão Amerigo Bonasera đã tin tưởng vào trật tự và luật pháp. Và cũng nhờ vậy mà lão làm ăn khấm khá lên. Thế mà lúc này đây, đầu lão bốc cháy căm hờn, lão chỉ muốn mua ngay một khẩu súng, bắn vỡ sọ hai thằng nhãi kia, nhưng Bonasera vẫn phải quay lại mụ vợ đang ngẩn tò te, chẳng hiểu có sự thế này là thế nào, mà cắt nghĩa: Mình bị tụi nó gạt rồi. Lão ngừng lại rồi đi đến quyết định, dù giá nào cũng phải chơi. Lão bảo vợ: – Muốn có công lý, mình phải quỳ lết tới Ông Trùm Corleone thôi. ★ Trong căn hộ trang trí lòe loẹt của khách sạn Los Angeles, Johnny Fontane đang say, y như những anh chồng bình thường khác say xỉn trong cơn ghen. Nằm sõng soài trên cái đi văng đỏ, nó cầm nguyên chai rượu mà tu, rồi vục mồm vào cái xô pha lê đựng nước đá lạnh để chữa lửa. Bốn giờ sáng rồi, trong cái đầu phừng phừng hơi men của nó loay hoay ý định giết chết con vợ mất nết, khi ả về nhà. Nếu ả còn trở về. Gọi cho vợ cũ để hỏi thăm mấy đứa con thì giờ này quá trễ, mà gọi cho mấy thằng bạn trong lúc nghề nghiệp đang xuống dốc thế này thì xuống cấp quá. Thời hoàng kim của nó, thằng nào được nó gọi vào bốn giờ sáng thế này cứ là sướng rên rồi, còn bây giờ, gọi vào giờ này là quấy rầy chúng. Nó mỉm cười, nhớ lại, mới ngày nào, chỉ một rắc rối nhỏ của Johnny Fontane cũng đủ làm mấy nữ minh tinh lớn nhất nước Mỹ bấn cả người lên. Cuối cùng, đang ừng ực nốc rượu, nó cũng nghe thấy tiếng con vợ đang mở khóa cửa, nhưng nó vẫn tì tì uống cho đến khi ả bước vào phòng, đứng lù lù trước mặt nó. Ả đẹp quá, mặt như thiên thần, mắt tím sóng sánh tình tứ, thân hình mảnh mai, tuyệt mỹ. Trên màn ảnh, nhan sắc ả thật tinh khiết, diệu kỳ. Hàng trăm triệu anh đàn ông trên thế giới mê mệt tấm nhan sắc của Margot Ashton, đổ tiền ra mua vé để chiêm ngưỡng dung nhan đó trên màn bạc. Johnny Fontane hỏi vợ: – Cô đi chỗ chó nào về vậy? Vợ nó tỉnh bơ: – Đi nhảy đực. Ả không ngờ nó xỉn quá rồi. Nó phóng qua bàn rượu, nắm cổ ả. Nhưng khi cái khuôn mặt huyền hoặc kia, đôi mắt tím tình tứ kia sát gần mặt nó, thì cơn giận của nó, dũng khí của nó biến mất ráo. Thấy nó buông nắm đấm xuống, ả cười cười cợt nhả: – Johnny ôi, đừng uýnh vô mặt em. Em đang mắc đóng phim đó. Ả cười rũ ra. Nó thui cho ả một quả ngay bụng, làm ả té lăn đùng xuống sàn. Hắn nằm đè lên ả. Ả thở gấp, nó ngửi thấy hơi thở thơm thơm. Nó thui tới tấp, cánh tay, bắp vế, làn da mướt như lụa của cặp đùi ả. Nó dọng ả, như ngày còn là một thằng bé cà lơ trong những xó xỉnh tối tăm của thành phố New York, nó đã từng dọng những nhóc con nhỏ hơn nó... Cái kiểu hành hạ cho đau, nhưng không làm gãy răng, vỡ mũi. Nhưng nó cũng không đánh ả quá mạnh. Nó không nỡ. Thế là ả giở giọng cà chớn mà giễu nó. Ả nằm dạng háng ra, cái váy hếch lên khỏi vế, khinh miệt bỡn cợt: – Nào, cắm vào đi. Cắm vào đi Johnny, mày chỉ ham cái đó thôi mà. Johnny Fontane đứng dậy. Nó căm ghét con đàn bà đang nằm õng ra trên sàn kia, nhưng nhan sắc ả là tấm lá chắn tuyệt vời. Margot uốn mình, bật dậy như một vũ viên. Đứng trước mặt nó, ả nhún nhảy, ca hát như một đứa trẻ ngây thơ: "Anh Johnny chẳng bao giờ đánh mình, chẳng bao giờ làm mình đau đâu." Rồi ả đổi tông, sủa ngay vào mặt Johnny: – Thằng khốn nạn, mày kiềm tỏa, giam hãm tao như một đứa con nít. A ha, Johnny ơi, mãi mãi mày vẫn chỉ là một thằng mọi ngu đần. Cả chuyện làm tình, mày làm cũng như con nít. Mày tưởng làm tình cũng giống như ong ỏng mấy bài ca hạng bét của mày à? Ả lắc đầu ngao ngán: – Tội nghiệp mày quá, Johnny. Thôi, chào, ả vào phòng ngủ, khóa cửa lại. Johnny ngồi xuống sàn, hai tay ôm mặt. Thế rồi, sức mạnh đã từng giúp nó sống nổi tại Hollywood tàn bạo này làm nó bật dậy, nhấc điện thoại, gọi xe ra phi trường. Chỉ một người có thể cứu nó, phải trở về New York. Trở về với con người quyền lực, khôn ngoan đã từng là cứu cánh của nó, và một tình thương yêu mà nó vẫn hằng tin tưởng. Đó chính là cha đỡ đầu Corleone của nó. ★ Lão chủ lò bánh mì Nazorine tánh nết quạu quọ, vừa mập vừa lùn, giống hệt mấy ổ bánh mì Ý của lão, người ngợm dính đầy bột mì, gắt gỏng nhặng xị từ mụ vợ, đứa con gái vừa tuần cập kê, con Katherine, cho tới thằng thợ phụ Enzo. Thằng Enzo đã thay quần áo, tròng lên người bộ đồng phục tù binh, với những chữ xanh trên tay áo, phát hoảng lên vì sợ trễ giờ điểm danh. Nó là một trong hàng ngàn tù binh Ý được tại ngoại mỗi ngày để phục vụ cho nền kinh tế Mỹ, nó sống trong sự phập phồng lo sợ cái khế ước này bị hủy bỏ. Vì vậy màn hài kịch này đối với nó là một dịch vụ tối quan trọng. Mời các bạn đón đọc Bố Già của tác giả Mario Puzo & Đặng Phi Bằng (dịch).
Tình Yêu là Cố Chấp
Bảy năm trước, anh là cảnh sát đặc biệt được quốc gia huấn luyện đặc biệt để cài vào một bang phái xã hội đen lớn ở thành phố A. Bảy năm trước, anh là đại ca của những anh em trong bang Hồng Dã, đã từng biết bao lần cùng nhau vào sinh ra tử, cùng sống cùng chết, thương như máu như thịt. Bảy năm trước, anh khắp người đầy máu rơi từ trên đỉnh núi xuống, vốn dĩ tưởng đã hóa hết một kiếp người... thế nhưng không ngờ diêm vương lại một lần nữa từ chối anh, để anh có thể tiếp tục sống từ trong cái chết. Cũng vào bảy năm trước, anh yêu một người con gái, cô gái ấy sau này không những oán hận anh, mà còn làm tổn thương anh sâu sắc không cách nào quên được. Bảy năm sau, anh đã không còn là cảnh sát, cũng không còn là xã hội đen. Hai người tình cờ gặp nhau ở một thành phố khác trong một thân phận hoàn toàn khác, và một lần nữa duyên phận lại khiến họ phải bắt đầu lại từ đầu. Đi đến cuối cùng, sau bảy năm dài đằng đẵng anh mới hiểu ra rằng: Hóa ra con người anh vốn dĩ cực kỳ cố chấp, cố chấp đến nỗi vì một tình yêu đầy khổ đau như vậy mà trái tim vẫn mãi mãi không thay đổi. Vẫn vĩnh viễn không oán không hối, vĩnh viễn cố chấp yêu cô!!! (Ngoại truyện của Bảy năm không oán không hối viết về BẢY NĂM HAI NGƯỜI XA NHAU. Còn lúc gặp lại chính là ở trong truyện TÌNH YÊU LÀ CỐ CHẤP này. Ngoại truyện in sách - vẫn post lên FB nhưng phải chờ đợi khá lâu. Truyện mới sẽ up lên Facebook bình thường. *** Hiện tại mới chỉ bốn giờ sáng. An Nhã cùng mấy người đồng nghiệp trong công ty tổ chức sự kiện ARF đang tất bật chuẩn bị cho lễ nhậm chức của tân tổng giám đốc của công ty Hàn Thiên diễn ra vào vài tiếng sắp tới. Cô vừa dụi dụi mắt, vừa cúi người kéo phẳng lại vải bọc của mấy chiếc ghế trong sảnh hội nghị, đôi mắt vì thiếu ngủ mà xuất hiện vài sợi tơ máu đỏ thẫm. Quản lý đang tỉ mỉ chỉnh sửa lại mấy cành hoa trong bình ở gần đó, trông thấy cảnh này liền mở miệng hỏi: "Mỗi ngày em ngủ mấy tiếng mà nhìn thảm hại thế kia?" An Nhã liếc quản lý, hơi mỉm cười trả lời: "Đêm qua em đi làm về muộn, mới ngủ được ba tiếng" "Em cũng giỏi thật đấy. Ngày làm hết tám tiếng ở công ty, đêm còn đi tiếp thị rượu, nếu chị cũng làm việc với tần suất như em, chắc kiệt sức lâu rồi". Nét mặt An Nhã bất chợt phảng phất ra một nỗi cô đơn tịch mịch, cô cúi thấp đầu phủi sạch tấm vải trắng ở gần đó, cố che đi một tiếng thở dài trong lòng. Đã gần một năm đặt chân đến thành phố B phồn hoa này, cô vẫn chưa thể nào tìm được một công việc đàng hoàng dù bản thân có bằng cấp vô cùng sáng sủa. Hai mẹ con cô thuê một căn nhà nhỏ ở gần rìa thành phố để sinh sống, nơi này dù đi làm có xa một chút nhưng lại có thể tiết kiệm tiền, còn thuận tiện đến trại giam thăm ba hàng tháng. Mẹ của cô năm nay cũng đã nhiều tuổi, cuộc đời lại trải qua quá nhiều biến cố cho nên thường xuyên bệnh tật, An Nhã làm một công việc đương nhiên không thể đủ tiền để lo cho mẹ nên mới phải làm thêm cả tiếp thị rượu vào buổi đêm. "Nhìn em vậy thôi mà em khỏe lắm đấy" "Mau kiếm lấy anh nào tốt tốt rồi mà cưới đi. Có người nuôi cho đỡ vất vả" "Em như thế này, không ai thèm cưới đâu" "Em xinh xắn như thế, chịu khó đi làm mấy sự kiện lớn như thế này nhiều vào, kiểu gì cũng gặp được mấy anh soái ca con nhà giàu. Ví dụ như tổng giám đốc công ty này này". Những ngón tay An Nhã chạm đến mấy cánh hoa hồng sweet avalanche được nhập khẩu từ nước ngoài về, ánh ngọc trai đính trên bình hoa bỗng dưng làm làm mắt cô đau nhói: "Em chỉ mong kiếm đủ tiền nuôi được mẹ là tốt lắm rồi" Thực ra, kể từ sau khi Dương Kiến Thành ra đi, trái tim cô đã hoàn toàn nguội lạnh. Thời gian trôi đi tựa như dòng nước, chớp mắt cái mà đã bảy năm rồi... Bảy năm trôi qua thứ gì cũng đều thay đổi, chỉ có tình yêu trong cô là mãi mãi vẫn vậy, vẫn mãi mãi vì anh mà si tâm tuyệt đối, không có cách nào chấp nhận thêm được người nào!!! "Ừ. Nghe nói tổng giám đốc công ty này cực kỳ hào phóng. Ngoài tiền tổ chức sự kiện ra còn cho thêm công ty mình một khoản tiền nữa. Chúng ta vất vả mấy ngày hôm nay rồi, cố gắng xong nốt hôm nay, kiểu gì cũng được thưởng thêm chút tiền" An Nhã khẽ thở dài: "Công ty này giàu thật đấy" "Còn phải hỏi à? Cả thành phố B này có ai là không biết tập đoàn Hàn Thiên, tiền nhà họ có tiêu tám đời không hết. Đây nhìn xem, toàn bộ những đồ vật này đều là đồ đặc biệt cao cấp, mà dùng xong cũng chỉ ném đi chứ có làm gì đâu. Mấy tỉ bạc đối với họ chỉ như mấy ngàn lẻ" Ánh mắt quản lý không giấu được sự ngưỡng mộ, chị ta xoay xoay chiếc bình hoa ngọc cao cấp mấy lần: "Thế nên chị mới bảo em chăm chỉ đến mấy sự kiện lớn nhiều vào. Biết đâu người ta để ý đến mình, thức dậy sau một đêm lại đổi đời" An Nhã chỉ cười không đáp. Mấy người bọn họ bận rộn làm việc đến hơn sáu giờ sáng mới xong, cả một sảnh hội nghị sau khi được trang hoàng liền trở nên nguy nga tráng lệ không khác gì một cung điện thu nhỏ. Hoa hồng pink o'hara, hồng Sweet Avalanche, hồng White Avalanche, Tulip, mao lương, ngọc trai, thảm đỏ cao cấp, đến cả mấy chiếc ly uống nước đặt trên bàn cũng là loại pha lê trong veo, có nhìn thế nào cũng thấy nơi này đặc biệt lấp lánh. Thế giới của người giàu. Thế giới này đối với cô mà nói đã rơi vào lãng quên bảy năm rồi!!! An Nhã xoay xoay cổ tay đã mỏi nhừ mấy cái, sau đó nhân lúc quản lý đi kiểm tra lại mọi thứ một vòng liền bước tới phía sau khu hội nghị, tìm chỗ ngả lưng một lát. Cô đi đến một căn phòng nhỏ ở cuối hành lang, sau khi gõ cửa mấy tiếng không thấy ai trả lời mới rón rén mở cửa bước vào. Căn phòng này rất tối, rèm cửa dày đến nỗi ánh sáng ở bên ngoài không thể xuyên qua được, khi An Nhã vừa đặt chân vào liền ngửi thấy mùi thuốc lá thơm thơm. "Xin lỗi, có ai ở đây không?"   Mời các bạn đón đọc Tình Yêu là Cố Chấp của tác giả Phạm Kiều Trang.