Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Khói Lửa

Henri Bacbuyxơ (Henri Barbusse, 1873 – 1935) là một nhà văn cách mạng lớn đã đặt nền móng cho phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Pháp. Ông là một chiến sĩ cộng sản kiên quyết bênh vực những kẻ bị áp bức bóc lột, dũng cảm đấu tranh cho tự do và tiến bộ. Hội nhà văn quốc tế đánh giá ông là “người chiến sĩ phản đối chiến tranh đế quốc đầu tiên và lớn nhất trong văn học thế giới”. Và G. Đimitrôp viết: “Tên tuổi của H. Bacbuyxơ sẽ chói lòa trên những lá cờ của hàng triệu người đấu tranh chống lại thế giới cũ, thế giới của sự bóc lột, của sự nô lệ và của những cuộc chiến tranh ăn cướp”.[1]   Henri Bacbuyxơ sinh ngày 17 tháng 5 năm 1873 tại Axnierơ (quận Xen) nước Pháp. Cha ông, Anđriên Bacbuyxơ, là một nhà viết báo và viết kịch. Mẹ, Eni Benxơ, là con một chủ trại ấp người Anh. Bà mẹ chết lúc Bacbuyxơ mới lên ba tuổi.   Lúc còn là học sinh, Bacbuyxơ đã tỏ ra có biệt tài về văn thơ. Năm 1895, sau khi tốt nghiệp đại học, ông chính thức bước vào nghề viết văn, làm báo. Cũng chính năm đó, ông cho xuất bản tập thơ đầu tay, một tập thơ được Catuylơ Mendet (một nhà thơ Pháp nổi tiếng đương thời) hết sức ca ngợi.   Năm 1903, Bacbuyxơ viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Những người van xin (Les suppliants) và năm 1908 viết cuốn Địa ngục (L’Enfer). Hai cuốn này được các nhà văn Mateclink và Anatôn Franxơ coi là những tác phẩm lớn của một nhà văn có thiên tài.   Trong giai đoạn sáng tác này, Bacbuyxơ đã bắt đầu đi theo phương hướng hiện thực chủ nghĩa, nhưng mãi đến những năm chiến tranh 1914 – 1918, ông mới thực sự bước vào con đường sự nghiệp của một nhà văn và nhà chiến sĩ cách mạng.   Ngày 19 tháng 7 năm 1914, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Nguyên nhân chủ yếu của cuộc chiến tranh này là những mâu thuẫn nội bộ của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa bọn đế quốc Anh và đế quốc Đức. Với mục đích đòi chia lại thị trường thế giới, ngay trong những năm 1879 – 1882 Đức đã liên minh với Áo, Hung và Ý nhằm chống lại Nga, Pháp và Anh. Và từ đầu thế kỷ XX, ở châu Âu đã dần dần thành hình hai phe đối địch. Cuộc chiến tranh thế giới năm 1914 đã lôi cuốn 28 nước với số dân trên một tỷ rưỡi, và có đến 74 triệu người bị động viên.   Lúc đó, Henri Bacbuyxơ đã ngoài bốn mươi, đã quá tuổi tòng quân. Nhưng dù tuổi cao, sức yếu, ông vẫn tình nguyện gia nhập quân đội. Ông vào quân đội không phải để phiêu lưu, mạo hiểm mà là để làm bổn phận đối với tổ quốc và nhìn cho rõ thực chất ghê tởm của chiến tranh đế quốc, đặng vạch trần nó, góp phần tiêu diệt nó. Tháng chạp năm 1914, ông được điều ra mặt trận với trung đoàn bộ binh 231, sống với một tiểu đội mà ông đã mô tả sâu sắc trong tác phẩm Khói lửa (Le Feu) bất hủ.   Sau những ngày lăn lộn ở chiến hào, sát cạnh những người lính bình thường, hàng ngày đụng đầu với gian khổ, khủng khiếp và chết chóc, Bacbuyxơ mang về hậu phương một quyển sổ ghi chép bết bùn. Từ quyển sổ tầm thường ấy, bắt đầu từ cuối năm 1915 và sau 6 tháng, Khói lửa ra đời.   Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1916, Khói lửa được đăng dần trên báo Sự nghiệp, (Œuvre), bị kiểm duyệt cắt mất nhiều chỗ, và năm 1917, được xuất bản thành sách. Ngay từ lúc đầu, độc giả đã nhiệt liệt hoan nghênh, mặc dầu những công kích của bọn sô vanh chủ nghĩa. Tác phẩm đoạt giải thưởng Gôncua (Goncourt) và đến nay đã được dịch ra trên sáu mươi thứ tiếng.   Sau Khói lửa, cuốn Ánh sáng (Clarté), ra đời năm 1919, là một tác phẩm khác nổi tiếng của Bacbuyxơ. Ánh sáng có thể được coi là tiếng lòng của tác giả và của cả một lớp người trẻ tuổi đáp lại tiếng vọng của cuộc cách mạng tháng Mười Nga. Viết Ánh sáng, H. Bacbuyxơ đã gửi vào đấy một mối hy vọng: Từ cảnh chết chóc của chiến tranh, do sức mạnh của quần chúng, một thế giới mới sẽ ra đời, trong đó con người được nảy nở toàn diện và cuộc sống thật là tốt đẹp.   Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, Bacbuyxơ càng ra sức hoạt động chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Ông đã thành lập Hội cựu binh và thương binh ở Pháp (năm 1919) và Tổ chức cứu tế của Cựu binh sĩ (năm 1920). Cũng năm 1920, cùng với Raymôn Lơfevrơ (Raymond Lefevre) và Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), ông sáng lập tạp chí Ánh sáng, cơ quan của nhóm Ánh sáng, một nhóm còn có tên là Tổ chức quốc tế của tri thức. Trong những năm đầu, tạp chí Ánh sáng đã có ảnh hưởng khá lớn, được sự cộng tác của các nhà trí thức tiến bộ toàn thế giới.   Từ năm 1917, trong những bài báo và diễn văn của mình, Bacbuyxơ luôn luôn lên tiếng ca ngợi Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa cộng sản. Đến năm 1923, giữa lúc chính phủ phản động Pháp ráo riết đàn áp phong trào của giai cấp công nhân, lùng bắt các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản, Henri Bacbuyxơ đã chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Ông tuyên bố: “Tôi đã lấy tư tưởng của họ làm tư tưởng của tôi thì ngày nay tôi phải chịu đựng những gian nguy mà họ phải chịu”.   Dưới lá cờ của Đảng, H. Bacbuyxơ càng có thêm nhiệt tình và phương hướng đúng đắn đấu tranh cho chân lý, cho sự nghiệp giải phóng những người bị áp bức bóc lột. Tiếng nói chính nghĩa của ông đã không ngớt vang lên tố cáo mọi bất công và tàn bạo. Năm 1925, ông đã kêu gọi chống chiến tranh xâm lược Marôc. Khi bọn thống trị ở Bancăng tiến hành khủng bố trắng đối với nhân dân vùng này, ông đã sang tận nơi điều tra, đã thành lập những ủy ban bảo vệ nhân dân của cuộc khủng bố và lúc về nước Pháp, đã viết bản tố cáo đanh thép Những tên đao phủ (Les bourreaux) (1925).   Cạnh những hoạt động chính trị có ý nghĩa lớn đó, Bacbuyxơ vẫn hăng say tiếp tục sự nghiệp văn học của mình, một sự nghiệp văn học tích cực phục vụ hoạt động chính trị chân chính. Năm 1925, ông cho xuất bản cuốn Những sự trói buộc (Enchainements) một cuốn sách vạch trần nguyên nhân đầu tiên của mọi tội lỗi: nạn người bóc lột người.   Năm 1926, cuốn Sức mạnh (Force), tập truyện ngắn, và năm 1927, cuốn Jêdu (Jésus) của ông ra đời. Cũng trong năm 1927, Bacbuyxơ đã đi thăm Liên-xô, và ở Mạc-tư-khoa, ông đã tham dự vào việc thành lập Tổ chức quốc tế của các nhà văn cách mạng, mà sau này ông là một trong những người lãnh đạo. Khi trở về Pháp, ông đã viết cuốn Đây, người ta đã làm gì cho xứ Georgi (Voici ce qu’on a fait de la Géorgie) (1927). Năm 1928, Bacbuyxơ sáng lập tờ tuần báo Thế giới (Le monde). Tờ báo được coi như là một công cụ để giải phóng trí thức và là cơ quan liên lạc của những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa.   Năm 1932, Bacbuyxơ viết tác phẩm Đời Zôla (La vie de Zola). Trong công trình lịch sử và phê bình văn học này ông đã vạch rõ tác dụng tích cực và những hạn chế của Zôla và của chủ nghĩa tự nhiên trong văn học. Ông cũng đã trình bày tính chất và nhiệm vụ của văn học là phải thật sự hiện thực và phải phục vụ cho sự nghiệp giải phóng con người.   Trong những năm cuối cùng của đời mình, Bacbuyxơ đã ra sức chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh đang đe dọa thế giới, mặc dầu sức khỏe của ông ngày càng giảm sút. Ông đã tham dự và lãnh đạo nhiều cuộc hội nghị quốc tế chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít. Năm 1933, ông đã sang tận nước Mỹ nói chuyện trước nhiều cuộc mít-tinh và thành lập Liên đoàn chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít ở châu Mỹ.   Xtalin một thế giới mới nhìn qua một con người (Staline, un monde nouveau vu à travers un homme) ra đời năm 1935, là tác phẩm cuối cùng của đời ông. Trong cuốn sách này, ông đã hết lòng ca ngợi ý chí, tài năng của Xtalin, người đồng chí, người bạn và người kế nghiệp của Lênin.   Tháng 7 năm 1935, nhận lời mời của các nhà văn Xô-viết, ông lại sang thăm Liên-xô và đã tham dự Đại hội lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản. Lúc này, thân thể ông đã suy nhược, lại bị bệnh sưng phổi, nên ngày 30 tháng 8 năm 1935, ông đã từ trần tại Mạc-tư-khoa.   Nhân dân Pháp, nhân dân Liên-xô và nhân dân thế giới hết sức thương tiếc Henri Bacbuyxơ. Suốt trong ba ngày, nhân dân thành phố Mạc-tư-khoa liên tục diễu qua trước linh cữu ông. Sau đó, linh cữu ông được đưa về Pháp và ngày 7 tháng 9 tang lễ đã được cử hành trọng thể ở Pa-ri.   Đối với Việt Nam chúng ta, thân thế và sự nghiệp văn học của Henri Bacbuyxơ đã có ảnh hưởng lớn đến các nhà văn và các nhà hoạt động cách mạng ngay trong những năm trước Cách mạng tháng Tám. Bacbuyxơ đã nghiêm khắc lên án chế độ thuộc địa vô cùng tàn bạo của thực dân Pháp. Đã từ lâu, báo chí Việt Nam đã có những bài giới thiệu H. Bacbuyxơ như một nhà văn dùng nghệ thuật của mình để phục vụ nhân dân, phục vụ chân lý, phục vụ chủ nghĩa xã hội.[2]   Khói lửa mà Henri Bacbuyxơ gọi là “Nhật ký của một tiểu đội” và đề tặng hương hồn những bạn đồng đội đã hy sinh bên cạnh mình ở Cruy và trên sườn đồi 119, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng không những trong sự nghiệp sáng tác của Bacbuyxơ mà cả trong nền văn học hiện đại Pháp.   Có thể khẳng định rằng giá trị chủ yếu của Khói lửa là ở chỗ đã chống đối mãnh liệt chiến tranh đế quốc. Annet Viđan (Annette Vidal), nữ thư ký của H. Bacbuyxơ, đã từng phân tích Khói lửa, coi đó là cuốn tiểu thuyết của chiến tranh, của chiến hào, của người lính, của sự thật và là cuốn tiểu thuyết viết cho nhân dân. Ý nghĩa phản đối chiến tranh đế quốc của tác phẩm biểu lộ trước hết ở chỗ vạch trần sự thật khủng khiếp và cái vô lý của chiến tranh.   Trong Khói lửa, những người phải trực tiếp ra mặt trần phần lớn là công nhân, nông dân và dân nghèo. Lấy tiểu đội của tác giả làm ví dụ: hầu như không có ai là nghệ sĩ, tri thức hoặc tư sản. Dưới bề ngoài bình thường và phức tạp, họ chứa chất những tình cảm dịu hiền, lành mạnh. Họ hết sức thương yêu bố mẹ, vợ con, làng mạc, quê hương, trân trọng giữ từng lá thư nhà để sưởi ấm lòng. Blerơ đã từng chăm chú mài giũa làm chiếc nhẫn tặng vợ, Fuiat những lúc rảnh rỗi đã từng mơ tưởng về quê hương yêu dấu. Pôteclô vì mong thấy mặt vợ mà quên hết mọi gian nguy và trước hoàn cảnh éo le, những ý nghĩ ghen tuông của anh đã pha trộn nhiều niềm tha thứ. Lamuydơ coi trọng tình đồng đội, nhiều lúc quên mình để cứu bạn. “Họ không phải là lính tráng, họ là những con người…”. Nhưng chiến tranh đã bắt buộc người lính làm những điều trái ý muốn và tâm tư của họ. Ở trận địa có khi họ đánh đổi một mạng người lấy một bao diêm, một cặp ống chân lấy một đôi bốt. Họ phải trở thành ích kỷ, phải xoay sở, giành giật lẫn nhau. Có người đã phải kêu lên: “Tiến đến đây, thì ai cũng như thú dữ. Sống mãi như súc vật rồi đến thành súc vật cả nút”… Chiến tranh còn là chia ly, tan tác. Một lá thư của Bikê gửi an ủi mẹ, một bà mẹ suốt đời chỉ sống vì con bị trả về tiểu đội anh khi anh đã vĩnh viễn lìa đời: chiến tranh đã đẩy mẹ anh phiêu bạt không biết đi đâu. Lamuydơ bị đạn đại bác cướp mất Ođôxi và, khi anh được tự do gần nàng, ôm nàng thì nàng đã thành một trong những cái xác rữa nát, hôi thối dưới cái hầm bị sập. Và Pôteclô lìa đời trong lúc hình ảnh vợ anh cười nụ bên cạnh mấy thằng sĩ quan Đức trong căn buồng đầy ánh sáng, ở miền bị Đức chiếm, chưa làm anh hết băn khoăn. Cả một tiểu đội gồm 17 người, đến cuối tác phẩm bị tiêu hao gần hết. Cảm động nhất là cái chết của Mexin Anđrê. “Hắn có sáu anh em… Bốn đứa đã ngoẻo rồi, hai đứa nghoẻo ở Anđat, một ở Sampanhơ và một ở Acgôn…” Và Mexin cũng đã hy sinh.   Trong lúc ấy, bọn giàu sang ở thành thị coi chiến tranh chỉ là một việc bình thường, và cho rằng mỗi người một nghề, chúng ở hậu phương buôn bán, bóc lột làm giàu, công lao cũng không kém những người ra trận!   Bên cạnh việc mô tả đầy tính chất hiện thực cuộc chiến tranh đế quốc với những thảm trạng và bất công của nó; Khói lửa còn phản ánh được quá trình giác ngộ của những người lính. Lúc đầu, họ hục hặc với tất cả, họ phá phách và đôi khi độc ác. Dần dần sự phản ứng ấy đã hướng được vào đúng chỗ. Từ thái độ đối với bọn nhà báo bồi bút, đến sự phản kháng có ý nghĩa trước cái chết của Caja, và cơn phẫn nộ đối với bọn phục hậu, dần dần, người lính đã thấy rằng “một sự khác biệt bắt đầu hình thành giữa những con người, một sự khác biệt thật sâu xa, không thể dung hòa được… sự khác biệt giữa những kẻ bóc lột và những người phải làm quần quật, phải hy sinh tất cả… còn những kẻ khác thì giẫm đạp lên họ, tiến lên, mỉm cười và toại nguyện…”. Bước đầu giác ngộ giai cấp đã khiến họ có những suy nghĩ đúng đắn về chiến tranh: “… từng đoàn quân chui vào lò sát sinh là để cho một giai cấp đeo lon vàng có thể ghi tên tuổi quí phái của chúng vào lịch sử, để cho những kẻ cũng đeo đầy vàng, cũng thuộc vào một đẳng cấp như bọn kia có thể ôm đồm kinh doanh nhiều hơn để phục vụ cá nhân chúng…” Họ biết mình sinh ra là để làm những người chồng, người cha, làm những con người đúng với nghĩa của nó, chứ không phải để làm những con thú dữ cắn xé nhau, gieo khổ cho nhau. Cái băn khoăn của Mactơrô về bọn lính Đức không thích xung phong mà sao vẫn cứ phải ra trận, câu chuyện của anh lính phi cơ ở trạm cấp cứu về những lời cầu nguyện giống nhau trong một buổi sáng chủ nhật của lính Đức và lính Pháp, càng khẳng định thêm tội ác gây chiến của bọn thống trị bóc lột. Họ đã tự đặt nhiệm vụ phải tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt ở Đức và ở tất cả các nước một khi nó bành trướng đến và phải trừ khử chiến tranh ngay trong lòng tất cả các nước. Mục tiêu chiến đấu của họ là rồi đây phải chống những điều tội lỗi chứ không phải chống riêng một nước nào. Xã hội cần có một sự đổi thay và họ “hé thấy một cuộc Cách mạng nào đó lớn lao hơn cuộc cách mạng kia[3]”.   Khi nắm được thực chất của chiến tranh đế quốc, họ đã xác định được lòng tin, tin ở sức mạnh của mình, tin ở ngày mai tươi đẹp, tin rằng xã hội xấu xa sẽ mất, chiến tranh sẽ bị tiêu diệt và tương lai sẽ rực rỡ, vì mặt trời vẫn tồn tại.   Vạch trần được nguyên nhân của chiến tranh, nêu được những mâu thuẫn xã hội, Khói lửa còn đề cao được mối tình quốc tế mới nhóm trong lòng những người lính bị đưa ra mặt trận. Trong bao nhiêu đau khổ và mất mát chung, lính Đức và lính Pháp dần dần hiểu nhau hơn, bước đầu thấy sự phân biệt chủng tộc là một điều vô lý và bịp bợm. Những người lính Pháp coi việc giết được nhiều lính Đức là một điều tội lỗi hơn là một vinh quang. Và lính Đức cũng thế, cũng chửi rủa chiến tranh, chửi rủa cấp chỉ huy của họ. Ở phần cuối của tác phẩm, những bọn dân tộc hẹp hòi được coi là quân dòi bọ và viên cai Bectrăng đã lớn tiếng ca ngợi Lepnick, một lãnh tụ của nhân dân Đức là “nhân vật đã vươn cao mình lên trên cuộc chiến tranh và sẽ luôn luôn sáng ngời vì lòng gan dạ đẹp đẽ và lớn lao…”   Khói lửa đã nghiêm khắc lên án chiến tranh đế quốc giữa lúc đa số đảng trong Đệ nhị quốc tế phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân, chạy theo ủng hộ chiến tranh, giữa lúc bọn Trôtxky đề ra luận điệu lừa bịp “không thắng, không bại” nhằm lợi dụng chiến tranh chống lại bước tiến của Cách mạng. Khói lửa là tiếng nói của sự thật vọng lên từ những chiến hào bùn lầy, tuyết đọng, đầy thiếu thốn, và chết chóc. Khói lửa động viên và tập hợp những lực lượng trước kia còn phân tán để chống chiến tranh một cách tích cực hơn.   Không những về mặt nội dung, mà cả về phương pháp nghệ thuật, Khói lửa là một hiện tượng rất mới, rất đặc biệt, rất có ý nghĩa trong văn học Pháp đương thời. Giữa lúc văn học Pháp và văn học các nước phương Tây nói chung vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đang ngày càng sa vào những khuynh hướng đồi trụy, không lối thoát, giữa lúc chủ nghĩa tự nhiên còn ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nhà văn có khuynh hướng tiến bộ, Khói lửa đã mang nhiều yếu tố của chủ nghĩa hiện thực mới, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ngòi bút của Bacbuyxơ vừa phê phán sâu sắc, vừa gợi lên ý niệm về tương lai, bước đầu gây lòng tin tưởng ở cái mới rồi đây sẽ thắng cái cũ.   Điều chủ yếu là trong Khói lửa, Bacbuyxơ đã sử dụng một ngòi bút hiện thực thật sinh động. Chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Khói lửa, như tác giả đã gọi, chỉ là một tập nhật ký, một tập ghi chép, không phải là một cuốn tiểu thuyết, không tập trung vào một nhân vật nhất định nào cả. Nhân vật ở đây là cả một tiểu đội binh sĩ, mỗi người một khía cạnh, một sắc thái đúc lại làm thành điển hình người lính Pháp trong đại chiến thế giới lần thứ nhất. Cảnh trong Khói lửa cũng thường thay đổi: khi là những chiến hào lầy bùn, âm u và ghê rợn, khi là chặng đường hành quân dài dằng dặc, khi là chỗ trú quân nơi sơn cước, khi là mặt trận khói đạn mù trời, khi là nơi hậu phương lúc nhúc những bọn phục hậu hèn nhát, khi là một làng đã hoàn toàn bị chiến tranh san phẳng v.v… Những cảnh đó, cộng lại, tiếp nhau, đã khiến người đọc hình dung được phần nào hình ảnh nước Pháp điêu đứng trong chiến tranh và làm thành môi trường hoạt động của nhân vật người lính.   Đối với nhà văn hiện thực, những chi tiết của cuộc sống có tầm quan trọng đặc biệt. Chi tiết đưa vào đúng lúc, đúng chỗ, sẽ phản ánh được cụ thể bản chất của sự vật, nâng cao thêm tác dụng phê phán. Bacbuyxơ đã thành công nhiều ở điểm này. Ông đã mô tả sự thật đúng như sự thật, nhưng đã mô tả có khuynh hướng. Không bỏ sót một tí gì tai nghe mắt thấy, ông đã để cho sự vật tự nói lên kết luận, làm cho người đọc với lương tâm và lý trí của họ, thấy hết những đen tối, xấu xa của chiến tranh đế quốc. A. Ivasenkô, tiến sĩ ngữ văn Liên-xô đã nhận xét: “Bacbuyxơ liên miên bất tận trong những mô tả tàn khốc, vì bản thân thực tại cũng tàn khốc. Ở nhà tự nhiên chủ nghĩa, sự thể hiện tự nó là mục đích; ở nhà hiện thực xã hội chủ nghĩa Bacbuyxơ, mô tả cái gì là đứng trên lập trường của một lý tưởng xã hội nhất định và nhằm phục tùng nhiệm vụ tác động đến thực tại về mặt tư tưởng…”[4]   Quan điểm tôn trọng sự thật vì hiểu được ý nghĩa của sự thật đã được Bacbuyxơ biểu hiện khá rõ rệt trong chương “Những lời văng tục”.   Tính chất hiện thực sâu sắc của Khói lửa thực tế đã tác động mạnh mẽ đến người đọc. Một nữ độc giả bình thường đã viết cho Bacbuyxơ: “Đọc xong tác phẩm của ông, tôi như vừa chui ở chiến hào ra…”[5] Có những lá thư khác, gửi từ mặt trận về đã viết: “Ông đã thét lên tiếng thét của chân lý… Tác phẩm của ông là bức tranh của cuộc đời tối tăm như địa ngục của chúng tôi. Chúng tôi cảm ơn ông đã trả thù cho chúng tôi, đã tố cáo chiến tranh, đã vạch cho chúng tôi một tương lai vô cùng vinh quang…”[6]   Cho đến nay (1962) Khói lửa ra đời đã gần năm mươi năm, nhưng vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong văn học thế giới. Chủ nghĩa đế quốc vẫn còn, nghĩa là vẫn còn âm mưu gây chiến. Các nước đế quốc, cầm đầu là đế quốc Mỹ đang ra sức chạy đua vũ trang, gây tình hình căng thẳng trên thế giới. Các khối quân sự Bắc Đại Tây Dương, trung tâm, Đông nam Á và các khối quân sự khác đang đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh chung. Và ngay trên đất nước ta, đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh vô cùng tàn khốc đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.   Đọc Khói lửa, càng ghê tởm những thảm trạng của chiến tranh, càng căm thù bọn đế quốc gây chiến, nhân dân thế giới càng nâng cao thêm ý chí đấu tranh cho hòa bình. Cái quyết định là lòng người. Khói lửa nhen thêm trong lòng mọi người sự căm ghét chiến tranh, nhất định sẽ góp phần xứng đáng vào việc chặn đứng mọi âm mưu gây chiến. Đối với bạn đọc Việt Nam, Khói lửa sẽ góp phần nung nấu thêm chí căm thù bọn Mỹ – Diệm khát máu, nâng cao thêm quyết tâm đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.   NGUYỄN TRỌNG THỤ – LÊ VĂN TỤNG   Mời các bạn đón đọc Khói Lửa của tác giả Henri Barbusse.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Em Là Sinh Mệnh Của Anh
- Nhiên chạy nhanh đi con, nhanh lên! Trên con đường mòn ven cánh rừng, người phụ nữ khoảng hơn ba mươi tuổi vừa khóc vừa nói với đứa bé bên cạnh mình, bàn chân chị ta nhuốm đầy bùn bẩn, gai đâm rách toạc cả gấu quần. Bầu trời đêm lạnh buốt, trên trời không có nổi một ngôi sao chỉ có những ánh đèn le lói phía bên kia con đường. Có tiếng bước chân dồn dập phía sau, người phụ nữ không còn giữ được bình tĩnh kéo đứa bé chạy thẳng vào cánh rừng nhưng dù có chạy thế nào chị ta cũng biết mình sẽ không thắng nổi mấy gã đàn ông liền kéo con bé vào một tảng đá. Gió thốc từng cơn vào mặt, mấy giọt nước mắt chưa kịp khô đã tiếp tục lăn xuống trên gò má trắng hồng. Chị ta nhắm nghiền mắt quỳ xuống cạnh đứa bé rồi nói: - Nhiên, con chạy sâu vào trong rừng, cứ thẳng đường này chạy sẽ thấy một ngôi nhà. Ở đó có hai người chờ con sẽ đưa con đến nơi an toàn, chạy nhanh lên! Đứa bé mặc bộ váy trắng, chân đi đôi giày búp bê, khuôn mặt tựa như một cô công chúa thút thít khóc giọng như lạc đi: - Mẹ, con không muốn xa mẹ, mẹ đi cùng con đi mẹ. Còn ba nữa, mẹ bảo ba sẽ đón mẹ con mình mà. Người phụ nữ không kìm được bật khóc nức nở: - Ba con....ba con bị....ba con không còn nữa rồi… Chị ta cố giữ chút bình tĩnh cuối cùng, đẩy đứa bé rồi nói tiếp: - Nhanh đi, con phải sống, con phải sống để trả thù cho ba mẹ. Chạy thẳng vào con đường này, nghe lời mẹ đi con. Con hãy nhớ những kẻ đã hại ba và mẹ, mẹ cầu xin con hãy nghe lời mẹ đi, con phải tiếp tục sống cho bằng được. Đứa bé níu tay người phụ nữ, những giọt nước mắt mặn chát chảy xuống, “Ba con không còn nữa rồi” đủ khiến một đứa bé mười ba tuổi hiểu thế nào là đau đớn tột cùng. - Tại sao vậy mẹ? Tại sao lại hại chúng ta vậy mẹ? Chẳng phải mấy ngày trước chúng ta còn sống hạnh phúc sao mẹ? Tại sao họ lại làm vậy với chúng ta? Chị ta kéo tay đứa bé khỏi tay mình, đưa cho nó một cặp da rồi nói: - Không còn thời gian nữa đâu Nhiên, con chạy đi, nhanh lên, có người sẽ giúp con. Nhanh lên Nhiên, chạy đi. Mẹ cầu xin con đấy, vì ba vì mẹ chạy đi con. Mẹ biết con gái của mẹ mạnh mẽ lắm mà. Chạy đi con! Nói rồi chị ta đẩy đứa bé rồi chạy thẳng về phía những ánh đèn đang tới gần, đứa bé không dám nhìn lại, ôm chiếc cặp da chạy thẳng về phía trước. Nó cứ cắm đầu chạy mải miết, ánh đèn pin cũng khuất dần phía xa. "Đoàng, đoàng.." Tiếng súng nổ từ xa khiến nó giật mình ngoảnh lại chỉ kịp nhìn thấy từ nơi ánh sáng hắt lại, bóng dáng quen thuộc mờ nhạt gục xuống, có tiếng hét lớn dù ở khoảng cách xa vẫn đủ nó nghe được loáng thoáng: - Còn đứa bé, phải bắt bằng được nó! Nó nhìn về phía sau, đau đớn nấc lên. Bàn chân nhỏ bé muốn quay lại ôm chặt người mẹ đáng thương vừa nằm xuống nhưng nó hiểu rằng giây phút này quay lại là tự đâm đầu vào chỗ chết chỉ còn biết chạy về phía trước. Ở ngay phía sau có tiếng hét yếu ớt trong tuyệt vọng: - Chạy đi Nhiên, nhất định phải trả thù cho ba mẹ. Đứa bé bấu chặt hai tay vào nhau, xoay người chạy rất nhanh, không còn tiếng dồn dập phía sau nhưng nó biết những kẻ áo đen vẫn đang lùng sục tìm nó, những giọt nước mắt vẫn mặn đắng trên gương mặt xinh xắn. Nó không còn nghĩ được gì chỉ cắm đầu chạy, mắt đã nhoà đi, trong lòng vẫn đang không ngừng gọi tên người mẹ đáng thương. Đột nhiên có ánh đèn chiếu rọi thẳng vào mặt, nó sợ hãi giật mình, tim đập thình thịch, tiếng thở phát ra rất mạnh, nó không còn giữ được bình tĩnh liền hét lên: - Cút đi! Ánh đèn pin hơi khựng lại, bất chợt tiến lại gần hơn bịt miệng nó rồi kéo ra một góc. Có lẽ chính bản thân nó cũng cho rằng cái sự sống mỏng manh này chẳng còn giữ được trong chốc lát, liền ra sức cắn chặt vào bàn tay đang giữ miệng mình. Chẳng biết nó đã dùng sức lực thế nào chỉ biết đến khi có mùi tanh ngập trong miệng nó mới buông ra, có thứ gì đó ướt át đang chảy trên khoé môi. Là máu! Từng giọt máu chảy xuống ướt cả chiếc váy trắng qua ánh đèn pin trở nên kinh hãi đến đáng sợ, nó chưa kịp định thần lại tiếp tục bị lôi đi. - Lên xe đi, nhanh lên không bọn chúng sắp đến rồi. Giọng nói ồm ồm phía sau mà từ ban nãy vẫn im lặng khiến nó giật mình, lúc này nó mới để ý kỹ người vừa bị nó cắn là một chàng trai khoảng mười tám hai mươi tuổi, dưới ánh đèn mờ nhạt chỉ thấy đôi mắt cậu ta rất sáng. Đứa bé thở hồng hộc, vẫn chưa hết bàng hoàng hỏi lại: - Anh là ai? Không phải do bọn kia sai đến sao? - Không, anh đến để giúp em, mau trèo lên xe anh đưa em đi. Bọn đó sắp đến rồi, nhanh lên! Nó nhìn lên, chiếc xe dream cũ kỹ đang được chàng trai dựng, trên tay vẫn còn vết thương vừa bị cắn máu đang rỉ ra, không còn nghĩ được gì nó liền vội vã trèo lên phía sau xe máy, lúc này đây là sự lựa chọn duy nhất. Chiếc xe nổ máy giòn tan, đứa bé một tay ôm chặt chiếc cặp da, một tay bám chặt vào cậu thanh niên lạ lẫm phó mặc số phận cho ông trời. Phía sau không gian yên tĩnh đến lạ thường, chiếc xe cứ thế tiến về phía trước. "Rầm" một tiếng động lớn phát ra, chiếc xe máy vừa lao thẳng vào một tảng đá không giữ được thăng bằng đổ xuống nền đất, đứa con gái vẫn ôm chiếc cặp, chưa kịp định thần điều gì đang xảy ra chỉ thấy cánh tay đau nhức, nó mở to đôi mắt nhìn, chiếc đèn pin văng ra xa, phía dưới thân nó ấm áp lạ kỳ. Một cánh tay to lớn đang ôm chặt phía bụng nó, cánh tay còn lại che phía trên đầu. Lúc này nó mới phát hiện ra chàng trai vừa nãy lại thêm một lần nữa cứu nó, bất chợt nó thấy một dòng đỏ chảy từ rất nhiều ở chỗ bàn tay vừa bị cắn, ngay tại vết cắn một hòn đá cắm thẳng vào sâu hoắm, vết máu cũ chưa khô vết máu mới lại chảy. Trời đã bắt đầu tờ mờ sáng, nó giương mắt nhìn bàn tay cậu ta hốt hoảng không biết phải làm gì lúc này cúi gằm xuống hỏi một câu thật vô nghĩa: - Anh có sao không? - Em có băng gạc không? Nó ngước đôi mắt to tròn, vẫn ướt long lanh lắc đầu. Cậu ta thở dài nhìn đứa con gái trước mặt hỏi lại một câu không liên quan: - Em năm nay bao nhiêu tuổi rồi? - Em…em…mười ba tuổi. Cậu ta ôm chặt bàn tay rồi nói: - Em cứ đi thẳng về phía trước một đoạn nữa là ra khỏi cánh rừng, chắc bọn đó tạm thời chưa đuổi theo em được nữa vì đường này rất khó tìm. Em đi trước đi! Đứa bé cậu thanh niên trẻ, bất chợt oà lên khóc, lúc này khi bình tĩnh lại nó mới thấy nỗi đau đớn đang gào xé tâm can mình. Cậu ta nhìn nó bối rối hỏi: - Em không sao chứ? - Em…em không còn ai bên cạnh mình nữa rồi. Tất cả đều bỏ em đi…ba em, mẹ em không còn ai nữa… Cậu ta nhìn đứa bé trước mặt, chiếc váy trắng đã nhuốm đầy bùn bẩn, khuôn mặt lấm lem mấy sợi tóc lơ thơ dính lên cả bờ môi nhỏ bé lòng chợt dấy lên nỗi xót xa vô hạn. Phải rồi một đứa trẻ mới mười mấy tuổi vài ngày trước còn đang hạnh phúc bất chợt phải chứng kiến cảnh cả nhà bị truy sát, mẹ bị bắn ngay trước mặt thì làm sao có thể bình tĩnh được? Đột nhiên đứa bé dừng lại, nó lấy miếng băng đô trên đầu rồi nói: - Anh đưa tay đây. Nói rồi đứa bé gái kéo tay cậu thanh niên đặt tấm băng đô lên tay cậu ta cuộn mấy vòng rồi buộc lại, vết thương trên bàn tay đã được băng bó xong, nó liền đứng dậy quệt nước mắt ôm chiếc cặp rồi hỏi: - Bây giờ anh đi đâu? Cậu ta không trả lời mà hỏi lại: - Em định đi đâu? Đứa bé chỉ tay về một góc rồi nói: - Mẹ em bảo em đến ngôi nhà kia, sẽ có người đón em, anh đi cùng em chứ? - Anh không đi được, nhưng đến đây là khá an toàn rồi. Em đi về đó đi, mau lên đi! Đứa bé cắn chặt môi, cúi gằm mặt hỏi lại: - Anh là ai? Tại sao anh lại giúp em vậy? Cậu ta đưa bàn tay còn lại vuốt mấy sợi tóc trên mặt nó rồi nói: - Anh chỉ là người qua đường, thấy em gặp chuyện thì giúp thôi, em đi mau đi, không lại không kịp. Nhanh lên, bay giờ chỉ tạm an toàn thôi bọn nó có thể đến bất cứ lúc nào. - Nhưng sao anh lại giúp em bất chấp cả nguy hiểm? Bọn chúng cũng có thể giết anh mà! - Không sao đâu, chúng không dám giết anh đâu. Em đừng hỏi nhiều nữa, mau đi đi, tìm người em cần có thể giúp em đi, anh chỉ giúp em được thế này thôi. Đứa bé nhìn cậu ta, xoay người bước đi từng giọt nước mắt đau đớn bắt đầu lăn xuống. Có lẽ khi càng bình tĩnh lại, nỗi đau bị giết cả nhà lại càng lớn hơn trong lòng: - Em hãy mạnh mẽ lên nhé, cô gái! Tiếng nói phía sau của cậu làm nó sững lại, nó ngoảnh mặt lại, đôi mắt đỏ hoe mím chặt môi gật đầu: - Cảm ơn anh, nhất định anh sẽ gặp mọi điều tốt lành nhất, em cảm ơn anh rất nhiều! Chàng trai ngập ngừng một lúc rồi hỏi tiếp: - Em có thể cho anh biết tên em không? Nó lấy tay quệt mấy giọt nước mắt rồi trả lời: - Em là Nhiên, Lưu Diệp An Nhiên! Nói rồi nó xoay người lại chạy về phía trước, không kịp nghe câu nói phía sau: - Còn anh tên là Văn, Nguyễn Đình Văn! *** Hà Nội, cuối tháng 4 năm 2016! Trời Hà Nội mới vào dịp đầu hè mà oi bức đến ngột ngạt. Tám giờ sáng, trời đã nắng lên đỉnh đầu, Nhiên cầm tập hồ sơ ngán ngẩm đến tột cùng. Mấy người ngồi xung quanh đang đọc tài liệu chuẩn bị phỏng vấn còn cô lấy bút vẽ vẽ lên tờ giấy trước mặt. Nhiên nhìn cô bé mặc chiếc áo trắng bên cạnh mình, có lẽ cô bé này ít hơn cô một hai tuổi, vẻ mặt non nớt nhưng đầy háo hức. Hơn một năm trước cô cũng từng có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão như những người này nhưng đến giờ có lẽ đã quá rã rời mệt mỏi. Không biết cô đã chụp bao nhiêu cái ảnh, làm bao nhiêu hồ sơ, đến bao nhiêu công ty để phỏng vấn nhưng cuối cùng nếu không phải người ta không nhận thì cũng là chưa kịp thử việc xong cũng đã bị đè ép đến mức bỏ việc. Đến giờ phút này chẳng còn chút hứng thú nào với những lần xin việc thế này. Cô thở dài, nếu không phải Quân giục cô đi phỏng vấn ở đây có lẽ cô cũng không thèm đi dẫu biết rằng công ty này là mục tiêu mà bản thân cô đặt ra từ năm ấy. Nhiên chán nản vào nhà vệ sinh, chỉnh lại chút quần áo rồi tô son, nhìn bản thân trong gương bất chợt bật cười. - Này, nghe nói hôm nay Giám đốc đích thân phỏng vấn đấy, anh ta mà phỏng vấn thì… Nhiên nhìn ra ngoài, hai người phụ nữ trạc tuổi cô đang nói chuyện. Người phụ nữ mặc váy đỏ ôm trọn thân hình thanh mảnh tô son bình thản đáp lại: - Thì sao? Đàn ông suy cho cùng cũng là đàn ông, gặp người phụ nữ xinh đẹp thì cũng mềm lòng, huống hồ chúng ta có kinh nghiệm kiểu gì chẳng được vào. Người phụ nữ còn lại mặc bộ đồ công sở, chiếc váy ngắn khoe trọn đôi chân nõn nà lắc đầu đáp: - Thế thì cậu nhầm rồi, tôi được biết giám đốc này cực kỳ khó tính chưa bao giờ vì đối phương là phụ nữ kể cả có đẹp thế nào mà thiên vị đâu. Anh ta rất lạnh lùng và thậm chí trong công việc còn có thể gọi là tàn nhẫn thế nên đến nay đã gần ba mươi tuổi còn chưa có vợ. - Sao cậu biết? - Tôi có bạn làm ở công ty này, cậu ta thường than vãn với tôi mức lương ở đây rất hấp dẫn nhưng công việc rất áp lực vì giám đốc khó tính. Nhưng thật sự tôi rất muốn làm ở môi trường này nên mới rủ cậu đi phỏng vấn vì tôi được biết làm ở đây chỉ cần có năng lực thì đảm bảo sẽ không bị bạc đãi, ở đây rất công bằng không có chuyện cậu là cháu ông này, con ông kia mà sẽ được nhận đâu. Điện thoại của Nhiên bất chợt rung lên tắt ngang cuộc trò chuyện của hai người phụ nữ. Nhiên không dám ngẩng cao mặt cúi xuống ấn nút nghe, là Quân. Cô thở dài bắt máy: - Alo em đây. Đầu dây bên kia nhẹ nhàng hỏi: - Em sắp phỏng vấn chưa? Mấy giờ em về anh chờ cơm? - Sắp đến lượt em rồi, chắc em về sớm thôi. - Vậy anh chờ cơm em nhé. Cố lên nhé, anh tin em sẽ làm được, anh yêu em! Nhiên không dám thở dài, đoạn hội thoại cô vừa nghe lại càng khiến tâm trạng cô tệ hơn bao giờ nhưng lại không dám nói ra vì sợ Quân thất vọng. Anh đã cùng cô tìm việc suốt hơn một năm nay nhưng cuối cùng cũng chỉ là con số không tròn trĩnh. Cô tắt máy ra ngoài phòng chờ ngồi. Mời các bạn đón đọc Em Là Sinh Mệnh Của Anh của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.
Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang
Trong tác phẩm Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang ( 1967 ) nhân vật chính là Hoàng, đờn guitar rất giỏi nên có biệt danh là Hoàng guitar, Hoàng có địa vị cao trong một băng du đãng , sau đó muốn hoàn lương, về mở lớp dạy đàn, nhưng đồng bọn vẫn muốn kéo anh vào những việc bất lương. Ngày cuối vì mong có điều kiện xây dựng tương lai hạnh phúc, anh đã nhận lời làm một phi vụ cuối cùng và bị lộ. Những phát đạn oan nghiệt cắm sâu vào lưng Hoàng như những vết thù đời không bao giờ xoá được và cũng chấm dứt kiếp ngựa hoang. *** Duyên Anh sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại Thái Bình Bắc việt mất ngày 6 tháng 2 năm 1997 tại Paris, Pháp (nhằm ngày 29 tết). Ông đã xuất bản năm mươi tác phẩm văn chương. Năm 1975, bị coi như "một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của Việt Nam", chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung. Ông được tự do nhờ Amnesty International và Pen Club International can thiệp. Vượt biển sang Pháp, ông viết lại và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư đại học Sorbonne, nhà văn lừng danh coi Duyên Anh là "nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia". Chưa một người Việt Nam nào tạo nổi sự vinh dự cho dân tộc ở tư thế lưu vong như Duyên Anh. Tự tin vào tài năng và sự phấn đấu của chính mình, ông đã bước lên mọi nghịch cảnh, bước qua mọi oan khiên để giành một chỗ đứng trên vũ trụ văn học quốc tế như một tiểu thuyết gia đầy đủ tư cách.   Tác Phẩm Đã Xuất Bản Hoa Thiên Lý (Tập truyện ngắn 1963) Thằng Vũ (Truyện dài 1963) Điệu Ru Nước Mắt (Truyện dài 1963) Giấc Mơ Một Loài Cỏ - Luật Hè Phố 1 (Truyện dài 1965) Con Suối Ở Miền Đông - Luật Hè Phố 2 (Truyện dài 1965) Dzũng Đakao (Truyện dài 1965) Chương Còm (Truyện dài 1965) Dấu Chân Sỏi Đá (Truyện dài 1966) Sa Mac Tuổi Trẻ (Truyện dài 1966) Kẻ Bị Xóa Trong Sổ Bụi Đời (Tập truyện ngắn 1966) Ảo Vọng Tuổi Trẻ (Truyện dài 1967) Cỏ Non (Tập truyện ngắn 1967) Gấu Rừng (Truyện dài 1967) Mây Mùa Thu (Truyện dài 1967) Ngày Xưa Còn Bé (Truyện dài 1967) Trần Thị Diễm Châu - Châu Kool (Truyện dài 1967) Vết Thù Hằng Trên Lưng Con Ngựa Hoang (Truyện dài 1967) Năng Nợ Giang Hồ (Truyện dài 1967) Bồn Lừa (Truyện dài 1967) Chính Trị Giao Chỉ (Thương Sinh, Phóng sự 1967) Đầm Giao Chỉ (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự 1967) Rồi Hết Chiến Tranh (Truyện dài 1968) Ánh Mắt Trông Theo (Truyện dài 1968) Thằng Côn (Truyện dài 1968) Trường Củ (Truyện dài 1968) Thơ Văn Búp Bê (Tập truyện ngắn 1968) Tuyển Truyện Tuổi Thơ (Tập truyện ngắn 1968) Đi Tàu Suốt (Thương Sinh, Phóng sự 1968) Yêu Tiền (Thương Sinh & Gã Thâm, Phóng sự 196?) Ánh Lửa Đêm Tù (Tập truyện ngắn 1969) Cầu Mơ (Truyện dài 1969) Mơ Thành Người Quang Trung (Truyện dài 1969) Tuổi Mười Ba (Truyện dài 1969) Mặt Trời Nhỏ (Truyện dài 1969) Tuyển Truyện Duyên Anh (Tập truyện ngắn 1970) Nhà Tôi (Truyện dài 1970) Lứa Tuổi Thích Ô Mai (Truyện dài 1970) Đàn Bà (Truyện dài 1970) Tên Một Loài Hoa Quê Hương (Truyện dài 1970) Giặc Ôkê (Truyện dài 1971) Hưng Mập Phiêu Lưu (Truyện dài 1971) Ngựa Chứng Trong Sân Trường (Truyện dài 1971) Nước Mắt Lưng Tròng (Truyện dài 1971) Áo Tiểu Thư (Truyện dài 1971) Con Thúy (Truyện dài 1972) Phượng Vĩ (Truyện dài 1972) Thằng Khoa (Truyện dài 1972) Về Yêu Hoa Cúc (Truyện dài 1972) Thư Tình Trên Cát (Truyện dài 1972) Bò Sửa Gặm Cỏ Cháy (Tâm bút 1972) Hạ Ơi (Truyện dài 1973) Đêm Thánh Vô Cùng (Tập truyện ngắn 1973) Cám Ơn Em Đã Yêu Anh (Truyện dài 1974) Hôn Em Kỷ Niệm (Truyện dài 1974) Cây Leo Hạnh Phúc (Truyện dài 1974) Tháng Giêng Ngon Như Một Cặp Môi Gần (Tập truyện ngắn 1975) Đồi Fanta (Truyện dài 1982) Sỏi Đá Ngậm Ngùi (Truyện dài 1985) Một Người Tên Là Trần Văn Bá (Truyện dài 1985) Bầy Sư Tử Lãng Mạng (Truyện dài 1986) Một Người Nga ở Sài Gòn (Truyện dài 1986) Thơ Tù (Thơ 1987) Nhánh Cỏ Mộng Mơ (Truyện dài 1987) Quán Trọ Trước Cổng Thiên Đường (Truyện dài 1987) Nhà Tù (Hồi ký 1987) Trại Tập Trung (Hồi ký 1987) Sài Gòn Ngày Dài Nhất (Hồi ký 1988) Nhìn Lại Những Bến Bờ (Hồi ký 1989) Em, Tôi, Sàigòn và Paris (Thơ 1989) Ngược Giòng Chữ Nghĩa (Tâm bút 1991) Ca Dao Quyện Lấy Miếng Ngon Dân Tộc: Nấu Nướng Dân Gian (Tâm bút 1995) Về Với Ca Dao (Tâm bút 1995) Vỡ Lòng Ca Dao (Tâm bút 1995) Những Đứa Trẻ Con Mỹ Hẩm Hiu (Truyện dài 1995) Hồn Say Phấn Lạ (Truyện dài 1996) Tuổi Bướm Sầu (Truyện dài chưa xuất bản) *** Đứa bé vẫn không chịu ăn uống gì. Ly sữa trước mặt nó đã nguội và đóng váng. Nó ngồi xếp chân vòng tròn, đầu tóc rũ rượi, nước mắt nhễ nhãi, mũi chạy xuống miệng. Trông nó giống hệt con búp bê cũ kỹ, bị vất vào xó nhà. Hàng hóa của Du chột đấy. Món hàng đáng giá trăm ngàn. Du chột bắt cóc đứa bé tự chiều hôm qua. Nó đã nhắm con mồi ngót hai tuần lễ. Đứa bé con gái năm tuổi, con một thương gia, học lớp mẫu giáo trường Măng Non. Du chột kết thân với gã đầy tớ, ngày hai buổi đưa, rước đứa bé đi học, về học. Nó cho đứa bé nhiều kẹo bánh nên đứa bé mến nó lắm, Du chột thay chân gã đầy tớ của ông thương gia, dắt đứa bé vô lớp, chào hỏi cô giáo. Rồi cũng chính nó, giờ tan học, xuất hiện sớm nhất, dẫn đưa bé ra khỏi cổng, giao cho gã đầy tớ. Các cô giáo quen mặt Du chột. Gã đầy tớ tin ở lòng tốt, tin ở tình bạn của Du chột, không nghi ngờ điều gì. Vả lại, gã thiếu trí khôn để nghi ngờ. Thuốc lá, cà phê, phở đã làm gã coi Du chột như thứ “mòng” trời run rủi cho gã gặp mà hưởng thụ. Con đường ngắn dần và hết chông gai. Du chột tới trường sớm nửa tiếng, xin phép cô giáo cho đứa bé về đi ăn giỗ. Cô giáo vui vẻ trao đứa bé trong tay Du chột. Nó gọi tắc xi, dẫn đứa bé vào sào huyệt của nó. Du chột đã “chơi” một “vố” thật nhẹ nhàng, bay bướm. Nó qua mặt tất cả. Bọn đàn em phục Du chột sát đất. Chỉ tiếng đồng hồ sau, ông thương gia đã biết tin con mình bị bắt cóc qua máy điện thoại. Du chột, từ một phòng điện thoại công cộng, đặt giá chuộc đúng trăm ngàn. Lối dọa của nó đã cổ điển. “Nếu báo cảnh sát, nó sẽ thủ tiêu đứa bé”. Nó hẹn sẽ “thảo luận” lại. Du chột thừa kinh nghiệm bắt cóc rồi. Vụ này là vụ thứ bảy. Khi những sòng bạc của nó bị “băng” khác trên chân hơn “băng” của nó “xâm lăng” và tước đoạt quyền thu thuế canh gác, Du chột kẹt tiền bạc. Nó nghĩ cách làm tiền khác tức là bắt cóc trẻ con đòi tiền chuộc. Du chột nghiên cứu kỹ lưỡng, vẽ chương trình, kế hoạch tỉ mỉ trước giờ hành động. Trái hẳn với đường lối bắt cóc con nít bán rẻ cho bọn buôn người. Du Chột phải điều tra xem gia đình con mồi của nó có thương con cái không, thương tới mức độ nào. Bố mẹ càng thương con chừng nào, Du chột càng chắc ăn chừng ấy. Nó sẽ lãnh tiền chuộc ngon lành, cảnh sát không hề hay sự tình. Và Du chột đã thành công cả sáu vụ. Đứa bé bỗng lại khóc thét lên. Nhưng cái hầm chứa đồ sa thải của hãng thầu quá rộng, qua kín, tiếng khóc của nó không thoát ra được. Tên gác dan trông coi kho của hãng là đàn em thân tín của Du chột. Ai dám ngờ dưới hầm chứa đồ cũ là nơi giữ con mồi của “băng” Du chột? Tên canh con mồi nằm dài trên chiếc ghế bố nhà binh, gối đầu lên chồng tiểu thuyết kiếp hiệp, tắt vội cái máy thu thanh bỏ túi, ngồi dậy, ngó đứa bé chằm chằm. Mời các bạn đón đọc Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang của tác giả Duyên Anh.
Cây Vĩ Cầm Ave Maria
Cô bé 14 tuổi Asuka bắt gặp một cây vĩ cầm phát ra âm thanh kì lạ ở cửa hàng nhạc cụ. Đó là đồ vật của Hannah, cô bé người Do Thái từng là thành viên dàn nhạc ở Trại tập trung Auschwitz. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến thế nào, Hannah vẫn luôn nghĩ tới bạn bè và không bao giờ quên lòng nhiệt thành dành cho âm nhạc. Tình cảm của Hannah chạm tới cả trái tim của cô bé Nhật Bản Asuka… Một câu chuyện cảm động sinh ra từ một cây vĩ cầm đã kinh qua ngọn lửa chiến tranh, bị vận mệnh bất hạnh trêu đùa.  “Âm nhạc cứu rỗi chúng ta khỏi trái tim tà ác. Chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa.”  *** 'Cây vĩ cầm Ave Maria' - tiểu thuyết về cô bé thoát chết trong Thế chiến. Sách của tác giả Nhật là bản hòa tấu giàu cung bậc cảm xúc, khắc họa tình người, tình yêu âm nhạc trước cuộc sống khốc liệt. Một nghệ sĩ dương cầm tưởng chừng đã lọt vào cửa tử khi bị tên lính Đức phát hiện ẩn náu trong những tòa nhà đổ nát. Cuối cùng, anh bất ngờ thoát chết khi chơi một nhạc khúc trên cây dương cầm bị bỏ quên. Dù trong phút tử sinh, bản nhạc vẫn nhẹ nhàng và thanh khiết, lay động tâm hồn tên lính. Đó là một trong những cảnh kinh điển của phim The Pianist, tác phẩm điện ảnh nổi bật về Thế chiến thứ hai. Một phân cảnh nhỏ đủ để thấy sức mạnh không lời nhưng mãnh liệt của những giai âm đánh thức phần "người" trong mỗi chúng ta. Cùng lấy đề tài âm nhạc trong thời kỳ Thế chiến thứ hai khốc liệt và u tối trong lịch sử nhân loại, sách Cây vĩ cầm Ave Maria là bản hòa tấu giàu cung bậc cảm xúc, khắc họa rõ nét tình người và tình yêu âm nhạc khi người ta đối mặt với cái chết. 300 trang truyện có lối kể gần gũi, giàu tính nhân văn. Câu chuyện khởi nguồn từ cây vĩ cầm đỏ mang tên Ave Maria do cô bé Nhật Bản Asuka được cho mượn trong cửa hàng bán nhạc cụ. Để tìm lại nguồn vui, động lực tập luyện violin nghiêm túc, Asuka và chủ cửa hàng nhạc cụ quyết định tới gặp Paul Kanzas, chỉ huy dàn nhạc người Ba Lan, cũng là nhạc công có cơ duyên quen được người chủ trước đó của cây đàn - cô bé Hannah. Ngẫu nhiên Hannah cũng 14 tuổi, bằng đúng tuổi Asuka. Qua lời kể của ông Kanzas, độc giả lùi lại thời quá khứ để lắng nghe số phận đặc biệt của "thiên thần nhỏ" Hanna. Dù lọt vào chốn địa ngục trần gian; cả gia đình từ ông, bà, cha, mẹ, em trai đều bị phát xít tàn sát, sống trong sợ hãi nơm nớp hàng ngày ở Trại tập trung Auschwitz, cô bé vươn lên mạnh mẽ nhờ vào tình yêu vô bờ và thuần khiết với âm nhạc. Cây vĩ cầm Ave Maria không né tránh những sự thật đau lòng của hiện thực, mà khắc họa chúng tiết chế nhưng đầy đủ. Đó là khi chị gái của Hannah dù khuyết tật vẫn bị quân Gestapo bắn chết, là lúc ông em và cả em trai Andrew chưa đầy 5 tuổi bị đưa vào phòng hơi ngạt, là hình ảnh những người lao động bị đem ra làm trò tiêu khiển cho lính Đức để rồi cuối cùng không thoát khỏi thảm cảnh bị trừng phạt... Suốt tác phẩm, âm nhạc vẫn nổi lên như một "nhân vật chính", cho độc giả quyền tin vào một "Das Beste Leben" (Cuộc sống tuyệt vời - cụm từ được khắc trên thân đàn). Liệu âm nhạc có đủ sức mạnh để giúp con người vượt trên mọi nghịch cảnh? Đó là câu hỏi khiến người đọc phải trăn trở xuyên suốt tác phẩm. Ở đây, những bản nhạc không lời, được thể hiện qua cây violin và cả nhiều nhạc cụ khác đôi khi đã phải "đứng chông chênh" trên "bờ vực phán xét". Có những lúc, âm nhạc vang lên trong hoàn cảnh đầy đau đớn, xót xa. Khi cả nhà Hannah bị bắt đến Trại tập trung, em nghe thấy bản Tiếng Xuân. Điều khiến sau này em vẫn còn bị ám ảnh mãi, ngay cả khi hòa bình lập lại. Âm nhạc thậm chí từng bị coi là đóng vai trò "ru ngủ" những người lao động và dàn nhạc trong trại tập trung bị cho là những kẻ bợ đỡ quân Gestapo để mưu cầu sự sống. Thậm chí, có những bản hành khúc được chơi trong khi quân Đức thảm sát người Do Thái, tưởng chừng đã trở thành một "vết sẹo tinh thần" mãi mãi trong tâm trí cô bé 14 tuổi. Khi được trở về với cuộc sống bình thường, em đã trốn tránh thực tại, phải trị liệu tâm lý nhiều lần vì không dám nghe chúng. Nhưng cuối cùng, âm nhạc vẫn thể hiện được sứ mệnh của nó. Từ đầu đến cuối, âm nhạc là sợi dây kết nối con người, thậm chí là những người thuộc về hai phe đối lập, mở ra cánh cửa tưởng chừng xây bằng đá và đã đóng mãi mãi như trái tim của những tên lính Đức Quốc xã. Âm nhạc là "chìa khóa" cho ngục tù theo cả nghĩa đen, và nghĩa bóng: Ngục tù tâm hồn, giúp cho Hannah và những người trong dàn nhạc của em vươn lên mãnh liệt trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Đúng như những gì nhân vật của tác phẩm đã khẳng định: "Âm nhạc sẽ cứu rỗi con người khỏi trái tim tà ác. Chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa". Tác phẩm của nhà văn nữ Kagawa Yoshiko đã tiếp cận những trang đau thương nhất của lịch sử nhân loại bằng cách thức giàu cảm xúc và nhân văn. Sách truyền thông điệp về tình yêu giữa con người với nhau và với âm nhạc, từ đó "đánh thức" động lực tìm hiểu về lịch sử, niềm đam mê với âm nhạc của thế hệ trẻ. Ấn phẩm của nhà văn nữ Kagawa Yoshiko đã đoạt giải vàng Huân Chương Sakura, giải thưởng thường niên của Hiệp hội thư viện trường học Nhật Bản. Năm 2014, sách được chọn làm đề tài cho cuộc thi viết cảm tưởng về các tác phẩm văn học dành cho thanh thiếu niên Nhật Bản. Tô Lệ Trân *** [REVIEW SÁCH] Tiểu thuyết: CÂY VĨ CẦM AVE MARIA (Yoshiko Kagawa) By LiLybook Hôm trước có rất nhiều bạn hỏi xin review nên hôm nay mình xin phép review cuốn Cây vĩ cầm của Ave Maria ạ. Theo cảm nhận của mình thì cuốn sách này cũng giống như một bản nhạc hòa tấu, có khúc dạo đầu, có khúc trung gian và có khúc vĩ thanh. Đôi lúc “bản nhạc” êm ái du dương, lúc lại cao trào mãnh liệt, lại có lúc trầm bổng diệu kỳ. Xem xong review các bạn thích thì mua, hong thích thì cũng mua luôn nha, đáng đọc lắm đó, à còn nữa xem xong review các bạn nhớ rate cho mình 5 sao nghen, mình cảm ơn các bạn rất nhiều Đối tượng đọc Phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi mục đích ^^ (ngoài các bạn yêu sách ra thì cũng có các bạn đọc sách, truyện để giết thời gian đúng không nè) Mình khuyến khích các bà mẹ nên mua cho con mình đọc vì cuốn sách này mang tư tưởng nhân văn cao đẹp, giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, dạy chúng các phân biệt thiện ác và đúng sai, biết tuyên dương và noi gương cái thiện, lấy cái thiện làm kim chỉ nam trong cuộc sống, biết lên án và loại bỏ cái ác, cái xấu, yêu hòa bình, yêu đất nước quê hương mình. Tóm tắt nội dung sách “Bản Ave Maria cô chơi tại sao lại khác biệt như thế…?” “Vì bản nhạc này đang rửa trôi tội ác tày trời của chúng ta.” “Ờ… Có lẽ là vậy đó…” Câu chuyện bắt đầu từ cô bé Asuka 14 tuổi, dù được học violin từ nhỏ nhưng Asuka luôn thờ ơ với tương lai của mình, hầu như chẳng có một chút động lực nào khiến cô bé ao ước được làm một thứ gì đó. Chuyện là như vậy cho đến khi định mệnh khiến Asuka gặp được cây vĩ cầm Ave Maria và tình cờ được biết về quá khứ của nó. Chủ nhân cũ của cây vĩ cầm này là Hannah, một thiên tài âm nhạc, một trái tim quả cảm đã từng sống sót qua ngọn lửa của chiến tranh. Đó là vào một ngày mùa đông năm 1933, Đảng đứng đầu Nghị viện Đức lúc bấy giờ là Đảng Quốc Xã đã bổ nhiệm người lãnh đạo Đảng – Hitler lên làm Thủ tướng Đức. Từ ngày đó, cánh cửa địa ngục như mở ra, không chỉ người Do Thái mà cả người Ba Lan, Liên Xô cũng đều phải trải qua một thời kỳ đau thương của lịch sử. Hitler cho rằng người Do Thái là nguyên nhân khiến Đức thất bại trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Chính vì vậy, “cuộc thảm sát” người Do Thái diễn ra. Gia đình Hannah cũng trở thành nạn nhân của chính trị và bị bắt tới Trại tập trung Auschwits. Tại đây, nhờ tài năng âm nhạc của mình, Hannah được xếp vào dàn nhạc mà không phải lao động khổ sai. Em và dàn nhạc bị quân đội Đức bắt chơi nhạc ở gần các lò thiêu sống để nhấn chìm đi những tiếng thét đau đớn của người lao động vô tội, để che dấu đi tội ác man rợ của chúng. Nhờ sức sống mãnh liệt, can trường, cô bé may mắn được nhìn thấy tự do một lần nữa, nhưng gia đình em thì không thể. Những gì đã xảy ra có lẽ đã trở thành nỗi ám ảnh to lớn trong tâm hồn Hannah. Tại sao nên đọc… Đề tài chiến tranh luôn là đề tài lấy được nhiều cảm tình và nước mắt của độc giả. Mặc dù câu chuyện về Hannah và cây vĩ cầm chỉ là những phần hư cấu giả tưởng của tác giả nhưng những sự kiện lịch sử vẫn luôn là sự thật. Giá mà tác giả khắc họa mạnh mẽ và lên án rõ rệt hơn nữa những tội ác mà phát xít Đức đã gây ra thì tác phẩm chắc chắn sẽ thật sự tuyệt vời. Cuốn sách khiến ta biết về những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, những người đã ngã xuống, và cách thế giới đã vận hành như thế nào, để chúng ta biết trân trọng hòa bình của hiện tại. Nhắm mắt lại, bạn có nghe thấy tiếng gào thét của những con người vô tội bị đưa vào làm vật thí nghiệm, của những người lao động khi bị ném vào lò hỏa thiêu hay những tiếng khóc ai oán của sự chia ly… chúng hòa vào những cột khói, len lỏi trong từng giai điệu của bản nhạc, đau thương mà thảm khốc. Hình ảnh Hannah ngồi chơi bản Ave Maria lần cuối cùng giữa cánh đồng hoa anh túc đang nở rộ sau khi Trại tập trung được giải phóng, gương mặt em nở một nụ cười mãn nguyện đã khắc sâu vào tâm trí của mình. Ổn rồi, Hannah bé nhỏ. Trái tim em chẳng còn bất kỳ hận thù hay đớn đau nào nữa… Em đã hoàn thành sứ mệnh của mình Đánh giá của độc giả Theo cá nhân mình thì đây là một tác phẩm rất đáng để đọc, nó mang ý nghĩa và tư tưởng nhân văn cao cả, một khát vọng, sức sống tìm tàng và tâm hồn cao đẹp, nghệ sĩ của nhân vật chính, rất thích hợp cho các bé nhỏ đọc nhất là các bé đang ở độ tuổi phát triển tâm hồn (từ lớp 3 trở đi) để từ đó hình thành nên lòng nhân ái, tình thương người và nhận thức thiện ác ở các bé, ngoài ra còn giảm việc các bé mãi mê chơi game, thay vì chơi game thì việc đọc sách tốt hơn nhiều Mời các bạn đón đọc Cây Vĩ Cầm Ave Maria của tác giả Kagawa Yoshiko & Nguyễn Hồng Vân (dịch).