Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới Tập I-II

Tác phẩm kinh điển của văn học Séc được dịch sang tiếng nước ngoài nhiều nhất. Karel Čapek  từng nhận xét về cuốn sách: "Ở nhà trường, các thầy cô thường bảo chúng ta rằng sự hài hước là gia vị. Nhưng đúng hơn mà nói, ngày nay tôi có cảm giác sự hài hước không phải là gia vị, mà là cái nhìn cơ bản nhất định về thế giới. Hašek là người có khiếu hài hước. Hašek là người nhìn nhận được thế giới, trong khi nhiều người khác chỉ viết về nó". Văn học hiện đại Séc nửa đầu thế kỷ XX có nhiều nhà văn nổi tiếng, nhưng nổi trội là bộ ba vĩ đại: Jaroslav Hašek (1883–1923), Franz Kafka (1883–1924) và Karel Čapek (1890–1938). Franz Kafka sáng tác bằng tiếng Đức, Jaroslav Hašek và Karel Čapek sáng tác bằng tiếng Séc. Franz Kafka và Karel Čapek là hai tác giả đã rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Còn bộ tiểu thuyết Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới của Jaroslav Hašek là tác phẩm văn học Séc được chuyển ngữ nhiều nhất, tính đến năm 2013 đã được dịch sang 58 ngôn ngữ khác. Ngay từ khi tác phẩm ra đời và cho đến hiện nay, không chỉ ở Séc, mà cả ở nước ngoài, nó cũng còn được chuyển thể sang kịch bản sân khấu, điện ảnh, truyền hình và truyền thanh. Cuốn tiểu thuyết có một không hai trong lịch sử văn học Séc này cũng có một số phận rất đặc biệt. Ngay sau khi nó ra đời, và cả một thời gian dài sau đó, trong khi những người dân thường đọc nó một cách say mê và khoái chí thì, trừ một số nhà văn nhà báo nhận thấy ngay đây là một tác phẩm đáng đọc, làng văn Séc hầu như không chấp nhận nó, không coi nó là một tác phẩm văn học, không coi tác giả của nó là nhà văn. Thậm chí còn có ý kiến cho rằng Švejk là kẻ trốn tránh nghĩa vụ, rằng cuốn sách này gây tác hại đến đạo đức người lính, có người còn nguyền rủa phỉ báng Hašek và cách sống của ông. Nhưng dần dần, những lời khen nhiều hơn và cuối cùng cả giới phê bình phải nhận định Jaroslav Hašek là 1 trong 3 nhà văn vĩ đại nhất Văn học  Séc nửa đầu thế kỷ XX. Chúng tôi lại xin mượn lời của nhà báo, nhà văn và dịch giả Séc Ivan Olbracht:  “Các bạn hãy đọc đi, đây là một cuốn sách tuyệt vời.” *** Sau đúng 100 năm xuất bản lần đầu tiên tại Séc (1921), bộ tiểu thuyết đồ sộ Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới được NXB Phụ nữ Việt Nam giới thiệu đầy đủ tại Việt Nam. Trọn bộ câu chuyện về anh Svejk vui tính bao gồm 4 tập, khi dịch sang tiếng Việt được chia thành 2 quyển: Quyển 1 gồm tập I-II; Quyển 2 gồm tập III-IV. Švejk là một kiểu nhân vật hoàn toàn mới trong văn học thế giới. Một kiểu người đần độn trong dân gian Séc lần đầu tiên xuất hiện trong văn học viết và được đưa vào cuộc sống hiện đại ồn ã. Một kiểu người bình thản được nhìn từ một góc độ mới. Chúng ta vui vì gặp một kiểu người hoàn toàn ngược với kiểu người đáng ghét “tính nết có vấn đề”, “không bằng lòng với bất kỳ tình huống nào, cũng chẳng hợp với bất kỳ tình huống nào”, bởi vì Švejk là người hài lòng trong mọi tình huống, và cũng ở thế mạnh hơn trong mọi tình huống. Một người ngu tinh khôn, hay thật sự là một người ngu tài tình, người có cái vẻ hiền lành ngu xuẩn, nhưng đồng thời ranh mãnh như thế phải thắng ở mọi nơi. Kiểu người văn học mới này không thể làm chúng ta quan tâm đến thế, vui vẻ đến thế, nếu nó không phải là một phần của chúng ta, nếu “ngôn ngữ Švejk” ít nhiều không phải là của tất cả chúng ta, tương tự như “ngôn ngữ Don Quixote”, “ngôn ngữ Hamlet”, “ngôn ngữ Faust”, hay “ngôn ngữ Oblomov”. *** Năm 1998, Séc tổ chức cho 23 nhà phê bình xuất sắc nhất bình chọn cuốn tiểu thuyết hay nhất thế kỷ 20 của văn học Séc. Đứng đầu danh sách được đăng trên tạp chí Týden là tác phẩm “Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới” của Jaroslav Hašek. Không ngạc nhiên gì khi tác phẩm văn học Séc được dịch ra hơn 60 thứ tiếng trên thế giới này là lựa chọn của các phê bình gia. Chính một nhà văn Séc nổi danh thế giới khác, Milan Kundera, cũng đã nhận định rằng, “Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới” có thể là cuốn tiểu thuyết dân gian lớn cuối cùng. Đầy phi lý, mang tính đả phá lớn, kiệt tác này là một tượng đài trong văn học phản chiến, và sẽ còn khiến thế hệ tương lai liên tục lật giở trang vì những câu chuyện khôi hài thâm sâu của nó. “Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới” bao gồm 4 tập: Ở hậu phương, Ngoài mặt trận, Trận đòn vẻ vang, Tiếp tục trận đòn vẻ vang, mà tập đầu tiên được xuất bản lần đầu cách đây 99 năm. Tác phẩm kể về một anh chàng tên là Švejk kiếm sống bằng nghề bán chó ở Prague. Anh chàng từng đi lính nhưng được cho giải ngũ vì bị ban quân y kết luận là kẻ ngu độn.   Tác phẩm hài hước bậc nhất này mở đầu bằng một câu mà nay đã trở thành kinh điển của bà giúp việc của Švejk “Thế là họ giết mất Ferdinand của chúng ta rồi.” Nó nhắc đến vụ ám sát Đại Công tước Franz Ferdinand của đế quốc Áo-Hung, nguyên nhân trực tiếp gây ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đáp lại lời thông báo đầy trịnh trọng ấy, Švejk ngây ngô hỏi rằng đó là Ferdinand nào, bởi anh biết hai người cũng có tên như vậy: một thằng hầu, và một thằng chuyên nhặt phân chó.   Ngay từ những dòng đầu tiên, Hašek đã tạo nên một loại tình huống có thể gọi là phá hủy sự trịnh trọng, mà kể từ đó về sau sẽ là thứ xuyên suốt toàn bộ câu chuyện. Người đầu trò thực thi những sự đả phá, không hiểu vô tình hay cố ý, chính là Švejk, nhân vật chính phức tạp gây nên không biết bao nhiêu tranh cãi của giới nghiên cứu. Bụng một bồ những câu chuyện dân gian, Švejk luôn mồm kể đủ loại thứ chuyện ngớ ngẩn tưởng chừng chẳng hề liên quan đến bất kỳ sự việc khẩn cấp nào đang xảy ra. Thêm vào đó, phản ứng thường trực của anh trong mọi cảnh huống là xuôi theo hoàn cảnh. Bị bắt vào sở cảnh sát, bị đẩy vào nhà thương điên, bị đưa vào trại giam, gây ra sự cố trên tàu hỏa, bị nghi làm gián điệp, bị đi lạc, … tất cả những tai họa ập xuống đầu anh, Švejk đều nhẹ nhàng vượt qua vì tinh thần hài lòng tuyệt đối đến ngờ nghệch khó hiểu. Kết quả là, không ai biết chân tướng thực sự của Švejk là gì: thông minh hay đần độn, khôn lỏi hay ngu ngơ. Khi chiến tranh nổ ra, Švejk xung phong nhập ngũ để phụng sự Hoàng đế Áo Hung. Jaroslav Hašek vẽ ra vô vàn nghịch lý trong kiệt tác của mình chính nhờ nhân vật có một không hai Švejk ấy: từ những nghịch lý nhỏ bé tầm thường đến những nghịch lý lớn lao không ai giải thích nổi. Chiến tranh và quyền lực của nó trở thành trò cười dưới ngòi bút đầy giễu nhại của ông. Độc giả không lấy làm ngạc nhiên khi Joseph Heller coi “Vận mệnh người lính tốt Švejk trong đại chiến thế giới” là hình mẫu để dựa trên nó mà viết nên cuốn tiểu thuyết phản chiến vĩ đại “Bẫy-22” của mình. Trong sự tàn bạo của chiến tranh, trong sự đè nén đến nghẹt thở của bộ máy công vụ quan liêu, khi những mạng người bị đem nướng sống vào những cuộc chiến vô nghĩa, rất ít người chất vấn hay thấy mình cần phải thoát khỏi những mệnh lệnh quái quỷ trong chiến tranh, phải thoát khỏi hệ thống áp đặt. Quả đúng như Kundera phân tích, ở tác phẩm “Iliad” của Homer, cả ở “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tolstoi, chiến tranh vẫn có ý nghĩa rõ ràng: “người ta chiến đấu vì nàng Helen xinh đẹp hay vì nước Nga.” Nhưng ở “Vận mệnh người lính tốt Švejk”, “Švejk và các đồng đội của anh ra trận mà chẳng biết vì sao và, còn tệ hơn, chẳng quan tâm gì đến chiến tranh.” Hašek là một nhà văn đặc biệt trong nền văn học Séc: nghiện ngập, vô chính phủ, đào ngũ, tinh thần phóng túng tột bậc. Là một nhà báo chuyên lăn lộn đường phố, ông rành rõi thứ ngôn ngữ bình dân và những câu chuyện lưu truyền trong dân gian. Hašek đã đưa được thứ ngôn ngữ trào phúng đầy tự nhiên ấy vào tác phẩm của mình, tạo nên một giọng văn dí dỏm đặc biệt. Đả kích chiến tranh và những sự phi lý của nó bằng những câu chuyện như sinh ra từ trí tuệ dân gian, không ngạc nhiên khi “Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới” là danh tác không chỉ được độc giả Séc mà cả thế giới tung hô. Tập 2 của kiệt tác văn học Séc này từng được dịch sang tiếng Việt qua bản dịch tiếng Pháp và được NXB Văn Học xuất bản vào năm 1992 với tên “Những cuộc phiêu lưu mới của Xvêch, anh lính chân thực.” Ở lần xuất bản năm 2020 này, “Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới” sẽ được dịch đầy đủ từ nguyên bản tiếng Séc. Bản dịch được NXB Phụ Nữ Việt Nam chia thành 2 quyển với toàn bộ tranh minh họa màu của họa sĩ Josef Lada, bạn thân của Hašek: Quyển 1 gồm tập 1 và 2, xuất bản vào tháng 10/2020; Quyển 2 gồm tập 3 và 4, xuất bản vào giữa năm 2021. *** lời người dịch Văn học hiện đại Séc nửa đầu thế kỷ XX có nhiều nhà văn nổi tiếng, nhưng nổi trội là bộ ba vĩ đại: Jaroslav Hašek (1883–1923), Franz Kafka (1883–1924) và Karel Čapek (1890–1938). Franz Kafka sáng tác bằng tiếng Đức, Jaroslav Hašek và Karel Čapek sáng tác bằng tiếng Séc. Franz Kafka và Karel Čapek là hai tác giả đã rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Còn bộ tiểu thuyết Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới của Jaroslav Hašek là tác phẩm văn học Séc được chuyển ngữ nhiều nhất, tính đến năm 2013 đã được dịch sang 58 ngoại ngữ. Ngay từ khi tác phẩm ra đời và cho đến hiện nay, không chỉ ở Séc, mà cả ở nước ngoài, nó cũng còn được chuyển thể sang kịch bản sân khấu, điện ảnh, truyền hình và truyền thanh. Giai đoạn văn học Séc đầu thế kỷ XX có bối cảnh lịch sử cũng như văn hóa sâu xa và phức tạp với đỉnh điểm là Đại chiến Thế giới I và sự sụp đổ của Đế quốc Áo–Hung. Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đặc biệt đầu thế kỷ XX, Đế quốc Áo–Hung đa dân tộc có tình hình chính trị không ổn định, nhà nước đã phải đối mặt với nhiều vấn đề chính trị và xã hội, đặc biệt là vấn đề chính sách dân tộc mà chủ yếu là chính sách ngôn ngữ. Là thành viên quan trọng của Đế quốc Áo–Hung, Vương quốc Bohemia của người Séc luôn cố gắng yêu cầu được quyền tự trị về chính trị và văn hóa dân tộc, nhưng không bao giờ được đáp ứng. Mặc dù vậy, phần lớn những nhà lãnh đạo của Vương quốc Bohemia vẫn muốn gìn giữ nhà nước Áo–Hung với yêu cầu phải có thay đổi lớn trong chính sách dân tộc. Sau vụ Thái tử của Đế quốc Áo–Hung, Đại Công tước Franz Ferdinand d’Este, cùng phu nhân bị một người Serbia ám sát ở Sarajevo vào ngày 28/6/1914, Đế quốc Áo–Hung tuyên chiến với Serbia. Chiến tranh bùng nổ không chỉ trong phạm vi châu Âu, mà còn lan rộng ra thế giới. Nhà nước Áo–Hung ra lệnh tổng động viên trên toàn bộ lãnh thổ. Người Séc thể hiện rõ thái độ chống chiến tranh, không muốn chiến đấu chống các dân tộc người Slav, nhiều lính Séc tình nguyện để bị bắt làm tù binh. Rất nhiều tù binh người Séc ở chiến trường Nga sau này tham gia lực lượng đội quân lê dương tình nguyện Séc. Cuộc chiến tranh đẫm máu không kết thúc trong thời gian vài tháng như nhiều người đã tưởng, mà kéo dài đến tận tháng 11 năm 1918, gây tổn thất bao nhiêu sinh mạng, gây kiệt quệ cho Áo–Hung về nhiều mặt, mang lại kết cục thảm hại cho nhà nước quân chủ của triều đại Habsburg-Lothringen. Đế quốc Áo–Hung sụp đổ, dẫn đến sự ra đời của Cộng hòa Tiệp Khắc (Séc & Slovakia), Cộng hòa Áo, Cộng hòa Hungary và một số nhà nước khác ở châu Âu. Nhà báo, nhà văn Jaroslav Hašek đã sống và sáng tác trong giai đoạn lịch sử đầy biến động đó. Bậc thầy trào phúng Jaroslav Hašek, một tên tuổi rất đặc biệt trong lịch sử văn học hiện đại Séc, sinh ngày 30/4/1883 tại Praha, trong một gia đình nghèo theo Kitô giáo. Cha của ông là một thầy giáo dạy Toán và Vật lý ở một trường tiểu học Praha, mẹ làm nội trợ. Cả cha và mẹ ông đều là người quê ở vùng Nam Séc. Thủ phủ vùng Nam Séc, thành phố České Budějovice, và vùng lân cận là những địa danh được nhắc đến rất nhiều ở tác phẩm Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới của ông. Bản thân Hašek khi nhập ngũ năm 1915 cũng được đưa tới doanh trại ở České Budějovice. Vùng Nam Séc là nơi gắn liền với tuổi thơ của Hašek, khi cậu cùng em trai thường được cha mẹ gửi về quê sống với ông bà ngoại, đặc biệt sau khi cậu bé Jaroslav mới bốn tuổi đã có biểu hiệu của bệnh yếu tim và tuyến giáp. Ngay từ nhỏ, Hašek cùng em trai được cha mẹ dạy dỗ rất nghiêm khắc, nhưng ông lại là người có bản tính thích tự do không chịu theo khuôn khổ, thích lang thang, thích bia rượu cùng bè bạn, có một thời gian còn theo chủ nghĩa vô chính phủ, và suốt đời sống theo phong cách Bohemian. Hašek cũng rất thích ngao du, ông đã có nhiều chuyến đi chơi dài ngày, nhiều khi đi bộ, đến hầu hết những vùng thuộc phạm vi Đế quốc Áo–Hung và một số nơi khác của châu Âu. Những chuyến đi ấy đã mang lại cho ông nhiều trải nghiệm và cảm hứng trong sáng tác. Năm 1894, Hafek vào học trung học phổ thông, nhưng sau khi cha mất năm 1896, Hašek chểnh mảng hơn và đến năm cuối cùng thì bỏ không học nữa. Một thời gian sau đó ông giúp việc ở cửa hàng vệ sinh và mỹ phẩm, rồi theo nguyện vọng của mẹ, ông nhập học trường trung cấp thương mại Praha. Sau khi tốt nghiệp, Hašek vào làm việc ở Ngân hàng Bảo hiểm Slavia Praha. Nhưng chán cuộc sống nhàm tẻ của một viên chức, chỉ chưa đầy một năm, ông bỏ nghề và chuyển hẳn sang viết báo viết văn. Năm 1910, vượt qua nhiều trở ngại và nhất là khi đã là biên tập viên của tạp chí Thế giới động vật, Hašek được phép kết hôn với Jarmila, tình yêu lớn của ông, con gái của một gia đình tiểu tư sản rất nền nếp ở Praha, người mà sau này cũng trở thành một nữ văn sĩ. Nhưng với phong cách sống của mình, Hašek không thể làm trụ cột gia đình, không thể làm người chồng tốt, người cha tốt được. Vì vậy, sau khi con trai họ ra đời vào năm 1912, Jarmila đem con về nhà cha mẹ đẻ, và từ đó gia đình họ không bao giờ đoàn tụ nữa, cho dù sau này họ coi nhau như những người bạn, thậm chí khi viết Vận mệnh người lính tốt Švejk,Hašek còn đọc cho Jarmila nghe những chương đầu. Sau khi Hašek qua đời, Jarmila đã viết: “Chương này nối chương kia, tôi bắt đầu ngưỡng mộ nghệ thuật của anh, người mà trước đây tôi từng yêu vì ánh nhìn tuyệt đẹp của anh đối với cuộc sống.” Mốc quan trọng nữa trong cuộc đời Hašek là năm 1915, khi ông gia nhập quân đội Áo–Hung và bị đưa sang chiến trường Nga. Ông bị bắt làm tù binh, và cũng tại Nga, ông tham gia đội quân tình nguyện Séc & Slovakia (còn gọi là quân lê dương Séc & Slovakia) chống Đế quốc Áo–Hung. Sau đó, do bất đồng chính kiến, ông rời hàng ngũ quân lê dương Séc và chuyển sang cộng tác với Hồng quân Nga. Trong thời gian ở Nga, nhờ biết nhiều ngoại ngữ, ông đã làm việc như một biên tập viên, đặc biệt cho tờ Čechoslovan của người Séc & Slovakia tại Nga, phụ trách nhà in, làm trợ lí cho chỉ huy thành phố Bugulma. Công việc trong Hồng quân cũng đã đưa ông tới tận Siberia, tới thành phố Irkusk. Cuối năm 1920, Hašek trở về Praha, mang theo người vợ Nga tên là Šura. Mùa thu năm 1921, Hašek cùng Šura chuyển về thành phố nhỏ mang tên Lipnice nad Sázavou (cách Praha 103 km về phía đông nam), một nơi yên tĩnh để Hašek có thể tập trung làm việc. Tại đây, ông tiếp tục viết Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới. Nhưng cũng tại đây, sức khỏe của ông xấu đi trầm trọng do hậu quả của những năm tháng lang thang trước đó, của những cuộc say mèm, của khoảng thời gian khắc nghiệt ở Nga, của bệnh tim từ nhỏ và cả bệnh thương hàn mắc phải ở Siberia. Cuối năm 1921, khi bị bỏng tay không viết được, ông đã thuê một thanh niên ở Lipnice làm thư ký, và đọc cho anh viết tiếp. Hằng ngày, cứ viết được bao nhiêu là họ gửi đến nhà xuất bản bấy nhiêu, chỉ giữ lại trang cuối để hôm sau biết tiếp tục từ chỗ nào. Nhưng do bệnh nặng, ngày 3/1/1923, ở tuổi chưa đầy bốn mươi, Jaroslav Hašek qua đời, để lại cuốn tiểu thuyết còn đang dang dở. Từ ý định ban đầu viết về Vận mệnh người lính tốt Švejk cho đến sau chiến tranh, ông dừng lại trước khi kết thúc tập IV⦾. Trong những trang cuối cùng ông đọc cho người thư ký có câu viết về cuộc gặp mặt của Švejk với người lính tình nguyện một năm là: “Anh vẫn chẳng thay đổi gì cả,” người lính tình nguyện một năm Marek nói. “Ừ, không thay đổi,” Švejk trả lời, “tôi đã không có thời gian để thay đổi.” Và cha đẻ của Švejk thì đã không còn thời gian để hoàn thành tác phẩm nổi tiếng của mình.   Chưa đầy bốn mươi năm tuổi đời, nhưng Jaroslav Hašek đã có tới hai chục năm sáng tác. Trong suốt thời gian đó, ông đã viết tới 1.200 truyện ngắn, rất nhiều tiểu phẩm, bút ký và bài báo, đăng rải rác ở nhiều báo và tạp chí. Ông từng làm biên tập viên cho nhiều báo và tạp chí như tạp chí của tổ chức thanh niên tiến bộ Omladina, tạp chí của phong trào vô chính phủ Komuna, Đời sống động vật (Svět zvířat), hay Chân trời nữ giới (Ženský obzor), Tiếng Séc (České slovo) và thường xuyên viết bài cho các tờ như Báo dân tộc (Národní listy), Quyền lợi nhân dân (Právo lidu), Quyền lợi đỏ (Rudé právo), Hài hước (Humoristické listy), Châm biếm (Karikatury), Praha vui vẻ (Veselá Praha), v.v. Phần lớn các sáng tác của Hašek được tuyển chọn và xuất bản sau khi ông qua đời, chỉ một số được xuất bản thành tập lúc sinh thời. Thí dụ cuốn sách xuất bản đầu tiên và là tập thơ duy nhất đăng cùng Domažlický Tiếng kêu tháng Năm (Májové výkřiky, 1903), các tuyển tập Galerie châm biếm về các nhà chính trị và các vấn đề chính trị (Galerie karikatur, 1909, 1910), Những nỗi phiền muộn của ông Tenkrát (Trampoty pana Tenkráta, 1912), Cửa hàng chó của tôi và các truyện hài hước khác (Můj obchod se psy a jiné humoresky, 1915), Ba người đàn ông với con cá mập và các truyện bổ ích khác (Tři muži se žralokem a jiné poučné historky, 1921), v.v… Đặc biệt, ông còn cho xuất bản Người lính tốt Švejk và các truyện kỳ lạ khác (Dobrý voják Švejk a jiné podivné historky, 1912), Nguời lính tốt Švejk bị bắt làm tù binh (Dobrý voják Švejk v zajetí, 1917, xuất bản ở Kiev), Người lính tốt Švejk trước chiến tranh và các truyện kỳ lạ khác (Dobrý voják Švejk a jiné podivné historky, 1922), và tất nhiên, trọn vẹn ba tập đầu của tiểu thuyết Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới (Osudy dobrého vojáka Švejka za světové války, 1921–1922). Từ Nga trở về Praha, Hašek đã bị nhiều người, kể cả bạn bè cũ, nói xấu và lẩn tránh. Người ta cho ông là kẻ phản bội đội quân lính lê dương Séc, vì ông đã tham gia Hồng quân Nga, đã là Bolshevik. Sau thời gian dài sống có kỷ luật và không rượu chè ở Nga, Hašek quay trở lại thói quen đi quán như trước. Nhưng cũng chính trong những ngày đó, ông nuôi ý tưởng viết về Người lính tốt Švejk. Cái ông viết sẽ không phải là truyện ngắn như những truyện về Người lính tốt Švejk ông đã viết vào năm 1911, 1912 hay 1917, mà là tiểu thuyết, bắt đầu từ vụ ám sát Đại Công tước Franz Ferdinand d’Este cho tới sau chiến tranh. Cuốn tiểu thuyết đó sẽ là tiểu thuyết châm biếm phóng đại với nhân vật chính mang tên Švejk mà ông đã nghĩ ra từ năm 1911. Đồng thời, ông đặt tên cho nó là Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới và nội chiến ở nước ta và Nga (Osudy dobrého vojáka Švejka za světové i občanské války u nás i v Rusku). cái tên dài như vậy dẫn đến nhiều tên gọi khác nhau của bộ tiểu thuyết, ví dụ Vận mệnh người lính tốt Švejk, hay Người lính tốt Švejk, người Séc chỉ gọi ngắn gọn là Švejk. cuốn sách bạn có trong tay mang tên đầy đủ của bốn tập do Hašek viết. Cuối tháng 2 năm 1921, ý tưởng xây dựng bộ tiểu thuyết đó đã trở thành kế hoạch cụ thể. Hašek quyết định cùng với người bạn Franta Sauer tự xuất bản, bắt đầu in thành từng cuốn sách mỏng rẻ tiền, và cũng tự bán. Hašek là người đọc rất nhiều, cũng nổi tiếng là người có trí nhớ tuyệt vời và có hiểu biết sâu rộng, giống như cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư sống. Ông thuộc lòng tất cả mọi thứ công văn tài liệu để dẫn dắt. Khi viết, ngoài bản đồ ra hầu như ông không cần có ghi chép hay chú thích thêm nào cả, đặc biệt lúc này, ông có thêm rất nhiều hiểu biết và kinh nghiệm về môi trường quân đội, về cuộc chiến tranh tàn khốc vô nghĩa lý mới kết thúc. Hašek đã viết rất nhanh, giống như ông đã viết rất nhanh những truyện ngắn và tiểu phẩm của mình từ trước đó. Ông lại đến ngồi viết quán ăn, và đọc cho khách nghe những gì đã viết. Những con người thuộc đáy xã hội ở các quán ăn bình dân rẻ tiền đó trở thành những “nhà phê bình” sách đầu tiên của ông. Nhìn họ ôm bụng cười, ông biết mình đã thành công. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về tài chính, cuối cùng thì trong năm 1921 tập 1 Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới đã ra đời, do chính Hašek tự trang trải các chi phí và xuất bản tại Nhà xuất bản Franta Sauer & Václav Čermak, Praha. Tại Lipnice, Hašek tiếp tục viết tập II với tốc độ nhanh chóng mặt và giữa tháng 1 năm 1922 ông đã bắt đầu viết tập III. Cả hai tập này được xuất bản ngay năm 1922, nhưng tại Nhà xuất bản Adolf Synek ở Praha. Sau khi Hašek qua đời, tập IV của Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới được xuất bản ngay trong năm 1923. Từ đó đến nay, bộ tiểu thuyết đồ sộ này được in lại rất nhiều lần với số lượng bản in trung bình 40.000 cuốn/lần, đặc biệt các năm 1975, 1976, 1980 và 1990 in 100.000 cuốn/lần và đỉnh cao là năm 1951, sách được in tới 150.750 cuốn. Cuốn tiểu thuyết có một không hai trong lịch sử văn học Séc này cũng có một số phận rất đặc biệt. Ngay sau khi nó ra đời, và cả một thời gian dài sau đó, trong khi những người dân thường đọc nó một cách say mê và khoái chí thì, trừ một số nhà văn nhà báo nhận thấy ngay đây là một tác phẩm đáng đọc, làng văn Séc hầu như không chấp nhận nó, không coi nó là một tác phẩm văn học, không coi tác giả của nó là nhà văn. Thậm chí còn có ý kiến cho rằng Švejk là kẻ trốn tránh nghĩa vụ, rằng cuốn sách này gây tác hại đến đạo đức người lính, có người còn nguyền rủa phỉ báng Hašek và cách sống của ông. Nhưng dần dần, những lời khen nhiều hơn, và sau đây là một số trích dẫn thay cho lời phân tích tác phẩm: Max Brod (1884–1968), nhà ngôn ngữ học, dịch giả, nhà báo, nhà văn viết bằng tiếng Đức, đã viết vào năm 1923: Nhà văn dân gian người Séc đã đạt được điều mà hàng trăm nhà văn khác cố gắng suốt đời nhưng không thành: đó là việc sáng tạo, xây dựng được một nhân vật, một con người độc đáo, đồng thời là một kiểu người. Tác phẩm của Hašek – mặc dù có thể là chính bản thân tác giả không biết điều này – là tác phẩm hàng đầu. Nhà văn không thể mong muốn gì hơn được nữa: đó là nhân vật xuất hiện từ cõi sâu thẳm nhất của tâm hồn con người, và lập tức được mọi người công nhận và tiếp nhận vào tâm thức của mình. Và chúng ta có thể đặt giả thiết hầu như chắc chắn rằng, một nhân vật như thế phản ánh được cái gì đó sâu kín nhất, không chỉ về dân tộc nó xuất thân, mà còn về sự liên quan đến cơ sở tồn tại bí ẩn nhất của loài người. Nhân vật ấy cũng giống như Hiệp sĩ gàn dở Don Quixote de la Mancha, mặc dù lúc đầu châm biếm người Tây Ban Nha, nhưng cuối cùng đã trở thành biểu tượng được yêu mến nâng niu bởi tất cả mọi sự gàn dở điên điên, về mặt tốt, cũng như mặt xấu của mình. Bằng lời ngợi ca này, tôi nói về những cuốn sách đã đưa tên tuổi của Người lính tốt Švejk ở Praha trở thành nổi tiếng. Nhà phê bình văn học, sân khấu và mỹ thuật, đồng thời là đạo diễn điện ảnh và dịch giả Séc Josef Kodíček (1892–1954) viết vào năm 1927: Có những nhà phê bình có học thức và cao thượng thấy kinh hãi nhân vật Švejk. Có những nhà văn tuyên bố rằng Švejk là cuốn sách mà họ không mang theo cả khi phải ra hòn đảo hoang vắng. Vì sao? Chỉ vì trong đó có nói tục ư? Ngược lại, nhà thơ và nhà văn Durych nói rằng Švejk phải được đúc thành tượng. Về phía mình, chúng tôi không sợ trở thành nhà tiên tri khi khẳng định Švejk sẽ được đọc cả vào khi mà phần lớn các sáng tác cùng thời với nó bị lãng quên. Nhà báo, nhà văn trào phúng Séc Karel Poláček (1892–1945) đã viết vào năm 1930: Švejk là một tác phẩm thú vị và tôi nghĩ là lịch sử văn học phải nghiên cứu. Chỉ ngay về mặt hình thức thôi nó cũng thú vị rồi. Nó là tiểu thuyết ư? Là sử ký hài hước ư? Có thể nó là tiểu thuyết hài hước được gộp lại từ các chương, tức là nó có đặc trưng của các cuốn tiểu thuyết hài hước nổi tiếng nhất trên thế giới, như nhà văn Karel Čapek đã khẳng định. […] Švejk là văn học, thậm chí là văn học rất truyền thống. Người lính tốt Švejk có gia phả của mình. Anh có quan hệ họ hàng rất gần gũi với Sam Weller. Anh và Sam Weller có chung sở thích đánh giá bình luận các sự kiện, đối với ông chủ của mình thì có một tình yêu lớn, nhưng mang chút rộng lượng và có phần coi thường. Và cả Sam Weller lẫn Švejk đều dùng cách so sánh rất thơ mộng trong các hồi ức và những câu chuyện của đời mình, và họ kể về chúng một cách ung dung thoải mái. […] cách đây không lâu đã có một cuộc tranh luận gay gắt về Người lính tốt Švejk. Ông Viktor Dyk lo lắng về số phận và khả năng chiến đấu của quân đội Tiệp Khắc và lên tiếng cảnh báo về những Švejk và ảnh hưởng không tốt của họ đến kỷ luật quân đội. Xin ông Nghị sĩ và nhà thơ Dyk yên tâm. Giá mà ông đã đi lính và có hiểu biết rõ hơn về người lính Séc thì ông đã thấy là Švejk chưa bao giờ và không bao giờ có thể là kiểu người lính Séc. Tôi đã đi lính bốn năm và chưa bao giờ tôi gặp một Švejk nào. […] Švejk là một người ở Praha không có thu nhập ổn định, nhiều khi không có chỗ ở và không nghề nghiệp, cảnh sát có thể viết về anh ta như thế. Švejk là sản phẩm của trí tưởng tượng phóng túng và say mèm của tác giả. Tôi có thể kể đến kiểu người thực sự hoàn hảo như anh lính công binh Vodička – người hết sức căm ghét dân Hungary, kiểu người háu ăn không bao giờ no là Baloun, kiểu người như trung úy Lukáš – người thầm thì bí mật: “Chúng ta hãy là người Séc, nhưng không người nào phải biết đến điều đó.” Tôi cũng là người Séc: Những nhân vật một trăm phần trăm như thế, những nhân vật sẽ sống muôn đời và sẽ đúng muôn đời như thế, có rất nhiều trong tác phẩm này. Một ông chủ quán Palivec thận trọng, không cho ai tán chuyện về chính trị trong quán của mình bởi vì ông là người buôn bán. Một tay mật thám Bretschneider luôn khiêu khích với hy vọng bắt được ai đó vào nhà tù. Đó là những người chúng ta thường gặp và tất cả chúng ta đều biết họ. Nhà văn, nhà báo và dịch giả Ivan Olbracht (1882–1952) đã viết những dòng này năm 1921: Nếu muốn cười thật sự, bạn hãy đọc Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới của Jaroslav Hašek. Gotthold Ephraim Lessing nói về Friedrich Gottlieb Klopstock rằng mọi người đều khen ông, nhưng ít người đọc ông. Trong trường hợp Jaroslav Hašek thì ngược lại. Hàng chục nghìn người đọc Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới (10.000 cuốn phát hành lần đầu đã bán hết), hàng chục nghìn người nghiêng ngả cười trên các trang sách. Thế mà không một nhà phê bình văn học nào dám khen nó. Bạn hãy hỏi một độc giả bình thường nhận xét của người ấy về cuốn sách, và độc giả ấy mới chỉ nghe đến tên Švejk là đã bật cười. Suy cho cùng thì đó là câu trả lời tốt nhất. Nhưng nếu bạn hỏi một người có “trình độ về văn học” thì người ấy cười độ lượng rồi ngập ngừng trả lời nước đôi: “Ờ…” Người ấy không dám làm kẻ vô ơn mà nói gì xấu về cuốn sách, bởi nó đem lại cho người ấy nhiều lúc vui vẻ. Nhưng khi nghĩ đến phong cách hoàn toàn “phi văn học”, đến ngôn ngữ nhà binh, đến ngôn ngữ ngoài đường phố và các quán ăn rẻ tiền thì người ấy lại sợ mất thể diện khi nói “đấy là cuốn sách tuyệt vời”. Švejk là một kiểu nhân vật hoàn toàn mới trong văn học thế giới. Một kiểu người đần độn trong dân gian Séc lần đầu tiên xuất hiện trong văn học viết và được đưa vào cuộc sống hiện đại ồn ã. Một kiểu người bình thản được nhìn từ một góc độ mới. Chúng ta vui vì gặp một kiểu người hoàn toàn ngược với kiểu người đáng ghét “tính nết có vấn đề”, “không bằng lòng với bất kỳ tình huống nào, cũng chẳng hợp với bất kỳ tình huống nào”, bởi vì Švejk là người hài lòng trong mọi tình huống, và cũng ở thế mạnh hơn trong mọi tình huống. Một người ngu tinh khôn, hay thật sự là một người ngu tài tình, người có cái vẻ hiền lành ngu xuẩn, nhưng đồng thời ranh mãnh như thế phải thắng ở mọi nơi. Kiểu người văn học mới này không thể làm chúng ta quan tâm đến thế, vui vẻ đến thế, nếu nó không phải là một phần của chúng ta, nếu “ngôn ngữ Švejk” ít nhiều không phải là của tất cả chúng ta, tương tự như “ngôn ngữ Don Quixote”, “ngôn ngữ Hamlet”, “ngôn ngữ Faust”, hay “ngôn ngữ Oblomov”. Hašek giải nghĩa cho chúng ta về Thế chiến từ góc nhìn mới. Ông là người trực tiếp tham gia cuộc chiến, đã đi đến một nửa châu Âu và đến cả châu Á. Vận mệnh người lính tốt Švejk của ông là cuốn tiểu thuyết về chiến tranh. Tôi đã đọc một số tiểu thuyết chiến tranh và chính bản thân tôi cũng viết một quyển. Nhưng không có một quyển nào toát ra được toàn bộ sự tàn ác bất lương, cái ngu xuẩn và man rợ của Đại chiến Thế giới một cách rõ ràng như ở cuốn sách của Hašek. Ông không đòi hỏi phải vượt qua chiến tranh để chiến thắng. Ông đứng bên trên nó ngay từ lúc mở đầu. Ông cười chế nhạo nó. Ông đã cười chế nhạo nó trên toàn bộ cũng như từng chi tiết, như thể nó không hơn gì cuộc ẩu đả say rượu trong quán ăn ở Žižkov. Để có thể có được cái nhìn như thế tất nhiên cần phải có một Švejk mạnh mẽ, cùng với sự ngu xuẩn tài tình. Quang vinh thuộc về người đã làm được điều đó. Và kết quả là: Vận mệnh người lính tốt Švejk là một trong những cuốn sách hay nhất được viết ở Séc. Khi ở Omsk, Hašek là một con người mẫu mực, nhưng chẳng viết được dòng nào. Ở Praha ông là người lang thang quán này sang quán nọ, nhưng đã viết được một trong những cuốn sách hay nhất của văn học Séc. Siberia có thể tìm được người chỉ huy quân sự tốt khác, nhưng không một người nào khác có thể viết được Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới”.   Đây là lần đầu tiên cuốn tiểu thuyết đồ sộ Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới đến trọn bộ với bạn đọc Việt Nam. Chúng tôi tin rằng Švejk sẽ trở thành người bạn văn học đáng yêu của độc giả Việt Nam. Và tương tự như Jan Neruda, Franz Kafka, Karel Čapek, Bohumil Hrabal, Milan Kundera… cả Jaroslav Hašek cũng sẽ trở thành tác giả quen thuộc ở Việt Nam. Bắt tay vào chuyển ngữ bộ tiểu thuyết, người dịch ý thức được nhiều vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa. Trong tác phẩm này, ngôn ngữ mà Jaroslav Hašek sử dụng là tiếng Séc bình dân từ ngoài đường phố, từ các quán ăn rẻ tiền, nhưng dưới ngòi bút sắc sảo của ông, nó là thứ tiếng Séc rất dí dỏm, khôi hài, đậm sắc dân tộc. Tác phẩm cũng phản ánh phần nào cả vấn đề ngôn ngữ dân tộc trong giai đoạn lịch sử đó ở Séc, khi mà tiếng Đức chiếm vị trí độc tôn, đặc biệt ở đây là sự có mặt của vốn từ tiếng Đức trong ngôn ngữ nhà binh⦾. Lời kể trong truyện là lời kể tự nhiên không gượng ép, không cố gây cười và cái hài hước chỉ là công cụ để châm biếm, đả kích những điều xấu xa trong xã hội và đặc biệt chống lại cuộc Đại chiến tàn khốc. Cái dí dỏm, khôi hài và châm biếm rất Séc của tác phẩm đồng thời cũng là điểm chung có thể chuyển tải sang tiếng Việt, bởi trào phúng là một phần đáng kể trong văn hóa Việt. Và hơn cả, bên cạnh những câu chuyện vui hài hước làm nền là nhiều trang viết về chiến tranh, về những điều sâu sắc khiến độc giả trầm ngâm suy nghĩ. Nói cho cùng, nếu không có cái thông điệp chung như thế thì Vận mệnh người lính tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới không thể được dịch ra bằng ấy ngoại ngữ trên thế giới.   Chúng tôi lại xin mượn lời của nhà báo, nhà văn và dịch giả Séc Ivan Olbracht: Các bạn hãy đọc đi, đây là một cuốn sách tuyệt vời. bình slavicka   Mời các bạn đón đọc Vận Mệnh Người Lính Tốt Švejk trong Đại chiến Thế giới Tập I-II của tác giả Jaroslav Hašek & Bình Slavická (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Mắt Bão - Phan Hồn Nhiên
'Mắt bão' là tập truyện dài mới nhất của nhà văn Phan Hồn Nhiên. Tập sách nói về những thăng trầm trên con đường sự nghiệp và cuộc sống của 5 người trẻ tuổi.  > www.vinabook.com tặng độc giả 10 cuốn sách. Trong vòng xoáy ấy, cuốn theo cùng những cặn bã, rác rưởi của xã hội là những tâm hồn đẹp, những người tốt và cả những tâm hồn yếu đuối mong manh... Đó là một Thái Vinh đáng thương hơn đáng giận, cô gái con nhà giàu, đã chọn cho mình cách sống buông thả. Sinh trưởng trong một gia đình mà món tiền 100 triệu đồng chi ra nhẹ bỗng như không, vì cũng chỉ bằng tiền thay vài cái kính chiếu hậu xe hơi, cô gái non nớt này sớm sành sỏi hàng hiệu, chốn ăn chơi nhưng lại mang tâm hồn lạnh vì thiếu tình thương, thiếu hơi ấm của gia đình. Đó là một chàng Vĩnh, bề ngoài có vẻ đĩnh đạc, hạnh phúc nhưng bên trong là sự ruỗng mục và hoang hoải dần của tuổi trẻ mất phương hướng trong đời. Đó cũng có thể là Hữu, xuất thân nghèo khó và đi lên bằng cách đạp đổ đối thủ bằng mọi thủ đoạn, miễn sao thu phần lợi về mình. Cuốn sách dồn nén rất nhiều vấn đề xã hội, về những góc khuất, mặt trái của cuộc sống sôi động ở thành phố lớn: Từ chuyện chụp ảnh nude, đến quan hệ đồng tính, rồi những đấu đá tranh chấp, giành giật chỗ đứng, vị trí trong xã hội. Sách cũng đề cập đến giá trị của chữ hạnh phúc và ý nghĩa của tuổi trẻ, hai thứ mà dù tiền có nhiều đến đâu cũng khó có thể đạt được.   Cảnh mở đầu và kết thúc truyện Mắt bão đều là ở phi trường, nơi đón nhận những cuộc trở về và chuyến ra đi, nơi những chiếc máy bay cất cánh đến mọi miền đất trên thế giới, nơi những người trẻ Việt Nam đầy hoài bão luôn mang khát vọng được vươn ra, bay xa, chiếm lĩnh tri thức và cuộc sống theo cách của họ. Dù toàn truyện Mắt bão nhuốm màu xám và nặng nề tựa như "cơn bão" cuộc đời đang dồn tụ trên đầu những người trẻ, vẫn còn le lói một đốm sáng là nhân vật Hải, chàng sinh viên tự tin, kiên định, luôn đi lên bằng chính năng lực và trái tim của mình. "Gần hai năm trôi qua kể từ cuộc gặp gỡ lạ lùng. Thời gian tựa cơn lốc xoáy, cuốn theo bao người vào tâm những trận bão khắc nghiệt. Để khi sống sót, nhoài lên từ những đợt sóng lớn, tất cả đều phải thay đổi...", dòng suy nghĩ của Hải ở cuối truyện cũng chính là nỗi day dứt mà bất cứ người trẻ nào khi muốn trụ vững giữa cuộc sống sôi động, đều từng một lần trăn trở. Phan Hồn Nhiên chưa gọi cuốn sách của mình là "tiểu thuyết" mà chỉ dừng ở mức "truyện dài". Chút e dè này vô tình khiến chị chưa đưa ra được những hướng giải quyết hợp lý cho quá nhiều nút thắt mà chị đã tung ra trên trang viết. Vì thế, còn đôi chỗ trong sách có thể làm độc giả không thỏa mãn. Nhưng dù sao, đây là một trong số ít tác phẩm đã mang đến cho văn học trong nước cái nhìn gần gũi về một lớp người trẻ của xã hội Việt Nam đương đại. *** Một cách chậm rãi, Hải bắt đầu chấp nhận ý tưởng anh có thể là một ứng viên tranh cử chức chủ tịch Hội. Với uy tín và khả năng thuyết phục đặc biệt, Vĩnh khiến cho văn phòng khoa lẫn bên Đoàn trường đồng ý với sự thay đổi. Tất cả đều thừa nhận Hải là một lựa chọn mới hoàn toàn hợp lý, một cú hích ẩn giấu bất ngờ. Mối quan hệ lỏng lẻo lâu nay giữa hai người bạn, với mục đích chung mới này, đã được gia cố, gắn kết trở lại. Những khoảng thời gian trống sau các buổi học, họ tranh thủ cùng nhau đi đến một số công ty lớn, trực tiếp trao đổi với phòng nhân sự về nguồn việc làm cho sinh viên. Thật sự, mọi việc dễ dàng hơn Hải và Vĩnh hình dung. Hầu hết các doanh nghiệp đều có nhu cầu kiếm tìm nguồn sinh viên cho các vị trí thử việc, đào tạo để sử dụng được ngay sau khi những sinh viên này có bằng tốt nghiệp, trở thành nhân viên chính thức hoạt động hiệu quả. Nhu cầu lớn đến mức chỉ sau ba ngày đi gặp gỡ và đặt vấn đề, họ đã kiếm được bảy đơn đặt hàng tuyển dụng cho gần năm mươi vị trí hấp dẫn. Tại một công ty nước giải khát, nơi có nhu cầu tuyển dụng mười sinh viên tập sự, chuẩn bị cho các vị trí tại một số chi nhánh của họ ở tỉnh sau này, trước câu hỏi của Vĩnh vì sao không trực tiếp xuống trường đặt mối liên hệ hoặc thông qua các văn phòng môi giới việc làm vốn không thiếu trong thành phố, trưởng phòng nhân sự nhún vai, thẳng thắn: "Chúng tôi đã thử, nhưng không hiệu quả. Những dịch vụ làm việc trước đó với tôi đều không hết lòng. Nối kết nhân lực là một việc làm khá tế nhị. Không phải chỉ đếm đủ số người, nộp đủ các bộ hồ sơ là xong. Điều mà giới nhân sự như chúng tôi cần ở nhà môi giới như các bạn là sự tư vấn, tìm kiếm chính xác ứng viên cho khách hàng, làm dịch vụ nhân lực đúng nghĩa. Người ta nói quá nhiều về việc cung và cầu nguồn nhân lực sinh viên không gặp nhau. Nhưng để tháo gỡ nó như thế nào, thì tôi chưa thấy ai thật sự có giải pháp tốt!". Hải gật đầu: "Về việc này, ông có thể tin vào chúng tôi. Đúng năm ngày nữa, ông sẽ có trên bàn các bộ hồ sơ tốt nhất của chúng tôi!". Trên đường về, cả hai im lặng, đuổi theo những suy nghĩ miên man. Dù có tài phán đoán đến đâu, thì thực tế vẫn luôn biết cách khiến người ta phải ngỡ ngàng. Vĩnh chợt hỏi: - Cậu nghĩ gì về những điều ông trưởng phòng nhân sự mới nói hồi nãy? Thoáng chút đắn đo, Hải trả lời bằng câu hỏi: - Có phải ý cậu là Hội của khoa và trường có tiềm năng làm được rất nhiều cho sinh viên. Nhưng tiềm năng đó chưa được khai thác hết? - Đúng vậy! Tớ nghĩ, sinh viên trường mình, nhất là sinh viên năm cuối, nỗi lo lớn nhất chính là tìm việc sau khi tốt nghiệp. Than thở vậy thôi, nhưng trước sau gì, ai cũng kiếm được một công việc nào đó. Triển vọng có, bèo nhèo cũng có. Đủ hết! - Vĩnh phân tích - Không hiếm sinh viên tụi mình ra trường có khả năng, nhưng thiếu cầu nối, phải nhận làm đủ loại việc dưới năng lực. Vấn đề ta suy nghĩ ở đây không phải là thất nghiệp hay có việc làm. Ta nên thử hỏi, hiện nay, sinh viên Quản trị tốt nghiệp có tìm được việc làm xứng đáng hay không. Triển vọng được đào tạo, thăng tiến mới là yếu tố quan trọng, Hải ạ. - Ừ, tớ hiểu rồi. Nhưng nói thiệt, sinh viên tụi mình ít ai nhìn xa vậy lắm. Trước mắt ai cũng chỉ mong ra trường, có việc, kiếm tiền phụ giúp gia đình. Sau đó, vài năm đi làm có kinh nghiệm, rồi tính tiếp. - Đành vậy. Nhưng tất cả những gì tụi mình vừa trao đổi, có gợi cho cậu một ý tưởng nào không? - Vĩnh nheo mắt, cười. Lâu lâu, họ lại thử tài nhau kiểu này. - Có! - Ngay tức khắc, Hải đọc ra ngầm ý của bạn - Đây là một gợi ý tuyệt vời để chúng ta lập ra một công ty tư vấn, một công ty săn đầu người đúng nghĩa, phải vậy không? - Chính xác. Cậu hãy ghi nhớ ý tưởng này. Cứ xem việc ở Hội cũng là một bước thực tập cho công ty của chúng ta trong tương lai. Sau khi cậu đi học ở Sing về, tớ cũng lấy xong bằng MBA, tụi mình sẽ cùng triển khai các dự án lớn. - Nghe thấy "tương lai" quá! - Hải bật cười. - Ừ, có vẻ hơi viển vông. Nhưng tụi mình là bạn. Không chỉ bây giờ... Câu nói của Vĩnh để lại trong Hải cảm giác xúc động sâu xa. Một tương lai chung đồng nghĩa họ sẽ là những người bên nhau, gắn bó lâu dài. Cuối cùng thì họ đã tìm thấy lại tình bạn. Nhưng ở một tầng ý nghĩa mới mẻ. Cả hai tiếp tục những cuộc truyện trò. Trong bất cứ chủ đề là gì, họ càng ngày càng nhận ra những tương hợp, về cách nhìn nhận cuộc sống, về lựa chọn tương lai, về ý thức danh dự... Vĩnh hiểu biết rộng. Trước một sự kiện, anh thường xuyên đưa ra những phân tích sâu sắc bao nhiêu thì ngược lại, Hải là người suy xét việc đó từ góc nhìn thực tế, khả thi nhất. Ở khía cạnh nào đó, họ nể phục nhau, ở chỗ không bao giờ nhường bước trước cản trở, càng không dành chỗ cho sự xuất hiện của thái độ thụ động, yếm thế hay buồn bã chua chát. Mỗi khi người này tìm ra một giải pháp, người kia sẽ biết cách triển khai nó, để giải pháp đó được thực hiện một cách hoàn hảo. Đúng như Vĩnh dự đoán, việc Hải thay thế anh ra tranh cử chức chủ tịch đã trở thành một sự kiện gây chấn động sinh viên khoa Quản trị. Trong mắt đám đông, ấn tượng về Hải quá mờ nhạt. Một số người đã đến chúc mừng Hữu, xem như cậu ta thắng cuộc sớm. Nhưng với những người thông thạo hơn, họ dự đoán nếu có sự chống lưng của một cựu chủ tịch giàu kinh nghiệm như Vĩnh, gió có thể đổi chiều vào phút cuối. Tin đồn râm ran. "Thời gian quả là quá ít ỏi để anh Hải kịp làm được điều gì đó cho ra hồn. Mà trước tiên. anh ấy cần chịu khó đánh bóng hình ảnh giùm một cái. Anh Hải nhìn chân thật mộc mạc đó. Nhưng chủ tịch Hội của dân Quản trị tụi mình thì vậy đâu có đủ, phải khá hơn nữa chứ. Phải hoạt bát, văn minh và biết tạo thiện cảm. Một người nhanh nhẹn và nhiều kinh nghiệm như anh Hữu mới nên!" - Vỹ, cậu sinh viên năm dưới hoạt động trong ê- kíp của Hữu, mang kiến thức marketing ra phân tích. Sự phân rẽ trong cử tri không còn khó thấy. Một số bạn trước đây ủng hộ Vĩnh, nay cũng chuyển hướng, dành chú ý cho Hữu. Họ không thể hiểu nổi, một người bình thường như Hải thì có thể làm được gì. Ê- kíp của Hữu hoạt động thực sự hiệu quả. Giờ học ở giảng đường, các sinh viên thường nhận trên mặt bàn cây bút quà tặng kèm tờ rơi thông báo một buổi họp mặt lấy ý kiến đóng góp cho chủ tịch Hội tương lai. Chiêu này do Hữu đích thân đứng ra tổ chức. Vì lý do nào đó, một vài kẻ quá khích bắt đầu nhìn Hải dưới con mắt biếm họa. Có lần, bước vào lớp, Hải nhận ra không khí im lặng khó chịu. Mọi người lén nhìn anh. Hải ngoảnh lại phía sau. Trên tấm bảng, ai đó vẽ bằng phấn hình Vĩnh đang đưa cao một cánh tay làm động tác múa rối. Con rối trên tay Vĩnh có khuôn đầu vuông và mái tóc ngắn sát, đặc điểm không lẫn vào đâu được của riêng Hải. Vĩnh lưu ý Hải cần hết sức bình tĩnh trước các công kích hay nhận xét bất lợi. Một cách kín đáo, cả hai dán một loạt thông báo các công ty tuyển dụng nhân lực sinh viên. Bên dưới thông báo, yêu cầu nộp hồ sơ gửi về văn phòng khoa. "Tại sao không để tên cậu hay tớ để các bạn biết đến?" - Hải nóng ruột thắc mắc. Vĩnh điềm tĩnh: "Chúng ta sẽ chứng minh bằng hiệu quả công việc. Đó là cách thực hiện dự án Liên kết tài năng tốt nhất. Nếu gây ồn ào phô trương thanh thế vào lúc này, các bạn tưởng đây là trò quảng cáo của chúng ta không chừng. Lúc đó, ta cũng không hoàn thành lời hứa với bên mấy công ty đâu!". Ngay cả khâu xem xét lựa chọn, phân loại hồ sơ của từng ứng viên sao cho phù hợp hơn cả với nhà tuyển dụng, cũng tự tay Vĩnh và Hải thực hiện. Từ hơn một trăm bộ hồ sơ nhận về, họ lọc ra tám mươi ứng viên, gửi về các công ty đặt hàng. Sau hơn một tuần, không nằm ngoài dự đoán của Hải và Vĩnh, đúng năm mươi sinh viên giỏi nhất đã tìm được vị trí thực tập thích hợp. Đến lúc đó, câu hỏi "Ai là người thực hiện dự án kết nối hữu ích?" mới được đặt ra. Một cái nhìn hoàn toàn khác của đám đông hướng về Hải. Sự thiếu tin cậy dần dần lắng xuống và biến mất. Ấn tượng "việc làm tại công ty" mau chóng lấn át "mũ bảo hiểm miễn phí". Tuy nhiên, vẫn còn đó sự ngờ vực. Có thật là kế hoạch của Hải hay Vĩnh mới là người vạch ra và thực hiện? Câu hỏi treo lơ lửng trong các cuộc tụ tập của sinh viên. Tan buổi học chiều, Vĩnh và Hải cùng ra bãi giữ xe. Nét mặt Hải lầm lì. - Cậu có khó chịu vì các đồn thổi, đúng không? - Vĩnh hỏi thẳng. Hải gật: - Đương nhiên là có! Vĩnh lắc đầu: - Nếu khó chịu, là sập bẫy. Giai đoạn này, đừng nghe ai hết. Chỉ tin cậy vào chính mình! - Tớ hiểu! - Hải đồng ý, giọng quả quyết - Tớ đang nghĩ phải có thêm một hoạt động nào đó, có thể triển khai từ bây giờ cho đến hết năm. Quan trọng là mang lại lợi ích thiết thực cho sinh viên. Dù ê- kíp của ta có thắng hay không! - Nghe được đấy! - Vĩnh phụ Hải nhấc đuôi mấy chiếc xe máy ngổn ngang để lấy xe của Hải ra - Cậu có hướng gì chưa? - Hôm bữa tụi mình đọc hồ sơ của các bạn, cậu có để ý trình độ tiếng Anh của sinh viên khoa mình không cao lắm. Thua hẳn bên khoa Ngoại thương hay Du lịch. Nói thiệt, hồi đó, nếu cậu không phụ tớ tiền đi học lại tiếng Anh, tớ bây giờ cũng vẫn yếu kém. Cú hích ban đầu quan trọng lắm. Tớ nghĩ, chúng ta thử liên hệ với một số trung tâm ngoại ngữ, kiếm học bổng hoặc đề nghị chương trình giảm giá cho các bạn xem ra cũng ổn... - Hay đó! Sáng mai, tụi mình làm luôn! - Vĩnh thầm nghĩ chính tấm lòng nhân hậu khiến Hải luôn đồng cảm, nhìn ra những vấn đề của người khác. Xe Hải bị xì bánh sau. Vĩnh vội, phải phóng về công ty trước. Hải dắt xe sang đường, đến tiệm sửa xe vỉa hè. Anh mua một tờ báo, chăm chú đọc. Thình lình, mắt anh tối om. Hai bàn tay bịt mắt anh từ phía sau. Cố gắng vùng ra, anh quát lên: "Ai?". Tiếng nói líu ríu vang bên tai: "Anh không nhận ra Hikaru sao?". Hải ngoảnh phắt lại. Thái Vinh đứng sau lưng anh, nghiêng đầu, miệng cười. Nhưng dưới đáy hai con mắt viền đen, hắt lên tia sáng kỳ lạ, gợi cảm giác vô cùng u ám. ... Mời các bạn đón đọc Mắt Bão của tác giả Phan Hồn Nhiên.
The Joker - Phan Hồn Nhiên
Sau cái chết đột ngột của người bạn gái, Huy cảm thấy vô cùng bất an và nghi vấn, anh quyết định dấn thân tìm sự thật. Bắt đầu từ những manh mối nhỏ nhất, bằng sự khéo léo và kiên định, Huy đã khám phá những bí mật đằng sau cái chết và những uẩn khúc trong cuộc đời bất hạnh của cô gái. "The Joker" là cuộc "rượt đuổi" căng thẳng về trí tuệ giữa các nhân vật. Đó cũng là một thể nghiệm viết mới của nhà văn Phan Hồn Nhiên: giải mã những bí mật tâm lý để qua đó hình thành một câu chuyện ly kỳ, gay cấn... *** - Ổn cả chứ? Chốc nữa, anh có cần tôi đưa lên nhà không? - Tôi sẽ tự đi được! - Huy lẩm bẩm, như thể đang nói với một người xa lạ, không liên quan, chứ chẳng phải kẻ đã ra tay nện mình nhừ tử. Luồng khí lạnh từ máy điều hòa chiếu thẳng vào ngực áo lấm ướt khiến anh run nhẹ, đề nghị - Nếu tăng nhiệt độ lên một chút thì tốt! Hơn 12 giờ đêm. Những xe tải và container chở hàng như bầy thú khổng lồ nối nhau kéo vào thành phố. Đoạn rẽ ở một ngã ba, xe đổ vào càng đông đúc. Phát lái chậm hẳn, giữ chiếc xe nhỏ chạy với tốc độ 50km/h. Thảng hoặc, Huy ngỡ như có một bóng người đang kiên trì bám theo, cố gắng nhìn anh qua cửa kính. Nhưng, chỉ là vài vệt đèn sáng từ chiếc xe nào đó lướt nhanh trên cánh cửa phía bên anh ngồi. - Đôi khi tôi lại hành động như một kẻ mất kiểm soát. Nói theo kiểu của Minh, là dấu vết của tuổi niên thiếu bị bỏ mặc, lạc lõng và mất phương hướng - Phát giải thích chầm chậm, đột nhiên mỉm cười. Nụ cười biến gương mặt anh ta thành cái đầu sọ kiệt sức, nỗ lực bày tỏ xúc cảm cuối cùng - Nhưng, giá như anh đừng dò xét, đừng bới tung những thứ đã được sắp xếp đúng chỗ, thì tôi không tốn công sức gây ra những rắc rối như thế này đâu... Mắt vẫn mở to, nhìn thẳng về phía trước, Huy im lặng. Gương mặt anh cứng đờ. Các khối cơ tê dại. Lớp da trên mặt đã biến mất, trở thành cái mặt nạ trơ lỳ, bất động. Toàn bộ con người anh chia làm hai phần rõ rệt. Phần thân thể nhức nhối, bị sợi dây bảo hiểm ràng qua ngực như sắp thắt chặt buồng phổi. Vai và gáy anh đau đến mức tựa nhẹ vào lòng ghế da mềm cũng trở thành cực hình. Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, đầu óc anh vô cùng sáng suốt. Đến mức mọi hình ảnh, từ ngữ khi dội đến đều hiện ra với ý nghĩa thật của nó. Bàn tay với những ngón tay dài mảnh đặt hờ trên vô-lăng, Phát vẫn nói, giọng đều đều, không ngưng nghỉ. Dường như anh ta chỉ chờ đến lúc này đây, chọn chính kẻ mà anh vừa bạo hành, không còn sức cựa quậy, để phơi bày một góc sự thật con người anh ta bấy lâu nay giấu kín: Một cậu con trai hời hợt. Các mong muốn dễ dàng được đáp ứng. Những ngày tháng sống nhàn tản, chẳng buồn bận tâm bất cứ điều gì bên ngoài bản thân. Rồi Minh xuất hiện, trong thời gian ngắn ngủi bẻ ngoặt chuỗi niềm tin ngây thơ trong đầu anh ta qua một hướng khác. Phát hiện về một thứ cảm xúc lớn lao mà cô ta có thể đem tới, lớn hơn cả dục vọng. Nó gần giống như sự che chở của một người mẹ, thứ tình cảm anh ta không biết đến từ khi còn nhỏ. Nhưng những ngày đẹp đẽ ấy không kéo dài. Sau đó, một vài xung đột tầm thường của hai người yêu nhau cứ liên tục kéo đến, không sao kiểm soát. Cái chết tình cờ của cô gái quỷ quyệt ấy khiến anh ta sợ hãi, nhưng cũng thật nhẹ nhõm khi ngỡ rằng đã được giải thoát hoàn toàn... Quá nhiều ngôn từ. Quá nhiều hành động không rõ mục đích. Hồ như tất cả những con người chung quanh đều nỗ lực chuyển động. Chuyển động cuồng loạn mà cũng không dám đoan chắc đích đến. Mỗi kẻ hành động đều có lý do chết tiệt nào đó. Không ai quan tâm ai cả. Và rốt cuộc, điều cuối cùng mà người ta có thể nhận ra, như Huy lúc này nhận ra, là quá nhiều thương tổn thương không thể cứu chữa được nữa. Cơn mưa li ti rơi xuống, không tiếng động. Tránh chiếc xe du lịch ngược chiều phóng như điên, cỗ xe tải ở ngay phía trước xe của Phát đánh mạnh tay lái về bên phải. Đám đất cát chất cao có ngọn trong thùng xe chuồi xuống một góc, tung tóe thành lớp bụi đỏ dày đặc, bao phủ đoạn đường phía sau. Bụi và nước mưa mau chóng biến thành lớp bột nhão loang lổ trên lớp kính. Trái với phán đoán của Huy, người điều khiển xe bỗng nhiên tăng tốc đột ngột. Như một con vật mù lòa điên cuồng, cỗ xe nhỏ màu đen lao về phía trước, lách giữa khoảng đường hẹp hiện ra lờ mờ giữa hai làn đường. Trong tích tắc, Huy thấy đuôi chiếc container xám bạc hiển hiện sát ngay trước mặt. Chỉ một phần mười giây thôi, cả chiếc xe con sẽ trôi tuồn tuột, lọt thỏm vào dưới gầm xe, chắc chắn. Đúng khi tấm kính trước mặt họ chỉ cách cạnh dưới của cái hộp sắt khổng lồ chưa đầy nửa mét, Phát đạp thắng, đột ngột. Nếu không có dây bảo hiểm, cả cơ thể Huy đã vọt thốc về phía trước, xuyên qua kính như một viên đạn. Cái cảm giác vừa tiếp xúc với cái chết, quá gần, khiến Huy buồn nôn kinh khủng. Để trấn áp nó, anh ngoảnh sang người bên cạnh, hỏi thẳng: - Anh làm gì vậy? - Anh đã nếm được cảm giác khiếp hãi thật sự, đúng không? Giống hệt như cảm giác anh đã gây ra, khi dai dẳng bám theo tôi, hỏi han về nguyên nhân cái chết của Minh. - Nếu anh không liên quan trực tiếp vụ việc đó, vì lẽ gì nó ám ảnh, khiến anh phải tốn quá nhiều mưu mẹo? - Huy lạnh nhạt. - Anh muốn tôi nhắc lại sự thật bao nhiêu lần nữa đây? - Người cầm lái nhếch môi. Dù anh ta tỏ ra hờ hững nhất, thì Huy vẫn cảm thấy anh ta đang tìm cách che đậy một thứ gì đó, mơ hồ, nhưng không phải không có thật. Đèn đỏ. Dòng xe dừng hẳn. Bảng hiệu giao thông vươn ra tận giữa lòng đường. Các vệt đèn điện tử hắt xuống chùm tia màu đỏ sẫm, vuông góc với lớp kính chắn gió. Chúng kết hợp với bùn đất và nước mưa loang lổ trên kính như một thứ máu đặc sánh ri rỉ. Bấm nút điều khiển cần gạt, các ngón tay Phát vuốt nhẹ gương mặt hốc hác: - Tôi căm ghét Minh. Căm ghét các trò diễn quái quỷ của cô ta. Căm ghét tình thế lố bịch cô ta đẩy tôi vào. Cô ta lấy đi của tôi tất cả những gì tôi từng tin là đáng giá nhất. Tôi ngáng đường anh, vì tôi không muốn chung quanh biết được bí mật tồi tệ giữa tôi và cô gái ấy. Sự thật chỉ có vậy. Anh hài lòng rồi chứ? - Quỳnh thì sao? Anh từng gặp gỡ cô ta, đúng không? - Đúng. Nhưng chẳng có gì đáng kể. Tôi bám theo cô ta, để hỏi thăm và gắng liên lạc với Minh. Nhưng cô ta lại ra sức bảo vệ chị họ. Một cô gái cứng đầu. Trò thách thức của cô ta cũng đáng căm ghét như thái độ tự phụ của chị họ cô ta vậy! - Được rồi. Bây giờ thì cho tôi biết rõ hơn một chút về bí mật tồi tệ giữa anh và Minh đi! Nhưng Phát không nói gì nữa. Suốt quãng đường còn lại, anh ta hoàn toàn chú mục vào tay lái. Chiếc xe lướt trên mặt đường nhựa trơn mượt, lao về phía đầu kia thành phố. Huy nhắm mắt, thở nhẹ. Bằng trực giác, đột nhiên, anh nhận ra người ngồi cạnh bên đang khóc. Không có âm thanh nào. Đơn giản là nước mắt ứa ra, ràn rụa, không cách gì ngăn lại. Điều hòa không khí trong xe tắt. Cửa kính hai bên cửa hạ xuống. Gió đêm thốc vào. Lạnh. Mạnh. Trong sạch. Xe dừng dưới chân chung cư Huy sống. Họ vẫn ngồi im trong xe, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng biệt. Cả hai đều biết rõ, câu hỏi và câu trả lời buộc phải đưa ra, nếu một trong hai người lên tiếng đề cập. Nhưng, Huy hiểu, tốt nhất là không nói thêm gì nữa. Đừng mong thông tin kiếm được dễ dàng từ miệng kẻ khác. Nếu có được, cũng chỉ là thứ tin tức sai lạc. Cuối cùng, người ta chỉ có thể trông cậy vào chính bản thân mình. Tháo dây bảo hiểm, anh đưa tay kéo chốt cửa. Ánh đèn vàng bật sáng tức khắc nhúng mọi thứ trong xe vào dòng sáng hổ phách. Gương mặt đã khô lạnh của Phát hướng thẳng về Huy. Con ngươi trong mắt anh ta giãn rộng. Không phải là vẻ ân hận, mà là sự bàng hoàng kinh sợ không sao hiểu nổi. Rồi anh ta mấp máy môi, thì thào, như nói với chính mình: "Bỏ qua hết đi... Vì tất cả chúng ta đều cô độc!". Tình thế kỳ dị. Không tìm được câu hỏi nào khả dĩ, Huy nhặt chiếc phong bì vàng, lẳng lặng xoay lưng. Ngay khi đế giày mềm chạm xuống mặt đường, một phản chiếu thoáng qua trong kính chiếu hậu khiến anh tê dại. Huy đã hiểu, vì sao Phát lại khiếp sợ như thế khi nhìn rõ mặt anh. Toàn bộ gương mặt anh giờ đây là hình ảnh lặp lại của một hình ảnh có sẵn. The Joker. Suốt phần còn lại của đêm, Huy ngồi trước máy tính. Anh mở chiếc phong bì, xem kỹ các chi tiết cần chỉnh sửa, sau đó bắt tay vào các việc cần làm. Càng vẽ, đầu óc anh càng tỉnh táo. Trong khi chỉnh các đường viền mới cho lưng chiếc ghế gỗ, anh nhìn thấy lại mối quan hệ giữa Minh và Quỳnh. Thoạt đầu là sự trấn áp. Con thú tinh ranh và trải nghiệm dẫn dắt con thú nhỏ hơn, khờ khạo hơn bước theo con đường nó đã đi qua. Tuy nhiên, vào lúc không ngờ nhất, con thú nhỏ đã chống cự, vùng chạy. Vì dù yếu ớt và sợ hãi, nó vẫn biết rõ nó sẽ phải đi con đường của riêng mình. Đây chính là lời giải tốt nhất, cho thái độ yêu quý, tìm hết cách để che chắn, bảo vệ cho chị họ, nhưng đồng thời cũng vẫn gửi đi một thông điệp âm thầm cho anh biết không bao giờ là bản sao của Minh nữa, từ Quỳnh. Đặt lại các cánh cửa đã thay đổi số đo vào khung xương tủ, Huy nhìn thấy rành mạch sự gắn kết giữa Minh và Phát. Anh đã bị đánh lạc hướng bởi sai lầm ngay từ đầu, khi tin rằng giữa hai người ấy là tình yêu. Chẳng có tình yêu nào hết. Anh ta chỉ là một tấm chắn. Thông qua Phát, Minh tiếp cận một người khác. Người đã theo dõi anh khi anh đột nhập nhà trọ của Minh. Chủ nhân thật sự của chiếc mô-tô, kẻ đã tấn công anh hầu chiếm lại chiếc USB chứa đựng bí mật nguy hiểm. Người bị ghi hình, khi tàn nhẫn đánh đập Minh. Cũng chính là người giờ đây khiến Quỳnh khiếp sợ, phải lẩn trốn... Bất giác, anh nhìn ra cánh cửa lớn. Chờ đợi tiếng gõ nhẹ. Nhưng không ai cả. Giống như một bài toán hình không gian, khi anh nối các điểm đã xác định được, những hình ảnh dần hiện ra. Huy đứng dậy, bước đến tủ lạnh, rót một cốc nước đầy và uống cạn. Đột nhiên, anh nhớ quãng thời gian hồi chín tuổi, hoặc nhỏ hơn, anh từng ốm một trận rất nặng. Đến mức anh tin mình sẽ chết. Điều ấy làm anh khổ sở ghê gớm. Nhưng sau cơn mê sảng khiến thân thể muốn vỡ tung ra như các mảnh gỗ ghép lại, anh lại nghĩ thật tuyệt nếu được chấm dứt tất cả. Đó là ý nghĩ kỳ dị với một đứa trẻ nhỏ, anh biết, nên không nói với ai cả. Ngay cả khi cơn ốm qua khỏi một cách kỳ diệu, thì mãi mãi sau này, anh vẫn không quên trải nghiệm có những thời khắc người ta rất thèm được buông xuôi, được thua cuộc. Rồi trí nhớ trôi dạt của anh lại hướng về Quỳnh. Hoàn toàn không đúng lúc, hiện ra hình ảnh cô khỏa thân hoàn toàn. Không có gì che chắn. Yếu ớt. Khoảng vai hẹp nhô lên. Đường cong nhẹ của khoảng ngực gầy. Tấm lưng bầm tím. Gương mặt lạc lõng, xa cách ngay với thân thể của chính mình... Nếu lúc khác, hẳn anh đã tự trách mình bởi các tưởng tượng tồi tệ. Nhưng giờ đây, ngược lại, anh bấu víu vào những hình ảnh ấy. Có thật cô ấy cần anh không hay là anh tự vẽ ra? Có thật là từng có giây phút, cô ấy tin cậy, trao cho anh tất cả con người cô, chẳng ngại ngần? Cái buổi sáng kỳ dị ấy, có thật không hay là anh tưởng tượng nên? Nếu là mơ, thì nó quá đẹp và sinh động. Nhưng nếu là thật, thì vì sao anh lại một mình đứng đây, đứt lìa mọi liên lạc với cô gái lạ lùng? Các cánh cửa đều mở. Ngoài âm thanh rù rì của máy vi tính, căn phòng trống rỗng. Gió đã biến mất. Những rèm cửa phẳng lặng. Nhiệt độ quanh anh không thay đổi. Anh đứng im, nhìn ra khoảng trời đêm. Vệt đèn sáng nhấp nháy bên dưới chiếc trực thăng đang bay qua bầu trời thành phố như một con mắt nhìn anh từ trên cao, mệt và buồn, nhưng thấu hiểu. Cảm giác tổn thương, nỗi sợ hãi, sự giận dữ lâu nay tích tụ trong anh chầm chậm đổ sụp xuống. Anh dựa lưng vào tường, run rẩy, nhìn vào đống đổ nát hỗn loạn bên trong chính mình. Kiệt sức. Nhưng, ít nhất, anh đã chiến đấu, không bỏ cuộc. Ít nhất, anh đã chống cự lại sự mục ruỗng của mong muốn thỏa hiệp. Ít nhất, trong cuộc săn đuổi con quái vật vô hình, anh đã không biến thành một con quái vật mới, vô cảm, thô bạo và lạnh lẽo. Dưới ánh sáng của ngọn đèn néon trắng, cái bóng anh trên mặt sàn mỗi lúc thêm sẫm lại, như một người khác, cũng đang lặng lẽ quan sát anh. Huy vào phòng tắm, mở nước lớn. Vài vệtmáu dưới mũi và quanh miệng anh đã khô. Dưới làn nước mạnh, chúng trôi đi mộtcách dễ dàng. Anh tắt vòi nước đột ngột, ngẩng lên. Trong gương, làn da trắngsáp của cái mặt nạ vẫn còn phảng phất. Một chỉ dẫn kỳ dị, nhưng không thể rõràng hơn. Khi hàng loạt suy nghĩ, phỏng đoán không tìm ra câu trả lời, thì vớimột hình ảnh tình cờ của gã hề gây rối loạn, mọi thứ bỗng xếp đúng vị trí. Manhmối cuối cùng đã được tìm thấy. Anh sẽ đến tìm gặp kẻ cần gặp ấy, ngay khi trờisáng. ... Mời các bạn đón đọc The Joker của tác giả Phan Hồn Nhiên.
Dạt Vòm - Phan Hồn Nhiên
Truyện kể về hành trình đi tìm "cuộc sống mới" của một chàng trai, sau khi tự từ bỏ chính mái ấm của mình. Những suy nghĩ, những âu lo.... của một thanh niên trước cuộc sống tự lập. Vẫn cách viết sắc sảo và lôi cuốn của tác giả, Dạt vòm buộc bạn đọc đến trang cuối cùng. Một nội dung quen thuộc với tuổi mới lớn: tôi đã lớn lên thế nào. Quá trình va đụng giữa cá thể tôi với xã hội, với những người xung quanh; giữa những giá trị nguyên sơ sách vở với thực tế phũ phàng; những khám phá mới về bản thân… tất cả được thể hiện sinh động dưới ngòi bút tinh tế của tác giả. Có thể tóm tắt cuốn truyện bằng những dòng sau: Một chuyến đi nổi loạn của tuổi trẻ… Những khám phá lạ lẫm về cuộc sống… Những bí mật phức tạp giấu kín… Những mất mát khó hồi phục… Và một lần tìm thấy… Như những truyện khác, truyện vừa này rất thú vị.  *** Cái chết của Châu đã bứng đi khỏi tôi một điều gì đó. Khoang bụng tôi trống rỗng. Vòng tay tôi trống rỗng. Và đầu óc tôi cũng trống rỗng. Tôi sống với khoảng không mênh mông, hoang mang hơn tất cả những gì tôi đã cố hình dung trước đấy. Tôi không khóc, cũng cũng buồn thảm kiệt quệ. Chỉ đơn giản là tôi vắng vẻ đến cùng cực. Bà chủ nhà đã trở về sau chuyến du lịch châu Âu. Tôi giao lại chùm chìa khoá cho bà cụ, rồi đeo ba-lô lên đường. Tôi đi về miền tây, ngồi trên ghe đi qua các kênh rạch. Sau đó tôi vòng ra miền trung, đi dọc theo quốc lộ. Tôi sống vạ vật. Một ngày ăn hai lần. Chỉ nhớ đổ xăng đầy bình. Rồi lang thang theo đường viền chân núi. Thỉnh thoảng ghé vào một nhà trọ rẻ tiền, trú mưa. Chẳng có địa chỉ nào cụ thể. Điện thoại tôi khoá lại. Có một đêm, tôi đắp áo gió, ôm mũ bảo hiểm trước bụng, ngủ trên băng ghế đá, dưới những cây phi lao gần sát mí biển Nha Trang. Khi tỉnh dậy, có một người trung niên ngồi gần phía chân tôi, hút thuốc. Ông ta đội một cái mũ nhung mềm, xụp xuống trán. Tôi ngỡ kẻ gian định lấy trộm xe. Nhưng người trung niên ấy bảo tôi cứ việc ngủ. Ông ta không phải là kẻ nguy hiểm. Tôi ngồi dậy, bên cạnh một kẻ hoàn toàn xa lạ, chẳng nói gì, nhìn biển. Mặt trời mọc lên phía tay trái tôi, ửng đỏ. Còn bên tay phải, màn nước vẫn bị bóng tối âm u ngậm trong vòm miệng. Phải chăng mọi thứ trên đời này đều bị phân chia làm đôi. Đêm và ngày. Ánh sáng và bóng tối. Sức khoẻ và ốm đau. Một người vẫn sống, đi lại, trò chuyện và hít thở. Một người vĩnh viễn lặng im và dừng lại. Tôi đọc ở đâu đó nói rằng, cái chết chẳng có gì đáng sợ. Nó không phải là mặt trái của sự sống, mà chỉ là vùng tối cần thiết, một phần phải có và thuộc về cuộc sống mà thôi. Biết vậy, nhưng tôi vẫn không sao thoát được ý nghĩ cả tôi và cô ấy giờ đây đều chịu sự đơn độc, mà không sao chạy đến nâng giúp cho nhau được nữa... Người đàn ông mời tôi một cốc cà phê mà ông mang theo trong cái phích màu đỏ. Ông ta biết tôi ở thành phố, khi nhìn bảng số xe. Ông hỏi tôi có chuyện gì đau lòng hay không mà lang thang ra đến tận đây. Tôi gật. Ông ấy ta bỗng bảo vợ ông ta mất năm ngoái. Vì thế mà buổi sáng, ông thích đi ra đây nhớ vợ của mình, và ôn lại những ngày đã qua, từ khi còn là một chàng trai trẻ, nhẫn tâm, mải chơi và vô trách nhiệm. "Thật khó tin một kẻ trải đời như tôi uỷ mị thế này. Nhưng tôi cho phép mình không cứng rắn trong một thời gian. Kiên cường quá, đôi khi cũng không để làm gì!" - Người đàn ông lầm bầm. Tôi uống trong nắp phích từng ngụm nhỏ cà phê đắng, tỉnh táo. Tôi chẳng buồn chia sẻ. Chẳng ai hiểu được tôi đâu. Người đàn ông cũng không gạn hỏi gì. Ông ta lại hỏi tôi có đói bụng không và cho tôi một miếng bánh mì cất trong túi áo. Thật vô cớ, bỗng dưng nước mắt ứa đầy mặt tôi. Tôi úp mặt vào lòng tay, khóc nức nở. Nước mắt nóng chảy qua kẽ ngón, ướt nhoè lớp da tay bám đầy cát, khô rám và cáu ghét. Người đàn ông đứng dậy, mặc tôi khóc một mình cho thoả. Trước khi đi, ông ta cho tôi cái mũ nhung. "Từ đây về thành phố còn xa. Lúc nào không đội mũ bảo hiểm thì cậu đội cái này. Dù sao cũng cần phải giữ gìn đầu óc..." Tôi về thành phố vào lúc 6 giờ sáng. Tôi ghé vào một cây xăng ở ngoại ô, rửa mặt và đánh răng. Trong gương, một người xa lạ, râu lởm chởm, mặt mũi cháy nâu nhìn thẳng vào mắt tôi. Tấm lịch sau lưng tôi cũng in hình vào gương. Đó là ngày bắt đầu học kỳ mới. Mình trở lại trường đại học luôn sáng nay, tôi tự nhủ. Tôi khởi động lại mobile và nổ máy xe. Bỗng, mobile trong túi áo tôi vang lên tiếng nhạc. Linh gọi cho tôi. Cô ấy trách móc tôi luôn miệng, vì đêm qua tôi đã khoá điện thoại. Tôi im sững hồi lâu, rồi mới hiểu ra. Ừ, thì chỉ là tình cờ. Hẳn hôm qua cô ấy mới gọi lại cho tôi sau nhiều tuần giận dữ. Một chi tiết nhỏ xíu, mà khiến tôi bàng hoàng. Trong khi người này đang vỡ ra, đau đớn lớn lên, thì với người kia, cuộc sống vẫn bình lặng tuôn chảy theo nhịp điệu cũ. Hệt như chẳng có gì ghê gớm đã xảy ra giữa những lần nói chuyện thế này. Tôi đồng ý gặp lại cô bạn, nói chuyện tử tế về việc du học, cho cô an lòng. Rồi tôi tắt máy. Điện thoại lại rung lên. Con bé Hoan em tôi. Nó thầm thì hối hả: "Anh này, em nhớ anh điên lên. Anh này, em khỏi hẳn ốm rồi đấy. Anh có muốn nghe tiếng kèn trumpet em thổi không?". Tôi thử mỉm cười. Biết nói gì với một góc tâm hồn bé nhỏ trong thời điểm này? Tôi mãi đứng im ngay giữa con đường rộng. Âm thanh chói loà vang lên trong tai tôi, toả ra ánh sáng đỏ rực, chói chang. Mời các bạn đón đọc Dạt Vòm của tác giả Phan Hồn Nhiên.
Chiếc Vòng Đồng Đen - Phan Hồn Nhiên
Cách đây 10 năm, tôi nhận được một đề nghị khá lạ: Hãy thử viết một tác phẩm dài hơi, hoàn toàn độc lập, hấp dẫn, dành cho tween hoặc teen! Một thử thách thực thụ, vào thời điểm ấy. Tôi chưa từng kinh nghiệm làm việc trên một tác phẩm dài. Quỹ thời gian để viết gần như zero. Sẽ viết gì, viết như thế nào. Và câu hỏi then chốt làm tôi căng thẳng nhất: mình có làm được không? Ở một khía cạnh nào đó, khi các nhân vật bé nhỏ của Chiếc vòng đồng đen khởi sự chuyến phiêu lưu trong thế giới fantasy, cũng là lúc tôi bắt đầu bước trên con đường mới, với các yêu cầu đặt ra về xây dựng cốt truyện, miêu tả tâm lý… Lần đầu tiên, nên không ít bước đi loạng choạng, cảm giác lạc hướng, nỗi lo âu bỏ cuộc giữa chừng. Nhưng, thật may mắn, một người cạnh bên hỗ trợ tôi rất nhiều – họa sĩ Phan Vũ Linh. Không những giúp sức bồi đắp ý tưởng, tháo gỡ vướng mắc, bạn cũng là người minh họa cho Chiếc vòng đồng đen ở lần xuất bản đầu tiên. Đúng 10 năm sau, bạn trở lại minh họa và vẽ bìa cho bản sách này, nhưng ở trình độ mới, vượt bậc. Giờ đây, vững tin hơn khi thực hiện thể loại fantasy, tôi vẫn nhớ lời đề nghị làm việc đầy tin cậy năm ấy, nhớ những trợ giúp chân thành của bạn, và cũng không quên một trải nghiệm đáng giá về sau: một khi can đảm đi bước đầu tiên, ta có thể đi tiếp, ngày càng xa, khám phá vô số bất ngờ trên con đường mới. *** Bắt tay vào kể một câu chuyện không bao giờ là dễ dàng với tôi. Càng khó hơn khi tôi dự định sẽ kể một câu chuyện dài, hồi hộp và buồn cười cho các bạn nghe. Khi viết những dòng đầu tiên cho Chiếc vòng đồng đen, tôi thật sự bị áp lực. Chưa bao giờ tôi viết một truyện dài cả. Nhưng có lẽ, kinh nghiệm của rất nhiều truyện ngắn đã giúp tôi có chút can đảm vượt qua những rào cản của thói quen, của sự bận rộn và khơi dậy một ước ao được dấn thân vào một cuộc thử thách mới. Tôi quyết định bỏ qua các động tác cần thiết như xây dựng cốt truyện, lập một đường dây hay những gì tương tự. Tôi nghĩ rằng sẽ thoải mái hơn khi cứ để cho câu chuyện dẫn dắt mình đi, tới những vùng đất bất ngờ của trí tưởng tượng. Cũng như nhân vật trong câu chuyện Chiếc vòng đồng đen, tôi không phải du hành một mình. Bạn của tôi - Phan Vũ Linh, cũng là họa sĩ minh họa tập truyện này - đã cùng tôi chạy dọc theo những diễn biến cuộc phiêu lưu của Nhô và An Chi. Tôi đóng vai người tường thuật trong từng chương sách, kể chuyện cho Linh nghe. Bạn tôi là người có đôi tai thông minh. Nếu đoạn nào tôi cảm thấy không thích, Linh cũng bảo hãy viết lại. Đôi khi tôi sa vào tình cảnh tắc tịt vì đi lạc giữa hàng đống quan hệ rắc rối, các phép thần thông biến hóa... và Linh đã đưa ra những gợi ý mở đường tuyệt vời. Nếu bạn đọc thích thú với tính cách vừa tương đồng, vừa trái ngược nhau của Nhô và An Chi, đó là vì tôi với Linh đã tranh cãi nhau loạn xạ để có những nhân vật vừa sát với cuộc sống thật, vừa phù hợp với một thế giới kỳ ảo. Thực sự, chưa bao giờ tôi ngồi viết trước máy mà lại được bơi thật lâu trong cảm giác mơ mộng, được tự do bay bổng hoàn toàn như khi viết Chiếc vòng đồng đen. Tôi yêu thích các nhân vật của mình vô cùng. Dù biết là rất khó nhưng tôi nghĩ rằng, sẽ thật vui sướng biết bao nếu mỗi bạn nhỏ của tôi đều tìm thấy chút nào hình ảnh bản thân mình, những suy nghĩ, những vui buồn của mình trong các nhân vật chính. Trong hoàn cảnh hiện nay, các bạn nhỏ thường phải học rất nhiều, ít có điều kiện để vui chơi thỏa thích, để thử nghiệm óc sáng tạo, phát huy trí tưởng tượng và khám phá các khả năng tiềm ẩn trong bản thân một cách vui nhộn. Vậy thì Chiếc vòng đồng đen là những giây phút thoải mái các bạn đi chơi với tôi, tưởng tượng và hồi hộp cùng tôi nhé! Câu chuyện tôi kể cho các bạn nghe chưa có một kết thúc hoàn hảo bởi vì thật sự, vẫn còn rất nhiều bí mật về cuộc phiêu lưu của Nhô, An Chi và con Tô tô mà tôi muốn kể tiếp. Để tạm dừng, tôi muốn gửi đến các bạn của tôi một điều bình dị nhưng có lẽ chẳng bao giờ cũ: Khi có bạn bên mình, tất cả những khó khăn nguy hiểm chỉ có thể đe dọa, nhưng chúng chẳng bao giờ khuất phục được chúng ta. PHAN HỒN NHIÊN Mời các bạn đón đọc Chiếc Vòng Đồng Đen của tác giả Phan Hồn Nhiên.