Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nàng Aura

“HÃY ĐỌC THÔNG BÁO ẤY: một loại mời chào mà không phải ngày nào cũng đăng đâu. Hãy đọc đi đọc lại thông báo đó. Nó dường như nhằm vào bạn, chứ không phải bất kỳ ai khác,” cho đến khi bạn, hay chính là nhà sử học trẻ tuổi đang hồi thất nghiệp Felipe Montero, trả lời thông báo và bước chân vào ngôi nhà tăm tối, ẩm ướt và lạnh lẽo đến kỳ bí, nơi góa phụ 105 tuổi Consuelo Llorente sống cùng cô cháu gái mắt xanh Aura. Theo đề nghị của Consuelo, Felipe sẽ ở lại ngôi nhà để viết một cuốn hồi ký về người chồng quá cố nguyên là một tướng quân của bà, đổi lại là một khoản thù lao hậu hĩnh. Chàng trai trẻ bắt tay ngay vào công việc. Nhưng rồi, chàng rơi vào mối tình với Aura xinh đẹp, để rồi từ đó chàng dần dần chứng kiến những sự thật kinh hoàng về thân phận thật chính mình và hai người phụ nữ trong căn nhà ma quái… “Ông là một nhà văn đại tài, và (ngạc nhiên hơn) có phong cách viết rất đặc biệt ở thể loại truyện kinh dị.” – Pseudointellectualreviews *** Đàn ông đi săn và chiến đấu. Đàn bà mưu mô và mơ ước; là mẹ của trí tưởng tượng, của các vị thần. Đàn bà có được tầm nhìn thứ hai, những đôi cánh cho phép bay tới cõi hư vô của ham muốn và trí tưởng tượng… Các vị thần cũng giống như những người đàn ông, được sinh ra và chết đi trên ngực của một người đàn bà… Jules Michelet *** Review sách “Nàng Aura” – Carlos Fuentes Do năm nào cũng thấy Nàng Aura vào trong danh sách đại giảm giá của đợt Xả kho, nên mình muốn viết 1 bài giành lại justice cho tác phẩm này, rằng nó rất hay và độc đáo. Hy vọng trong những đợt dọn kho kế kiếp các bạn sẽ không “dòng người vội vàng lướt qua” em nó… NÀNG AURA VÀ OLALLA – MỐI TƯƠNG QUAN KÌ LẠ Năm 1885, khi đang rà soát lại bản thảo của cuốn sách rồi đây sẽ trở thành kinh điển – Chuyện về bác sỹ Jekyll và ông Hyde – Robert Louis Stevenson đã mơ một giấc mộng, để rồi sau này trở thành hiện thân cho tiểu thuyết ngắn Olalla. 77 năm sau, Carlos Fuentes viết ra một kiệt tác khác – Nàng Aura vào năm 1962 mà không dư hay thiếu chữ nào, để rồi sau đó sẽ bị cấm vì các dụng ý “gợi dục”. Cách nhau gần 80 năm, thế nhưng có thể nói ý tưởng về hai kiệt tác như cuộc “đồng mộng dị sàng” thú vị của hai nhà văn thuộc hai thời đoạn, hai nền văn hóa và hai phong cách hoàn toàn riêng biệt. * Có thể thấy rằng, Mỹ Latin dường như là cái nôi mắn đẻ cho những bối cảnh cần đến phép màu. Nơi đây không cần những người con sinh ra từ đất, mà ngay cả những bên tham chiến trong cuộc chiến tranh Bán đảo giữa khối Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Liên hiệp Anh cũng có thể mang trong mình một tàn lửa nhất định, và rất có thể Stevenson là một trong số đó. Không cần Freud giải mã giấc mơ, dường như chính miền đất huyền diệu ấy đã phôi thai và ám hương lên hình dung của Stevenson; để những câu chuyện kì dị, gothic, liêu trai thành hình, dù cho khái niệm gothic không đến từ vùng đất này. Riêng với Carlos Fuentes – gã khổng lồ của văn chương Mexico nói riêng và châu Mỹ Latin nói chung; vùng đất của ông vừa hoang dại nhưng cũng đậm dấu ấn một cách không ngờ. Trong văn chương của Juan Rulfo, người ta nhận ra cái nóng hầm hập ngày càng đi xuống như của một cổ quan tài, nơi không có gió và chỉ có riêng tiếng sỏi lạo xạo. Triển khai từ chính cái lặng im đấy, Fuentes mang gothic vào đô thị, nhưng giờ đây cũng triệt tiêu hoàn toàn dải âm nghe thấy, để đọng lại những tạp âm trắng duy nhất về sự xôn xao của một cõi lòng xáo động. BỐI CẢNH SONG SONG Câu chuyện của Fuentes và Stevenson nhìn chung là có sự tương đồng khá thú vị. Hai nhân vật chính đều là nam giới, và định mệnh run rủi cho họ vào một tình cảnh không thể đoan trước. Trong Nàng Aura, đó là nhà sử học Montero làm việc viết sử cho một góa phụ có chồng đã chết; trong khi Olalla là một chàng lính Anh nghỉ dưỡng sau khi bị quân đội bỏ lại. Cả hai đã hơn một lần khước từ ngẫu nhiên, để nằm sau các cách cấu thành cốt chuyện, đó là trò chơi định mệnh, khi Montero không chỉ thấy một lần mẫu tin rao vặt cần một sử gia thạo tiếng Pháp, còn chàng lính Anh cũng không nguôi được nghỉ dưỡng ở gia tộc nay suy tàn dẫu cho đã được cảnh báo. Bối cảnh cách nhau một thời gian dài, nhưng nhìn chung cả hai nhà văn đều mang được sắc màu của thời đại vào tác phẩm mình. Nếu Stevenson viết trong thời đoạn Chiến tranh Bán đảo, nơi dinh thự có các cầu thang đá lớn, cửa kiểu Moor; thì Fuentes hiện đại hơn, với tòa nhà phong cách Baroque Mexico cùng các tượng thánh, giàn nho phất phơ cũng như mùi rêu ẩm mốc cùng phong cách thuộc địa cũ. Gothic trong phong cách kiến trúc được hai nhà văn khắc họa một cách rõ ràng, dẫu ở đâu thì vùng đất ấy đã mang sẵn trong mình một sự huyền ảo. “Nhân sư” dẫn dắt nhân vật chính đi vào đóng hỗ lốn của mình cũng đặc biệt giống nhau. Nếu chàng Montero luôn được một thiếu phụ áo xanh, thân thể trắng muốt, dong dỏng cao dẫn dắt trong những mê lộ hành lang của căn nhà thiếu ánh sáng vì đô thị xung quanh xây chen; thì trong Olalla, người đảm nhận vai trò này, mà khốn thay, cũng trùng cái tên Filipe như chàng Montero – em trai của Olalla. Filipe được mô tả lúc thì ngây ngô hát những bài đồng dao, nhưng cũng có khi tàn ác như khi vặn cổ chú sóc. Hai dáng hình ấy đưa nhân vật vào một không gian chung của câu chuyện có phần tương đồng, nhưng chính ở đây mọi thứ rẽ khác. HIỆN THỰC – KÌ ẢO Nếu Stevenson mang được chất huyền ảo của Latin vào trong bối cảnh nhưng hầu như câu chuyện là thực; thì Fuentes tiếp nhận và nâng cao chất kì ảo đặc trưng của dải đất quê hương, nơi ông xây dựng Nàng Aura như một hỗn hợp vừa thực mà cũng không thực- vẩn vơ, bảng lảng và mù sương khói. Stevenson vẫn dùng văn chương thuần tuyến tính của phương Tây vào thời điểm đó, ông không cách tân lối viết, tuy có dùng những yếu tố như khởi nguồn đặc trưng sau này của châu Mỹ Latin, như hình tượng cơn gió độc, bà mẹ ủ ê, thú tính vật vờ trong ánh sáng ban ngày. Hoàn toàn ngược lại, Fuentes đóng kín nhân vật của mình trong ngôi nhà số 815 phố Donules, để người đọc thấy được vòng tròn quẩn quanh mà ông tạo ra, như một kiểu mê cung của Borges. Chàng sử gia Montero hết đi đến phòng trên cao rồi lại đến chỗ bàn ăn, từ bàn ăn đi vào phòng ngủ nơi chứa những tập bản thảo cũ mốc… Câu chuyện được tiếp diễn qua vài ba vòng lặp như thế, để cứ mỗi một lần như lát cắt phạm, Fuentes tung ra sự thật từng chút một; từ cô gái trẻ xanh xao không bao giờ dùng bữa, cho đến sự xuất hiện hầu như bất động khi có mặt đồng thời bà góa và cô nàng thanh xuân, cho đến con thỏ và cuối cùng là ba đêm tội lỗi. Tuy Stevenson rất có thể nói là người đặt nền móng cho yếu tố kỳ ảo đậm chất Latin trong tác phẩm của mình; thế nhưng Fuentes mới là người nhân nó lên và biến nó trở thành đặc biệt. Olalla của Stevenson đến sau cùng vẫn tồn tại và có thật, cô không giống Aura của Fuenets, mang nhiều dáng hình cũng như cảm xúc. Fuentes với cách viết nhiều vòng tròn đồng tâm lan ra từ từ, kết hợp với yếu tố gothic – kinh dị, khóa chặt người đọc vào văn bản của mình. Ông là nhà văn thiên về tâm lý, trong khi Stevenson chỉ đơn giản thuật lại, tuy là mới mẻ nhưng không đào bới tận cùng. Với hai cách diễn đạt khác nhau, nhưng bất ngờ thay, sau cuối cả hai đều là những câu chuyện tình đau thương. GIỌT MÁU CHUNG TÌNH Tuy tiếp cận câu chuyện từ hai hướng và hai phong cách viết, thế nhưng ẩn sau tầng tầng lớp lớp yếu tố kì dị, thì tình yêu ngăn cấm là thứ mà hai nhà văn hướng đến. Stevenson không những dùng sớm yếu tố kì ảo, mà còn cho thấy vấn đề muôn thủa của lục địa này, để rồi sau đó chính Marquez sẽ nhân nó lên làm thành tác phẩm huy hoàng nhất của mình – hôn phối cận huyết. Chính yếu tố sáng rõ này là thứ phân đôi tình yêu của Olalla và chàng lính trận, để kết thúc dòng máu suy vong, để ấn định cái kết của một gia tộc. Có lẽ nào chính ngọn gió độc, tiếng thét điên cuồng của bà mẹ điên trong đêm đen thẫm hay cơn khát máu bập vào thịt sống; là những dấu chỉ rõ nhất cho thứ bệnh điên cần được loại bỏ? Hơn một lần Olalla cầu xin chàng ta rời khỏi nơi đó, để cuối cùng trên ngọn đồi cắm phập thánh giá, một lần nữa họ gặp lại nhau để Stevenson “thánh hóa” sự hy sinh của tình yêu không được đền đáp. Lần gặp thứ hai như xác tín cho đức tin, sự minh triết cũng như những gì họ đã bỏ qua. Cũng thư thế, Fuentes mất đến ba đêm để chắc chắn thứ trước mắt chàng Montero không là ảo ảnh. Từ hành động lột da dê song song ở hai người đàn bà, một ở bếp và một ở phòng ngủ, Montero bắt đầu có những nghi ngại đầu tiên. Thế nhưng bởi dục vọng chìm đắm trong sắc đẹp của Aura, chàng đã ở lại với đôi mắt thỏ và những linh hồn lẩn khuất trong đêm. Đêm đầu tiên, chàng cảm thấy da thịt của một cô gái trẻ, đúng là Aura với chiếc váy xanh mà chàng thèm muốn. Thế nhưng đến đêm thứ hai, đó đã là da thịt trưởng thành, cứng lại, rắn đanh, mang dấu ấn thời gian của người đàn bà trung niên với tình yêu dường như đã đi qua một nữa đời mình. Đêm thứ ba, đêm cuối cùng; da thịt mơn man đã về lại với nhăn nheo ở quãng đời cuối, của sự co lại, gập gềnh núi đá lởm chởm, đó cũng là khi Montero biết mình dấn thân vào câu chuyện gì. Cả Fuentes và Stevenson không kết thúc một cách rõ ràng câu chuyện của mình. Montero bừng tỉnh trong đêm thứ ba và câu thoại (hay là tuân mệnh?) đi tìm Aura thanh xuân; trong khi anh lính trẻ không ngừng quay lại để thấy Olalla đứng mãi bên cây Thánh giá. Nàng đã hóa thánh, được gột rửa sạch và nhận hết mọi tội lỗi của dòng tộc suy vong; trong khi giờ đây Montero như bị thôi miên trong những vòng màu đan cài, giữa thời khắc của cổng thời gian kéo dài ba ngày, có thể mãi mãi hay không bao giờ đóng, liệu còn gắn bó hay sẽ chia phôi với Nàng Aura, ai biết. Nhưng dẫu sao đó là chuyện tình đau thương và đầy muộn phiền của sự đứt gánh. * Là mối tương giao kì lạ của hai nhà văn ở hai thời kì, Nàng Aura và Olalla mang trong mình sự tương đồng ở nhiều yếu tố trong cốt truyện, thế nhưng bằng phong cách viết cũng như triển khai cốt truyện khác nhau, phản ảnh 1:1 giữa hai tác phẩm cho ta góc nhìn thú vị về câu chuyện tình yêu vừa đẹp đẽ nhưng cũng đau đớn. Stevenson dưới cách thể hiện khác lạ nhiều yếu tố Latin mang đến Olalla lạ lẫm và đầy say mê; trong khi Fuenetes quán triệt đặc trưng của lãnh địa mình, hình thành một vòng thời gian khác lạ và đầy thôi miên. Một sự tương đồng độc đáo. Review của độc giả Ngô Minh – Nhã Nam reading club *** “NÀNG AURA” (Carlos Fuentes) – Nhân duyên tiền định hay dục vọng vô biên? Ra mắt năm 1962,*** Nàng Aura*** ***(Aura) ***là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tác giả Carlos Fuentes, cũng là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của nền văn học Mỹ Latin đương đại. Vinh dự được trao giải thưởng cao quý Miguel de Cervantes Saavedra, tác phẩm đã đưa Fuentes trở thành một trong những tượng đài lớn của văn học Mỹ Latin bên cạnh Gabriel Garcia Marquez, Mario Vargas Llosa, … Câu chuyện của Nàng Aura bắt đầu từ đoạn tình cảm lỡ dở, gập ghềnh và trắc trở kéo dài 27 năm đằng đẵng giữa Giorente và Consuelo. Khi còn trẻ, họ đã đến với nhau bởi tiếng sét ái tình và trở thành đôi vợ chồng đầu ấp tay gối đến tận lúc đầu bạc răng long. Tưởng rằng cái c.h.ế.t sẽ là dấu chấm hết cho mối tình đẹp đẽ, nhưng Consuelo lại không nghĩ như vậy. Consuelo sở hữu một pháp lực trời ban, cùng niềm khao khát thanh xuân vĩnh cửu, bà đã nhập thân vào hình hài cô gái đôi mươi Aura để sống một cuộc đời trẻ mãi không già. Nhưng cũng bởi vậy, bà cũng phải chứng kiến sự già đi rồi chết dần của Giorente, người mình yêu thương nhất. Cứ vậy, suốt 27 năm về sau, Consuelo, trong thân phận “nàng Aura”, vẫn sống một kiếp đời bất tử trong nỗi nhớ nhung da diết giày vò từng ngày từng đêm. Để rồi khi một chàng trai trẻ tên Felipe xuất hiện, ngọn lửa tình yêu cuồng nhiệt lại nhen nhóm trong Consuelo một lần nữa. Bởi Consuelo biết, anh chính là chuyển thế của Giorente, được định mệnh sắp đặt để tái ngộ với bà. Cách Felipe đến với “nàng Aura” hệt như Giorente thuở nào, từ ánh mắt si tình chỉ trong lần đầu gặp gỡ “nàng Aura”, đến cái cách anh nâng niu từng trang sách lịch sử, những trang hồi ký của người chồng quá cố. Tiếc rằng, chỉ có khuôn mặt kia, đã không còn là Giorente bà từng biết nữa. Nhưng với ma pháp cao cường của Consuelo, bà rắp tâm biến mọi thứ không thể phải thành CÓ THỂ. Một âm mưu kinh hoàng dần được bày ra, với hàng loạt những ám thị nối đuôi nhau. Những bí mật khuất lấp dần được hé lộ, về người đàn bà Consuelo, và về ngôi nhà cổ quái của bà ta. Một bí mật về tuổi xuân vĩnh cửu, về dục vọng ẩn sâu. Và đó cũng là câu chuyện tình vượt thời gian, vượt qua cả cái c.h.ế.t, bất chấp mọi giới hạn mà con người có thể tưởng tượng ra. Bằng một câu chuyện giản đơn chỉ vỏn vẹn chưa đầy trăm trang giấy, Carlos Fuentes đã dẫn độc giả bước vào không gian Mỹ Latin cổ xưa đậm chất Gothic ma mị nhưng không kém phần quyến rũ. Lồng ghép trong một câu chuyện tình vượt thời gian, cốt truyện cũng sử dụng những nút thắt mở tài tình, khiến cho độc giả phải xoay mòng mòng trong những giác cảm mơ hồ giữa thực và mơ, giữa quá khứ và hiện tại. **Nàng Aura **bắt đầu bằng một không gian Mỹ Latin đầy hoài niệm: đó là khung cảnh những dinh thự cổ có kiến trúc kiểu Baroque Mexico từ thời thuộc địa, với những bức tượng thánh cổ quái cùng những hành lang tróc sơn cũ kĩ. Ở nơi đó cũng thấp thoáng những dấu hiệu chuyển giao thời đại, với những khu dân cư hỗn tạp đủ mọi mọi ngành nghề dần chiếm chỗ khu dinh thự, với nhịp sống hối hả và bộn bề tấp nập đang từng bước thay thế đời sống cũ. Những đoạn văn gợi tả đó, dù chỉ ngắn gọn trong vài trang đầu, nhưng đủ để làm nền cho cảnh trơ trọi lẻ loi của ngôi nhà cổ quái của Consuelo giữa trung tâm khu phố xưa, làm bật lên vẻ ma mị đáng sợ cổ quái với những ai ghé thăm nơi đây lần đầu tiên. Motif kinh dị lãng mạn của** Nàng Aura** có thể nói là không quá mới mẻ, nhưng chất liệu Mỹ Latin lại là nhân tố đáng chú ý khiến mình phải lưu tâm tới. Không gian trong Nàng Aura được bao trùm bởi màu sắc hiện thực huyền ảo hiển hiện trong nhiều chi tiết, từ sự già đi bất thường của “nàng Aura” đến màn hóa thân gây choáng váng của nàng. Nó còn ẩn hiện trong những hành tung kì quái và sự xuất hiện đồng thời của cả hai người phụ nữ là Consuelo và “nàng Aura”, đến những ảo giác ma quỷ thoắt ẩn thoắt hiện trong tiềm thức Felipe mỗi đêm. Không chỉ vậy, Carlos Fuentes cũng thể hiện xuất sắc trong việc khắc họa bầu không khí Gothic vừa quỷ dị vừa huyền ảo trong căn nhà của Consuelo. Ngôi nhà bị bao trùm bởi bóng tối dày đặc, chìm nghỉm lúc nhúc giữa các tòa nhà hiện đại đan xen nhau, tựa như hình ảnh người chủ nhân phải chịu cảnh cô đơn hiu quạnh suốt năm tháng. Trong cái không gian chật hẹp đó, những tiếng mèo kêu nhức óc, lũ chuột và con thỏ mắt đỏ được thêm thắt vào như là những yếu tố gợi mở đầy ẩn ý. Trong căn phòng được bày ngổn ngang các dụng cụ thờ cúng, nhưng thực ra lại để dành cho một nghi thức tà đạo ma quái. Chỉ có ánh nến lờ mờ dường như là nguồn sáng duy nhất hiện diện giữa bóng tối u minh. Nhưng đâu ai biết, những lúc chập chờn, lúc chạng vạng có hay mới là lúc ma quỷ hiện diện rõ ràng nhất. Sự khắc họa những góc tối sâu thẳm trong nhân tâm của truyện cũng khiến mình băn khoăn rất nhiều, trước khi nút thắt cuối cùng được bật mở. Đó là một Consuelo bị ám ảnh bởi cái c.h.ế.t và tuổi xuân vĩnh hằng. Đó là Giorente – kẻ mà dù ở kiếp nào, dù mang hình hài Llorente hay Fellipe, đều tỏ rõ là hạng người dễ bị cám dỗ bởi dục vọng và dường như không có khả năng kháng cự lại nó. Nực cười là, Giorente đã từng chê trách rằng Consuelo “đã từ thiên thần hóa quỷ dữ”, rằng bà đã quá tham lam khi cố níu kéo thanh xuân, nhưng chẳng phải chính bản thân ông ta, ở cả hai kiếp sống, cũng không thể cưỡng lại sự ham muốn với vẻ đẹp của “ác quỷ” đó sao? Chẳng phải chính ông cũng giấu trong lòng cơn thèm khát không thể tả bằng lời với nét thanh xuân rạng rỡ của “nàng Aura” sao? Tuy vậy, khi gấp lại cuốn sách, mình hoàn toàn không cảm thấy đáng sợ hay căm ghét họ, bởi xét cho cùng, dục vọng của họ chỉ là đại diện cho ước mơ muôn thuở của con người. Khi còn trẻ, chúng ta giống Felipe, khao khát yêu đương, khao khát sống hết mình vì tuổi trẻ. Còn khi về già, chúng ta trở thành Giorente và Consuelo, lại hoài niệm về thanh xuân, hoài niệm đến ăn mày dĩ vãng, dẫu cho đó là điều bất khả không bao giờ trở thành hiện thực được, chỉ trừ trong** Nàng Aura.** Review của độc giả Kiên Trần – Nhã Nam reading club Mời các bạn mượn đọc sách Nàng Aura của tác giả Carlos Fuentes & Phạm Triệu Lập (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Họp Mặt
Chín đứa con còn sống sót của nhà Hegarty họp mặt tại Dublin dự tang lễ của Liam, một người con vừa chết đuối. Veronica, người em gái, đã tới canh cái xác, bầu bạn với nó, và canh cả bí mật cô từng cùng anh chia sẻ: một chuyện đã xảy ra trong nhà bà ngoại họ mùa đông năm 1968, một bí mật tăm tối đã khiến cuộc đời họ vĩnh viễn biến hình. Trong lúc Enright lần theo những con đường của sự phản bội và cứu chuộc qua ba thế hệ, bà đã cho thấy ký ức có thể thay đổi đến đâu, và những bí mật có thể gây ra chừng nào đau đớn. Ở tác phẩm này, cũng như mọi tác phẩm khác mà Enright từng viết, trí tuệ đặc biệt của bà đã vặn xoắn thế giới một chút rồi trả lại nó cho chúng ta trong ánh sáng mới và không thể lãng quên. *** Đôi nét về tác giả Anne Enright Anne Enright sinh năm 1962 ở Dub­lin, học tiếng Anh và triết ở Trin­ity Col­lege, Dub­lin, và học tiếp lấy bằng thạc sĩ về sáng tác ở Đại học East Anglia. Bà có lúc làm nhà sản xuất chương trình truyền hình. Cuốn sách đầu tiên của bà là tập truyện The Port­able Vir­gin (Tượng Mẹ đồng trinh xách tay), ra đời năm 1991, và đoạt giải Rooney của văn học Ireland. Hai tập truyện kế đó, Tak­ing Pic­tures (Chụp hình) và Yesterday’s Weather (Thời tiết hôm qua) được xuất bản năm 2008. Các tiểu thuyết của bà là The Wig My Father Wore (1995; Mái tóc giả cha tôi đội); What Are You Like? (Trông bạn ra sao?) đoạt giải Encore Award 2001; The Pleas­ure of Eliza Lynch (2002; Niềm vui của Eliza Lynch); và The Gath­er­ing (2007; Họp mặt) đoạt giải Man Booker cho truyện năm 2007. *** Lời khen tặng dành cho Họp mặt “Trí tuệ đến liều lĩnh, khiếu hài hước hoang dại, chậm rãi trong diễn tiến, không một chút ủi an: tiểu thuyết của Enright rất tăm tối, nhưng đó cũng là điều khiến nó lấp lánh.” – New York Times Book Review “Tiết chế đến kinh ngạc và cách nhìn không tì vết.” – Los Angeles Times “Giọng kể của cuốn sách phảng phất âm hưởng nỗi đau lạnh lùng đầy giận dữ kiểu Joan Didion, nhưng lòng trắc ẩn ấm áp có lẽ gợi nhớ Người Dublin của James Joyce.” – Washington Post “Enright đã viết một tiểu thuyết nghiệt ngã mà trang nhã tuyệt vời, đưa chủ đề Ireland quen thuộc là sự bất thường trong gia đình và thói đỏng đảnh của ký ức vào vùng lãnh địa được đắp thêm thịt da bằng một sự khách quan chính xác tới mức khiến nó lại gần như tràn đầy lòng thương…” – Los Angeles Times “Một cái nhìn trực diện vào một gia đình đau thương… một tiểu thuyết rất đáng đọc và đáng hài lòng.” – Ngài Howard Davies, Chủ tịch Ban Giám khảo giải Man Booker “Mê hoặc, lạnh lùng, sâu sắc. Họp mặt là một cái nhìn ám ảnh vào một gia đình tan vỡ, bị bóp nghẹt bởi hàng thế hệ đau thương, thất vọng, vật lộn thỏa hiệp với điều không thể thay thế.” – Entertainment Weekly *** Tôi muốn ghi lại những gì đã xảy ra tại nhà bà ngoại tôi hồi mùa hè năm tôi tám chín tuổi gì đó, nhưng tôi không chắc liệu nó có thực sự xảy ra không. Tôi cần làm chứng cho một sự kiện không chắc chắn. Tôi cảm thấy nó kêu gào trong tôi - cái điều có thể đã không xảy ra này. Thậm chí tôi không biết gọi tên nó là gì. Chắc có thể gọi nó là một tội lỗi về xác thịt, nhưng xác thịt đã từ lâu tan rã và tôi không chắc nỗi đau nào có thể còn day dứt trong xương. Anh Liam của tôi thích chim và, giống như mọi cậu trai khác, anh thích xương những con thú chết. Tôi không có con trai, vì vậy khi đi ngang qua bất kỳ cái đầu lâu hay bộ xương nhỏ nào tôi cũng đều chậm bước và nghĩ về anh ấy, về chuyện anh ấy từng mê thích những nét phức tạp của chúng. Đôi cánh già nua của một con ác là thò ra khỏi mớ lông bù xù; chắc mập và nhẹ và sạch. Đó là từ chúng ta dùng cho xương: Sạch. Tôi bảo các con gái mình tránh xa cái sọ chuột trong rừng hoặc con chim sẻ chết đang trải nắng mưa cạnh bức tường khu vườn, dĩ nhiên. Tôi không chắc tại sao. Dù vậy, đôi khi chúng tôi tìm thấy, trên bãi biển, một cái mai mực trắng tinh khiết đến độ tôi phải tuồn nó vào túi áo, và tôi an ủi tay mình bằng cách mân mê cái vòm cong trắng bí mật của nó. Bạn không thể phỉ báng người chết, tôi nghĩ, bạn chỉ có thể an ủi họ. Vì vậy tôi tặng Liam bức tranh này: hai đứa con gái của tôi đang chạy trên rìa cát bãi biển lổn nhổn đá, dưới bầu trời vần vũ sà xuống thấp, vai áo khoác hất ra sau. Sau đó tôi xóa nó. Tôi nhắm mắt và buông mình lăn theo tiếng tĩnh điện ầm ĩ của biển cả. Khi tôi mở mắt ra, đó là để gọi mấy đứa con gái trở lại xe. Rebecca! Emily! Điều đó không quan trọng. Tôi không biết sự thật, hoặc tôi không biết cách kể sự thật. Tôi chỉ có những câu chuyện, những ý nghĩ về đêm, những niềm tin bất ngờ đẻ ra trong tình trạng không chắc chắn. Tôi chỉ có những lời cuồng loạn, giống vậy hơn. Bà yêu ông ấy! Tôi nói. Bà hẳn đã yêu ông ấy! Tôi chờ cái ý nghĩa mà bình minh mang đến, khi bạn không ngủ. Tôi ở lại dưới nhà trong khi cả gia đình thở đều ở phía trên và tôi viết ra điều này, tôi trải chúng ra thành những câu đẹp, tất cả những xương trắng, sạch của tôi. Mời các bạn đón đọc Họp Mặt của tác giả Anne Enright & Phạm Viêm Phương (dịch) & Huỳnh Kim Oanh (dịch).
Hiện Tại
Khi toàn bộ gia đình Malory tập trung tại Haverston để đón Giáng Sinh, một món quà bí ẩn được một người vô danh gửi đến. Món quà là một cuốn nhật ký cũ - một câu chuyện nhẹ nhàng và gay cấn về mối tình giữa vị Hầu tước thứ hai, Christopher Malory, và một người đẹp Gypsy bí ẩn tên là Anastasia, người đang tìm kiếm một mối tình với một người không phải Gypsy để cứu mình khỏi một cuộc hôn nhân sắp đặt trước với một kẻ vũ phu. Mặc dù lãnh chúa người Anh bảnh bao thấy Anastasia là một cô gái nóng bỏng và xinh đẹp lạ kỳ, Christopher cũng không bao giờ có thể đồng ý kết hôn với một phụ nữ ở tầng lớp thấp kém như vậy. Nhưng những điều kỳ diệu đã xảy ra trong hội mùa của hòa bình và sự trao gửi và yêu thương này, khi hai con người phi thường bị ngăn cách bởi tầng lớp xuất thân bắt đầu một vũ điệu cuồng nhiệt của ý chí và mưu mô. Và trong sự thăng hoa kỳ diệu của một mối tình lãng mạn huy hoàng vào dịp Giáng Sinh cách đây rất lâu, có những bài học khôn ngoan được đúc kết đầy đủ sẽ làm phong phú thêm trái tim của con cháu họ - và thực sự là của tất cả những ai đã từng mơ ước. *** Một cuốn tiểu thuyết mới từ JohannaLindsey là một món quà trong bất kỳ mùa lễ hội nào. Tuy nhiên, câu chuyện theo chủ đề ngày lễ mới của bà về một gia tộc liêm khiết - nhưng vẫn lộng lẫy đến say đắm - Gia tộc Malory, The Present, là một thứ đặc biệt không thể cưỡng lại được. Có rất nhiều kịch tính xung quanh cây thông Noel của gia đình ngay cả trước khi một gói quà bí ẩn được gửi đến, một gói quà sẽ mãi mãi thay đổi cách họ nhìn nhận về bản thân họ. The Present có những bí mật đen tối, những căng thẳng trong gia đình, tình yêu đơn phương - tất cả những yếu tố cấu thành nên một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử khó quên. *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), Ngôi Sao Lạc Loài Chỉ Một Lần Yêu Nơi Em Thuộc Về Trái Tim Hoang Dã Yêu Lầm Anh? Tình Yêu Tìm Thấy Chỉ Một Tình Yêu The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Nước Anh, 1825 Gia tộc Malory luôn dành những ngày lễ Giáng Sinh tại Haverston, dinh thự của tổ tiên ở nông thôn, nơi người lớn tuổi nhất trong số họ sinh ra và lớn lên. Jason Malory, Hầu tước Thứ Ba của Haverston và là người lớn tuổi nhất trong số các anh em trai nổi loạn, là thành viên duy nhất trong gia đình vẫn thường xuyên trú ngụ tại đây. Là chủ gia đình từ khi mới mười sáu tuổi, Jason đã nuôi nấng các em trai của mình — hai người trong số họ đã hoàn toàn gây tai tiếng trong những trò theo đuổi của họ — và một cô em gái. Hiện tại, các Malorys và con cháu họ khá đông và khó sắp xếp chỗ ở, đôi khi ngay cả đối với chính Jason. Vì vậy, một đoàn người đông đúc đã tập trung tại Haverston vào những ngày này cho mùa Giáng Sinh. Con trai và là người thừa kế duy nhất của Jason, Derek, là người đầu tiên đến, hơn một tuần trước Giáng Sinh. Cùng với câu là vợ của cậu, Kelsey, và hai đứa cháu đầu tiên tóc vàng và mắt xanh của Jason. Anthony, em trai út của ông, là người tiếp theo đến chỉ vài ngày sau Derek. Tony, như hầu hết mọi người trong gia đình đều gọi anh, thừa nhận với Jason rằng anh đã rời khỏi London sớm sau khi nghe tin rằng anh trai James của họ đang tức giận với anh. Trêu trọc James là một chuyện, và một số điều mà Anthony thường cố gắng làm, nhưng khi James tức hộc máu, thì Tony coi đó là một vấn đề hoàn toàn khác. Anthony và James là hai người em trẻ nhất của ông, nhưng họ chỉ cách nhau một tuổi. Cả hai đều là những tay đấm bốc cừ khôi, và Anthony có thể cầm cự với những tay đấm cừ nhất, nhưng James thì cao tay hơn, và nắm đấm của anh thường được ví như những viên gạch rắn chắc. Đi cùng với Anthony là vợ anh, Roslynn, và hai cô con gái của họ. Judith, đứa lớn nhất 6 tuổi, giống cả cha và mẹ, có mái tóc vàng đỏ chói lọi của mẹ và đôi mắt xanh coban của cha, một sự kết hợp nổi bật nghiêm trọng mà Anthony sợ rằng sẽ khiến cô bé trở thành người đẹp trị vì trong thời đại của mình — điều mà với tư cách một người cha và một tay phóng đãng hoàn lương anh không hề mong đợi. Nhưng cô con gái nhỏ của anh, Jaime, cũng sẽ khiến vô số trái tim tan vỡ. Cũng như tất cả các vị khách của mình, Jason là người đầu tiên nhận thấy món quà xuất hiện trong phòng khách trong khi gia đình đang ăn sáng. Thật ra, thật khó để bỏ lỡ khi nó được đặt nổi bật trên một chiếc bàn bên cạnh lò sưởi. Được bọc bằng vải vàng, thắt một dải ruy băng nhung đỏ và nơ, nó có hình dạng kỳ lạ, gần giống như kích thước của một cuốn sách dày, nhưng một phần nhô ra tròn ở trên gợi ý rằng nó không chỉ đơn giản như vậy. Chọc ngón tay vào thấy phần nhô ra có thể di chuyển, nhưng không nhiều lắm, vì ông phát hiện ra khi ông nghiêng gói quà sang một bên mà nó không thay đổi vị trí. Thật lạ lùng, nhưng lạ lùng hơn vẫn là không có dấu hiệu gì cho thấy món quà này được gửi từ ai, cũng như nó là dành cho ai. “ Hơi sớm để chuyển quà Giáng sinh, phải không?” Anthony nhận xét khi đi vào phòng nhìn thấy Jason đang cầm món quà. “Cây thông Noel thậm chí còn chưa được đưa vào.” “Đó cũng là suy nghĩ của tôi, vì tôi không đặt nó ở đây,” Jason trả lời. “ Không ư? Vậy thì là ai?” “ Tôi không biết,” Jason thừa nhận. “ Vậy thì nó dành cho ai?” Anthony hỏi, “ Bản thân tôi cũng muốn biết điều đó.” Anthony nhướng mày vào thời điểm đó. “Không có tấm thiệp nào sao?” Jason lắc đầu. “Không có. Tôi vừa thấy nó ở đây trên cái bệ này,” ông nói và đặt nó trở lại. Anthony cũng nhặt món quà lên để xem xét nó một chút. “Hmmm, ai đó chắc chắn đã bọc nó thật đẹp mắt. Em cá rằng nó sẽ thu hút bọn trẻ — ít nhất là cho đến khi chúng ta tìm ra nó là gì.” Khi nó xuất hiện, nó cũng thu hút cả người lớn. Trong những ngày tiếp theo, vì không ai trong gia đình nhận đã đặt nó ở đó, món quà đã tạo ra một cảm giác tò mò. Tất cả người lớn đều cầm lên chọc, lắc hoặc kiểm tra nó, nhưng không ai có thể tìm ra nó có thể là gì, hoặc nó dành cho ai. Những người đã đến cho đến nay đã tập trung trong phòng khách vào cái đêm khi Amy bước vào ôm một trong hai đứa con sinh đôi của cô ấy. “Đừng hỏi tại sao chúng cháu đến muộn, mọi người sẽ không tin điều đó đâu.” Cô ấy nói, thở một hơi rồi nói tiếp, “Đầu tiên bánh xe ngựa rơi ra. Sau đó, không đầy một dặm trên đường, một trong những con ngựa bị mất không phải một, mà là hai chiếc móng. Sau khi chúng cháu giải quyết xong tất cả và chúng cháu gần như đã ở đây, thì chiếc trục xe chết tiệt lại bị gãy. Cháu nghĩ chắc chắn lúc đó Warren sẽ đập tan chiếc xe ngựa tội nghiệp đó. Anh ấy đã đá nó cho hả giận. Nếu cháu không nghĩ sẽ đánh cuộc với anh ấy rằng chúng cháu sẽ đến đây hôm nay, cháu thực sự không nghĩ rằng chúng cháu sẽ đến nơi được. Nhưng mọi người biết đấy, cháu không bao giờ thua một vụ cá cược nào, vì vậy ... Nhân tiện, bác Jason, ngôi mộ không bia tội nghiệp nằm trong vùng đất trống đáng yêu ở phía đông ấy. Ngôi mộ nằm gần với con đường chạy qua khu đất của bác. Chúng cháu đã đi bộ qua con đường đó để đến đây, vì nó là con đường ngắn nhất vào thời điểm đó, chỉ cần đi qua khu đất trống đó.” Lúc đầu không ai nói một lời nào, vẫn còn buồn cười sau bài diễn văn dài đó. Nhưng sau đó Derek lên tiếng, “Nhớ lại ngôi mộ mà nãy em vừa nhắc đến, em họ. Reggie và anh đã tìm thấy nó khi bọn anh còn là những đứa trẻ đang tìm hiểu về điền trang. Đã từng luôn luôn có ý hỏi cha về nó, Cha không bao giờ nói đến nó, sau đó bọn con cũng quên nó luôn.” Lúc đó, tất cả mọi người đều đang nhìn về phía Jason, nhưng anh chỉ nhún vai. “Quỷ tha ma bắt nếu ta biết ai đã được an nghỉ ở đó. Ngôi mộ đó đã có ở đó từ trước khi ta được sinh ra. Ta đã hỏi cha ta về điều đó một lần, như ta nhớ lại, nhưng cha ta không trả lời, thực sự lúng túng và ấp úng rất nhiều. hình như ông ấy cũng không biết nên ta không hỏi lại.” “ Hãy nghĩ xem tất cả chúng ta đều đã nhìn thấy ngôi mộ đó vào lúc này hay lúc khác, ít nhất là những người trong chúng ta đã từng được nuôi dưỡng ở đây”, Anthony không nhắc đến ai cụ thể. “Một nơi kỳ lạ cho một ngôi mộ, và một ngôi mộ được chăm sóc tốt ở đó, trong khi có hai nghĩa trang gần đó, chưa kể nghĩa trang của tổ tiên ngay trên khu đất này.” Judith, người đang đứng cạnh cái bàn nhìn chằm chằm vào món quà bí ẩn, đến gần người chị họ Amy và giơ tay đỡ lấy đứa con song sinh hai tuổi khỏi tay cô. Judy cao so với tuổi của cô bé và rất thích chơi với những đứa trẻ mới biết đi. Amy chỉ ngạc nhiên là cô bé chả nói năng gì. “ Cái ôm của chị đâu, mèo con?” Khuôn mặt xinh đẹp nhìn chằm chằm vào cô một cách ương bướng. Amy nhướng mày về phía cha của cô bé. Anthony đảo mắt, nhưng vẫn giải thích, “Nó đang hờn dỗi vì Jack vẫn chưa ở đây.” Jack là con gái lớn của James và Georgina. Mọi người đều biết Jack và Judy, hai đứa chỉ cách nhau một tháng tuổi, không thể tách rời khi chúng ở cùng nhau, và chúng yêu nhau đến mức cha mẹ của chúng phải đảm bảo rằng chúng được thường xuyên ở bên nhau - đặc biệt là vì cả hai đều không hạnh phúc khi chúng cách xa nhau quá lâu. “Không phải,” Judith phủ nhận với một cái bĩu môi lầm bầm khi cô bé bước trở lại cái bàn. Jason là người duy nhất chú ý khi sự quan tâm của Amy tập trung vào món quà đang thu hút sự tò mò của mọi người. Ông sẽ không nghĩ gì, ngoại trừ biểu hiện của cô. Cái nhíu mày thoáng qua của cô khiến ông tự hỏi liệu cô có đang cảm nhận được điều đó không. Cô cháu gái này của ông có một sự may mắn phi thường, chưa bao giờ thua một cuộc cá cược nào trong đời, mà cô cho rằng đó là những “linh cảm”, như cách cô gọi chúng, mà cô có được. Jason coi những điều đó như những cảm giác quá kỳ lạ, đó là lý do tại sao ông sẽ không nhận ra nếu như cô đang có linh cảm đó ngay bây giờ. Vì vậy, ông cảm thấy nhẹ nhõm khi cái cau mày của cô dịu đi và cô dành sự quan tâm trở lại cho em trai ông. “Vậy là chú James vẫn chưa đến ạ?” Amy phỏng đoán từ phản ứng cuối cùng của Anthony. Anthony lẩm bẩm. “Chưa, và hy vọng anh ấy sẽ không đến.” “Ôi chao. Hai người lại đánh nhau ạ?” Amy lại phỏng đoán. “Chú á? Đánh nhau với anh trai thân yêu của chú à? Chú sẽ không nghĩ đến điều đó đâu,” Anthony trả lời, “Nhưng ai đó chết tiệt cũng phải nói với anh ấy rằng đây là lễ hội cho những lời chúc tốt đẹp chứ.” Derek cười khúc khích trước vẻ mặt chua ngoa của chú mình. “Nghe nói có tin đồn là chú James đang săn lùng chú. Điều gì đã khiến lần này chú ấy khó chịu thế ạ?” “ Nếu chú biết, thì chú sẽ biết cách để xoa dịu anh ấy, nhưng chú sẽ là con lừa nếu chú biết điều gì. Chú đã không gặp James trong một tuần vui vẻ, không phải từ khi chú bỏ Jack sau chuyến đi chơi mà chú dẫn các cô gái nhỏ đi cùng.” “Chà, James sẽ cho tôi biết nếu chú ấy không đến,” Jason chỉ ra. “Vì vậy, khi chú ấy đến đây, vui lòng gây lộn ở bên ngoài. Molly nghiêm túc phản đối máu làm vấy bẩn thảm.” Mời các bạn đón đọc Hiện Tại của tác giả Johanna Lindsey.
Hai Năm Trên Hoang Đảo
Một sự cố xảy ra trong đêm tối – du thuyền Sloughi mất tích và trôi dạt vào Thái Bình Dương, mang theo mười lăm cậu bé từ tám đến mười bốn tuổi, không một cơ may được cứu giúp cũng chẳng có người lớn nào để cậy trông. Vừa thoát khỏi bão tố và những con sóng dữ của đại dương, du thuyền lại dạt vào một miền đất hoang sơ, bí ẩn. Kì nghỉ hè mơ ước bỗng chốc hóa thành một "trường học" sinh tồn gian khổ: các cậu bé phải tự xoay xở để kiếm cái ăn, chốn ở và sống sót qua bao thử thách, hiểm nguy với hi vọng mong manh được thấy lại quê nhà. Hai năm trên hoang đảo của Jules Verne trước hết là một cuộc phiêu lưu kì thú mở ra bao điều mới lạ về thế giới tự nhiên, đồng thời khơi gợi khao khát trưởng thành và ý chí tự lập ở các em nhỏ. Nhưng nhìn rộng ra, đây cũng là bức tranh thu nhỏ về công cuộc thám hiểm và chinh phục những vùng đất mới từng là một chương quan trọng trong lịch sử loài người. Qua đó, độc giả có dịp hiểu thêm về mối quan hệ giữa con người nhỏ bé nhưng giàu trí khôn và nghị lực với thiên nhiên kì vĩ, đôi khi khắc nghiệt nhưng hào phóng vô cùng. *** Đã có nhiều Robinson khơi dậy lòng hiếu kì của các bạn đọc trẻ. Đó là một người đàn ông trong tác phẩm bất hủ Robinson Crusoe của Daniel Defoe, là một gia đình trong Robinson Thụy Sĩ* của Wyss, là một nhóm người trong Miệng núi lửa của Cooper, là một nhóm bác học trong Hòn đảo huyền bí của tôi. Người ta còn tưởng tượng ra Robinson mười hai tuổi, Robinson miền băng giá, Robinson thiếu nữ v.v. Mặc dầu đã có vô số truyện Robinson như vậy, tôi vẫn thấy cần thêm vào cho đầy đủ một nhóm trẻ em từ tám đến mười ba tuổi, bơ vơ trên một hòn đảo, phải vật lộn để sống còn giữa những thiên kiến do sự khác biệt về dân tộc, tóm lại, một kí túc xá những Robinson. Tác phẩm này đã có bản dịch tiếng Việt với nhan đề Lớn lên trên đảo vắng. (Sau đây các chú thích không có ghi chú gì thêm đều của người dịch). Mặt khác, trong truyện Thuyền trưởng mười lăm tuổi, tôi đã cố gắng chứng tỏ những gì một cậu bé, bằng lòng dũng cảm, trí thông minh, với ý thức trách nhiệm cao hơn lứa tuổi, có thể làm được để vượt qua bao gian khó, hiểm nguy. Nên tôi nghĩ rằng nếu đó là bài học bổ ích thì cũng cần được bổ sung cho hoàn mĩ hơn. Tác phẩm này ra đời nhằm mục đích kép ấy. Jules Verne *** Jules Gabriel Verne sinh ngày 8 tháng 2 năm 1828 tại Pháp và được coi là cha đẻ của thể loại Khoa học viễn tưởng. Để theo đuổi việc viết văn, Jules Verne đã bỏ học luật, nghề cha ông định hướng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay thành công Năm tuần trên khinh khí cầu (1863) đã mở đầu cho hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng về sau của Jules Verne như Cuộc Thám Hiểm Vào Lòng Đất (1864), Hai vạn dặm dưới biển (1870), 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới (1873)… Các  tác phẩm của ông được dịch khắp nơi trên thế giới. Jules Verne mất ngày 24 tháng 3 năm 1905. Sau khi ông qua đời, nhiều tiểu thuyết chưa in của ông vẫn được tiếp tục xuất bản. - Ông là nhà văn Pháp nổi tiếng, được coi là người khai sinh ra thể loại văn học Khoa học viễn tưởng. - Tác phẩm của ông được dịch nhiều thứ ba trên thế giới và được chuyển thể thành phim nhiều lần. - Danh tiếng ấy chắc hẳn đã là đẹp đẽ lắm rồi. Tuy nhiên ông còn xứng đáng được nhiều hơn thế. Và thật không công bằng khi chúng ta kể lại lịch sử văn học của thời đại này mà không đặt tiểu thuyết gia có lẽ là có tính sáng tạo bậc nhất vào một vị thế đúng đắn. - Ông đã dùng phòng thí nghiệm và kính viễn vọng để viết tiểu thuyết phiêu lưu. Ông không chỉ ghi lại quá trình các nhà bác học tạo nên những phát minh lớn, mà còn tiên đoán chúng. Đọc những tác phẩm cùa ông, ta có thể nhận thấy những mâu thuẫn vì trong số những ý tưởng khoa học còn có những kiến phát chưa thể xác minh. Và bỗng dưng năm sau, hoặc vài năm sau, những giả thuyết mà ông đặt ra mà đôi khi thậm chí ông còn không tin, đã trở thành sự thật, một cách hoàn toàn chính xác. Những nhà bác học đã hoàn toàn đồng tình với ý tưởng của ông, hay nói cách khác, ông đã đi trước họ!.. - Trước đây, người ta vẫn đặt câu hỏi liệu khoa học thực sự có đi ngược hướng với trí tưởng tượng văn chương hay không. Các nhà triết học thì đồng tình, lules Verne chứng minh điều ngược lại qua hành động. Ông dùng chất liệu khoa học để xây dựng nên những câu chuyện hấp dẫn, những cuộc phiêu lưu lôi cuốn. *** I Trận bão - Con tàu bị hư hỏng - Bốn chú bé trên boong tàu Sloughi - Buồm trước rách tả tơi - Trong khoang tàu - Chú học việc thủy thủ bị chẹt cổ gần chết - Sóng đánh đuôi tàu - Thấy đất qua sương mù - Bãi đá ngầm Đ êm mùng 9 tháng 3 năm 1860, mây rà sát mặt nước, tầm nhìn xa chỉ vài sải tay. Biển động, sóng dậy dồn dập chiếu ra một thứ ánh sáng nhợt nhạt, một con tàu nhỏ gần như không giương buồm lao nhanh. Đó là một du thuyền trọng tải một trăm tấn mà người Anh, người Mỹ gọi là “schooner”. Tên chiếc schooner này là Sloughi. Nhưng giờ thì đừng hoài công tìm tên ấy vì tấm biển đề đã bị một sự cố - sóng đánh hay một cú va đập mạnh - làm vỡ ra từng mảnh rồi. Đã 11 giờ đêm. Ở vĩ độ này vào đầu tháng 3, đêm hãy còn ngắn. Đến 5 giờ sáng thì trời hửng. Nhưng liệu ánh mặt trời có làm giảm bớt hiểm nguy đang đe dọa con tàu không? Nếu sóng dịu xuống, gió lặng đi thì chắc nó sẽ không bị đắm, một tai nạn khủng khiếp nhất ở giữa đại dương, xa mọi mảnh đất, nơi những người sống sót có hi vọng được cứu giúp. Ở cuối tàu, bên bánh lái có ba chú bé, một chú mười bốn tuổi, hai chú kia cùng mười ba với một chú da đen học việc thủy thủ mười hai tuổi. Các chú hợp sức cố giữ cho tàu khỏi chệch hướng quay ngang. Công việc thật khó nhọc vì bánh lái cứ cưỡng lại, muốn quay ngược, có thể hất bay các chú qua thành tàu. Đã thế, gần nửa đêm, một con sóng trùm qua boong, đập mạnh vào sườn tàu đến nỗi các chú không bị văng mất đã là một sự thần kì. Cú đập làm các chú ngã nhưng đứng dậy được ngay. - Còn lái được không, Briant? - Một cậu hỏi. - Còn, Gordon ạ. - Briant đã trở về vị trí và bình tĩnh trả lời, rồi nói với cậu thứ ba. - Chúng mình phải vững vàng, Doniphan ạ! Phải dũng cảm vì bọn mình phải cứu mấy đứa kia. Briant nói bằng tiếng Anh, nhưng cách phát âm cho thấy cậu là người Pháp. Quay sang chú tập sự thủy thủ, cậu hỏi: - Mày có bị thương không, Moko? - Thưa cậu* không sao, - Moko trả lời. - Cần nhất bây giờ là giữ cho tàu gối lên sóng, không chệch hướng quay ngang, không thì chúng ta sẽ chìm nghỉm ngay! Vào thời ấy, tệ phân biệt chủng tộc da trắng, da màu rất nặng nề. Nguyên văn tiếng Pháp là “monsieur Briant”, đúng ra phải dịch là “thưa ông Briant”. Người dịch tạm dùng chữ “cậu” cho nhẹ bớt. Vừa lúc ấy, ca pô cầu thang xuống phòng khách du thuyền bật mở, hai cái đầu bé bỏng nhô lên mặt boong cùng một con chó dễ thương sủa mấy tiếng. - Anh Briant!… Anh Briant!… Chuyện gì thế? - Một chú bé chín tuổi gào lên. - Không, Iverson, chẳng có chuyện gì cả, - Briant đáp - em với Dole xuống ngay đi… nhanh lên! - Là vì chúng em sợ quá! - Chú nhóc thứ hai còn non tuổi hơn nói thêm. - Còn những đứa kia? - Doniphan hỏi. - Những đứa kia cũng sợ! - Dole trả lời. - Thôi, các em xuống cả đi! - Briant nói - Đóng chặt cửa lại, trùm kín chăn, nhắm mắt vào là hết sợ thôi! Chẳng có gì nguy hiểm đâu. - Chú ý! Lại sóng lớn! - Moko thét. Đuôi tàu bị đập mạnh. May sao sóng không trùm lên boong, nếu không nước sẽ qua ca pô cầu thang ùa vào, tàu nặng lên sẽ không đè trên sóng được. - Xuống ngay! Nếu không thì… liệu hồn! - Doniphan quát. - Thôi nào! Về buồng đi các em! - Briant nói, giọng ôn tồn hơn. Hai cái đầu vừa thụt xuống thì một cậu bé khác xuất hiện: - Briant! Có cần chúng mình không? - Không! Baxter, bốn chúng tớ là đủ, Cross, Webb, Service, Wilcox và cậu, các cậu ở lại với các em bé. Baxter sập ca pô xuống. “Những đứa kia cũng sợ!” Dole đã nói thế. Chẳng lẽ chỉ có toàn trẻ em trong con tàu đang bị cuốn theo gió bão này sao? Đúng, toàn là trẻ em! Bao nhiêu? Mười lăm đứa, kể cả Gordon, Briant, Doniphan và chú thủy thủ tập sự. Vậy các em xuống tàu trong hoàn cảnh nào? Ta sẽ sớm biết thôi. Và trên tàu không có một người lớn, không có thuyền trưởng để chỉ huy, không có một thủy thủ nào để sử dụng các thiết bị, không có một người lái nào để lái tàu hay sao? Không! Không có một ai! Vì thế, không ai trên tàu biết vị trí chính xác của tàu trên đại dương này! Mà là đại dương nào? Đại dương lớn nhất, Thái Bình Dương trải rộng hai nghìn dặm từ bờ biển Australia và New Zealand tới tận bờ biển Nam Mỹ. Vậy chuyện gì đã xảy ra? Tai họa nào đã làm thủy thủ đoàn biến mất? Phải chăng cướp biển Mã Lai đã bắt tất cả, để mặc đám hành khách trẻ con này, mà đứa lớn nhất mới suýt soát mười bốn tuổi, tự xoay xở lấy? Chiếc du thuyền một trăm tấn ít ra phải có một thuyền trưởng, một thủy thủ trưởng và năm, sáu người nữa. Thế mà cả cái bộ sậu tối thiểu để vận hành con tàu chỉ còn lại chú thủy thủ tập sự!… Cuối cùng, du thuyền từ đâu tới, từ vùng biển nào của Australia hay quần đảo nào của châu Đại Dương, đã đi từ bao lâu và định tới đâu? Bất cứ thuyền trưởng nào gặp tàu Sloughi ở vùng biển khơi này cũng sẽ hỏi như vậy và chắc chắn là bọn trẻ sẽ trả lời được. Nhưng có tàu thuyền nào đâu. Tàu viễn dương thường qua lại các vùng biển châu Đại Dương cũng chẳng thấy, mà tàu buôn chạy bằng máy hơi nước hoặc chạy bằng buồm, thường có hàng trăm chiếc từ châu Âu hoặc châu Mỹ sang các hải cảng Thái Bình Dương cũng không gặp chiếc nào. Mà dẫu có một con tàu khỏe có động cơ hoặc hệ thống buồm đi chăng nữa thì thủy thủ cũng phải tập trung chống bão, cứu sao được chiếc du thuyền đang nhấp nhô trên mặt biển như mảnh vỡ của một con tàu! Mời các bạn đón đọc .Hai Năm Trên Hoang Đảo của tác giả Jules Verne & Đinh Khắc Phách (dịch)
Bóng Tàu Ma
Reng... Reng... Reng... Tiếng chuông cửa reo vang. Ông Đốc gọi con: - Côn ơi, ra xem ai, con! Côn từ trên lầu chạy xuống. Tiếng khách vọng vào: - Ba có nhà không em? Côn lễ phép đáp: - Thưa thầy, có ạ! Mời thầy vào chơi. Côn dẫn khách vào phòng, ông Đốc đứng dậy bắt tay mời khách ngồi. Côn giới thiệu: - Thưa ba, đây là thầy Mạnh, giáo sư vạn vật ở trường con đó ba. - Hân hạnh được biết thầy – rồi ông quay sang Côn – Con vào rót nước mời thầy, con. Thầy Mạnh vào đề ngay: - Thưa ông bà, hôm nay tôi đến đây là để xin phép ông bà cho em Côn đi cắm trại ít bữa ở Đại Lãnh. - Ủa, thì ra thầy... Có, tôi có nghe thằng Phan nói lại như vậy. Nhưng... Vừa lúc ấy, Côn bưng nước ra: - Mời thầy xơi nước. Côn là con gái duy nhất của ông bà Đốc hiện ngụ tại một biệt thự xinh xắn tọa lạc trên đại lộ Duy Tân, trông thẳng ra bãi biển Nha thành thơ mộng. Tuy là con gái, nhưng Côn có bản tính nhanh nhẹn gan góc không kém con trai mấy. Nghe giáo sư Lê Mạnh đề cập đến vụ đi nghỉ hè, bọn trẻ ló đầu ra chờ kết quả. Thầy Mạnh nheo mắt ra hiệu: - Phan, Minh, An xuống rồi đấy hả? Ra đây các em. Bốn đứa trẻ ngồi quanh ông Đốc và giáo sư Mạnh. Phan, Minh, An là con của bà Liên, chị ruột của ông Đốc. Khi niên học sắp tàn, năm nào cũng vậy, Phan, Minh, An đều náo nức được đến biệt thự Thùy Dương, căn nhà của ông bà Đốc. Bà Liên sinh sống ở trên thành nhưng hàng ngày, ba đứa con vẫn đạp xe đạp xuống tỉnh học. Năm nay, bọn trẻ dự tính đi Đại Lãnh cắm trại nhưng xin mãi, ông bà Đốc vẫn nằng nặc không chấp thuận. May mắn thay, giáo sư Mạnh cũng cùng chí hướng nên ông cố nài: - Vâng, tôi biết ông bà không muốn để các cháu đi cắm trại xa quá, tại Đại Lãnh lận. Các em có nói lại với tôi. Tôi nghĩ đi một ngày đàng, học một sàng khôn, có tôi cùng đi kỳ này, các em không dám nghịch ngợm đâu. Ông Đốc cười nói: - Thầy nói thế chớ... Tụi nó nghịch dữ lắm, thầy không chịu nổi đâu – Ông nhìn Côn – Nhất là con Côn, con gái gì mà... bảo coi má làm bếp, chả chịu nghe gì cả. Bọn trẻ lo lắng chưa biết kết quả đi đến đâu. Thầy Mạnh tiếp: - Các em còn nhỏ cả mà, ông bà cứ để cho các em nô đùa. Các em học giỏi cả, tháng nào cũng xếp hạng cao, thế mà ông bà còn chê trách. Ông Đốc hớp một ngụm nước, hít một hơi thuốc, rồi thong thả nói: - Chúng tôi cũng muốn cho các cháu cùng đi với thầy. Nhưng... Côn van nài: - Ba, nhưng, nhưng hoài. Con đi mấy bữa, đâu có sao mà ba lo. Phan cũng vòi theo: - Cậu ừ đi cho rồi cậu! Ông Đốc nhìn bọn trẻ, ông cười: - Các cô các cậu nài dữ quá. Thôi được, tôi cho phép đấy. Bọn trẻ vui mừng ôm nhau cười ra nước mắt, con chó Tô Tô của Côn cũng nhảy cỡn lên sủa nho nhỏ. - Chúng em cám ơn thầy hết sức. Nhờ thầy chứ không... - Thôi, thế nhiệm vụ của tôi hoàn thành rồi nhé. Xin phép ông bà tôi về. Chủ nhật sau, tôi đón các em đi. Phan, Minh, An, Côn chuẩn bị nghe chưa, chủ nhật sau, thầy chở các em đi Đại Lãnh. Minh vỗ tay: - Vâng, chúng em sẽ lo đâu đấy trước. Thầy Mạnh leo lên xe rồ máy. Chiếc xe "cà tàng" giừn giựt mấy cái mới chịu lăn bánh. Mời các bạn đón đọc Bóng Tàu Ma của tác giả Hà Đức Nghi.