Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Của Phế Tích

Hoa của phế tích là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Từ câu chuyện một đôi vợ chồng trẻ tự sát vì những lí do bí hiểm mở ra một cuộc điều tra, theo đó là những bước chân lần theo những khu phố cũ, những đại lộ, những tòa nhà… đậm dấu tích của quá khứ. Giọng văn chậm rãi với những câu chữ buồn mà đẹp đến nao lòng của Modiano mang đến cho độc giả những dư âm mãi váng vất. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Buổi tối Chủ nhật tháng Mười một ấy, tôi ở trên phố Abbé-de-l’Épée. Tôi đi dọc theo bức tường lớn của Học viện dành cho người câm điếc. Bên trái là tháp chuông nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas cao cao. Tôi còn giữ kỷ niệm về một quán cà phê nơi góc phố Saint-Jacques, tôi hay đến đó sau khi xem phim, rạp Studio des Ursulines. Trên vỉa hè, lá rụng. Hoặc cũng có thể là các trang đã cháy thui của một quyển từ điển Gaffiot[1] cũ. Đây là khu phố của các trường và các tu viện. Vài cái tên cổ kính quay trở lại trong ký ức tôi: Estrapade, Conttescarpe, Tournefort, Pot-de-Fer... Tôi cảm thấy e sợ khi phải băng ngang những chốn tôi chưa từng đặt chân kể từ tuổi mười tám, hồi tôi còn hay lai vãng một trường trung học trên đồi Sainte-Geneviève[2]. Tôi có cảm giác các địa điểm vẫn cứ ở trong tình trạng mà tôi đã để chúng lại từ đầu thập niên sáu mươi, chúng bị bỏ hoang cùng quãng đó, cách đây đã hơn hăm lăm năm. Phố Gay-Lussac - cái phố im lìm ấy, nơi trước đây người ta từng dỡ đá lát và dựng chiến lũy[3] - cửa ra vào một khách sạn đã bị xây bịt lại và phần lớn cửa sổ không còn kính. Nhưng biển hiệu thì vẫn gắn ở đó, trên tường: Khách sạn Tương lai. Tương lai nào? Là tương lai, đã chấm dứt, của một sinh viên hồi những năm ba mươi, thuê lấy một căn phòng nhỏ tại khách sạn ấy, lúc vừa rời trường Sư phạm, và tối thứ Bảy thì mời các bạn học cũ đến chơi. Và họ đi vòng qua mấy khối nhà để tới rạp Studio des Ursulines xem một bộ phim. Tôi đi qua trước rào sắt và ngôi nhà màu trắng nhiều chớp cửa sổ, với rạp chiếu phim chiếm tầng trệt. Sảnh vào sáng đèn. Hẳn tôi có thể đi tiếp tới Val-de-Grâce, cái vùng yên bình ấy, nơi chúng tôi từng trốn, Jacqueline và tôi, để ông hầu tước không có cơ may gặp được nàng. Chúng tôi sống tại một khách sạn nằm đầu phố Pierre-Nicole. Chúng tôi tằn tiện với số tiền mà Jacqueline kiếm được bằng cách bán chiếc măng tô lông thú của nàng. Phố ngập nắng, vào buổi chiều Chủ nhật. Đám thủy lạp của ngôi nhà gạch nhỏ, đối diện trường Sévigné. Dây thường xuân phủ kín các ban công khách sạn. Con chó ngủ trong hành lang lối vào. Tôi đi đến phố Ulm. Nó hoang vắng. Có tự nhủ rằng vậy thì đâu có gì kỳ cục vào một tối Chủ nhật, tại cái khu phố chuyên cần và nhiều chất tỉnh lẻ này, thì tôi vẫn tự hỏi mình có đang còn ở Paris hay không. Trước mặt tôi là vòm tròn của Panthéon. Tôi sợ lại thấy chỉ có độc mình tôi, dưới chân tòa công trình cho người chết ấy, dưới ánh trăng, thế là tôi vội rẽ sang phố Lhomond. Tôi dừng lại trước trường Ái Nhĩ Lan. Một cái chuông điểm tám tiếng, có lẽ chuông của giáo đoàn Thánh Linh mà mặt tiền đồ sộ đang ở kia, bên tay phải tôi. Thêm vài bước nữa, tôi bước vào quảng trường Estrapade. Tôi tìm số 26 phố Fossés-Saint-Jacques. Một tòa nhà hiện đại, kia, trước mặt tôi. Chắc hẳn tòa nhà cũ đã bị phá đi chừng hai mươi năm về trước. Ngày 24 tháng Tư năm 1933. Cặp vợ chồng trẻ tự sát vì những lý do bí hiểm. Đúng là một câu chuyện lạ thường, những gì đã xảy ra đêm qua trong tòa nhà số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, gần Panthéon, ở nhà ông và bà T. Ông Urbain T., kỹ sư trẻ tuổi, tốt nghiệp thủ khoa trường Hóa học, cách đó ba năm lấy cô Gisèle S., hăm sáu tuổi, hơn ông một tuổi. Bà T. là một phụ nữ xinh đẹp tóc vàng, cao và thanh mảnh. Về phần chồng bà, ông thuộc típ đàn ông tóc nâu đẹp trai. Cặp vợ chồng hồi tháng Bảy vừa rồi chuyển vào sống ở tầng trệt số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, trong một cái xưởng được họ cải tạo thành nhà ở. Cặp vợ chồng trẻ rất gắn bó với nhau. Dường như chẳng mối lo lắng nào nhuốm lên hạnh phúc của họ. Tối thứ Bảy, Urbain T. quyết định cùng vợ ra ngoài đi ăn tối. Họ rời khỏi nhà vào quãng bảy giờ. Mãi khoảng hai giờ sáng họ mới về, cùng hai cặp khác. Gây ồn ào chối tai, họ đánh thức các hàng xóm vốn dĩ chẳng mấy quen thuộc với những biểu hiện ầm ĩ như vậy từ phía những người thuê nhà thông thường rất kín đáo. Chắc hẳn bữa tiệc đã có các biến cố bất ngờ. Quãng bốn giờ sáng, những người khách đi khỏi. Trong vòng nửa tiếng sau đó, vốn dĩ trôi qua trong im lặng, hai phát nổ sượng đục vang lên. Chín giờ, một hàng xóm, ra khỏi nhà, đi qua trước cửa nhà của vợ chồng T. Bà ta nghe thấy có tiếng rên rỉ. Đột nhiên nhớ đến những tiếng nổ trong đêm, bà ta thấy lo lắng nên đập cửa. Cửa mở ra và Gisèle T. xuất hiện. Máu chầm chậm chảy từ một vết thương thấy rõ dưới vú trái. Cô thì thầm: “Chồng tôi! Chồng tôi! Chết rồi”. Một lúc sau, ông Magnan, cảnh sát trưởng, tới nơi. Gisèle T. rên rỉ, nằm trên một cái đi văng. Trong phòng bên cạnh, người ta phát hiện xác chồng cô. Anh vẫn giữ chặt một khẩu súng ngắn trong bàn tay co quắp. Anh ta đã tự sát bằng một viên đạn bắn thẳng vào tim. Bên cạnh anh, một bức thư nguệch ngoạc: “Vợ tôi đã tự sát. Chúng tôi đã say rượu. Tôi tự sát đây. Đừng tìm...”.   Dường như, theo cuộc điều tra, Urbain và Gisèle T., sau bữa tối, đã đến một quán bar ở Montparnasse. Tối hôm trước, từ phố Fossés-Saint-Jacques, tôi đã đi bộ tới giao lộ nơi có quán Dôme và quán Rotonde, sau khi để lại sau lưng khu vườn Đài Thiên văn tối tăm. Vợ chồng T. hẳn đã đi theo cùng con đường như tôi, vào cái đêm năm 1933 ấy. Tôi chợt thấy mình đang ở một cái nơi mà tôi đã tránh kể từ những năm sáu mươi. Cũng như khu Ursulines, khu Montparnasse làm tôi nghĩ đến tòa lâu đài của nàng công chúa trong khu rừng ngủ. Tôi từng có cùng cảm giác ấy, hồi hai mươi tuổi, khi thuê phòng để trú vài đêm tại một khách sạn trên phố Delambre: Thời ấy Montparnasse đối với tôi đã có dáng vẻ của một khu phố sống sót sau chính nó và đang chậm rãi thối rữa, cách xa khỏi Paris. Những lúc trời mưa trên phố Odessa hay phố Khởi Hành, tôi thấy như thể mình đang ở một bến cảng vùng Bretagne, dưới làn mưa phùn. Từ nhà ga, hẵng còn chưa bị phá hủy, bốc lên những bụm không khí của Brest hay Lorient. Bữa tiệc, ở đây, đã kết thúc từ lâu. Tôi còn nhớ rằng biển hiệu của quán Jimmy’s ngày xưa vẫn còn treo trên bức tường của phố Huyghens, và nó bị rơi mất dăm ba chữ, gió ngoài khơi đã thổi tung chúng đi mất. Đó là lần đầu tiên - theo các báo hồi tháng Tư năm 1933 - cặp vợ chồng trẻ bước vào một quán ban đêm của khu Montparnasse. Họ đã hơi quá chén trong bữa tối chăng? Hoặc giả, hết sức đơn giản, họ muốn phá vỡ, dẫu chỉ trong một buổi tối, dòng chảy êm đềm cuộc đời họ? Một nhân chứng khẳng định đã trông thấy họ, quãng mười giờ tối, tại quán Café de la Marine, một sàn dancing, ở số 243, đại lộ Raspail; một người khác, ở quán cabaret tên là Isles, trên phố Vavin, đi cùng hai phụ nữ. Cảnh sát cho công bố ảnh họ nhằm kêu gọi những lời chứng rất có nguy cơ cần phải được thẩm tra kỹ vì có rất nhiều phụ nữ trẻ tóc vàng và chàng trai tóc nâu, như Urbain và Gisèle T. Trong vòng vài ngày, người ta tìm cách xác định hai cặp trai gái mà vợ chồng T. đã đưa về nhà họ, trên phố Fossés-Saint-Jacques, rồi cuộc điều tra được khép lại. Gisèle T., trước khi chết vì các vết thương, đã cất tiếng nói, nhưng những kỷ niệm của cô mơ hồ. Đúng, họ đã gặp, tại Montparnasse, hai phụ nữ, hai người xa lạ mà cô chẳng hề biết gì... Và những người đó đã lôi kéo họ tới Le Perreux, tại một sàn dancing nơi có hai người đàn ông đến với họ. Rồi họ tới một ngôi nhà, ở đó có một cái thang máy màu đỏ. Tối nay, tôi đi theo dấu chân họ trong một khu phố ủ dột được tòa tháp Montparnasse phủ tấm màn tang tóc. Trong ngày, nó che giấu mặt trời và phóng cái bóng của nó lên đại lộ Edgar-Quinet cùng các phố lân cận. Tôi để lại sau lưng quán Coupole mà người ta đang phá đi dưới một mặt tiền bằng bê tông. Tôi thấy thật khó mà tin rằng Montparnasse xưa kia từng biết đến một cuộc sống về đêm... Chính xác thì vào thời nào tôi từng sống ở cái khách sạn trên phố Delambre kia? Quãng năm 1965, khi tôi làm quen với Jacqueline và không lâu trước khi tôi lên đường đi Viên, bên Áo. Căn phòng bên cạnh phòng tôi được thuê bởi một người đàn ông trạc ba lăm tuổi, một người đàn ông tóc vàng mà tôi hay gặp trong hành lang, rốt cuộc tôi cũng bắt đầu quen biết ông ta. Tên ông ta? Cái gì đó giống như Devez hay Duvelz. Lúc nào ông ta cũng ăn vận hết sức chỉn chu và đính một huy chương trên hàng cúc áo. Nhiều lần, ông ta từng mời tôi uống một cốc, rất gần khách sạn, tại một quán bar, Rosebud. Tôi không dám từ chối, ông ta có vẻ rất thích nơi đó. - Ở đây tuyệt quá... Ông ta nói giọng nhiều âm răng, giọng của một người con nhà gia giáo, ông ta đã kể với tôi là ông ta từng ở hơn ba năm “vùng bưng biền”[4] và tại đó, ông ta đã kiếm được tấm huy chương kia. Nhưng cuộc chiến tranh Algérie khiến ông ta thấy lộn mửa. Ông ta đã cần rất nhiều thời gian thì mới hồi phục được từ đó. Ông ta sắp sửa kế tục bố ông ta làm chủ một doanh nghiệp dệt sợi lớn trên miền Bắc. Rất mau chóng, tôi nhận ra rằng ông ta không nói cho tôi sự thật: Về “doanh nghiệp dệt sợi” ấy, ông ta luôn luôn mơ hồ. Và ông ta tự nói ngược với chính mình, một hôm khẳng định với tôi là từng tốt nghiệp trường Saint-Maixent, ngay trước khi sang Algérie, rồi, tới hôm sau, rằng ông ta đã hoàn toàn học bên Anh. Đôi khi, cái giọng đầy âm răng của ông ta nhường chỗ cho giọng đớt của một kẻ bán hàng rong. Chắc cần phải có chuyện tôi bước đi, tối Chủ nhật ấy, trong khu Montparnasse, thì cái tay Duvelz - hay Devez - kia mới có thể đột nhiên hiện ra từ hư vô như thế. Một hôm, tôi còn nhớ, chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trên phố Rennes, và ông ta đã mời tôi một bốc bia - như ông ta nói - tại một trong những quán cà phê thuộc giao lộ Saint-Placide buồn thảm. Quán cabaret tên Isles, trên phố Vavin, nơi hẳn người ta phải để ý thấy sự hiện diện của cặp vợ chồng, chiếm tầng hầm của tiệm Vikings. Bầu không khí đậm màu sắc Scandinavia cùng gỗ ốp tường sáng màu của Vikings trông thật tương phản với cái quán rượu nhọ nhem ấy. Chỉ cần đi xuống hết cầu thang: Từ những ly cocktail và các món nhẹ Na-uy ở tầng trệt, người ta sục thẳng vào giữa những điệu nhảy Martinique. Có phải vợ chồng T. đã gặp hai người phụ nữ ở đó? Tôi có cảm giác phải là tại Café de la Marine, đại lộ Raspail, về phía Denfert-Rochereau. Tôi còn nhớ căn hộ nơi Duvelz từng dẫn chúng tôi, Jacqueline và tôi, đến, cũng nằm ở đầu đại lộ Raspail đó. Cả lần ấy nữa, tôi cũng không dám từ chối lời mời của ông ta. Trong vòng gần một tuần, ông ta đã nằn nì cả hai chúng tôi một tối thứ Bảy nào đó cần phải tới nhà một người bạn gái của ông ta, ông ta rất muốn giới thiệu chúng tôi với người ấy. Bà mở cửa cho chúng tôi và, trong bóng tối lờ mờ của tiền phòng, tôi không nhìn rõ khuôn mặt bà. Phòng khách lớn, nơi chúng tôi bước vào, khiến tôi choáng váng vì vẻ xa xỉ của nó, chẳng hề tương hợp với căn phòng nhỏ của Duvelz, trên phố Delambre. Ông ta ở đó. Ông ta giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã quên mất tên bà: Đó là một phụ nữ tóc nâu đường nét hài hòa, một bên mặt, ở đoạn gò má, có vết sẹo lớn. Chúng tôi, Jacqueline và tôi, ngồi xuống trường kỷ. Duvelz và người phụ nữ, trong phô tơi, đối diện với chúng tôi. Chắc bà khoảng ba lăm, cùng độ tuổi với Duvelz. Bà tò mò nhìn chúng tôi. - Em có thấy họ thật duyên dáng không, cả hai?, Duvelz hỏi, bằng giọng nói nhiều âm răng của mình. Bà chăm chăm nhìn chúng tôi. Bà hỏi chúng tôi: - Hai người có muốn uống gì không? Giữa chúng tôi xuất hiện một quãng ngại ngần. Bà rót rượu porto mời chúng tôi. Duvelz uống một ngụm lớn. - Thoải mái đi, ông ta nói. Đây là một người bạn lâu năm... Bà ném về phía chúng tôi một nụ cười rụt rè. - Thậm chí chúng tôi từng đính hôn với nhau. Nhưng cô ấy đã phải lấy người khác... Bà không hề nhíu mày. Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi, tay cầm ly rượu. - Chồng cô ấy hay đi vắng... Chắc chúng ta có thể tận dụng điều đó để đi chơi chung cả bốn người... Các bạn nghĩ sao? - Đi chơi đâu? Jacqueline hỏi. - Nơi nào các bạn muốn... Thậm chí chúng tôi còn không có nhu cầu ra ngoài. Ông ta nhún vai. - Ở đây thật hay... Phải không? Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi. Bà châm một điếu thuốc lá, có lẽ để che giấu sự căng thẳng. Duvelz đã lại làm thêm một ngụm porto nữa. Ông ta đặt ly của mình lên cái bàn thấp, ông ta đứng dậy và bước về phía bà. - Cô ấy thật xinh đẹp, phải không? Ông ta đưa ngón tay trỏ lướt trên vết sẹo ở má. Rồi ông ta cởi cúc cái áo của bà và vuốt ve hai vú. Bà không hề động cựa. - Hồi trước chúng tôi đã gặp một tai nạn ô tô rất nghiêm trọng, ông ta nói. Bà hất tay ông ta ra bằng một động tác dữ tợn. Bà lại mỉm cười với chúng tôi. - Chắc hai người đói rồi... Giọng bà trầm và thoáng có âm sắc nước ngoài, dường như vậy. - Anh có thể giúp em mang bữa tối vào đây không? bà hỏi ông ta, giọng khá xẵng. - Tất nhiên rồi. Họ đứng dậy, cả hai. - Toàn đồ lạnh thôi, bà nói. Hai người thấy có được không? - Rất được, Jacqueline đáp. Ông ta đã choàng tay quanh vai bà và kéo bà ra khỏi phòng khách, ông ta thò đầu qua khe cửa mở. - Các bạn có thích sâm banh không? Ông ta đã đánh mất cái giọng nhiều âm răng. - Rất thích, Jacqueline đáp. - Có ngay đây. Chỉ còn lại chúng tôi trong phòng khách, vài phút, và tôi dồn hết nỗ lực ký ức để tập hợp lại càng nhiều chi tiết càng tốt. Những cửa sổ bệ thấp nhìn xuống đại lộ mở hé vì trời nóng. Đó là số 19 đại lộ Raspail. Năm 1965. Một cây đàn piano loại có đuôi đặt tận về cuối phòng. Trường kỷ và hai phô tơi đều làm bằng cùng một thứ da màu đen. Cái bàn thấp, bằng kim loại dát bạc. Một cái tên như là Devez hay Duvelz. Vết sẹo trên má. Cái áo bị cởi cúc. Một làn ánh sáng rất rực của đèn chiếu, hay nói đúng hơn là của đèn pin. Nó chỉ rọi sáng một mảnh nhỏ của décor, một giây phút đơn lẻ, mà để những gì còn lại trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được đoạn sau các sự kiện và nói cho đúng thì hai người kia là ai. Chúng tôi lẻn ra khỏi phòng khách và, thậm chí còn không khép cửa lại, chúng tôi đi xuống cầu thang. Lúc nãy, chúng tôi đã dùng thang máy để lên, nhưng nó không màu đỏ, giống cái thang máy mà Gisèle T. từng nhắc đến. Mời các bạn đón đọc Hoa Của Phế Tích của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thông Thái Và Số Phận
Đọc “Thông Thái và Số Phận” của Maurice Maeterlinck như đi vào một vườn mê cung. Nếu ta chỉ chú ý đi tìm lối ra hay con đường chính xác để giải thoát thì sẽ không thể cảm nhận được vẻ đẹp của nó.    Hãy cứ bước đi thong thả, cứ rẽ vào con đường mà bạn muốn, mỗi con đường đều không thẳng tắp mà có rất nhiều khúc quanh mở ra một con đường khác, và đương nhiên sẽ có lúc gặp phải ngõ cụt, vậy thì hãy quay trở lại chọn lối rẽ khác, hoặc bạn cũng có thể tự mình đào sâu, hay phá bỏ nó để đi xuyên qua, dù thế nào nó sẽ lại mở ra một con đường mới để ta khám phá. Và mê cung ấy có nhiều lối ra, có lối dẫn đến sự thông thái, có lối dẫn đến số phận, lý trí, tình yêu, hạnh phúc, khổ đau, niềm vui, nỗi buồn… đích đến nào cũng sẽ khai mở hoặc làm sáng tỏ con đường trong chính bản thân bạn. Khi chia sẻ thông tin về buổi tọa đàm về cuốn sách này trên một group rất thú vị và sôi nổi trên Facebook, có bạn chia sẻ khi đọc cuốn “Thông Thái và Số Phận” của Maurice Maeterlinck do dịch giả Nguyễn Trí Dũng chuyển ngữ và nhận xét là khó đọc, có vẻ như dịch giả dịch chưa chuẩn, chưa hay. Bản thân tôi cũng có cảm giác như vậy khi bắt đầu đọc, vì thế tôi có giới thiệu các bạn nên đi dự tọa đàm sách để có thể nghe dịch giả chia sẻ quan điểm, suy nghĩ cũng như khó khăn, tìm tòi trong quá trình dịch. Chắc chắn nó cũng sẽ giúp bạn hiểu hơn về tác phẩm. Thực tình tôi mới tò mò, quan tâm đọc thể loại sách triết học, tiểu luận, khảo luận… và cũng thấy là nhiều cuốn viết lan man, có mỗi cái đề tài thôi mà sao viết gì mà lắm thế, khó hiểu thế. Vậy nhưng khi đọc “Thông Thái và Số Phận” thì tôi lại không có những suy nghĩ như vậy, bởi vì đây là “Sách đọc chậm”, ngay trên trang bìa NXB đã ghi dòng chữ này để “cảnh báo” với độc giả đừng đọc nhanh, đọc liền một mạch, hãy đọc từng trang hoặc từng chương, có khi là từng đoạn, từng câu… thậm chí bạn có thể mở một chương bất kỳ và đọc vẫn có điều để bạn chiêm nghiệm, suy ngẫm. Tất nhiên, mỗi người sẽ có quyền tự chọn cách đọc của mình, nhanh-chậm, nhiều-ít tùy thích. Cuốn sách này không phải thể loại đọc một hồi xong thốt lên tuyệt vời quá, hay quá, mà đọc xong muốn tranh luận hoặc thậm chí là cãi nhau với chính mình, đọc xong chỉ cần “khai mở” hoặc có thể “phá hủy” và “tái tạo” lên trong đầu độc giả một cái nhìn mới, một con đường mới trong tư duy và nhận thức, đó là một thành công rồi, còn nếu không thì cũng không sao cả, chỉ là sách thôi mà. Theo loicuagio.com *** M aurice Maeterlinck (29/8/1862 - 6/5/1949) - nhà thơ, kịch tác gia, triết gia người Bỉ, giải Nobel Văn chương năm 1911. Vở kịch cổ tích “Con chim xanh” (L’Oiseau bleu) và vở “Aglavaine và Sélysette” của ông được giới phê bình xếp vào hàng những vở kịch hay nhất của thế kỷ XX. “Con chim xanh” được nhiều lần dàn dựng và biểu diễn ở Nga, Pháp, Mỹ, Nhật… Ngoài những tập thơ, kịch, M. Maeterlinck còn để lại cho văn chương, triết học thế giới những khảo luận, tiểu luận triết học vô cùng sâu sắc. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu với bạn đọc bản dịch tiếng Việt tiểu luận triết học đời sống tuyệt vời của M. Maeterlinck “Thông thái và số phận”. Phần cuối của bản tiếng Việt chúng tôi đưa thêm chương “Sự im lặng”, chương đầu trong tập tiểu luận “Kho báu của những kẻ nhẫn nhịn”. Sau khi chú tâm đọc, lắng nghe những lời bàn đầy minh triết của tác giả, thì cái vĩ thanh tuyệt vời nhất, có lẽ, nên là “Sự im lặng” để chúng ta cùng chiêm nghiệm về cuộc đời, về sự thông thái và số phận. Trong “Thông thái và số phận” M. Maeterlinck có nhắc đến nhiều nhân vật, điển tích trong lịch sử, văn hóa, văn chương phương Tây. Trong thời đại cách mạng thông tin hiện nay việc tra cứu trở nên rất dễ dàng. Các chú thích có thể làm đứt mạch đọc tác phẩm của độc giả. Vì vậy, chúng tôi không làm chú thích về những nhân vật, điển tích được tác giả nêu ra trong tác phẩm. Thêm nữa, theo chúng tôi, khi tự tra cứu, bạn đọc sẽ mở rộng, làm phong phú thêm kiến thức cho bản thân mình. Chúng tôi cố gắng chuyển tải một cách chính xác nhất văn phong của M. Maeterlinck. Quá trình dịch tác phẩm này sẽ không tránh khỏi sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành và thiện ý của tất cả các bạn. Xin chân thành cám ơn! Người dịch *** Tặng Madame Georgette Leblanc T ôi dành tặng cuốn sách này cho em. Nó tựa như là tác phẩm của em vậy. Có sự hợp tác cao quý và giá trị hơn sự hợp tác của ngòi bút: đây là hợp tác về tư tưởng và sự mẫu mực. Tôi không phải khó nhọc để nghĩ ra những quyết định và hành động xứng đáng với lý tưởng về đạo lý; tôi không phải rút ra từ con tim mình đạo lý của một ước mơ tuyệt vời vì sự cần thiết còn đôi chút mơ hồ. Tôi lắng nghe những lời nói của em, và chăm chú dõi theo em trong cuộc đời - thế là đủ. Đó cũng là lúc tôi dõi mắt theo các chuyển động, cử chỉ và thói quen của chính sự thông thái. Mời các bạn đón đọc Thông Thái Và Số Phận của tác giả Maurice Maeterlinck.
Những Người Hái Rong Biển
NHỮNG NGƯỜI HÁI RONG BIỂN Tác giả: ANATOLY KIM Nguyên tác: СОБИРАТЕЛИ ТРАВ (1976) Dịch giả: Thái Hà Thể loại: Tập truyện NHÀ XUẤT BẢN TÁC PHẨM MỚI - 1984 (Nguồn text: từ bản đánh máy và OCR từ bản chụp của chủ blog arral.wordpress.com) Ghi chú: so với bản gốc, bản ebook được sửa phiên âm lại các tên riêng tiếng Nga, tên gọi một số người gốc Triều Tiên và Nhật cho chính xác. Bản ebook này không phải bản đầy đủ và chỉ gồm các truyện trong tập Những người hái rong biển mà thôi. Các truyện khác trong sách gốc sẽ được cập nhật ở một phiên bản khác. *** Những người hái rong biển là một câu chuyện nhẹ nhàng, dìu dịu và buồn rầu. Nhân vật của Kim bất hạnh một cách bình thường, những nỗi bất hạnh ta có thể thấy ở khắp mọi nơi trên trái đất : vì cuộc sống gia đình không như mong đợi, vì bệnh tật, vì dốt nát, cổ lỗ, già yếu, vì tình yêu không được đền đáp, vì nghèo hèn, quê mùa, vì người thân đối xử lạnh nhạt … Mỗi người một lý do, nhưng tại một thời điểm nào đó, họ bỗng nhận ra mình đã bị đẩy ra khỏi dòng chảy chung của cuộc đời. Những nhân vật như thế rất thật, có lẽ chúng ta vẫn nhìn thấy họ hằng ngày, và đấy là chuyện thường không có gì đáng nói. Mỗi người đều có mặt tốt mặt xấu, mỗi nhà đều có những chuyện riêng, không ai giống ai. Hàng ngày, con người ta vẫn chết đi, điều đó không làm xáo động dòng đời chút nào. Vì thế, cái đáng nói là cách nhìn nhận của tác giả, Anatoli Kim cho rằng “thời gian là sự bồi đắp và tích tụ, thời gian như đoàn tàu chắc chắn sẽ đưa con người tới một ga nào đó, trong khi cứ trôi qua và bay đi hết giây phút này đến giây phút khác, cuối cùng nó cũng phải tụ lại ở một nơi nào đó. Không gian cũng thế. Xung quanh trái đất không phải chỉ có không khí và ánh mặt trời. Trên mặt đất này còn tích tụ một khối năng lượng khổng lồ do những người tốt chết đi tích lại ngày một nhiều. Vậy là không có một cuộc đời người tốt nào, dầu bất hạnh, lại trôi qua vô ích, không một đóng góp nào, dầu nhỏ bé, cho cuộc sống tinh thần con người lại không tích lũy cho một ngày mai hạnh phúc, và do đó, không một nơi nào lại không chứa đựng những cái chính yếu nhất của đời sống…” (theo Những người hái rong biển – Anatoli Kim | Agrael's words (wordpress.com)) Nhà văn, nhà viết kịch, dịch giả Nga Anatoly Kim sinh năm 1939 tại Kazakhstan. Tổ tiên của ông vốn là người Triều Tiên di cư đến Nga từ thế kỷ XIX. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, Kim vào học Trường trung cấp nghệ thuật Moskva. Năm 1971, Kim tốt nghiệp tại chức Trường viết văn mang tên M. Gorky, những truyện ngắn đầu tiên của ông được xuất bản năm 1973. Một thời gian, Kim phụ trách xeminar văn xuôi tại Trường viết văn; từ năm 1996, ông là đồng Tổng biên tập tạp chí “Yasnaya Polyana”. Ông là tác giả của 7 tập truyện ngắn, 6 tập truyện vừa, 2 vở kịch và 7 tiểu thuyết. Tập truyện ngắn “Những người hái rong biển” của ông đã được dịch ra tiếng Việt. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày sinh của nhà văn (1939-2019), xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà báo Vladimir Li về ông. Tôi làm quen với tác phẩm của Anatoly Kim vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, khi được đọc tập truyện ngắn đầu tay của ông “Đảo màu xanh da trời” (1976). Những năm tiếp theo, tôi được đọc hai cuốn sách của ông “Dây lưng màu ngọc bích” và “Tiếng hót chim họa mi”. Tôi quan tâm tới Anatoly Kim trước hết vì ông là nhà văn Liên Xô gốc Triều Tiên đầu tiên mà tôi đã từng mua sách tại các hiệu sách ở Uzbekistan, còn sau khi Liên Xô sụp đổ, tôi không thấy ở đấy một cuốn sách nào của ông nữa. Cách đây 10 năm, khi chuyển đến Moskva, tôi mới biết rằng Kim viết nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và kịch, đã trở thành nhà văn "cổ điển sống" của văn học Nga đương đại. Còn cách đây mấy năm, tôi được trực tiếp gặp ông thông qua người bạn chung của chúng tôi là Moisey Kim, hiện là Chủ tịch Hội những người Triều Tiên ở Nga. Lúc bấy giờ, tôi đã kể về cuốn sách đầu tiên của Kim mà tôi đã đọc. Số là về sau tôi phát hiện ra cuốn sách này trong một vali sách mà bố tôi muốn mang theo khi sang thế giới bên kia, nói rằng “ở đấy” ông sẽ đọc những cuốn sách này. Không một người thân nào dám phản đối ý nguyện cuối cùng của bố chúng tôi. Người đã qua đời ngày 2 tháng 8 năm 1980. Dưới quan tài của bố, chúng tôi đặt hai vali sách, trên cùng là cuốn “Cánh đồng mẹ” của Chingiz Aymatov và “Đảo màu xanh da trời” của Anatoly Kim. Sau khi chăm chú lắng nghe câu chuyện của tôi, Kim thốt lên: “Lần đầu tiên tôi được nghe một câu chuyện như vậy. Có nghĩa là từ thế giới bên kia, bố anh đã xui chúng ta gặp nhau và cần phải nâng cốc vì điều này”. Sau đó, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau, năm 2014 tôi được mời tới dự lễ kỷ niệm nhân 75 năm Ngày sinh của nhà văn và được ông ký tặng ba cuốn tiểu thuyết. Tháng 5 năm 2015, tôi cùng với Moisey Kim đến thăm nhà văn tại biệt thự của ông ở làng Peredelkino, Moskva. Và mấy năm gần đây, tôi đã nhiều lần được gặp nhà văn tại những sự kiện chính trị-xã hội khác nhau. Bàn về không gian và thời gian diễn ra câu chuyện trong tiểu thuyết, Anatoly Kim nói nguyên văn như sau: “Con chim, chiếc máy bay và, có thể, cả thiên thần nữa, cần cánh để bay, nhưng con người hoàn toàn không cần cánh để bay tới nơi tôi mời họ đến. Trong tiểu thuyết của tôi, có những chuyến bay không cần cánh, những cuộc di chuyển tự do trong không gian của những thế giới và thời đại khác nhau...”. Đề tài tình yêu chiếm vị trí chủ đạo trong toàn bộ sáng tác của Kim. Tình yêu - sự bảo đảm của hạnh phúc và sự tiếp tục nòi giống của con người. Ông nghiêng mình trước sức mạnh của tình yêu. Tình yêu là cơ sở của sự hài hòa của thế giới, sự hồi sinh của nhân loại và tương lai của nó. Hạnh phúc của Kim có dung lượng không gian và thời gian rõ rệt, bởi vì tình yêu là mặt trời với cuộc đời con người quay quanh nó. Nhưng khi mặt trời lùi xa và biến mất, tất cả trở nên bất động, giống như thiên nhiên ngủ thiếp đi trước mùa đông. Kim coi con người là một phần của vũ trụ, còn cuộc đời con người chỉ là khoảnh khắc, là ánh chớp lóe lên trong thời gian và không gian của vũ trụ nói chung. Trong khoảnh khắc đó, mỗi con người để lại dấu vết của mình trong không gian vô cùng tận, bởi Trái đất phản ứng rất nhanh trước tất cả những vận động của tâm hồn con người; khi con người làm điều ác thì không gian bao quanh nó chìm vào bóng tối, thời gian ngừng lại; còn khi con người làm điều thiện thì thế giới bừng sáng. Vấn đề hạnh phúc là một trong những đề tài sáng tác chính của Kim. Chỉ người biết yêu mới giành được hạnh phúc chân chính, bởi tình yêu là sức mạnh vĩ đại có thể hồi sinh con người. Sách của Kim không dành cho sự đọc dễ dãi, để kích thích giấc ngủ hay đơn giản là giết thời gian. Tác phẩm của ông mang đậm tính triết lý, nhiều tầng ý nghĩa, đa dạng, phổ quát, đầy biến hóa, không dễ gì nhận thức được. Nó ẩn giấu đạo lý thường tình ngàn đời nay của các dân tộc trên thế giới. Nói về tác phẩm văn học của mình, Kim giải thích rằng, ông cảm thấy mình là một nghệ sĩ hoàn toàn tự do và không bao giờ viết theo đơn đặt hàng của những kẻ cầm quyền. Ông làm việc theo ý thích và cảm hứng, chứ không phải hàng ngày. Không bao giờ nháp trước, không thu thập tài liệu hay thông tin bổ sung về điều gì đấy. Ông viết một mạch, hàng giờ liền, không nghỉ, dường như có ai đó từ “trên” đọc cho ông chép. Nhà văn khẳng định rằng, trong những ngôi làng Nga, nơi ông đã có dịp sống vào những năm khác nhau, người ta đánh giá con người ngắn gọn và đơn giản: “người tốt” hay “người xấu”. Anatoly Kim nói rằng, ông viết cho “người tốt”. “Người xấu” sẽ không đọc sách của ông, hắn không hiểu, ngay cả khi đọc. Vì vậy, sau khi đọc sách của Kim, hắn cũng sẽ không trở thành “người tốt”. Kim không trách mình vì trên đời có “những người xấu”. Khi được hỏi vì sao viết sách và viết như thế nào, ông nói: - Tôi viết sách cho “người tốt”. - Tôi không quan tâm người ta hiểu hay không hiểu tôi. - Tôi không viết cho đám đông và cho những người trên quảng trường gào lên: hoan hô Kim! - Tôi không muốn viết cho những người coi sách như ly cà phê hay ly rượu; - Tôi không thể chịu nổi thái độ tiêu thụ đối với sách. - Tôi không viết sách để về sau nó trở thành hàng hóa, vì vậy tôi phản đối thương mại hóa văn học. Anatoly Kim cho rằng, nhà văn không tồn tại thiếu độc giả. Nếu còn lại dù chỉ một độc giả thì đó là nhà văn. Nói về sự phản hồi của độc giả, Kim có thể dẫn chứng hàng chục bức thư, các cuộc gặp gỡ, lời nhắn nhủ của nhiều người đối với ông. Sau đây là một số ví dụ: ...Vào một ngày đẹp trời, có một người quen gọi điện thoại cho nhà văn Kim nói rằng vợ ông ta ốm nặng. Bác sĩ chẩn đoán bà bị ung thư dạ dày và trả về nhà vì chẳng còn sống được bao lâu nữa. Trước đó, người chồng đã đưa cho vợ đọc tiểu thuyết “Con sóc” của Anatoly Kim, và bây giờ nguyện vọng cuối cùng của bà là được gặp tác giả cuốn sách. Vào ngày hẹn, Kim đến nhà. Người phụ nữ cố ngồi dậy để chào khách. Anatoly Kim bảo bà đừng ngại, ông bước tới nắm bàn tay bà và ngồi đối diện với bà. Bà chân thành cảm ơn nhà văn về tiểu thuyết “Con sóc” và nói rằng, sau khi đọc cuốn sách, bà không còn sợ chết nữa. Những lời của độc giả nói với nhà văn trong giờ phút thập tử nhất sinh như vậy thật vô cùng giá trị - không thể không tin con người như vậy. Một ví dụ khác: ...Một lần, Anatoly Kim được nhà thờ Tin lành ở thành phố Voronezh mời đến dự hội nghị bàn về đấu tranh chống nạn ma túy trẻ em. Từ trên diễn đàn hội nghị, nhà văn nói rằng cuộc đấu tranh chống ma túy cực kỳ gay go và kém hiệu quả. Cách chống ma túy tốt và hiệu quả nhất là dự phòng và cảnh báo trước về tất cả sự nguy hại của việc sử dụng chất ma túy. Không bao giờ cho phép trẻ em thử dùng chất độc chết người này. Trong lúc nhà văn phát biểu trên hội nghị, có một phụ nữ mặc ào choàng trắng lặng lẽ bước vào phòng và ngồi vào một chỗ trống ở phía sau. Mấy phút sau, bà xin được phát biểu ý kiến. Bà là một nữ y tá, làm việc tại bệnh viên thành phố. Khi nghe tin nhà văn Anatoly Kim đến thành phố Voronezh và đang ở nhà thờ, bà xin phép bác sĩ trưởng đến đây. Bà nói rằng đã từ lâu mơ ước được gặp nhà văn và đến để cảm ơn ông về cuốn tiểu thuyết tuyệt vời “Onlirya”. Cuốn sách kỳ diệu này mang lại cho độc giả niềm hy vọng lớn và niềm tin vào một cuộc sống tốt đẹp. Sau khi đọc tiểu thuyết này, bà có cảm giác như được tắm mình trong một dòng nước nguồn tinh khiết, và muốn sống cuộc đời mới. Và bây giờ cuộc sống khó khăn của bà đã được cải thiện. Bà chân thành cảm ơn nhà văn và vái chào ông. Rồi bà vội vã ra đi trong tiếng vỗ tay của các đại biểu. Trong giờ giải lao, nhà văn muốn nói chuyện với người phụ nữ này, nhưng bà đã trở về bệnh viện. Nhớ lại những câu chuyện đó, Anatoly Kim trầm ngâm nói: “Những lời tâm sự đó của độc giả đem lại cho tôi sức mạnh và niềm cảm hứng đích thực, và tôi sẽ sáng tác cho những con người như vậy. Đó cũng có thể là câu trả lời: tôi viết cho ai”. (Theo Anatoly Kim - người đương thời của tôi | Báo Công an nhân dân điện tử (cand.com.vn))   Mời các bạn đón đọc Những Người Hái Rong Biển của tác giả Anatoly Kim.
Những Màu Khác
Orhan Pamuk tiểu thuyết gia đã rất thành công với Tên tôi là Đỏ, Pháo đài trắng hay Cuốn sách đen, nhưng vì là một nhà văn tham vọng, “phổ màu” của ông còn muốn bao trùm rộng lớn hơn nữa, lên chính trị, hội họa cổ điển, những tản văn ngắn, và lên sự đọc. Những màu khác minh chứng cho tham vọng ấy khá rõ. Cuốn sách là sự nối dài đầy ngoạn mục, những “ngoại truyện” bổ sung cho các tiểu thuyết của ông, những thêm thắt về cảm giác vốn đã huy hoàng trong cuốn hồi ký tuyệt vời Istanbul, và nhất là ở đây, ta được chứng kiến Pamuk trong tư cách một người đọc cự phách; người đọc ấy hào phóng dẫn dắt ta đến với thế giới những tác giả mà ông sùng mộ nhiều chục năm nay: Camus, Flaubert, Dostoyevsky, Nabokov… những thế giới của sự đọc ấy mở rộng nhiều lần đường biên giới của sự viết ký tên Pamuk. Nhận định: “Những màu khác bao gồm nhiều bài viết khác nhau, từ báo chí và từ nhiều nguồn khác, được biên tập lại và đôi khi được viết lại, để làm nên một bức chân dung nhất quán về một văn nhân… Ngoài sự thông minh đầy quyến rũ và những quan sát đầy thông tuệ, Những màu khác còn là kêu gọi chúng ta hãy lùi lại mà suy ngẫm kỹ về những nguyên nhân lịch sử và tâm lý đã dẫn đến những vấn nạn đáng lo của thế giới ngày nay.” - Roger Kaplan, Washington Post Book World “Ông là nhà thơ của mê cung những suy tư và tưởng tượng của chính ông, về cái thần kỳ và về cái mập mờ lưỡng nghĩa.” - Colin Thubron, The New York Review ”Từ Những màu khác vang lên một giọng nói một phần tinh nghịch một phần u tối, cái thực tại soi chiếu trong đó là thực tại mà một con họa mi trong đời thường phải đâm ganh tị.” - Richard Eder, Los Angeles Times Book Review *** Đây là một cuốn sách làm từ các ý tưởng, hình ảnh và phân mảnh của cuộc đời chưa tìm thấy lối vào một trong các tiểu thuyết của tôi. Tôi đặt chúng cùng nhau ở đây trong một mạch tự sự. Đôi khi tôi ngạc nhiên thấy mình đã không thể đưa vào tác phẩm hư cấu tất cả những ý nghĩ tôi cho là đáng khám phá: những khoảnh khắc kỳ cục của cuộc đời, những cảnh đời thường nho nhỏ mà tôi muốn chia sẻ với người khác, và những lời lẽ phát ra từ tôi với sức mạnh và niềm vui khi có dịp say mê. Một vài phân mảnh mang tính tự truyện; có bài tôi viết rất nhanh; có bài bị gạt qua một bên khi tôi dành sự chú ý cho việc khác. Tôi quay trở lại với chúng rất giống như khi quay trở lại những tấm ảnh cũ, và - mặc dù hiếm khi đọc lại tiểu thuyết của mình - tôi thích thú đọc lại những bài viết này. Cái tôi thích nhất là những khoảnh khắc các bài này vượt lên được khỏi tính nhất thời, khi chúng không chỉ đáp ứng được yêu cầu của tờ tạp chí hay tờ báo đặt hàng, mà còn bày tỏ những mối quan tâm, niềm nhiệt tình của tôi nhiều hơn là tôi dự định tại thời điểm viết. Để mô tả những khoảnh khắc vụt hiện đó, những khoảnh khắc kỳ lạ khi chân lý bằng cách nào đó được rọi sáng, Virginia Woolf từng dùng cụm từ “những khoảnh khắc hiện hữu”. Trong khoảng thời gian từ 1996 đến 1999 tôi viết những bài viết ngắn hằng tuần cho Oküz (Bò đực), một tạp chí chuyên về chính trị và hài hước; và tôi cũng vẽ minh họa cho những bài ấy. Đây là những bài tản văn ngắn trữ tình được viết một mạch, trong đó tôi rất ưa nói về con gái tôi và bạn bè của tôi, thăm dò các vật thể và thế giới bằng cặp mắt tươi mới, và nhìn thế giới bằng từ ngữ. Càng ngày, tôi càng bớt xem tác phẩm văn chương là kể về thế giới, mà là “nhìn thế giới bằng từ ngữ”. Từ thời điểm bắt đầu dùng từ ngữ như dùng màu trong hội họa, nhà văn có thể bắt đầu thấy thế giới thật diệu kỳ và lắm vẻ ngạc nhiên đến thế nào, và anh ta đào sâu vào ngôn ngữ để tìm ra giọng điệu riêng của mình. Để làm điều này anh ta cần giấy, bút, và sự lạc quan của một đứa trẻ nhìn thế giới lần đầu tiên. Tôi tập hợp những bài viết này để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự truyện làm trung tâm. Tôi bỏ nhiều bài và cắt ngắn một số bài khác, chỉ lấy trích đoạn từ hàng trăm bài báo và đưa một số tiểu luận đến những vị trí xa lạ trong cuốn sách, những vị trí xem ra phù hợp với kết cấu của câu chuyện đó. Ví dụ, ba bài diễn văn được in thành một tập riêng ở Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều ngôn ngữ khác dưới nhan đề Cái vali của cha tôi (gồm diễn từ Nobel cùng tên, cũng như bài “Ở Kars và Frankfurt”, bài diễn văn tôi đọc nhân dịp Giải thưởng Hòa bình Đức, và bài “Tác giả ngầm ẩn”, bài diễn văn tôi đọc tại Hội nghị Puterbaugh) xuất hiện ở đây trong các phần tách biệt để phản ánh cùng một câu chuyện tự truyện ấy. Ấn bản Những màu khác này được dựng nên từ cùng bộ khung của cuốn sách cùng tên xuất bản lần đầu ở Istanbul năm 1999, nhưng cuốn sách trước mang hình thức của một tập hợp, trong khi cuốn sách này được định hình như một chuỗi các phân mảnh mang tính tự truyện, những khoảnh khắc, những ý nghĩ. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh yêu thích nhất của tôi, với tôi luôn luôn là một cái cớ để nói về cuộc đời. Những mẩu chuyện New York được viết năm 1986, khi tôi viếng thăm thành phố lần đầu tiên, và tôi viết chúng để ghi nhận những ấn tượng đầu tiên của một người nước ngoài, dự định dành cho độc giả Thổ Nhĩ Kỳ. “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, mang tính chất tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan. Nhưng người anh trong câu chuyện, như tất cả các người anh trong các câu chuyện của tôi, xấu xa và bạo tàn, không liên hệ gì với người anh của tôi ngoài đời thực, Şevket Pamuk, sử gia kinh tế xuất sắc. Khi soạn cuốn sách này, tôi bàng hoàng nhận ra tôi có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị), và do vậy tôi đã gạt ra kha khá bài viết u ám về chính trị. Tôi luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể lay chuyển thường trú trong tôi - một sinh vật không thể bao giờ viết cho đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ - và để cho hắn ta vui lòng tôi cần phải tiếp tục viết. Nhưng khi soạn cuốn sách này, tôi khám phá ra rằng kẻ cuồng viết đó sẽ vui hơn nhiều, và bớt đau đớn vì căn bệnh viết lách của hắn, nếu hắn làm việc với một biên tập viên trao cho những bài viết của hắn một trung tâm, một bộ khung, và một ý nghĩa. Tôi mong độc giả nhạy cảm hãy chú ý đến việc biên tập sáng tạo của tôi cũng nhiều như chú ý đến nỗ lực mà tôi đặt vào bản thân việc viết. Tôi hầu như không đơn độc trong việc là người ngưỡng mộ nhiệt thành nhà văn, nhà triết học Đức Walter Benjamin. Nhưng để chọc tức một người bạn quá mức sùng bái ông (dĩ nhiên cô là một người trong giới học thuật), đôi khi tôi hỏi, “Ông nhà văn này có gì mà quá vĩ đại? Ông ấy chỉ hoàn thành có vài cuốn sách, và nếu ông nổi tiếng, ấy không phải nhờ những tác phẩm ông đã hoàn thành mà là nhờ những tác phẩm ông chưa bao giờ hoàn thành nổi.” Bạn tôi trả lời rằng toàn bộ các tác phẩm của Benjamin, như bản thân cuộc đời, không có ranh giới và do đó có tính chất phân mảnh, và đó là lý do tại sao nhiều nhà phê bình văn chương đã rất cố gắng mang lại ý nghĩa cho các tác phẩm đó, như họ làm với cuộc đời. Và mỗi lần như thế tôi mỉm cười nói, “Một ngày nào đó tôi sẽ viết một cuốn sách cũng chỉ tạo thành từ các phân mảnh.” Đây là cuốn sách ấy, được đặt trong một cái khung để gọi ra một trung tâm mà tôi cố gắng che giấu: tôi hy vọng độc giả sẽ thích thú với việc tưởng tượng sao cho cái trung tâm ấy thành hiện hữu. Mời các bạn đón đọc Những Màu Khác của tác giả Orhan Pamuk & Lâm Vũ Thao (dịch).
Nguyện Ước Tháng Năm
Đỏ là một cây cổ thụ một trăm mười sáu tuổi và đồng thời là cây nguyện ước của khu phố nơi mọi người đến buộc điều ước của mình vào ngày mùng một tháng Năm hằng năm. Đỏ đã chứng kiến rất nhiều chuyện, đã lắng nghe rất nhiều điều ước, và năm nay, khi một gia đình người Hồi giáo chuyển tới sinh sống trong khu, Đỏ đã nhận được một điều ước đặc biệt từ cô bé Samar: cô bé ước có một người bạn. Khi Đỏ hay tin mình sắp sửa bị đốn hạ, cậu đã dùng hết khả năng của một cây cổ thụ để giúp Samar biến ước nguyện thành sự thật. *** Trò chuyện với cây cối không phải là việc dễ dàng, bởi chúng tôi hơi kiệm lời. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi không thể làm được những chuyện đáng kinh ngạc, những chuyện mà loài người có lẽ chẳng bao giờ làm. Che chở cho những nhóc cú sơ sinh. Biến thành những ngôi nhà cây chắc chắn. Và quang hợp nữa. Nhưng trò chuyện với con người ấy hả? Không nhé. Và chắc chắn không ai có thể kì vọng một cái cây kể chuyện cười cho nghe. Cây cối chỉ trò chuyện với một vài người bạn, những người chúng tôi biết là đáng tin cậy ấy mà. Chúng tôi tán gẫu với lũ sóc liều lĩnh, đám sâu chăm chỉ, những cô bướm đỏm dáng, và cả những chú ngài bẽn lẽn nữa. Đám chim như thế nào à? Lúc nào cũng vui tươi. Họ nhà ếch thì sao? Mặt mũi quàu quạu, nhưng rất tốt tính. Rắn nữa? Chuyên gia buôn chuyện đấy. Còn cây? Chà, tôi chưa gặp cái cây nào khó ưa cả. À thì, chỉ có mỗi cây đinh hương ở góc đường thôi. Í éo í éo í éo cả ngày, chính là nó đấy. Vậy cây cối có bao giờ nói chuyện với loài người không? Lên tiếng thực sự - một khả năng rất “người” ấy? Câu hỏi hay đấy. Thật ra mối quan hệ giữa cây cối và loài người rất phức tạp. Chỉ vừa ôm ấp bọn tôi xong mà ngay sau đó các bạn đã có thể biến chúng tôi thành vài cái bàn gỗ, hoặc mấy que đè lưỡi được rồi. Có thể bạn đang tự hỏi sao vụ cây biết nói này không được nhắc đến trong mấy lớp Khoa học nhỉ, mấy cái tiết gì mà “Mẹ Thiên nhiên là bạn thân của loài người” ấy? Chà, đừng vội trách móc thầy cô của bạn nhé. Chẳng qua là họ không biết cây có thể nói chuyện thôi. Hầu hết loài người đều không biết điều này. Nhưng dù sao thì, nếu một ngày đặc-biệt-may-mắn nào đó, bạn tình cờ đứng cạnh một cái cây trông đặc-biệt-thân-thiện, thì hãy thử lắng nghe xem. Cây cối không giỏi nói đùa lắm. Nhưng chúng tôi chắc chắn biết kể những câu chuyện hay. Và nếu bạn chỉ nghe được tiếng lá cây rì rào, thì cũng đừng buồn. Chỉ vì đa số cây cỏ tụi tôi đều là những kẻ rụt rè hướng nội thôi. Mời các bạn đón đọc Nguyện Ước Tháng Năm của tác giả Katherine Applegate & Hoàng My (dịch).