Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nghệ nhân và Margarita - Mikhail Bulgakov

M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ. Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết. Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita… Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện. Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi. Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?". Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu. Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…". Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó. *** Năm 2006, Mikhail Bulgakov, một trong những nhà văn lớn nhất và kỳ bí nhất của nước Nga, tròn 115 tuổi. Hành trình cuộc đời, hành trình văn chương của ông trên dưới trăm năm đầy gian nan thăng trầm nhưng hướng về bất tử, như lời khẳng định của một nhà văn Nga: “Bulgakov – nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga”. Hơn thế nữa, mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của Bulgakov mỗi ngày một tăng ở Nga và ở nhiều nơi trên thế giới, hầu hết tác phẩm của ông liên tục được in, tái bản, dịch, dựng phim… Xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu “Bulgakov học”. Ông là một trong số rất ít nhà văn ở Nga được làm “Bách khoa toàn thư”; và đặc biệt, Bulgakov có lẽ là một trong những nhà văn có tác phẩm được đưa lên và được đọc nhiều nhất trên mạng Internet. Nghệ nhân và Margarita là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của M. Bulgakov, một trong những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ Nga. Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt hai mươi năm trước, có thể nói đây là công trình dịch thuật công phu và tâm đắc nhất của tôi. Tuy nhiên, có một sự thật là, khác với ở nước Nga và phương Tây, kiệt tác này không thật sự được phổ biến và tiếp nhận rộng rãi ở bạn đọc Việt Nam – có lẽ là do những khác biệt nhất định về văn hóa. Lần này, 65 năm sau khi tác phẩm ra đời, chúng tôi xin tái bản lại bản tiếng Việt trong một nỗ lực tiếp tục đưa Bulgakov đến gần hơn nữa với bạn đọc Việt Nam, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, thế hệ mà tôi hi vọng sẽ dễ dàng tiếp cận Nghệ nhân và Margarita hơn. Ngoài bản dịch cuốn tiểu thuyết, chúng tôi đưa thêm phần Phụ lục để phần nào giúp bạn đọc trong việc cảm thụ tác phẩm này. Hà Nội, 27 tháng 1 năm 2006 Ðoàn Tử Huyến *** Một buổi chiều mùa xuân, vào cái giờ mặt trời lặn nóng chưa từng thấy, trong công viên Hồ Pat’riarsi1 ở Moskva xuất hiện hai vị nam công dân. Người thứ nhất dáng thâm thấp, béo tốt, hói đầu, mặc bộ quần áo mùa hè màu xám nhạt, chiếc mũ còn khá lịch sự bóp lại cầm trong tay, cặp kính gọng sừng đen to quá cỡ ôm ngang khuôn mặt cạo kỹ lưỡng. Người thứ hai còn trẻ, vai rộng, tóc vàng hung rối bù, mũ cát két sọc vuông đội lệch ra sáu gáy, áo sơ mi kẻ ô, quần dài trắng nhàu nát và chân đi đôi giày vải đen. Người thứ nhất không phải ai khác, mà chính là Mikhail Aleksandrovich Berlioz2, chủ tịch ban chấp hành của một trong những hiệp hội văn học lớn nhất Moskva, viết tắt là MASSOLIT3, và ông đồng thời cũng là tổng biên tập một tờ tạp chí văn học lớn; còn người bạn đường trẻ của ông là nhà thơ Ivan Nikolaievich Ponưrev, bút danh Bezdomnưi4. Bước vào dưới dãy bóng râm của hàng cây lipa5 đang bắt đầu nhú lá xanh, việc đầu tiên của hai nhà văn là chạy vội đến bên chiếc quầy dựng bằng ván sơn sặc sỡ với dòng chữ “Bia và nước giải khát”. Mà quên, có lẽ cần phải thông báo ngay cho bạn đọc biết điều kỳ lạ thứ nhất của cái buổi chiều tháng Năm khủng khiếp này. Ðó là, không chỉ ở cạnh quầy giải khát, mà suốt dọc cả con đường có trồng cây chạy song song với phố Malaia Bronnaia cũng không thấy một bóng người nào. Vào cái giờ đó, khi hình như mọi người đã hết cả sức để thở, khi vầng mặt trời, sau một ngày thiêu đốt Moskva, đang bọc mình trong màn sương khô lặn xuống một nơi nào đấy phía sau tuyến đường vòng Sadovoie, chúng ta không hề gặp một ai đi dạo hóng mát dưới bóng hàng cây lipa, không thấy một người nào ngồi trên những chiếc ghế băng “suốt dọc con đường dài vắng tanh vắng ngắt.” “Cho cốc nước khoáng narzan”, Berlioz nói với người đàn bà bán hàng. “Không có narzan đâu”, người đàn bà trong quầy đáp, và không hiểu tại sao bà ta lại tỏ vẻ phật ý. “Có bia không?” Bezdomnưi hỏi bằng giọng khàn khàn. “Bia tối mới chở về”, người đàn bà trả lời. “Thế có gì?” Bezdomnưi lại lên tiếng. “Nước mơ ấm”, người đàn bà nói. “Thôi được, cho xin, cho xin, cho xin!…” Hai cốc nước mơ sủi rất nhiều bọt màu vàng, và trong không khí bốc lên một thứ mùi như ta thường thấy trong các cửa hiệu cắt tóc. Uống xong, hai nhà văn lập tức đua nhau nấc cụt; họ trả tiền và ngồi xuống một chiếc ghế băng, mặt ngoảnh ra hồ, lưng quay về phía phố Bronnaia. Ðúng lúc đó bắt đầu xảy ra điều kỳ lạ thứ hai của buổi chiều hôm đó, nhưng nó chỉ liên quan tới một mình Berlioz: ông bỗng thôi nấc, tim bỗng đập mạnh một cái rồi lặn hẫng đi đâu mất; và thoáng sau nó trở lại nhưng hình như có kèm theo một mũi kim tù nằm mắc bên trong. Thêm vào đó, Berlioz bỗng cảm thấy một nỗi sợ hãi vô cớ nhưng rõ rệt đến nỗi ông muốn ngay lập tức bỏ chạy khỏi nơi đây không ngoái lại. Không hiểu cái gì khiến ông hoảng sợ, Berlioz đưa mắt rầu rĩ nhìn quanh. Mặt ông tái mét; ông lấy khăn mùi soa lau trán, nghĩ thầm: “Cái gì xảy ra với mình thế này nhỉ? Trước đây chưa bao giờ như vậy cả… Hình như tim mình bị sao ấy… Mình mệt mỏi quá rồi. Có lẽ cần phải vứt tất cả lại để đến nghỉ ở Kislovodsk6 thôi…” Ðúng lúc đó, làn không khí oi ả bỗng cô đặc lại trước mắt Berlioz, tạo thành một người đàn ông trong suốt có hình thù hết sức kỳ dị. Trên mái đầu nhỏ tí của anh ta là chiếc mũ lưỡi trai của dân đua ngựa, áo vét kẻ ô mỏng ngắn cũn cỡn… Người này cao khoảng một sagien, nhưng vai hẹp, gầy không thể tưởng được, và bộ mặt, xin bạn đọc lưu ý cho, đầy vẻ nhạo báng! ... Mời các bạn đón đọc Nghệ nhân và Margarita của tác giả Mikhail Bulgakov.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Giã Từ Mùa Đông
Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú sinh ngày 25 tháng 12 năm 1942 tại Hà Nội. Bà từng là giáo viên cấp 2 tại Sơn Tây, sau đó đi học khóa I Trường Viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam. Những năm 1965-1967, bà trở thành phóng viên báo Vùng Mỏ thuộc tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, Nguyễn Thị Ngọc Tú về làm phóng viên, biên tập viên của tuần báo Văn Nghệ rồi làm Tổng Biên tập tạp chí Tác phẩm Mới của Hội Nhà văn Việt Nam.[4] Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú có một ái nữ là nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ. Sách Giã Từ Mùa Đông xuất bản năm 1989. Nội dung câu chuyện viết về những con người Việt Nam sinh sống và làm việc tại Liên Xô. *** – Anh muốn gì ở em? Em mang lại gì cho anh? – Ngân nói nhỏ như thì thầm rồi ngước đôi mắt buồn bã ngờ vực, nhìn Hoàng. Anh ta ngồi đó, bên lò sưởi, dáng mệt mỏi, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, rít từng hơi thuốc lá. Căn phòng nhỏ phủ thảm kín bưng xanh ngét khói thuốc. Bên ngoài, trời màu xám tro. Tuyết bay lất phất. Những bông tuyết nhỏ và mảnh như kim dính vào nhau rơi nghiêng xuống. – Quên. Em giúp anh quên. – Hoàng đáp hờ hững. – Quên cái gì? – Sự mệt mỏi căng thẳng luôn bao vây anh. – Luôn luôn à? – Ừ, thường xuyên. – Thế thì khó quá! – Ngân thở dài, im nín, hai vai rũ xuống – Sao anh không tìm cách thoát ra? Sao anh không thay đổi? Sao anh không sống như người khác? – Sống như thế nào? – Suốt ngày lo mua nồi hầm, máy mài, bàn là, bếp điện. Lúc nào cũng bận rộn, vất vả nhưng vui. Phải không nào? – Trước đây anh cũng đã từng sống như thế. Sống như thế mãi rồi. Anh đã từng bươn bả chuyển từ chuyến mê-trô(1) này sang mê-trô khác để mua được một hộp dây mai-so, mấy cục cắm điện ba chấu, cái ấm điện. – Hoàng rít thuốc lá, giơ tay quệt đám râu đẫm nước, nhìn bọt bia đang reo sôi trong cốc – Đó là những ngày xa xưa, còn bây giờ thì... – Bây giờ thì anh dửng dưng với tất cả chứ gì? – Mặc dù anh biết những thứ đó vẫn được giá. – Thế bây giờ anh muốn gì? – Ngân hỏi và đổ nốt chai bia vào cốc vại lớn trước mặt Hoàng. – Em cho anh uống say để dễ khai thác hả? – Hoàng cười và lại nhìn ra ngoài cửa sổ. Vài cánh chim lao vút qua trong trời chiều xám – Nói chung, anh cũng là con người, anh cũng có những ham muốn như mọi người, những niềm vui bình thường như mọi người... – Ai chẳng có thể như mọi người? – Trừ anh. Hoặc giả những người như anh. – Một nỗi giận dữ bất chợt trào lên trong người Hoàng. Ngân nhận thấy ẩn sâu dưới hàng mi rậm là một đôi mắt đang long lên và vầng trán nhợt nhạt. Ngân ngồi xuống nép vào một góc ghế, kéo cái chăn len phủ lên chân. Một nỗi sợ hãi mơ hồ chợt đến. Đây không phải lần thứ nhất cô tìm cách bước chân vào tâm hồn kín bưng ấy. Mỗi lần thế, không những chẳng ích gì mà hình như khoảng cách, sự xa lạ giữa hai người lại như kéo căng ra thêm nữa. Chợt Hoàng đứng lên, lại gần Ngân, đặt tay lên vai cô, kéo lại gần. – Đi tắm đi, em! – Không. Hôm nay em lạnh. – Nước nóng sẽ làm em ấm lên. – Ấm xong lại lạnh hơn. – Ngân nói và kéo cao cổ áo, xích lại gần lò sưởi. Hoàng đứng lên: – Nào, anh sẽ giúp em. Anh mở cửa buồng tắm, vặn van đỏ. Một vùng nước nóng rực tỏa ra, màu trắng sáng lên. Hoàng giơ tay cho Ngân: – Hôm nay em làm sao thế? Ngân lặng thinh. Cô không thể nói được rằng cô đang chán nản bực bội và nghi ngờ. Trong căn phòng lạ, mặc dù Hoàng nói cô hoàn toàn là chủ trong thời gian nghỉ phép ở đây, nhưng cứ có cái gì đó không phải như thế. Không khí ngột ngạt. Trần thấp, thảm vây kín. Căn phòng giống một cái tủ. Cũng không hẳn vì thế. Ở ký túc xá của cô, ba đứa chung một buồng hơn mười mét, đồ đạc chật ních, mùi thức ăn cứ rộn vậy sao mà dễ chịu, thoải mái. Còn ở đây, cứ thế nào ấy. – Nào, nhanh lên, nước đầy rồi! – Hoàng giục và đứng quay mặt vào tường. Biết là không thể cưỡng lại được, khi Hoàng đã muốn, Ngân đứng vào góc nhà rụt rè nhìn cái lưng to khỏe, cuộn săn những thớ thịt trẻ trung và đổ xuống đó là cái đầu tóc bù rậm đen nhức đang dán mắt vào cửa kính, cởi quần áo. Bất thần, Hoàng quay lại. Ngân chỉ kịp kêu một tiếng “á” đã thấy được nhấc bổng lên và cô bỗng thấy người chìm ngập trong một vùng hơi ấm nóng rực. Cảm giác khoan khoái chiếm lĩnh. Ngân té nước và cười khanh khách khi nước lượt khỏi những cụm tóc rậm dày của Hoàng, từng dòng chảy ràn rụa xuống mặt anh. – Anh ướt hết rồi! – Ngân kêu lên thích thú.   Mời các bạn đón đọc Giã Từ Mùa Đông của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tú.
Tôi Không Phải Phan Kim Liên
Thật thật – giả giả giữa cuộc đời! Đôi khi sự thật giả ấy khiến người ta quá mệt mỏi, không thể tin tưởng vào con người được nữa mà phải tin vào một… con bò. Đây là câu chuyện về chốn quan trường đầy rắc rối và về cuộc sống của một người phụ nữ thôn quê quật cường chỉ vì muốn chứng minh cuộc ly hôn của mình năm ấy là giả và mình không phải là Phan Kim Liên. Câu chuyện bắt đầu khi cô không cẩn thận có thai lần hai, nên giả ly hôn với chồng để tránh luật sinh đẻ có kế hoạch, nào ngờ sau khi ly hôn, người chồng thay lòng cưới vợ khác. Cô đến nói lý lẽ còn bị hắn ta chửi là Phan Kim Liên. Để chứng minh vụ ly hôn đó là giả, đồng thời càng muốn chứng minh mình không phải Phan Kim Liên, mà suốt hai chục năm cô đi kiện cáo. Kiện từ thị trấn lên huyện, rồi thành phố, thậm chí đến tận Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc tại Bắc Kinh, nhưng không những không thể làm rõ vụ ly hôn đó là giả, không thể thanh minh mình không phải Phan Kim Liên, còn khiến cho một loạt quan viên cấp cao bị cách chức. Từ đó suốt hai chục năm, mỗi lần tới Đại hội, tỉnh thành phố cô ở đều phải ngăn chặn, vây bắt, truy lùng cô, không để cô tiếp tục làm loạn một lần nữa… Giọng văn của tác giả tưng tửng, châm biếm sâu cay khiến người đọc vừa cảm nhận được sự thâm thúy, sắc sảo của ngòi bút, vừa phải bật cười với những tình huống rất thật trong truyện. *** Lưu Chấn Vân sinh tháng 5/1958, quê quán ở huyện Diên Tân, tỉnh Hà Nam. Hiện là ủy viên BCH Hội nhà văn TQ, ủy viên đoàn thanh niên thành phố BK, được xếp hạng nhà văn hàng đầu Trung Quốc. Ông sáng tác từ năm 1982. Một số tác phẩm được giải thưởng, được chuyển thể thành phim, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Được đánh giá là nhà văn bậc thầy về ngôn ngữ, trí tuệ hóm hỉnh, phong cách độc đáo, giàu tính hài hước, đầy triết lý. Các tác phẩm tiêu biểu: - Tôi là Lưu Nhảy Vọt - Hoa vàng cố hương - Đóa hoa và mặt cố hương - Lưu Chấn Vân, tuyển tập văn Lưu Chấn Vân (4 tập) - Lời thừa - Đơn vị - Binh liên mới - Điện thoại di động - Lông gà khắp đất - Đời là như thế - Tôi không phải Phan Kim Liên - Tưởng nhớ 1942 *** Đọc tiểu thuyết này tôi liền nghĩ tới bộ phim Thu Cúc đi kiện, cũng một người đàn bà nông thôn vác đơn đi kiện khắp nơi không mỏi mệt không chùn bước chỉ vì muốn một lời xin lỗi của trưởng thôn vì đã đá chồng chị ta một cái vào chỗ hiểm. Còn ở đây là Lý Tuyết Liên, cũng vác đơn đi kiện làm náo động cả thị trấn, tới thành phố, tới tỉnh rồi tới tận Bắc Kinh. Lý Tuyết Liên kiện chồng, rồi kiện hết thảy những người liên quan đến vụ việc ấy từ các vị quan tòa thị trấn, các lãnh đạo thành phố, tỉnh… làm mọi thứ rối bung bét cả lên. Cuối cùng chỉ muốn là rõ một điều rằng lần ấy li hôn là giả và quan trọng hơn là để cho chồng của chị ta biết “tôi không phải Phan Kim Liên”.          Mọi chuyện nói đơn giản thì là đơn giản, nói phức tạp thì là phức tạp, nhưng cuối cùng bao nhiêu năm không giải quyết được, định giày vò người khác ai dè lại thành giày vò chính bản thân mình. Câu chuyện bắt đầu khi Lý Tuyết Liên phải giả li hôn với chồng khi mang bầu đứa con thứ hai, nào ngờ trong thời gian ấy chồng cô đã kịp lấy một người vợ khác. Thế là Lý Tuyết Liên liền đến để nói phải trái đúng sai, vốn định nói cho hả giận rồi bắt chồng li hôn với người đàn bà kia nhưng lại bị chồng bồi cho một câu đau đớn. Tần Ngọc Hà, chồng của Lý Tuyết Liên nói: Rồi lại bồi thêm: “Cô có phải Lý Tuyết Liên không nhỉ. Tôi thấy cô đích thị là Phan Kim Liên mới phải?” Lý Tuyết Liên tức lồng lộn lên cuối cùng chỉ vì câu nói này. “Thật giả không quan trọng! Quan trọng là Tôi không phải Phan Kim Liên!”, Lý Tuyết Liên như gào lên với Tần Ngọc Hà như vậy. Với ngòi bút sắc sảo và châm biếm, Lưu Chấn Vân đã dựng lên một câu chuyện chân thật và sinh động. Mọi thứ xoay quanh một người đàn bà có thể nói là rất cố chấp, cả một bộ máy chính quyền cuống cuồng tìm cách đối phó mỗi khi đến kì đại hội, chỉ sợ Lý Tuyết Liên lại lẻn được vào Đại lễ đường thì mọi việc hỏng hết. Trong hai mươi năm ấy đã nghĩ ra bao nhiêu cách để ngăn chặn Lý Tuyết Liên, từ cho người canh chừng, theo dõi, chặn xe dọc đường, đến cả cách tìm cho cô ta một người chồng… Nhưng tất cả đều xôi hỏng bỏng không, kiện vẫn hoàn kiện. Lý Tuyết Liên không bỏ cuộc, không phải không mệt mỏi, không phải không có lúc chán nản, nhưng chính sự cản trở của họ bắt Lý Tuyết Liên kiện tiếp. Kiện không được cũng phải kiện, đi không được cũng phải đi. Cảm giác của Lý Tuyết Liên chính là cảm giác oan ức, cảm giác người ta không tin mình, chuyện li hôn năm ấy là chuyện giả mà họ cứ coi là thật. Bên cạnh đó Lý Tuyết Liên còn cảm thấy mình bị lừa, bị chồng là Tần Ngọc Hà lừa, bị những người trong chính quyền địa phương lừa. Họ dùng lời ngon ngọt dụ dỗ chỉ cốt để cô không đi kiện làm ảnh hưởng tới cái ghế của họ chứ họ đâu có tin, đâu cáo đồng cảm với cô. Bao nhiêu chuyện bi hài, nhiều lúc khiến chúng ta phải bật cười, nhưng đằng sau đó chứa đựng một câu hỏi có phần đau đớn. Rút cục thì kiện cáo bao nhiêu năm để làm gì? Có nên vì một chuyện không thể làm lại mà phá hỏng cả tương lai phía trước không?. Liệu Lý Tuyết Liên cố chấp hay chồng cũ của cô ta cố chấp, chỉ nói một lời xin lỗi là mọi chuyện đều có thể cho qua sao không nói?…           Thật thật giả giả quay đi quay lại đã hết đời người, đi kiện là muốn phá cuộc sống của chồng nhưng cuối cùng lại thành hủy hoại cuộc sống của chính bản thân mình. Trong khi đó Tần Ngọc Hà, cái gã đã bắt đầu câu chuyện này dường như là người ngoài cuộc chẳng ảnh hưởng gì bởi sự kiện cáo ấy.           Hai mươi năm trôi qua trong chớp mắt, cuối cùng thì Tần Ngọc Hà chết, không còn ai để khiếu kiện nữa, lúc này Lý Tuyết Liên cảm thấy trống rỗng, cô bật khóc, không phải khóc Tần Ngọc Hà mà khóc chính bản thân mình.           Lý Tuyết Liên cả đời đi kiện, tự giày vò bản thân, tự làm cho mình đau khổ, cuối cùng tất cả những điều ấy có đáng hay không? Không ai có thể trả lời được câu hỏi ấy. Cuộc đời này giữa thật và giả, trắng và đen không phải lúc nào cũng có thể nói cho rõ ràng được. Đọc xong câu chuyện tôi cảm thấy Lý Tuyết Liên đã quá cố chấp, nhưng nếu không có một người đàn bà cố chấp như vậy thì đã không có câu chuyện này. Trần Huệ Lương Review   Mời các bạn đón đọc Tôi Không Phải Phan Kim Liên của tác giả Lưu Chấn Vân.
Ta Thuộc Về Nhau
Ta thuộc về nhau là câu chuyện tự thuật của Alan & Irene Brogan. Alan Brogan sinh năm 1952 tại vùng East End, Sunderland, nước Anh trong một gia đình có bốn người con trai. Năm Alan lên bốn, mẹ ông qua đời. Chính quyền đại phương cho rằng người cha không thể nuôi nổi bốn người con nên bốn anh em ông bị đưa vào trại trẻ. Cũng chính từ đấy cuộc đời ông thay đổi. Irene Brogan sinh năm 1950 tại Deptford, Sunderland, nước Anh. Bà là con út trong một gia đình có bốn người con gái. Khi Irene hai tuổi, mẹ bà qua đời do căn bệnh lao. Quá đau lòng vì cái chết của người vợ, cha bà chìm đắm trong men rượu nên phải gửi chị em bà đến nhà họ hàng. Nhưng rồi nhanh chóng sau đó Irene cũng bị đưa đến trại trẻ Rennie Road. Tại đấy bà đã gặp Alan. Irene đã viết: “Ngay lúc đó, tôi quyết định mình sẽ không bao giờ hẹn hò với ai khác nữa. Phải là Alan hoặc không ai cả. Nếu tôi không tìm thấy cậu ấy, ít nhất tôi vẫn còn có gia đình. Nhưng nếu tôi muốn gắn bó với ai đó thì tôi biết người đó phải là Alan”. Còn với Alan thì: “Được, tôi sẽ chờ. Tôi sẽ chờ dù cho có mất bao lâu đi chăng nữa. Và nếu tôi gặp cô ấy một lần, lần sau tôi có thể sẽ gặp lại cô ấy. Tôi chỉ cầu nguyện cho lần sau mau đến và khi đó tôi sẽ không để mất cô ấy như năm năm trước.” *** Chân thực, xúc động, mạnh mẽ, cuốn hồi ký về câu chuyện có thật của Irene và Alan Brogan đã chứng minh sự tồn tại vĩnh hằng của tình yêu. Alan và Irene sinh ra và lớn lên tại Anh quốc, sau Thế chiến thứ hai. Hai đứa bé mồ côi mẹ tình cờ gặp gỡ ở trại trẻ mồ côi Rennie, khi đó, cậu bảy tuổi và nàng lên chín. Ngay từ lần đầu tiên chạm mặt, chúng đã dành cho nhau những xúc cảm kỳ lạ và sự tin tưởng tuyệt đối. Alan và Irene mau chóng thân thiết. Chúng cùng nắm tay nhau vượt qua những tháng ngày thiếu thốn khó khăn, những kìm kẹp cả về thể xác và tâm hồn. Cuộc sống khắc nghiệt trong trại trẻ mồ côi bỗng chốc trở nên dịu dàng và yên bình biết mấy. Alan Brogan đã miêu tả về những hồi ức đẹp đẽ ấy: “Trên đường đi bộ quay về Rennie Road, chúng tôi nhìn qua những ô cửa sổ các ngôi nhà trên phố, thấy những ngọn lửa ấm áp, những tấm thiệp sinh nhật trên mặt lò sưởi, và chứng kiến lũ trẻ nô đùa. Chúng tôi thấy những bà mẹ của chúng trao cho chúng những cái ôm, những nụ hôn và những nụ cười. Chúng tôi tự hỏi mình: “Tại sao chúng tôi không được như thế?” Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn có nhau. Một hôm, đang ngồi trên ngọn đồi ngắm những người nhảy dù, tôi nói với Irene rằng khi chúng tôi lớn lên, tôi sẽ cưới nàng. Nàng suy nghĩ một lúc rồi trả lời rằng nàng cũng muốn cưới tôi. Chúng tôi cùng bắt tay nhau thay cho lời nguyện ước.” Tuy nhiên, quy định ở đây không cho phép con trai và con gái chơi chung, vậy nên Alan và Irene chỉ có thể lén lút nắm tay nhau trên đoạn đường giữa trại trẻ và trường học. Nhưng rồi một người làm việc tại đó đã nhìn thấy Alan và Irene trêu đùa nhau. Bí mật bị phanh phui, Alan bị đuổi đi ngay lập tức. Cậu không kịp chào từ biệt Irene, để lại trong cô nỗi nhớ khôn nguôi: “Ghế chỗ Alan ngồi trống không, lũ trẻ chỉ nhìn về phía đó một thoáng rồi lập tức quay phắt đi, như thể nếu chúng nhìn vào nơi ấy quá lâu, sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra với chúng... Người tôi cứ hết nóng, lạnh rồi lại ốm, lúc nào cũng thế. Alan đã đi rồi.” Cô luôn tự nhắc nhở bản thân về việc kiếm tình người tri kỷ của mình: “Tôi tự hứa với lòng rằng vào mùa hè sang năm, nếu chúng tôi được đưa về Whitby để nghỉ hè, tô sẽ đi tìm anh ấy. Cái ý tưởng đó ăn sâu bén rễ và là điều duy nhất khiến tôi tiếp tục sống. Tôi sẽ đi tìm Alan, và cùng nhau chúng tôi sẽ cùng chạy ra bãi biển, cảm nhận ánh mặt trời mơn man trên mặt chúng tôi. Và chúng tôi sẽ lại được hạnh phúc bên nhau.” Với Alan, nỗi đau khi mất đi người thân duy nhất cũng ám ảnh cậu hằng đêm: “Đêm ấy, tôi nằm trên chiếc giường ngủ mới và nỗi đau chợt đến. Tôi đã nghĩ đến Irene. Tôi sẽ lại đi tìm cô ấy. Tôi phải tìm cô ấy." Và họ đã thật sự bước vào cuộc hành trình tìm kiếm đối phương, không ai ngờ rằng nó sẽ kéo dài diễn ra suốt gần 50 năm. Quãng thời gian ấy là tháng ngày dài nối tiếp trong sự cô độc và tổn thương, những nỗi đau tâm hồn không thể bù đắp được. Nhưng số phận vẫn chưa dừng trò chơi của mình lại ở đó, khi gần cuối đời, Alan và Irene lại được gặp nhau trong một hoàn cảnh trớ trêu. Khi ấy, Irene vừa trải qua một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, bà li dị chồng dù đã có hai đứa con. Alan cũng đã chia tay người vợ cũ nhưng đang ở trong một mối quan hệ mới. Cuộc gặp họ đã chờ đợi suốt gần năm mươi năm lại khiến cả hai trở nên bế tắc. Giữa những bộn bề giằng xé, cuối cùng, Alan lại một lần nữa quyết định ra đi, để lại cho Irene bao câu hỏi không lời giải đáp. Sau cùng, khi nhận ra mình không thể sống thiếu Irene, Alan quyết định quay trở về. Việc tìm lại Irene vẫn chẳng hề đơn giản, nhưng lần này, trái tim cả hai người đều chủ động đợi chờ đối phương. Số phận cuối cùng đã mỉm cười với cả hai. Họ đã nhận ra nhau tại một ngã tư đường phố đông người, từ đó, Alan và Irene quyết định mãi mãi không rời xa nhau một phút giây nào nữa. Ta thuộc về nhau (tên gốc: Not without you) không đơn thuần là câu chuyện về tình yêu đôi lứa. Đó còn là bản tình ca xúc động về tình thân, là tiếng hát của sự đồng điệu giữa những tâm hồn. Tất cả được tái hiện giữa khung cảnh khốc liệt của một đất nước vừa bước ra từ chiến tranh. Tất cả tạo nên bức tranh cuộc sống chân thực với những gam màu trầm day dứt và ám ảnh. Ở đó, tình yêu là nguồn sáng duy nhất xoa dịu mọi nỗi đau, cứu rỗi tâm hồn con người. *** Đó là một ngày trời lạnh và xám xịt. Tôi ngồi trên bậu cửa sổ trong phòng sinh hoạt chung, nhìn ra bên ngoài. Con đường vắng tanh và những cánh đồng ở phía xa. Tôi bảy tuổi, mồ côi mẹ, không biết bố và các anh trai mình ở đâu, hay liệu tôi có thể gặp lại họ hay không. Tôi đã bị mắc kẹt ở nơi này, nơi có vô số những luật lệ phải tuân theo và chẳng có ai tỏ ra thân thiện. Vừa lúc đó, một chiếc xe hơi lớn màu đen rẽ vào khúc quanh và dừng lại trước cửa ngôi nhà. Một người đàn ông bước ra, và sau đó là một cô bé. Cô ấy nhỏ hơn tôi, mái tóc đỏ cắt ngắn vuông vắn, mặc một chiếc áo không tay màu xám đám con gái vẫn mặc, đi đôi giày cao cổ nhỏ màu đen. Tôi nhìn cô ấy đi theo người đàn ông bước đến cửa trước. Chợt có gì đó vụt lên trong lòng tôi. Tôi biết cô ấy! Tôi không rõ ở đâu hay như thế nào. Chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau, nhưng tôi biết cô ấy. Như thể mọi thứ bừng sáng và tôi cảm tưởng mình có thể chạy hàng dặm cùng cô mà không bao giờ mỏi mệt. Khoảnh khắc ấy tôi hiểu rằng mình sẽ không còn cô đơn nữa. Tôi rời bậu cửa sổ và chạy tới mở cửa… *** Có một ngày khi đi ngang qua cửa hàng du lịch, chúng tôi nhìn thấy thông báo quảng cáo một chuyến du lịch tới Tunisia trong vòng 7 ngày. Giá cả khá hợp lý. Vì vậy chúng tôi dùng số tiền đã tiết kiệm được khi không mua nhà mới mà ở nhà Irene để đăng kí tham gia chuyến đi. Đó là một kì nghỉ hoàn hảo. Khách sạn rất đáng yêu và phòng chúng tôi cũng vậy. Trong phòng có cửa dẫn ra mái hiên nằm ngay trên một vườn cam và chà là. Con đường qua vườn sẽ đi qua hồ bơi, cuối đường là những đụn cát dẫn tới một bãi biển cát sáng lấp lánh. Chúng tôi đã có một tuần vui thú, ngằm cảnh và đắm mình trong không khí ấm áp thân thiện. Trong lúc đó tôi cũng lên kế hoạch. Tôi biết chính xác mình muốn làm gì, và tôi chắc chắn tất cả các bạn mới của chúng tôi ở khách sạn cũng biết, chỉ có Irene là không. Bình mình ló rạng, và ngày cuối cùng của kì nghỉ đã đến. Tôi biết phải là bây giờ, hoặc là không bao giờ. Tôi rủ Irene đi dạo biển lần cuối, và chúng tôi đi qua những đụn cát xuống bãi biển lấp lánh. Ánh nắng chiếu trên mặt biển khiến chúng lôi bị lóa mắt. Trong suốt thời gian ở đây, ngày nào chúng tôi cũng đi dạo trên bãi biển, nhặt những mảnh gốm màu xanh nhạt đã được sóng biển rửa sạch. Chúng tôi định mang chúng về nhà cùng với đám vỏ ốc mút, để Irene làm thành một ốc đảo Tunisian của riêng chúng tôi. Irene muốn chơi chèo thuyền. Cô ấy chạy xuống nước, đứng trong mực nước ngập cỡ đến đầu gối, vùng vẫy đập nước tung tóe và cười vang. Cô ấy bắt tôi phải chơi cùng. Nhưng trong đầu tôi còn suy nghĩ những chuyện khác. Tôi quay lại bờ biển, đợi cô ấy lên và tôi hơi lo lắng một chút. Chính là khi ấy: thời khắc của tôi đã đến. Cả hai chúng tôi đều biết chúng tôi muốn ở bên nhau, nhưng tôi vẫn có rất lo lắng khi chuẩn bị cầu hôn. Có lẽ những người sắp trở thành chú rể đều như vậy. Cô ấy chạy lên khỏi mặt nước, hướng về bãi biển, và chúng tôi cùng đi bộ, tay trong tay. Khi đã đi cách xa mép nước một đoạn, tôi quay sang cô ấy, sau đó quỳ một chân xuống, “Irene, anh yêu em. Em có đồng ý cưới anh không?” Cô ấy ngạc nhiên đến nỗi trong một thoáng đã đứng sững. Sau đó cô ấy trả lời, “Có chứ, có, đương nhiên em sẽ đồng ý”. Tôi đứng dậy, đeo vào tay cô ấy một chiến nhẫn đính hôn đơn giản bằng vàng mà tôi đã chọn, rồi chúng tôi ôm và hôn nhau, cả hai đều cười tới suýt chảy nước mắt. Sau đó, thật đúng lúc, chàng trai bồi bàn thân thiện ở khách sạn - người tôi đã giới thiệu ngắn gọn phía trên - xuất hiện trên bãi cát với một chiếc máy ảnh, chụp lại khoảng khắc đó. Chúng tôi về lại khách sạn, và khi chúng tôi về tới bể bơi, đám đông những người khách đã đang chờ chúng tôi. Mọi người đã rỉ tai nhau và đều đã biết chuyện đó, tất cả đều muốn tham gia vào bữa tiệc chúc mừng. “Cô ấy đồng ý chứ?” - một trong số họ hét lên. Tôi đã định trêu họ và giả vờ như cô ấy đã nói “Không”, nhưng tôi đã không thể làm được. Tôi không thể che giấu nụ cười rạng ngời trên mặt mình. Irene cười và trả lời “Cô ấy đồng ý!” và những nút sâm panh bật mở, hoa xuất hiện và tất cả mọi người chúng mừng chúng tôi. Tôi cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm và hạnh phúc. Mọi thứ đã đúng như tôi mong muốn. Có sắp đặt một chút - nhưng đó là một kết cục đáng nhớ, vui vẻ và cảm động ở một kì nghỉ tuyệt vời. Hôm sau chúng tôi về nhà trong tư cách đã kết hôn và ngập sàn vui sướng. Irene Khi bạn tôi - Dawn - đăng ký cho tôi tham gia vào một cuộc thi Cô dâu của năm do đài phát thanh địa phương tổ chức, tôi đã nói với cô ấy rằng cô ấy bị điên rồi. Nhưng cô ấy nói cô ấy nghĩ câu chuyện của chúng tôi là câu chuyện lãng mạn nhất cô ấy từng được nghe, và rằng những người khác cũng sẽ nghĩ thế. Tôi chỉ cười và nói cô ấy cứ làm nếu cô muốn, nhưng tôi chẳng bao giờ nghĩ mình sẽ giành chiến thắng. Vì thế tôi rất bất ngờ khi khoảng một, hai tuần sau đó, đài phát thanh gọi tới nói tôi đã chiến thắng. Giải thưởng là một chiếc váy cưới, hoa, bánh ngọt, xe hơi và cả váy phù dâu, và còn có một kì nghỉ trăng mật ở nước ngoài. Đó là lần đầu tiên tôi giành được chiến thắng gì đó! Alan và tôi run lên vì sung sướng, và tôi đã gửi hoa và sô-cô-la tới cho Dawn để cảm ơn cô ấy. Việc chiến thắng ở cuộc thi khiến chúng tôi có thể có khả năng tổ chức một lễ cưới lớn hơn dự tính ban đầu. Tôi đề nghị Joanne làm phù dâu chính cho tôi và cháu gái tôi - Faye và Dawn sẽ làm phù dâu. Tôi đã chọn một chiếc váy quây màu trắng xinh đẹp đi kèm với cả voan đội đầu. Và tới lúc chọn màu váy phù dâu, tôi đã biết chính xác màu mình muốn: Nó phải là một sắc xanh đặc biệt - màu xanh của hoa chuông. Buồn là tôi không còn liên lạc với con trai tôi - Michael nữa, vì thế chúng tôi không thể mời thằng bé. Alan đã đề nghị được chồng Joane sẽ là phù rể và cháu trai tôi - Lion sẽ là người đi cùng tôi vào nhà thờ. Chuyện đó khiến tôi rất tự hào vì tất cả những thành viên trong gia đình tôi đều đã chấp nhận Alan là người trong gia đình tôi và chính Alan cũng cảm thấy như thế. Alan Tính đến ngày tổ chức lễ cưới, tôi và Irene đã ở bên nhau được 3 năm - và đó là 3 năm ngập tràn hạnh phúc thiên đường. Chúng tôi đều sung sướng khi được ở cùng nhau, và tận hưởng từng khoảnh khắc. Chúng tôi hầu như chưa từng bất đồng về bất cứ điều gì, và nếu chúng tôi có những ý kiến khác nhau về chuyện gì đó, cuối cùng chúng tôi sẽ chỉ thấy thật buồn cười. Sau tất cả những gì đã trải qua, chúng tôi đều biết mình chẳng bao giờ muốn buồn bã dù chỉ một ngày. Và có quá nhiều thứ phải cảm tạ trời đất, đến nỗi ngày nào với chúng tôi cũng như một ngày cần chúc mừng. Chiến thắng trong cuộc thi thực sự là phần thưởng hấp dẫn theo đúng nghĩa đen. Điều đó có nghĩa là chúng tôi có thể mời nhiều người tới dự lễ cưới hơn, và cuối cùng danh sách khách mời của chúng tôi đã gần chạm tới con số 100. Chúng tôi đã tìm thấy nhau vào ngày mùng 10 tháng 5, và chúng tôi muốn cưới đúng ngày đó. Chúng tôi đã đi hỏi toàn bộ địa điểm có thể, nhưng không nơi nào còn trống lịch vào ngày đó, do vậy cuối cùng chúng tôi quyết định tổ chức ngày 12 tháng 5 năm 2007, ở Mobray Sui nằm trong trung tâm hành chính Sunderland. Đám cưới của chúng tôi là kết quả của tình yêu chúng tôi đã luôn dành cho nhau và đó là ngày đặc biệt nhất trong đời tôi và Irene. Dường như niềm hạnh phúc của chúng tôi như có sức lan tỏa. Từ khi Irene chiến thắng trong cuộc thi đó, tất cả các tờ báo địa phương đều quan tâm và câu chuyện của chúng tôi lan rộng. Vì thế khi Irene đến lễ cưới trong một chiếc xe cổ màu trắng rất đẹp, gần như một đám đông đã tụ tập ở đó sẵn. Trong lúc đó tôi đang hồi hộp chờ đợi trong căn phòng chật kín những vị khách. Irene bước vào trong tiếng nhạc bài hát chúng tôi đã cùng chọn “At last” của Norah Jones. Không bài hát nào khác có thể đúng với chúng tôi đến thế. Irene của tôi trông thật xinh đẹp. Tôi nín thở, và khoảnh khắc đó cả thế giới như đứng lại và tôi như nghe thấy người con gái tóc đỏ của tôi nói “Có” trên đồi Bunny năm nào, 47 năm về trước. Mời các bạn đón đọc Ta Thuộc Về Nhau của tác giả Alan & Irene Brogan.
Ba Ngôi Của Người
Ba ngôi của người, cuốn tiểu thuyết thứ ba của Nguyễn Việt Hà, trước hết là cuốn sách của không gian và thời gian vô cùng Hà Nội. Tiếp nối mạch chủ đề của Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, cuốn tiểu thuyết một lần nữa bóc ra những lớp đan cài phức tạp của một Hà Nội dồn dập những “sóng lớp phế hưng” trong thời gian tồn tại. Không chỉ dừng ở một Hà Nội những năm gần đây, cuốn tiểu thuyết còn tham vọng trải thời gian trên cùng mảnh đất, ngược lên 600 năm trước, thông qua 10 kiếp “luân sinh” của nhân vật chính. Những kiếp đời này tựa như những mũi khoan thăm dò thời đại đã qua, bằng những chấm phá của lớp trầm tích khảo lên mà tác giả phác thảo một đôi nét đặc thù của thời ấy - cố nhiên là thủ pháp giả lịch sử, hư cấu quyện với những trích dẫn nằm trong mạch viết, tạo nên một không gian xa mà gần, rất đắc dụng để một nhân vật có lý lịch đi xuyên thời gian tung hoành. *** Không gian và thời gian của vô cùng Hà Nội 1- Không gian nhị nguyên, thời gian đa chiều Khi tìm hiểu về một nhà văn, tôi thường chú ý đến nguồn cội hay nơi cư trú của họ. Dù viết thể loại giả tưởng đi chăng nữa, cách họ quan sát và tái hiện không gian sống xung quanh vào tác phẩm vẫn bộc lộ xuất xứ của họ. Trong nhiều trường hợp, đây lại là mảng sinh động nhất, bộc lộ cách nhìn thế giới xung quanh của người viết. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi Nguyễn Việt Hà trở đi trở lại con phố Nhà Chung nơi anh ở trong các tác phẩm của mình, hoặc rộng hơn một chút là những phố cổ chật hẹp gắn với Hồ Gươm, từ các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn hay các tập tản văn rất ăn khách gần đây – Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu, và cuốn tiểu thuyết mới nhất này – Ba ngôi của người. Phố xá, nhà cửa, cây cối và những không gian công cộng của Hà Nội quanh mấy khu vực này dường như là sân bóng của Nguyễn Việt Hà, để anh như một tiền đạo cắm sẽ ghi bàn vào những phút quan trọng. Hình dung được quang cảnh không gian tác giả hít thở sẽ hiểu cách anh ta cho nhân vật sinh tồn ra sao. Phố Nhà Chung đi qua nền ngôi chùa Báo Thiên xa xưa có từ thời Lý, lại cũng là nơi Nhà thờ Lớn được dựng lên, và trong quy hoạch thời Pháp, nó là một con đường nối khu 36 phố phường của người Việt với khu phố Tây. Gần ngay Hồ Gươm, trung tâm của đô thị Hà Nội hơn trăm năm qua, nó chứng kiến những va chạm giữa thần quyền và thế quyền, giữa “phảng phất như là có đức tin” và “chẳng cần có cái đếch gì” (lời nhân vật trong Ba ngôi của người). Mang một vai trò nhị nguyên ở nhiều khía cạnh như thế, vùng phố xá Nguyễn Việt Hà rất thông thạo này đã ảnh hưởng lên không gian trang viết của anh. Một cuốn tiểu thuyết có không gian, có chiều sâu thời gian, luôn hứa hẹn là cuốn sách tầm cỡ. Ba ngôi của người, cuốn tiểu thuyết thứ ba của Nguyễn Việt Hà, trước hết là cuốn sách của không gian và thời gian vô cùng Hà Nội. Ba ngôi của người, tiếp nối mạch chủ đề của Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, một lần nữa bóc ra những lớp đan cài phức tạp của một Hà Nội dồn dập những “sóng lớp phế hưng” trong thời gian tồn tại. Không chỉ dừng ở một Hà Nội những năm gần đây, cuốn tiểu thuyết còn tham vọng trải thời gian trên cùng mảnh đất, ngược lên 600 năm trước, thông qua 10 kiếp “luân sinh” của nhân vật chính. Những kiếp đời này tựa như những mũi khoan thăm dò thời đại đã qua, bằng những chấm phá của lớp trầm tích khảo lên mà tác giả phác thảo một đôi nét đặc thù của thời ấy – cố nhiên là thủ pháp giả lịch sử, hư cấu quyện với những trích dẫn nằm trong mạch viết, chẳng hạn những ghi chép của Hoàng Lê nhất thống chí, tạo nên một không gian xa mà gần, rất đắc dụng để một nhân vật có lí lịch đi xuyên thời gian tung hoành. “Luân sinh” là chữ Nguyễn Việt Hà tạo ra trong tiểu thuyết này, nó cố gắng tránh chữ luân hồi trong Phật giáo và tránh áp một hàm nghĩa đạo đức nào. Các nhân vật của Nguyễn Việt Hà cũng vậy, không bám vào các thang giá trị đạo đức cứng nhắc, họ linh hoạt trong ứng xử, nhiều khi có tính bản năng và tỏ ra cực mạnh về trực giác. Bảo rằng họ tốt cũng không hẳn, mà cũng khó thể nói họ là người xấu. Ở mỗi kẻ có một lương tri riêng, tự nhiên và gắng gỏi tránh sự suy đồi dưới sức ép mặt trái xã hội. Ba ngôi của người diễn tiến ở thì hiện tại theo quá trình đứa con có tên hay biệt danh là Kun sinh năm 1982 tìm lại cha mình – kẻ yếm thế trốn đời tên Tôi – chính là nhân vật đi xuyên thời gian đã nói. Người đàn ông sinh năm 1956 này có khả năng nhớ ngẫu nhiên những gì ở các kiếp luân sinh trước, đấy là một phép lạ nhưng cũng là một gánh nặng. Gần 30 năm trước, người vợ hai mươi tuổi vì một cơn ghen đã dứt khoát chia tay bằng việc nói dối rằng mình đã phá bỏ cái thai. Tất nhiên như kiểu Nguyễn Việt Hà nói, ba người trong cuộc đều là người tử tế nên cuộc đoàn viên sẽ diễn ra. Nhưng cũng tất nhiên như lối viết Nguyễn Việt Hà, cuộc đoàn viên ấy không có màn hân hoan dung tục trào nước mắt, nó tiếp theo bằng sự biến mất của người cha, kẻ chấm dứt kiếp luân sinh thứ 10 của hắn với niềm an ủi rằng đứa con trai mình là một kẻ tử tế và sẽ còn phải trải nhiều duyên nợ với đời. 2-Sự can dự thần bí của kẻ khác Bên cạnh mối quan hệ tam giác đó là ngôi còn lại của “người” – tay tài phiệt trẻ Quang Anh, là em của mẹ Kun, sinh ra vào giữa cuộc chiến tranh khốc liệt năm 1972. Anh ta có phải là “Các Thánh Thần” bên cạnh “Cha-Con” không, điều này là một khả năng bỏ ngỏ, nhưng Quang Anh là kẻ sống với hiện tại. Khác với Tôi hay Kun, nếu có nhớ chuyện đã rồi, anh ta không dành thời gian để dằn vặt nhiều, cho dù là vô tình phát hiện ra mình ngủ với bạn gái của cháu hay sơ sẩy trong làm ăn để thành tay trắng. Điều này ít nhiều có liên quan đến xuất thân học vấn. Nhân vật Tôi hoàn toàn là một trí thức lỡ dở, tuổi xuân nằm gần trọn trong giai đoạn chiến tranh và bao cấp, không rõ làm nghề gì, mà như nhận xét của cậu con trai họa sĩ khi gặp cha lần đầu: “Đấy là một trung niên phong độ bình thường, mặt mũi cũng bình thường, nhưng nếu nhìn thật kỹ thì có nhiều nét lạ”, thì quả thực anh ta khó nắm bắt. Kun là một họa sĩ nhiều năng lực sáng tạo vẫn đang đi tìm một cái đích, mọi suy nghĩ đều xuất phát từ trực quan thiên phú. Còn Quang Anh sinh ra trong gia đình bố hàm Thứ trưởng, có những điều kiện lý tưởng nhất, du học Mỹ, làm việc toàn hợp đồng có vốn tài chính lớn, con đường dù có lúc gập ghềnh bất trắc nhưng anh ta luôn tự tin trí tuệ của mình đang cầm lái đúng hướng. Quang Anh có thể xem như một mẫu hình đàn ông thời thượng, một người hùng kinh tế của xã hội hiện tại. Nhưng khác với Tâm của Cơ hội của Chúa bỏ vốn để lập công xưởng sản xuất, Quang Anh là một nhà đầu cơ tài chính, gần với hình ảnh giới văn phòng cổ trắng, có vẻ sạch sẽ và đẳng cấp.   Mời các bạn đón đọc Ba Ngôi Của Người của tác giả Nguyễn Việt Hà.