Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vì Em Yêu Anh

Stephanie có sắc đẹp cổ điển, nhưng hơn thế, nàng có một trái tim đam mê. Ham thích mạo hiểm, nàng dám lao đầu vào những cuộc tình cuồng nhiệt và cũng sẵn sàng chịu trả giá cho những mối tình của mình. Một tính cách như vậy lại ra đời trong thời đại bão táp của nước Pháp nửa cuối thế kỷ XIX với những cuộc tranh giành quyền lực trong nước, chiến tranh ở ngoài nước, những cuộc xâm lược thuộc địa và sự phát triển nhanh chóng của các công ty liên quốc gia, ắt cuộc đời nàng phải bảy nổi ba chìm với ... yêu đương. Số phận éo le đã đẩy Stéphanie lưu lạc khắp năm châu và rơi vào đủ những mối tình hết sức khác nhau: - Nhà kinh doanh trẻ tuổi Armand Dytteville có tài sản lớn ở Nam Thái Bình Dương. - Chàng sĩ quan điển trai, tùy tùng của hoàng đế Napoléon III. - Chàng quý tộc Nga hào hoa Boris tại kinh thành Saint Petersburg. - Một thanh niên bản xứ tại miền đất hoang vu, Yann Kendelec. - Và ... văn hào Victor Hugo, cây bút vĩ đại đồng thời cũng nổi tiếng là thuộc số những đàn ông có nhu cầu tình ái mãnh liệt nhất trong lịch sử thế giới ... STEPHANIE lấy nhân vật cùng tên làm trung tâm, được viết thành 4 cuốn với tên gọi như sau: 1. Bốn mùa yêu. 2. Vì em yêu anh. 3. Cái giá của tự do. 4. Ngọn lửa tình. Tuy là bốn cuốn cùng viết về một nhân vật, song cũng như bộ tiểu thuyết Angelic đã quen thuộc với bạn đọc, mỗi cuốn đều là những câu chuyện hoàn chỉnh, độc lập với nhau, không nhất thiết phải đọc toàn bộ tác phẩm hoặc đọc theo trình tự nhất định mới thấu hiểu được nó. Tất nhiên, hy vọng rằng bạn đọc sẽ gắn bó và say mê với số phận của Stéphanie để không bỏ sót một cuốn, một tập nào, như đọc giả phương Tây đã hết sức hoan nghênh STÉPHANIE khiến bộ sách được tái bản liên tục trong vòng 10 năm nay kể từ khi nó ra đời. *** Vậy là Stephanie đã trở về nhà bếp của trường quân chính, nơi ngày nào nàng đã rời đây để cùng với Pompette lên đường ra trận, cốt đuổi theo René. Bây giờ nàn cũng sắp phải rời bỏ nơi này để trở thành phu nhân Dytteville, trở về thành phố Paris với các con, với gia đình của nàng, lấy lại vị trí của nàng trong gia đình cũng như trong xã hội thượng lưu và trong công việc kinh doanh. Nghĩ tới việc lại phải tiếp xúc với "giới dân sự" Stephanie hoang mang vô cùng, không phải chỉ bây giờ vì nàng phải bắt đầu mọi thứ từ đầu vì nàng đã bị mang cái tiếng là "làm cấp dưỡng" trong trung đoàn lính Bắc Phi. Trong đáy thâm tâm, Stephanie coi đó là vinh dự, một thứ đáng để nàng tự hào. Nhưng mọi người xung quanh nàng lại không nghĩ như thế. Stephanie sẽ phải "đương đầu" với họ. Tuy nhiên nàng thầm nghĩ, bất cứ trước mặt ai, dù vị trí là thế nào đi nữa, nàng sẽ không bao giờ từ chối việc nàng đã tham gia chiến trường Crimée, bên cạnh Pompette, trong trung đoàn lính Bắc Phi số 3. Hôm qua Stephanie đã may một tấm áo dài, một chiếc mũ, đôi giày, chiếc xắc, bởi nàng không thể mặc đồng phục cấp dưỡng quân đội để đến nhà Amélie. Chỉ chị là người có thể khuyên bảo nàng đôi điều cần thiết. Hôm nay, trước lúc đi, Stephanie ngập ngừng đôi chút rồi cuối cùng nàng quyết định cởi áo dài ra, mặc lại bộ đồng phục cấp dưỡng quân đội vào người. Nàng thầm tự nhủ: - Để mai... mai mình hãy đi. Để lấy lại can đảm, Stephanie nhớ lại câu Amélie đã nói với nàng một lần. Hôm đó phu nhân Resmont bảo nàng: - Tôi quý chị hơn chị tưởng đấy, Stephanie. Tôi muốn nói với chị rằng bao giờ chị cũng có thể coi tôi là người bạn tin cậy, tận tụy và thông cảm với chị. Hai chữ "bao giờ" của Amélie nói ra hàm nghĩa "bất kể hoàn cảnh nào". Nhưng Stephanie đã không viết lá thư nào trả lời bạn. Nàng chỉ đọc ba lá thư của Amélie nàng nhận được đầu tiên. Từ lá thư thứ tư cho đến tất cả các lá tiếp theo, Stephanie đều xé vứt đi, mặc dù Amélie gửi thư rất đều đặn cho nàng. Do đó Stephanie hoàn toàn không biết tin tức gì ở nhà, bây giờ trở về gia đình nhà chồng, nàng chưa biết, sau khi nhận được tin nàng tử trận, ông bà Dytteville liệu có còn giữ lại căn hộ của nàng không. Suốt thời gian nàng ở ngoài mặt trận, bà Francoise Dytteville không hề viết thư cho con dâu, vì Amélie đã nói với bà rằng Stephanie không muốn nhận thư ai, ngoài thư của chị. Và mẹ chồng nàng đã tôn trọng ý muốn ấy của Stephenie. Nhưng rất có thể Amélie đã báo tin của nàng cho hai ông bà Dytteville. Vậy thì nàng phải gặp Amélie đã. Nhưng liền sau đó Stephanie lại chợt nghĩ "Bố mẹ chồng ta không thể không nhận ta. Ta là mẹ của hai cháu nội họ: Armand và Charles. Và là con dâu, ta vẫn là một cổ đông của công ty". Cho dù bố mẹ chồng tiếp đón nàng ra sao, Stephanie quyết định không làm điều gì ảnh hưởng xấu đến hai con nàng. Stephanie kết luận, người duy nhất nàng có thể hoàn toàn tin cậy là Amélie. Chắc chắn khi nghe tin cuộc chiến tranh Crimée kết thúc, chị đã nóng lòng mong gặp mặt bạn. Vấn đề chỉ còn là Stephanie không đến một mình mà có thêm con chó Cesar. Thôi được, nàng sẽ đến gặp Amélie trước. 8 giờ sáng hôm sau, tay dắt con chó, Stephanie bước ra khỏi cổng trường quân chính, nàng rất khó chịu trong tám áo bó chặt trên ngực, dưới lại xòe rộng với khung lồng bên trong vướng víu. Thêm nữa, đôi giày chật, bó đã lâu nàng không dùng, bây giờ khiến nàng bước đi rất khó khăn. Stephanie quen ở mặt trận, mặc áo quần rộng rãi, thoải mái, đi giày quân nhân mềm mại. Dọc đường nàng đi ngang qua một cửa hàng đồ chơi thấy có dòng chữ rất to làm nàng ngạc nhiên vô cùng "Cuộc phong tỏa Sebastopol - Trò chơi lý thú cho mọi lứa tuổi, giá thấp nhất: 6 franc!" Thì ra cuộc chiến tranh đẫm máu đã được dân chúng Paris khai thác thành trò chơi. Stephanie nhìn vào tủ kính thấy bày đầy các kiểu hộp carton to nhỏ màu sắc sặc sỡ với các hình thành lũy, pháo đài, quân Đồng minh đang tấn công, cũng như quân đội Nga đang tự vệ... Stephanie muốn văng ra một câu chửi tục tĩu của binh lính Bắc Phi, nhất là của bác Tubosiquoi. Nhưng nhàng cố gắng ghìm lại, cay đắng và nhẫn nhục đi tiếp về phía biệt thự của gia đình Resmont. Một gia nhân nàng không biết tên ra mở cổng. - Bác vào báo Phu nhân Resmont tôi là phu nhân Dytteville đến thăm. - Bà chủ tôi sáng nay không tiếp khách. - Chính vì vậy mà tôi đến gặp phu nhân. - Nhưng hôm nay không phải là ngày tiếp khách của bà chủ tôi. - Tôi cũng hy vọng như thế. - Tôi không biết bà chủ tôi có... -... có tiếp tôi không chứ gì? Bác cứ nói tên tôi với bà chủ bác sẽ thấy. Tôi là phu nhân Dytteville. Con chó Cesar của Stephanie nhảy bổ đến bác gia nhân, nhưng bị sợi dây níu lại nên nó chỉ sủa vang giận dữ. Bác gia nhân tỏ vẻ khó chịu, đưa mắt lườm "mụ khách" và con chó hung dữ, rồi bực dọc khép cánh cổng, đi vào trong. Stephanie đứng đợi bên cạnh một cửa sổ. Nàng đang ngắm vườn hoa, sân trời, chuồng ngựa và cố không nghĩ đến điều gì làm nhụt ý chí. Tiếng một cánh cửa trên gác đóng lại, tiếng sột soạt váy áo trên cầu thang làm Stephanie quay đầu lại. - Stephanie! Stephanie! Ôi, mình mừng quá! Con chó Cesar gầm gừ. - Im, Cesar! Amélie lao đến ôm chầm lấy Stephanie, hôn vào má bạn. Con chó Cesar vẫn còn gầm gừ nhưng lúc này không còn nhe răng hung dữ nữa. Nó đã cảm nhận người lạ kia là bạn thân của chủ nó. - Vào đây, bạn thân mến! Vào đây! Amélie mừng rỡ đến mức Stephanie phải xúc động. Chị định kéo nàng vào phòng khách, nhưng Stephanie ngăn lại, trỏ con chó: - Tôi còn con chó này. - Ôi, chó của chị đấy à, Stephanie? Chị đem nó ở mặt trận về sao? Ôi, trông nó có vẻ quý chị lắm nhỉ? Thì có sao đâu, dắt cả nó vào! Đi! Amélie bao giờ cũng nói những câu đáng nói. Stephanie thấy nhẹ cả người. Bao nhiêu căng thẳng, bao nhiêu chua chát, bao nhiêu tự ái về cách người dân Paris coi thường những anh hùng từ chiến trận trở về đột nhiên tan biến hết. Đối với Amélie mọi thứ trở nên đơn giản lạ thường. Chị tiếp bạn mới như hôm qua hai người vẫn còn gặp nhau. Con chó Cesar đã thôi không gầm gừ nữa. Nó như lắng nghe người phụ nữ lạ kia cầm tay trò chuyện huyên thuyên với chủ nó. Dường như nó đã thấu hiểu tính tình hiền hậu và tốt bụng của bà ta còn hơn cả Stephanie. Amélie đã tước đi mọi thứ vũ khí phòng ngự nàng chuẩn bị sẵn để đối phó. Amélie không đòi hỏi gì ở nàng. Chị kể mới tối hôm qua hai vợ chồng chị còn nhắc đến Stephanie. Achille đã hoàn toàn bình phục những vết thương ngoài chiến trường. Đứa con trai của chị là niềm vui khôn tả của hai vợ chồng chị.   Amélie kể hai con Stephanie là Armand và Charles đều khỏe mạnh, ngoan ngoãn và bà Dytteville, mẹ chồng nàng, thường xuyên đưa hai cháu nội đến đây. Chị cho biết hai ông bà Dytteville hiện ở lâu đài tại nông thôn, nơi có các khu rừng vẫn đẹp tuyệt vời và chắc chắn mọi người đều rất mong Stephanie về. - Nhưng chị phải ở lại đây với hai vợ chồng tôi vài ngày. Ôi, anh Achille và tôi mong chị vô cùng. Bao giờ chị thuê được đầy tớ, sắm được xe, tậu được ngựa, chị hãy về nhà. - Nhà tôi ấy à? Amélie? - Chứ còn gì nữa? Nhà chị vẫn y nguyên như cũ, chỉ có mấy bức rèm hơi bạc màu đôi chút. Chị thấy chưa nhỉ? Rèm ở nhà tôi, tôi đã phải thay rồi đấy. Stephanie lúc này mới kịp nhìn những tấm rèm cửa sổ của Amélie. - Đẹp quá! - Nàng khẽ nói. Trong những câu nói của Amélie, Stephanie không hề thấy một lời trách móc, một câu hỏi nào, chứng tỏ chị biết rõ tất cả mọi chuyện liên quan đến nàng. Tất nhiên Amélie cũng muốn hỏi bạn thêm chi tiết, nhưng chị nghĩ hãy đợi đến lúc Stephanie ổn định cuộc sống mới, hòa nhập được vào xã hội Paris đã. Sau khi huyên thuyên cho bạn biết những chi tiết chủ yếu tại đây và thấy Stephanie đã trở lại thoải mái, Amélie mới khẽ rụt rè câu hỏi đầu tiên: - Ôi, nhưng bây giờ chị kể đi, Stephanie. Chị nói về chị đi, Stephanie thân yêu. - Tôi đã về. Chiến tranh đã kết thúc, có vậy thôi. - Tôi biết ngoài mặt trận chị được mọi người rất quý. Achille đã kể tôi nghe rồi. Chị biết tính Achille không bao giờ nói dối. Tuy nhiên tôi cảm thấy anh ấy chưa kể hết. Bây giờ gặp chị tôi muốn nghe chị kể về chiến trường, những gian nan, thiếu thốn mà tôi biết là rất ghê gớm. Chị là người chứng kiến và bản thân chịu đựng tất cả những thứ đó. Tôi muốn nghe chính miệng chị kể. - Ôi, tất cả những thứ đó đã lùi vào dĩ vãng rồi - Stephanie khẽ đáp, trìu mến đặt tay lên đầu con Cesar. - Tôi không muốn làm chị buồn, Stephanie thân mến. Tôi chỉ muốn để chị thấy là vẫn theo dõi chị, vẫn là bạn tận tuỵ và quý mến chị. Chị có thể thổ lộ nỗi lòng tất cả chuyện gì, bất cứ lúc nào. Tôi sẵn sàng nghe và chia sẻ với chị mọi kỷ niệm vui buồn. - Ôi, chị tốt quá, Amélie. Stephanie thở dài, cúi đầu thầm nghĩ "Vậy là Amélie mạnh hơn mình. Chị ấy đã chinh phục được mình". Amélie im lăng, tôn trọng dòng suy nghĩ thầm kín của bạn. Đột nhiên Stephanie ngẩng đầu, nói rành rọt: - Tôi muốn biết tại sao anh ấy cưới Agnès. - Nhiều nguyên nhân thúc đẩy lắm, Stephanie thân mến ạ - Amélie bình thản đáp, dường như chị đã đoán trước được Stephanie thế nào cũng sẽ hỏi câu đó - Lúc ở ngoài chiến trường trở về, René rất yếu. Vết thương ở chân mãi không lành. Chỗ xương gãy mãi vẫn chưa lành lại bình thường. Phải mổ đi mổ lại bao nhiêu lần. Thế là phu nhân Lomanais mời anh ấy về nhà họ để chăm sóc. Tôi đã viết trong thư kể chị biết rồi đấy. - Chị có viết à, Amélie? Tôi không nhận được lá thư đó. - Tôi biết. Thư bị trả lại cho người gửi với dòng chữ "Người nhận mất tích". Ít lâu sau tôi nhận được bản danh sách chính thức do René đưa xem. Chẳng là hôm ấy tôi đến biệt thư gia đình Lomanais thăm René và anh ấy thấy vẻ mặt tôi buồn bã đã đưa tôi xem. Anh ấy rất đau khổ vì cho rằng chị bị thiệt mạng là do lỗi của anh ấy. Achille và tôi đã tưởng René không sống nổi. Bệnh tình anh ấy kéo dài quá lâu và anh ấy dường như tuyệt vọng. Hôm đầu tiên anh ấy dậy được và tập đi, tiểu thư Agnès Lomanais đã dìu anh ấy và sau đó... - Tôi hiểu. Từ bước thứ nhất đến bước thứ hai! Chuyện ấy là tất nhiên rồi. Duy có điều anh ấy biết rằng tôi còn sống, sao anh ấy không... - Lúc ấy René đã đính hôn với Agnès rồi. Đính hôn chính thức! Lợi dụng lúc René đang yếu, đang cần chăm sóc, bà mẹ Agnès, phu nhân Lomanais đã...  - Ôi, bà ấy là người nào tôi biết rồi! - Trong khi đó phu nhân Guichamp khánh kiệt, bán đến cả chiếc trâm cuối cùng...  - Tôi biết đấy là kỷ vật duy nhất còn lại của bà Guinchamp. - Bà ta phải bán để sắm nhẫn cưới cho con dâu... một cái nhẫn rất đẹp, rất sang. - Xứng đáng với cô ta! - Stephanie chua chát nói. - René cảm động trước sự hy sinh của mẹ, không nỡ thoái hôn. Sau khi René và Agnès cưới nhau được vài tháng thì phu nhân Guinchamp qua đời. - Bà ấy đã hoàn thành sứ mạng. - Kìa, Stephanie! - Amélie kêu lên. - Bà ta, phu nhân Guinchamp, đã làm tròn công việc là gây đau khổ cho con trai và cho tôi, vậy mà chị muốn tôi đền ơn bà ta chăng? Chị còn muốn tôi cầu nguyện cho linh hồn bà ta được yên ổn dưới suối vàng hay sao? - René đã viết thư báo tin đó cho chị, Stephanie. Anh ấy có đưa tôi nhờ tôi gửi, bởi anh ấy chưa đi ra khỏi nhà được. Chính tôi đã gửi bưu điện lá thư đó cho chị. Nhưng chị không hề viết thư trả lời, cho tôi cũng như cho René. Stephanie nhắm nghiền mắt lại. Nàng dường như còn nghe rõ tiếng giấy bị nàng xé hôm đó và nàng còn nhìn thấy tất cả những mảnh giấy bay lả tả theo chiều gió. Hôm đó nàng đã xé cùng với lá thư, cả số phận cuộc đời nàng. Lúc đó Stephanie bị ma quỷ nào xui khiến, nàng đã đập một đòn tan tành mọi thứ. Nàng thầm nghĩ "Làm sao chàng thay đổi được? Cũng như mình, làm sao mình thay đổi tính nết được? Tính tình bao giờ cũng vẫn thế: sôi nổi, mãnh liệt, trong khi René bao giờ cũng vậy: hời hợt, nông cạn và nhu nhược. Trong khi mình vẫn say mê chàng thì chàng lại tin là mình đã chết, dựa ngay vào hai mẹ con Agnès. Có gì lạ đâu? Cả ta lẫn chàng đều 'trung thành' với bản chất của mình". Đột nhiên Stephanie thấy mệt mỏi vô cùng. Toàn thân nàng rã rời, nàng chán chường đến mức không còn muốn cưỡng lại gì nữa. Lúc này nàng chỉ ao ước một điều là trốn biệt đi đâu đó, lánh xa tất cả mọi người ở đây, chui vào một xó xỉnh nào để được một mình. Hoặc là quay về nhà bếp của trường quân chính, đấy mới thực sự là "nhà" của nàng, là "gia đình" của nàng. Stephanie lẩm bẩm một lời cáo lỗi rất khẽ: - Amélie, tôi phải về thôi. Mai tôi lại đến thăm chị, có lẽ thế. - Tôi hiểu, Stephanie. Nhưng... Achille sẽ buồn lắm đấy. Anh ấy rất mong gặp chị. Tôi đã tưởng có thể giữ chị lại ăn bữa trưa với vợ chồng tôi. - Tôi ở lại thế nào được, tôi phải về nấu ăn cho mọi người. Amélie không nằn nì. Chị chỉ thở dài thông cảm: - Achille sẽ trách tôi ghê gớm là không giữ chị ở lại. Nhưng chị nói đúng, bao nhiêu người ở đó đang chờ chị. Không có ai ở đó có thể thay chị được. - Chúng tôi có hai người, Amélie. Ngoài tôi còn có cô Marinet. Nếu tôi không về, cô ấy sẽ "quán xuyến" mọi công việc. Lúc đi tôi có dặn cô ấy là có thể tôi đi xa và không về kịp. - Tuỳ chị, Stephanie. Chị ở lại với chúng tôi thì Achille và tôi sẽ rất mừng. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, Achille bước vào phòng khách. Anh sững người lại khi nhìn thấy Stephanie. Sau đó anh reo lên và chạy đến bên nàng:   - Stephanie! Sao mà tuyệt vời thế này! Từ hôm được tin cô bình yên, ngày nào vợ chồng tôi cũng nhắc đến cô và mong gặp cô. Đúng thế không em, Amélie?  Amélie gật đầu, mỉm cười nhìn chồng và bạn bắt tay nhau mạnh mẽ như hai quân nhân bắt tay nhau ngoài chiến trường. - Ôi, tôi sung sướng vô cùng được gặp lại cô, Stephanie! Hay quá, vậy là cô đã trở về!  - Và chúng ta phải giữ chị ấy ở lại đây. Đúng không anh? Stephanie sẽ ở lại nhà mình. - Đúng quá đi rồi. Bé Quille đâu? - Achille quay sang hỏi vợ.  - Sao lúc nào anh cũng hoảng hốt như vậy? Anh yên tâm, nó hoàn toàn khỏe mạnh - Amélie âu yếm đáp.  - Quille là con trai chúng tôi - Achille nói rồi nhìn con chó - Còn bạn này tên là gì?  - Cesar - Stephanie đáp.  Nghe đến tên mình, con chó sủa lên vài tiếng.  - Im nào, Cesar.  - Vậy là một tù binh chó được cô đem vềParis? - Achille vui vẻ nói.  - Nó đã cứu sống tôi đấy, Achille!  - Ôi, nếu vậy thì nó đáng được tất cả chúng ta trân trọng.  Stephanie bật cười. Câu của Achille hàm ý "Nhờ nó mà chúng tôi được hưởng niềm hạnh phúc gặp cô hôm nay".  - À, nhưng cô thấy bé Quille của chúng tôi chưa?  Amélie vội đáp thay bạn:  - Ôi, em mừng quá đâm quên béng đi mất, chưa đem con ra cho Stephanie xem mặt.  Nói xong, Amélie chạy ra ngoài và quay vào liền, bế trên tay một đứa bé xinh xắn, đang nép đầu vào cổ mẹ nó.  Stephanie bỗng nhói đau trong lồng ngực. Nàng chợt nhớ đến hai con và muốn bay đến đó gặp chúng ngay. Nhưng không được. Đành phải chờ. Phải để Amélie tiến hành các bước đi cần thiết. Achille xuất hiện làm đảo lộn mọi ý nghĩ của Stephanie. Nàng nhớ đến vết thương của anh nhưng không dám hỏi thăm, không biết vết thương đó có làm cho Achille đau đớn không? Mọi chuyện đều phải gác lại đã. Nàng nhớ lần cuối cùng nàng gặp Achille. Hôm đó anh bị nhát kiếm chém suốt từ bả vai đến háng, người đầy máu, nằm giữa những xác chết, những thương binh rên rỉ. Rồi nàng nhớ lại Achille trong bộ quân phục sĩ quan hồi chưa xảy ra chiến tranh và bỗng thấy bãi chiến trường Crimée xa vời vợi. Bây giờ Achille đã trở lại hình dạng của anh xưa kia, điều đó gợi lên trong lòng Stephanie bao ý nghĩ quay cuồng.  Sự xuất hiện của Achille gợi lên trong lòng Stephanie cảm giác nàng sắp phải trở lại cuộc sống ngày xưa. Nàng cảm thấy mình như con cá đang chui vào rọ và sẽ không bao giờ thoát ra được nữa. Mọi người xung quanh đã chuẩn bị để đưa nàng vào tròng. Cả Achille và Amélie cũng đang đan những mắc rọ để nhốt nàng vào trong. Họ đan một cách lặng lẽ, không phải chỉ vì tình bạn mà phải nhận đó là tình yêu, lòng quý mến tận tình. Stephanie vừa hỏng sợ, vừa xúc động.  Nàng thầm nghĩ "Họ đang trói buộc ta chính vì họ yêu ta. Ta chẳng nên làm họ thất vọng. Ta là ai? Chỉ là một kẻ bị ruồng bỏ, một nữ cấp dưỡng. Họ băn khoăn cho ta trong khi ta chẳng hề băn khoăn chút nào! Sẽ không bao giờ ta từ bỏ cô cấp dưỡng Phanie, Phanie Mourlon, từ bỏ Pompet, Tuboisquoi cũng như các đồng đội Bắc Phi. Nhưng ta lại là phu nhân Dytteville. Bao nhiêu người mong đợi ta. Rồi hai đứa con yêu quý của ta, chúng cũng mong mẹ chúng trở về. Vì các con, vì gia đình, ta đành phải chui vào cái rọ ấy. Không còn cách nào khác".  Stephanie quay nhìn Achille và đứa con trai xinh xắn đang đứng nhìn nàng như chờ đợi điều gì đó.  - Cô cầm lấy quả bóng đánh ki này, Stephanie. Rồi lăn bóng đến cho cháu.  Stephanie đỡ quả bóng nhỏ trong tay Achille, liệng nhẹ trên sân nhà về phía đứa trẻ. Khi quả bóng lăn đến gần chân nó, thằng bé reo lên mừng rỡ.  - Đánh ki! Đánh ki! - Vừa hét nó vừa vỗ tay đôm đốp.  Bây giờ Stephanie mới hiểu tại sao hai vợ chồng Achille và Amélie gọi con trai họ là Quille: Môn đánh ki!  - Cô thấy chưa, Stephanie? Từ hôm đi chơi trên đại lộ Champs Elysees thấy người ta đánh ki, thằng bé không thích chơi gì khác ngoài môn này. Cô liệng tiếp quả bóng cho nó và nó yêu cô ngay đấy. Bây giờ mọi người đều quen gọi nó là thằng Quille.  - Cesar! - Stephanie sai con chó - Ra cầm bóng về đây. Nhẹ nhàng thôi... Nhẹ nhàng thôi.  Cesar quay đầu nhìn quả bóng, rồi như thể do dự, bước tới cầm quả bóng về đặt dưới chân cô chủ, rồi ngẩng đầu nhìn nàng vẻ chờ đợi.  - Con chó của cô khôn quá - Achille lẩm bẩm nói.  - Đúng thế. Vài hôm nữa, khi nó đã quen với bé Quille, tôi sẽ bảo nó trông nom bé và không ai trêu chọc gì được bé nữa đâu. Hồi ở chiến trường, nó canh cổ xe cấp dưỡng cho tôi rất chu đáo. Nó chỉ có một khuyết tật là rất ghét ngựa. Cứ chơi kiểu này thì chẳng mấy chốc con Cesar sẽ quen với bé Quille và bé cũng sẽ quen với con chó.  - Có nghĩa, cô đến đây bao giờ cũng phải dắt theo con Cesar?  - Đúng thế.  - Tốt thôi, nhưng lúc nào cũng phải buộc dây cẩn thận đấy.  Stephanie bật cười, tiếp tục chơi bóng với đứa bé. Con Cesar chừng như hiểu biết, mỗi lần đến gần đứa bé nó đều tỏ vẻ hết sức hiền lành để khỏi làm đứa bé sợ. Thấy vậy, Achille dần dần cũng mến con chó và thấy nó không xấu xí như lúc đầu anh nhìn thấy nữa.  Stephanie thấy rõ Achille muốn chìu chuộng nàng. Suốt bữa ăn, anh ta luôn miệng kể đủ thứ chuyện về thành phố Paris, coi như nàng chưa hề rời khỏi đây một ngày nào. Khi nói đến những bạn bè của nàng, Achille nói như kiểu nàng vẫn thường gặp họ trong những ngày qua.  Lúc ngồi ăn tráng miệng và uống cafe sau bữa ăn, Stephanie nói:  - Sau đây tôi phải về trường quân chính. Bởi tôi đã xuất ngũ đâu? Tôi vẫn còn ở trong quân đội kia mà.  - Ôi, chuyện ấy chẳng khó khăn gì hết. Chị cứ yên tâm, Stephanie - Achille nói - Tôi sẽ đến đó và nếu cần, cha tôi can thiệp thêm nữa.  - Tôi sẽ trao cho anh giấy tờ nhập ngũ của tôi - Stephanie nói, tay nhấc chiếc xắc - Nếu cần tôi phải làm chứng trong nửa tháng, một tháng, tôi xin sẵn sàng. Tôi cần có giấy tờ hợp pháp, đầy đủ mọi văn bản chứng nhận, nhưng anh đừng quên, tên tôi ở quân đội là Stephanie Mourlon đấy nhé.  Amélie hiểu rằng việc chị và Achille bảo trợ cho Stephanie cần được sự đồng ý của gia đình nhà chồng nàng. Chị bèn thảo một bức thư gửi Dytteville, mẹ chồng Stephanie, báo tin con dâu bà đã trở về, khỏe mạnh và hai vợ chồng xin phép bà đề Stephanie sống tạm với họ, trong khi chờ đợi sửa sang ngôi nhà của nàng.  Ngay sau đấy Amélie cho người đem thư đến bà Dytteville và mời bà ngày mai đến gặp hai vợ chồng chị. Mời các bạn đón đọc a của tác giả Marcel Gobineau.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Duyên Phận Bất Ngờ
Những tháng ngày tăm tối sau cái chết của vua Richard Tim Sư Tử, các vùng đất rơi vào hỗn loạn dưới sự cai trị của một ông vua người Anh thèm khát quyền lực. Duyên Phận Bất Ngờ xoay quanh nhân vật chính Gillian. Khi cô lên 4 tuổi, gia đình cô gặp phải biến cố lớn: Gillian ngây thơ vẫn còn là một đứa trẻ, khi cô chứng kiến Bá tước Alford tàn nhẫn và đầy tham vọng giết hại cha mình để tìm lại chiếc hộp trang sức quý giá cho vua John, hai chị em cô bị lạc mất nhau. 14 năm sau, cô sống cùng bác họ của mình - Lãnh chúa Morgan và người hầu gái đã chăm sóc cho cô từ nhỏ tại lãnh địa của ông. Nhưng những tên lãnh chúa đã gây ra nỗi đau cho gia đình cô năm nào lại một lần nữa xuất hiện và đe dọa đến cuộc sống của cô và những người xung quanh cô. Để cứu bác mình, cô phải đến lãnh địa Macpherson tìm lại chị và tung tích chiếc hộp châu báu đã thất lạc của vua John. Trên đường đến đây, cô tình cờ cứu giúp cậu bé Alec khỏi tay bọn bắt cóc, và chạm trán Lãnh chúa Buchanan Brodick, người bảo vệ cậu bé. Cô và vị lãnh chúa trẻ tuổi nhanh chóng nảy sinh tình cảm. Nhưng cô không thể ở lại lãnh địa của anh. Cô phải nhanh chóng tìm được chị gái và chiếc hộp để quay về cứu bác mình. Khi cô không tìm thấy chiếc hộp và quyết định trở về nước Anh mà không thông báo cho anh, cô lại một lần nữa rơi vào tay của Nam tước Alford. Cuối cùng, liệu Gillian có thể thoát khỏi nguy hiểm và trở về bên Buchanan Brodick được không? Thông tin tác giả: Julie Garwood sinh năm 1946 tại thành phố Kanas, Missouri và là con thứ sáu trong một gia đình gốc Ireland. Mary Elizabeth – người bạn cũng là người thầy tại một lớp học đọc vào mùa hè năm bà mười một tuổi đã giúp Julie mở cánh cửa vào thế giới văn chương và trở nên say mê với nó. *** Julie Garwood là một tác giả người Mỹ khá thành công ở thể loại tiểu thuyết lãng mạn với hơn 27 đầu sách, 35 triệu bản in được phát hành trên khắp thế giới. Các tác phẩm của Julie thường xuyên góp mặt trong danh sách best-seller của New York Times. Julie viết cả tiểu thuyết lịch sử - lãng mạn lẫn hiện đại lãng mạn pha trộn sự hồi hộp, gay cấn. Bên cạnh Gentle warrior (Chiến binh nhân từ); A girl named summer (Cô nàng mùa hè); Prince Charming (Hoàng tử trong mơ); các series: Crown's Spies (Những chàng điệp viên hoàng gia); Lairds' Brides (Những nàng dâu quý tộc); Highlands' Lairds (Những quý tộc miền cao nguyên)...The Secret (Điều bí mật) là một trong những tác phẩm xuất sắc của Julie Garwood. Julie Garwood thường xuyên lọt vào danh sách các tác giả ăn khách nhất do New York Times, Wall Street Journal, và Publisher Weekly bình chọn. Hiện nay, những tác phẩm của bà đã phát hành được hơn ba mươi lăm triệu bản trên khắp thế giới. Bà là một trong những tác giả người Mỹ nổi tiếng nhaatsthees giới về tiểu thuyết cổ điển lãng mạn, bên cạnh những tên tuổi lớn như Linda Howard và Johanna Lindsey. Sách đã xuất bản và dịch tại Việt nam: Món Quà Tình Yêu Lâu Đài Hạnh Phúc Thiên Thần Hộ Mệnh Danh Dự Huy Hoàng Cô Nàng Sư Tử Rebellious Desire Kẻ Phá Đám Điều Bí Mật Sizzle Người Đàn Ông Lý Tưởng Shadow Music Khát Vọng Nổi Loạn Âm Điệu Bóng Đêm Vì Những Đóa Hồng - Julie Garwood Phép Màu Tình Yêu Duyên Phận Bất Ngờ ... Mời các bạn mượn đọc sách Duyên Phận Bất Ngờ của tác giả Julie Garwood & Nguyễn Thị Lệ Thi (dịch).
Bí Mật Sâu Kín Nhất
Nối tiếp Chỉ thời gian có thể cất lời và Tội lỗi của người cha, Bí mật sâu kín nhất là tập thứ ba trong bộ Biên niên Clifton của Jeffrey Archer. Trong phần 3 – Bí mật sâu kín nhất, mỗi nhân vật chính sẽ xuất hiện với những vai trò mới với những biến cố và thử thách mới. Harry sẽ trở thành một tiểu thuyết gia, Emma cố gắng điều hành công việc kinh doanh của riêng cô, còn Giles bắt đầu tham gia hệ thống chính trị và chạy đua vào nghị viện. Những nhân vật chính sẽ bắt đầu một chương mới của cuộc đời, nhưng liệu rằng con đường của họ sẽ thuận lợi hay nhiều chông gai? Liệu những sóng gió có quật ngã sức sống của họ? Đây không còn là câu chuyện chỉ liên quan đến Harry Clifton. Mối ràng buộc giữa hai nhà Clifton và Barrington ngày càng sâu sắc hơn. Các bí mật xoay quanh thân thế của các nhân vật và những kế hoạch của họ khiến cho số phận các thành viên hai gia đình thay đổi nhanh chóng. Cho đến phút cuối cùng, bí mật sâu kín nhất vẫn chưa được tiết lộ. Liệu còn nhân vật nào sẽ khép lại câu chuyện của mình sau khi bí mật được phơi bày? *** #Review_độc_giả BÍ MẬT SÂU KÍN NHẤT – JEFFREY ARCHER Cuối phần 2 – Tội lỗi của người cha, mình đã nghĩ tác giả có thể kết thúc truyện rồi vì đa số các mâu thuẫn chính đã được giải quyết; Harry và mọi người đều có kết thúc đẹp, kẻ ác thì đã trả giá. Nên mình có đôi chút lo lắng về phần 3, vì nếu cố tình kéo dài truyện thì nhiều khi các phần sau sẽ khiên cưỡng và nhàm chán như rất nhiều tác phẩm trước đây đã gặp phải.  Tuy nhiên, Archer đã không làm mình thất vọng, những nhân vật phản diện vẫn trực chờ cơ hội báo thù Harry, Giles cũng như Emma. Tất nhiên là cậu con trai Sebastian cũng bị cuốn vào; mạch truyện càng về sau càng chuyển dần qua chàng trai mới lớn này. Những thử thách và số phận của cậu hứa hẹn sẽ còn hấp dẫn hơn cả cuộc đời người cha - Harry. Người con gái nuôi của Harry và Emma mà thực chất là con của Hugo cũng hứa hẹn sẽ tạo nên những rắc rối lớn cho sau này, nhưng chắc chúng ta phải đợi tới phần 4 để theo dõi. Tuy nhiên, mình cũng hơi thất vọng một chút về Harry, một người đã trải qua nhiều năm bão táp chiến trường trong Thế chiến thứ 2 mà không thể hiện được nhiều bản lĩnh của mình, có lẽ tác giả muốn dành sân khấu cho lớp trẻ nhiều hơn chăng?? Chỉ có một tình tiết mình khá thích, nếu ai đọc của Archer nhiều thì sẽ nhận thấy các nhân vật chính của ông đều đầy tài năng nhưng không chung thủy, họ dễ bị ngã vào vòng tay của nhưng người mới, tình huống tương tự cũng được Acher xây dựng cho Harry và Emma, kết quả ra sao thì mình sẽ để cho mọi người tự khám phá để tránh spoil. Cá nhân mình thích kết phần 3 hơn kết phần 2 rất nhiều, vì nó hứa hẹn phần 4 sẽ rất đáng mong đợi. Mình đánh giá BÍ MẬT SÂU KÍN NHẤT khoảng 8,5 điểm. Hy vọng chúng ta sẽ sớm được đón nhận phần 4 của series truyện này. Review: Đào Đức Tâm *** Big Ben đổ chuông bốn tiếng. Mặc dù đã kiệt sức bởi những gì diễn ra tối hôm đó, nhưng vẫn còn đủ chất kích thích được bơm đi khắp cơ thể khiến vị Đại Chưởng ấn hầu như không thể ngủ nổi. Ông đã cam đoan với các thành viên Thượng viện sẽ đưa ra một phán quyết cho vụ tranh tụng của Barrington chống lại Clifton về vấn đề thừa kế tước hiệu lâu đời và tài sản khổng lồ của gia tộc. Thêm một lần nữa, ông cân nhắc các sự kiện thực tế, vì ông tin vào chúng, và chỉ có chúng được phép quyết định phán quyết cuối cùng của ông. Khoảng bốn mươi năm về trước, khi ông bắt đầu tập sự, người hướng dẫn đã khuyên ông phải loại bỏ mọi cảm xúc hay thiên kiến cá nhân khi cần đưa ra một phán quyết về thân chủ hay về vụ tranh tụng đang diễn ra trước mắt. Ngành luật không phải là ngành dành cho những kẻ có trái tim yếu đuối hay lãng mạn, sư phụ của ông đã nhấn mạnh như thế. Tuy vậy, sau khi tuân thủ tôn chỉ này trong bốn thập kỷ, ngài Đại Chưởng ấn buộc phải thừa nhận ông chưa bao giờ gặp phải một vụ việc cân bằng đến mức gần như tuyệt đối thế này. Ông chỉ ước gì F. E. Smith⁜vẫn còn sống để ông có thể tìm kiếm lời khuyên từ sư phụ của mình. ← Frederick Edwin Smith, Bá tước thứ nhất của Birkenhead, là một chính trị gia và luật sư bảo thủ người Anh. Một mặt… ông căm ghét những lời lẽ sáo mòn này biết chừng nào. Một mặt, Harry Clifton đã ra đời sớm hơn ba tuần so với người bạn thân nhất của anh ta, Giles Barrington: đó là thực tế. Mặt khác, Giles Barrington, không nghi ngờ gì nữa, là con trai chính thức của Sir Hugo Barrington và người vợ kết hôn hợp pháp của ông ta, Elizabeth: đó là một thực tế nữa. Nhưng điều đó vẫn không làm chàng trai trở thành người con được ra đời sớm nhất của Sir Hugo, và đó là điểm mấu chốt của bản di chúc. Một mặt, Maisie Tancock sinh Harry vào ngày thứ 28 của tháng thứ chín sau khi bà ta thừa nhận đã có quan hệ tình dục với Sir Hugo Barrington khi họ tham gia chuyến dã ngoại dành cho công nhân tới Weston-super-Mare⁜. Thêm một thực tế. Mặt khác, Maisie Tancock đã kết hôn với Arthur Clifton khi Harry ra đời, và giấy khai sinh khẳng định rõ ràng Arthur là bố đứa trẻ. Một thực tế khác. ← Một thị trấn ven biển ở Somerset, Anh. Một mặt… Dòng suy nghĩ của Đại Chưởng ấn quay trở lại những gì đã diễn ra trong phòng họp sau khi Viện cuối cùng cũng thực hiện biểu quyết để quyết định xem Giles Barrington hay Harry Clifton nên được thừa kế tước vị và tất cả những gì đi kèm.Ông nhớ lại chính xác những lời của người phụ trách kiểm phiếu khi công bố kết quả trước Thượng viện đông kín. “Đồng ý ở bên phải, hai trăm bảy mươi ba phiếu. Không đồng ý ở bên trái, hai trăm bảy mươi ba phiếu.” Những tiếng xôn xao ồn ã vang lên khắp các băng ghế đỏ⁜. Ông chấp nhận việc kết quả bỏ phiếu cân bằng sẽ buộc ông phải đảm nhận trách nhiệm không hề mong muốn là đưa ra quyết định ai là người được thừa kế tước vị của gia đình Barrington, công ty hàng hải danh tiếng, cũng như mọi tài sản, đất đai, vật sở hữu có giá trị. Giá như không có nhiều thứ đến vậy gắn liền với quyết định của ông khi tính đến tương lai của hai người đàn ông trẻ tuổi. Liệu ông có nên chịu ảnh hưởng bởi thực tế Giles Barrington muốn được thừa kế tước vị còn Harry Clifton thì không? Không, ông không được làm thế. Như Lord Preston đã chỉ ra trong bài diễn thuyết đầy sức thuyết phục của ông ta từ băng ghế phe đối lập, rằng như thế sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, cho dù nó thật tiện lợi. ← Ở Quốc hội Anh, các băng ghế tại phòng họp Thượng viện sơn màu đỏ, còn Hạ viện sơn màu xanh. Một mặt, nếu ông thực sự ra phán quyết có lợi cho Harry… cuối cùng ông ngủ thiếp đi, để rồi bị đánh thức bởi một tiếng gõ cửa khe khẽ vào lúc bảy giờ, một thời điểm muộn bất thường. Ông rên lên, đôi mắt vẫn nhắm trong khi đếm từng tiếng chuông của Big Ben. Chỉ còn ba giờ đồng hồ nữa trước khi ông phải đưa ra phán quyết, và ông vẫn chưa đi được tới quyết định. Đại Chưởng ấn rên lên lần thứ hai khi ông đặt chân xuống sàn, xỏ dép vào và đi sang phòng tắm. Thậm chí lúc ngồi trong bồn tắm, ông vẫn tiếp tục đánh vật với vấn đề. Thực tế. Harry Clifton và Giles Barrington đều bị mù màu, giống như Sir Hugo. Thực tế. Bệnh mù màu chỉ có thể di truyền từ mẹ, vậy nên đây chỉ đơn thuần là trùng hợp ngẫu nhiên, và cần được loại bỏ trên đúng cơ sở đó. Ông ra khỏi bồn tắm, lau khô người, khoác lên mình một chiếc áo mặc trong nhà. Sau đó, ông ra khỏi phòng ngủ, đi theo hành lang trải thảm dày tới phòng làm việc của mình. Đại Chưởng ấn cầm một cây bút máy và viết hai cái họ “Barrington” và “Clifton” lên đầu một trang giấy, phía dưới ông bắt đầu liệt kê những ưu thế và yếu thế của từng người. Cho tới khi ông viết kín ba trang giấy với thứ chữ gọn ghẽ như bản khắc đồng của mình, Big Ben đã đánh tám tiếng chuông. Song ông vẫn chẳng sáng suốt được thêm chút nào. Ông đặt bút xuống và miễn cưỡng đi ăn sáng. Đại Chưởng ấn ngồi một mình, lặng lẽ dùng bữa sáng. Thậm chí ông không để mắt tới những số báo ra buổi sáng được xếp ngay ngắn ở bên đầu bàn, cũng không bật máy thu thanh lên, vì ông không muốn một bình luận viên không được thông tin đầy đủ nào đó làm ảnh hưởng đến phán quyết của mình. Những tờ báo nghiêm túc tập trung vào tương lai của nguyên tắc thừa kế thế tập nếu Đại Chưởng ấn phán quyết có lợi cho Harry, trong khi các tờ lá cải dường như chỉ bận tâm đến chuyện liệu Emma có thể kết hôn với người đàn ông cô yêu hay không. Khi ông quay trở lại phòng tắm để đánh răng, cán cân công lý vẫn chưa nghiêng về bên nào. Ngay sau khi Big Ben đánh chuông báo chín giờ, ông quay trở lại phòng làm việc và đọc lại các ghi chép của mình với hy vọng rằng cuối cùng cán cân cũng sẽ nghiêng về bên này hay bên kia, song nó vẫn cân bằng tuyệt đối. Ông tiếp tục nghiền ngẫm các ghi chú khi một tiếng gõ cửa nhắc nhở Đại Chưởng ấn rằng cho dù có hình dung quyền lực của ông lớn đến thế nào, ông vẫn không thể ngăn được thời gian trôi đi. Ông thở dài, xé ba tờ giấy khỏi tập sổ ghi chép, đứng dậy, tiếp tục đọc trong khi bước ra khỏi phòng làm việc và đi xuống hành lang. Khi vào phòng ngủ, ông trông thấy East, người hầu phòng, đang đứng cạnh chân giường, chờ đợi thực hiện phần việc buổi sáng. East bắt đầu bằng việc khéo léo cởi chiếc áo mặc trong nhà bằng lụa ra trước khi giúp ông chủ mặc lên người một chiếc sơ mi trắng vừa là xong vẫn còn ẩm. Tiếp theo, một cái cổ cồn hồ bột, rồi đến một chiếc khăn quàng cổ nhỏ tinh tế có dây buộc. Trong khi Đại Chưởng ấn kéo cái quần dài đen lên, ông tự nhắc nhở mình đã tăng thêm vài cân kể từ khi nhậm chức. Tiếp đó, East giúp ông mặc chiếc áo thụng dài màu đen và vàng trước khi chuyển sự chú ý sang đầu và bàn chân ông chủ. Một bộ tóc giả che kín gáy được đội lên đầu ông trước khi ông xỏ chân vào đôi giày có cài khóa. Chỉ sau khi sợi dây chuyền vàng chức tước từng được ba mươi chín vị Đại Chưởng ấn trước đó đeo đã nằm trên vai, ông mới từ bộ dạng một vai quý bà cáu bẳn trên sân khấu kịch câm chuyển thành quan chức tư pháp có quyền lực lớn nhất ở quốc gia này. Một cái liếc mắt vào gương, và ông cảm thấy đã sẵn sàng để bước lên sân khấu diễn vai của mình trong vở diễn đầy kịch tính đang được công diễn. Chỉ tiếc một điều là ông vẫn chưa biết lời thoại sẽ thế nào. Việc căn thời gian cho Đại Chưởng ấn đi vào và ra khỏi tòa tháp Bắc cung điện Westminster hẳn có thể khiến một thượng sĩ nhất của trung đoàn phải thấy ấn tượng. Vào lúc 9 giờ 40 phút sáng, có một tiếng gõ cửa và David Bartholomew, thư ký của vị đại thần, bước vào phòng. “Chúc buổi sáng tốt lành, thưa ngài,” ông ta mở lời. “Chúc buổi sáng tốt lành, ông Bartholomew,” Đại Chưởng ấn chào lại. “Tôi rất tiếc phải thông báo,” Bartholomew nói, “là Lord Harvey đã qua đời tối qua, trong một chiếc xe cứu thương trên đường tới bệnh viện.” Mời các bạn mượn đọc sách Bí Mật Sâu Kín Nhất của tác giả Jeffrey Archer & Lê Đình Chi (dịch).
Bao Điều Không Nói
"Lydia đã chết. Nhưng gia đình cô vẫn chưa biết điều này.”  Đó là mở đầu của cuốn tiểu thuyết về một gia đình lai Mỹ - Á sống tại thị trấn nhỏ ở Ohio năm 1970. Lydia là đứa con mà ông bà Lee rất mực yêu thương, và cô được kỳ vọng sẽ hoàn thành những giấc mơ dang dở của cha mẹ mình. Nhưng cuộc đời không phải luôn bằng phẳng. Cái chết của Lydia đã làm đảo lộn mọi dự định cũng như phá vỡ sự cân bằng mong manh của gia đình cô.Trong quá trình đi tìm manh mối về cái chết của Lydia, những bí mật của gia đình Lee dần được hé lộ… Cuốn tiểu thuyết không đơn thuần kể về một án mạng, nó còn là câu chuyện xúc động về gia đình, về ước mơ, khát khao và lầm lỗi. Đặc biệt, sự giằng xé trong những thân phận ngụ cư, loay hoay tìm giấc mơ nơi "Miền đất hứa", cũng là một điểm nhấn kéo dài âm ỉ trong suốt mạch truyện, đầy day dứt và xót xa. *** Lydia chưa biết bơi. Dù cô đã đi tập bơi suốt cả mùa hè với anh Nath. Lydia rất muốn thỏa cái cảm giác nổi lơ lửng trên mặt nước là như thế nào. Nhưng đấy phải là lúc cô còn sống cơ. Nhìn từ bên ngoài, nhà Lee là một gia đình hạnh phúc. Ông chồng James là một giáo sư được yêu mến tại trường đại học, bà vợ Marilyn giỏi nấu nướng và đảm đang. Ba người con của họ đều tài giỏi, đứa lớn Nath thì được nhận vào trường Harvard, đứa thứ hai Lydia là học sinh xuất sắc ở trường, đứa út Hannah lại là một cô bé cực kỳ ngoan ngoãn. Nhưng trong tâm trí của mỗi thành viên lại có những suy nghĩ riêng mà không ai hiểu được. James vật lộn trong đống bài vở của đám sinh viên, ông chỉ mong muốn được hơi ấm phụ nữ ôm lấy mình. Tuy nhiên ông lại không nói với vợ con. Marilyn ngày đêm mơ đến lớp Hóa - Sinh vẫn còn đang dang dở tại trường đại học, giấc mơ trở thành bác sĩ vẫn ám ảnh bà. Khi biết mình không còn cơ hội nào, Marilyn dồn giấc mơ đó cho đứa con gái bà yêu quý nhất, Lydia. Nhưng bà cũng không nói những điều đó với chồng con. Kể từ xem chương trình khoa học trên TV, Nath bắt đầu đam mê thiên văn học, cậu muốn sau này trở thành phi hành gia hoặc làm việc trong NASA. Vậy mà trong nhà không một ai quan tâm đến điểm A môn Vật lý cậu giành được, hay lá thư trường Harvard gửi về mời cậu nhập học. Nath ghét bố mẹ, ghét cả cô em gái cậu từng rất yêu thương Lydia, và chỉ muốn nhanh chóng thoát khỏi căn nhà này. Cuối cùng Nath vẫn không biến những suy nghĩ đó thành lời nói. Hannah giống như một đứa trẻ vô hình trong gia đình. Họ quên bày bát đĩa của cô, không bao giờ hỏi chuyện học ở trường, không dẫn cô đi tập bơi, và thậm chí đôi khi cũng quên mất sự tồn tại của cô trên đời. Thú vui duy nhất của Hannah là trộm đồ đạc trong nhà, cô cất giữ chiếc bật lửa của bố, dây chuyền của chị Lydia và vô số đồ lặt vặt khác. Nhưng cô không bao giờ kể chuyện đó cho ai biết. Còn Lydia rất muốn nói cho bố rằng cô không hề có bạn bè nào trong suốt nhiều năm qua, nói với mẹ rằng cô không còn hiểu được các công thức Vật lý phức tạp kia, và đừng mua thêm sách cho cô nữa. Lydia muốn tâm sự với Nath rằng cô không muốn anh rời đi, khi ngôi nhà này ngột ngạt quá đến mức cô không thể chịu đựng nổi. Lydia cũng luôn muốn dặn Hannah, nếu em thực sự muốn điều gì, em phải nói ra, nếu không em sẽ hối hận cả đời. Tuy vậy, chính Lydia lại không làm được điều đó. Tất cả những điều họ không nói đã trở thành ác mộng. Xác của Lydia được tìm thấy đáy hồ, mất một nửa mặt vì bị ngâm quá lâu trong nước. Một cái xác câm lặng nhưng phơi bày hết một thứ gì đó đã mục ruỗng từ lâu trong chính nhà Lee, những người Trung Quốc duy nhất trong thị trấn này. Lấy bối cảnh những năm 1970 tại một thị trấn nhỏ nước Mỹ, Bao điều không nói của Celeste Ng đã vẽ nên một bức tranh nhức nhối ẩn đằng sau vẻ bên ngoài yên bình giả tạo. Cái chết dưới hồ của một cô gái có thể là chủ đề bàn tán cho cả thị trấn trong suốt thời gian dài, nhưng quan trọng hơn đó là một cô gái Trung Quốc mắt xanh. Sự phân biệt chủng tộc ngầm len lỏi qua cộng đồng nhỏ bé này là một cái tát thẳng vào mặt những kẻ ngoại tộc ở đây. Với mạch truyện chậm rãi và buồn thảm, Bao điều không nói thử thách sự kiên nhẫn cực độ của người đọc. Nếu cuốn sách được chuyển thể, độc giả có thể mường tượng được màu sắc u tối và xám xịt trong từng cảnh của phim hiện ra như thế nào. Nhưng trên tất cả, cuốn sách là bài học giáo dục sâu sắc dành cho các bậc phụ huynh, người trước giờ vẫn luôn ảo tưởng rằng mình đã hiểu hết tâm tư của những đứa trẻ. *** Lydia đã chết. Nhưng gia đình cô vẫn chưa biết điều này. Năm 1977, ngày 3 tháng năm, lúc 06:30 sáng, không ai thấy có gì bất thường ngoài một thực tế vô thưởng vô phạt: Lydia muộn bữa ăn sáng. Như mọi khi, bên cạnh bát ngũ cốc, mẹ của Lydia đặt một cây bút chì mài nhọn và sáu bài tập Vật lý về nhà đã được đánh dấu nháy nhỏ cho cô. Đánh xe đến chỗ làm, bố của Lydia quay đĩa số về WXKP, Kênh Tin tức Hay nhất Tây Bắc Ohio, bực mình bởi tiếng rè rè của sóng vô tuyến. Trên cầu thang, anh trai của Lydia ngáp ngắn ngáp dài, đắm mình trong cơn mơ ngủ. Trên chiếc ghế trong góc bếp, em gái của Lydia khòm người, tròn mắt nhìn đĩa ngũ cốc bắp, cố hút từng miếng một, chờ Lydia xuất hiện. Rốt cuộc, cô cũng lên tiếng: “Lydia đang làm mất thời gian hôm nay rồi đấy.” Tầng trên, Marilyn mở cửa phòng con gái mình và trông thấy chiếc giường trống không: mấy góc chăn bông vẫn được xếp gọn gàng, mặt gối vẫn mịn và căng phồng. Mọi thứ vẫn ở yên vị trí của nó. Mớ đồ nhung kẻ màu mù tạt nằm ngổn ngang dưới sàn, cạnh một chiếc vớ sọc cầu vồng. Hàng ruy băng Giải thưởng Khoa học treo trên tường, một tấm bưu thiếp của Einstein. Chiếc túi du lịch nhàu nát trên sàn tủ quần áo. Chiếc cặp đựng sách màu xanh lá nằm rũ trên bàn. Lọ Baby Soft trên nóc tủ với mùi hương phấn dịu ngọt mềm mại vẫn còn đọng trong không khí. Nhưng không có Lydia. Marilyn nhắm mắt lại. Có lẽ, khi bà mở mắt ra, Lydia sẽ ở đó, phủ chăn quá đầu như thường lệ, suối tóc dài xòa xuống. Một giọng điệu gắt gỏng phát ra từ dưới tấm ga trải giường mà, vì lí do nào đó, bà mặc kệ. Con đang trong phòng tắm, mẹ ơi. Con xuống dưới lầu uống nước rồi. Con nằm đây nãy giờ mà. Tất nhiên, khi bà đưa mắt nhìn xung quanh, chẳng có gì thay đổi cả. Các rèm cửa khép kín hắt ánh sáng như một màn hình tivi trống. Xuống cầu thang, bà dừng lại ở cửa nhà bếp, bàn tay đặt lên mỗi bên khung cửa. Sự im lặng của bà đã nói lên tất cả. “Mẹ sẽ kiểm tra bên ngoài” - cuối cùng, bà nói. - “Có thể có lí do nào đó…”. Bà nhìn chằm chằm vào sàn nhà rồi lại hướng về phía cửa trước, như thể dấu chân của Lydia đã bị thảm lau mất dấu vết. Nath nói với Hannah: “Lydia ở trong phòng nó tối qua mà. Anh nghe có tiếng radio. Lúc 11:30.” Cậu ngừng nói, sực nhớ ra cậu đã không chúc em gái ngủ ngon. “Mười sáu tuổi thì có còn bị bắt cóc được nữa không ạ?” - Hannah vặn vẹo. Nath dùng muỗng khuấy bát thức ăn của mình. Ngũ cốc bắp nát ra rồi chìm vào lớp váng sữa. Mẹ chúng trở vào bếp, và vì một khoảnh khắc an nhiên trong lòng, Nath thở hắt ra nhẹ nhõm với ước nguyện: Em đây rồi, Lydia, vẫn bình an vô sự. Điều này thỉnh thoảng vẫn xảy ra - gương mặt anh em chúng giống nhau đến nỗi dù đã nhìn thật chăm chú nhưng bạn vẫn sẽ nhầm lẫn đứa này với đứa khác: chiếc cằm xinh xắn, xương gò má cao và lúm đồng tiền bên má trái giống nhau, bờ vai thon gọn y hệt. Chỉ có màu tóc là khác biệt, tóc Lydia đen nhánh như màu mực trong khi mẹ chúng lại có mái tóc xoăn màu mật ong. Nath và Hannah lại giống bố. Có một lần, một người phụ nữ dừng lại trước chúng trong một cửa hàng tạp hóa và sẵng giọng hỏi: “Người Trung Quốc à?” Và khi chúng vừa kịp trả lời vâng, bà ta không thiết nghe tiếp câu nói dang dở đã gật gật đầu ra chiều hiểu biết. “Nhìn đôi mắt đó là biết ngay mà.” Bà ta nói rồi kéo dài đuôi mắt với một ngón tay. Nhưng Lydia, bất chấp di truyền, bằng cách nào đó sở hữu đôi mắt màu xanh biếc của mẹ, và chúng biết điều này là một trong nhiều lý do Lydia rất được mẹ cưng chiều. Và bố của chúng cũng vậy. Khi Lydia đặt tay lên trán thì trông cô càng giống mẹ hơn nữa. “Chiếc xe vẫn còn ở đây” - bà nói, Nath biết trước như vậy rồi. Lydia không thể lái xe; con bé thậm chí còn chưa có giấy phép lái xe. Tuần trước, nó đã khiến cả nhà kinh ngạc khi thì rớt, và bố nhất định sẽ không để con bé ngồi ở ghế lái khi không có bằng. Nath khuấy ngũ cốc đang dần đặc quánh lại ở đáy bát của mình. Đồng hồ trong sảnh kêu tích tắc, điểm bảy giờ ba mươi phút. Không một ai di chuyển. “Hôm nay chúng ta vẫn đến trường chứ?” - Hannah hỏi. Marilyn lưỡng lự. Sau đó, bà vào lấy ví và chùm chìa khóa với một vẻ mặt tươi tỉnh. “Hai con muộn xe buýt rồi. Nath, lấy xe của mẹ và tiện thể thả Hannah xuống trên đường con đi nhé.” Rồi bà nói tiếp: “Đừng lo lắng. Bố mẹ sẽ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.” Bà không nhìn bọn trẻ. Chúng cũng không hề quay lại nhìn bà. Khi hai đứa con đi khỏi, bà lấy ra một chiếc cốc từ chạn bếp, cố giữ bàn tay khỏi run rẩy. Cách đây rất lâu, khi Lydia còn là một đứa bé, Marilyn đã từng để Lydia một mình trong phòng khách, chơi trên một cái chăn, và đi vào nhà bếp để pha một tách trà. Con bé chỉ mới mười một tháng tuổi. Marilyn nhấc ấm nước ra khỏi bếp và quay sang tìm Lydia đang đứng ở ngưỡng cửa. Vừa xoay đi, bà đã đặt nhầm bàn tay trên bếp nóng. Một vết bỏng đỏ au, hình xoắn ốc hiện lên trên lòng bàn tay, rồi bà chạm nó lên môi và nhìn con gái mình qua làn nước mắt. Lydia đứng đó, hoạt bát lạ thường, tựa như đây là lần đầu tiên cô vào nhà bếp. Marilyn đã không nghĩ về những thiếu sót trong bước đầu tiên nuôi dạy con trẻ, hoặc giả con gái mình đã lớn đến nhường nào. Ý nghĩ hiện lên trong tâm trí bà không phải là Mình đã bỏ rơi con bé ra sao? Mà là Con đang che giấu điều gì khác? Nath đã biết rướn người, loạng choạng lật mình và đi chập chững ngay trước mặt bà, nhưng bà lại không nhớ Lydia đã bắt đầu tập đứng khi nào. Dù con bé trông có vẻ rất vững vàng trên đôi chân trần, những ngón tay bé nhỏ hé ra từ gấu áo của bộ đồ yếm. Marilyn thường quay lưng lại, mở tủ lạnh hoặc ủi quần áo. Lydia có thể đã bắt đầu biết đi từ nhiều tuần trước, trong lúc bà mải cúi người làm bếp, và không hề biết điều gì đang diễn ra. Mời các bạn mượn đọc sách Bao Điều Không Nói của tác giả Celeste Ng & Thảo Lê (dịch).
Áo Khoác Lông Chồn
Ngay từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1935, Áo khoác lông chồn đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ. Nhà văn John O'Hara - tác giả của tiểu thuyết - đã lấy cảm hứng từ thông báo tìm thấy xác một cô gái trẻ đẹp trôi dạt vào bãi biển Long Island. Đây có thể chỉ là một tai nạn, một vụ giết người hay tự tử? Không ai biết được sự thật về cái chết ấy, nhưng John O'Hara đã chộp lấy tấn thảm kịch này và tưởng tượng ra cuộc đời đầy thăng trầm của một người con gái ở New York vào đầu những năm 1930. Nhà văn O'Hara đã khéo léo khắc họa chân dung cuộc sống của cô gái Gloria Wandrous trẻ đẹp từ giây phút cô tỉnh dậy trên một chiếc giường lạ đến khoảnh khắc cuộc đời của cô chấm dứt. Với sự chân thực đến xấc xược và sự thính nhạy độc đáo, Áo khoác lông chồn đã bóc trần những sự thật thường là xấu xa và được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bên ngoài của một xã hội quay cuồng vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái. Có thể nói đây là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. *** Một nước Mỹ năm 1935 được miêu tả: "Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh…" Tên sách: Áo khoác lông chồn Tác giả: John O’Hara Dịch giả: Đinh Thị Thanh Vân NXB Văn hóa Sài Gòn   Nhắc đến John O’Hara, người ta thường nghĩ ngay tới cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Appointment in Samarra” (Hẹn gặp ở Samarra) – tác phẩm đầu tay gắn với tên tuổi của tác gia nước Mỹ này chưa bao giờ rời khỏi danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại. Nếu như “Hẹn gặp ở Samarra” từng được đánh giá là đạt đến vẻ đẹp kinh điển của một tác phẩm hiện thực trong thế kỷ 20 thì có một tiểu thuyết khác của ông lại được ví như cuốn “biên niên sử của nước Mỹ”. Tác phẩm ấy là “BUtterfield 8” – được xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên “Áo khoác lông chồn”. “Áo khoác lông chồn” ra mắt lần đầu năm 1935, thời điểm mà theo tác gia Fran Lebowitz là lúc nền văn hóa cũng như kinh tế của nước Mỹ đang hồi nhiễu loạn: “Năm 1935, nhiều sự việc không nói ra thì tốt hơn. Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh… Năm 1935, chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 144.13, không những cho thấy tác động của nạn Đại Suy thoái, mà còn truyền đạt một ý nghĩa đặc biệt, đây là một giai đoạn có không ít việc buôn bán ngoài luồng. Năm 1935, Luật cấm buôn bán rượu mới hết hiệu lực được hai năm, sau khi kéo dài mười ba năm liền. Trong nhiều thành công khác, nó còn có tác dụng dân chủ hóa hoàn toàn và rất quái đản tính chất vụng trộm của nền đạo đức, chi phối các cuộc ngoại tình của tầng lớp thượng lưu Mỹ…” Trong bối cảnh ấy, John O’Hara đã tái hiện lại một cuộc đời đầy những biến động của cô gái trẻ Gloria Wandrous. Mồ côi cha từ rất sớm, Gloria sống trong sự bao bọc của một người mẹ mẫu mực và người bác ruột hết lòng yêu thương, chiều chuộng cô. Nhưng rồi bi kịch thứ nhất xảy đến. Gloria bị lạm dụng tình dục bởi thiếu tá Boam – bạn quân ngũ của bác cô. Cô gái 12 tuổi rơi vào tình trạng rầu rĩ và suy nhược, nên buộc phải chuyển đến New York. Từ một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, có giáo dục, Gloria trở thành một kẻ say xỉn, “nhẵn mặt” hầu hết các quán rượu lậu ở New York. Ở tuổi 20, Gloria đã trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Bước ngoặt lớn thứ hai trong cuộc đời Gloria là gặp gỡ và quen biết Liggett – một người đàn ông đã có vợ và hai con.   Từ một mối quan hệ qua đường, cô gái trẻ đem lòng yêu người đàn ông đáng tuổi bố mình. Rồi trong một lần ở cùng nhau, bị chi phối bởi phút bốc đồng của những đam mê nhục dục, Liggett đã xé rách chiếc váy dạ hội của Gloria. Điều này tiếp tục đẩy cuộc đời Gloria vào một bi kịch mới: Bi kịch đánh cắp chiếc áo khoác lông chồn trị giá 6.000 đô la và được bảo hiểm với giá 3.000 đô la.   Chẳng phải ngẫu nhiên mà tác phẩm mang tên “Áo khoác lông chồn”. Thứ đồ xa xỉ ấy cũng giống như bộ mặt của giới thượng lưu Mỹ trong thời Đại Suy thoái. Nó là thứ vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ và hào nhoáng, nhưng phù phiếm và vô giá trị về mặt tinh thần. Nó là món quà người chồng tặng cho vợ mình để minh chứng tình yêu nhưng thực chất chính anh ta lại là kẻ ngoại tình đáng khinh nhất.   Nó – chiếc áo lông chồn ấy cũng vẫn là vật cuối cùng mà Liggett tìm đến sau khi chạy trốn như một kẻ tội phạm khỏi con tàu mà Gloria tội nghiệp đã bỏ mạng. Vẫn theo Fran Lebowitz thì John O’Hara đã: “hiểu rõ hơn bất cứ nhà văn Mỹ nào khác rằng, giai tầng có thể vừa bộc lộ vừa nhào nặn lên tính cách, sự hời hợt có thể trọn vẹn đến vô cùng, và quần áo có thể thực sự làm nên con người ra sao”.   John O’Hara viết “Áo khoác lông chồn” ở tuổi 29. Điều này giúp lý giải một cách thấm thía rằng giọng điệu từng trải, thông thái và lối văn chương chân thực mà tinh tế ấy không phải được tạo nên bởi một ngòi bút nhiều trải nghiệm mà bởi một tài năng đáng ngưỡng mộ, cộng với một tầm hiểu biết sâu sắc.   Cũng bởi thế mà tờNew York Times từng có lời khen tặng: "O’Hara chiếm giữ vị trí độc nhất trong nền văn học đương đại của Mỹ. Ông là nhà văn Mỹ duy nhất tái hiện xã hội Mỹ trong cái cách mà nó đã được thể hiện trong tác phẩm của Henry James về nước Mỹ, hay dưới ngòi bút của Proust về nước Pháp". “Áo khoác lông chồn” xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. Năm 1960, tác phẩm này đã được chuyển thể thành phim với sự tham gia của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu Elizabeth Taylor và Laurence Harvey. Bộ phim mang về cho huyền thoại Elizabeth Taylor giải Oscar Nữ diễn viên xuất sắc nhất. *** John O’Hara (1905-1970) viết “Áo khoác lông chồn” năm ông mới 29 tuổi. Tác phẩm trở thành kiệt tác và gần công chúng hơn khi được chuyển thể thành phim với sự tham gia diễn xuất của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu: Elizabeth Taylor và Laurence Harvey năm 1960. Áo khoác lông chồn được cho là “biên niên sử của nước Mỹ”. Ngòi bút sinh động và thực tế của John O’Hara đã bóc trần đời sống xã hội Mỹ những năm 30 với những suy thoái về kinh tế và sự chao đảo về đạo đức.   Nhân vật chính của câu chuyện là Gloria Wandrous. Cha cô là một nhà hoá học đã chết vì phóng xạ, Gloria sống cùng mẹ và bác ruột tên là Vandanm. Tuổi thơ của Gloria diễn ra trong tình yêu thương, sự hy vọng của mẹ và bác trai. Nhưng bất hạnh bắt đầu đổ ập xuống cuộc đời của Gloria từ khi thiếu tá Boam - một người bạn quân ngũ của bác cô - sau một lần đến nhà chơi đã giở trò lạm dụng tình dục đối với cô. Giống như nhiều nạn nhân của bi kịch bị lạm dụng tình dục khác, cô bé 12 tuổi Gloria có những biểu hiện khác thường: hay rầu rĩ, hơi suy nhược. Cuộc đời Gloria thực sự rẽ sang một hướng khác. Cô buộc phải chuyển đến môi trường mới để tiếp tục sống và học tập những mong quên đi bi kịch của mình. Nhưng cô đến New York đúng thời điểm nước Mỹ đang trên đà đại suy thoái về kinh tế và đạo đức, lối sống của xã hội Mỹ đang bị chao đảo nặng nề. Gloria chỉ là nạn nhân, nhiều cô gái trẻ khác cũng chỉ là nạn nhân. Sau một lần nạo thai vì vui vẻ với chàng sinh viên trường Yale, Gloria dần dần trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Cho đến khi gặp Ligget, gã đàn ông đã có vợ và hai cô con gái, thì cô lún sâu hơn vào bùn lầy không thể rút chân ra được. Để thoả mãn đam mê nhục dục, Ligget đã xé toang váy áo của cô. Chính hành động lúc say tình này mà Ligget đã vô tình đẩy cô đến bi kịch khác: Bi kịch của kẻ ăn cắp chiếc áo khoác lông chồn đắt tiền, chiếc áo có giá trị tới 10.000 USD và được đóng bảo hiểm tới 4.000 USD. Chiếc áo khoác lông chồn bị mất, cuộc hôn nhân của gia đình Ligget bị dồn đến bên bờ vực thẳm. Nhưng có điều Ligget thấy kỳ lạ, ông vừa thấy ghê sợ Gloria nhưng lại thấy đam mê cô khủng khiếp. Điều này ông chỉ nhận ra khi phải đứng ở lằn ranh của cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người đàn ông thứ hai của Gloria và luôn sát cánh bên cô là Eddie Brunner. Anh cũng nhiều lần muốn có được Gloria nhưng luôn bị ám ảnh rằng cô là mẫu đàn bà dễ dãi và từng chung đụng với nhiều người tình. Eddie Brunner được tác giả xây dựng như một người đàn ông tình nghĩa, một người bạn đích thực. Anh biết mọi bi kịch, sự đổ đốn của Gloria nhưng vẫn luôn âm thầm bảo vệ và xót thương cho cô. O’Hara đã tạo nên nhân vật của mình với sự chân thực đến táo bạo, sự thính nhạy độc đáo đã bóc trần thói xấu xa được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bề ngoài của một xã hội quay cuồng bởi Đại suy thoái. T.T. Review Mời các bạn mượn đọc sách Áo Khoác Lông Chồn của tác giả John O'Hara & Đinh Thị Thanh Vân (dịch).