Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bệnh Án Của Thần Linh Tập 1

Trẻ trung và tài năng, tương lai xán lạn bày ra trước mắt, nhưng sẵn tính khác người, chàng bác sĩ Kurihara Ichito đã vứt bỏ cơ hội thăng tiến ở văn phòng y tế đại học mà đâm đầu vào làm việc tại bệnh viện Honjou xứ nhà quê, hòng lánh xa chốn đông đúc, xô bồ. Vậy mà đời chẳng như mơ, tấm biển “Khám chữa bệnh 24 giờ, 365 ngày” treo trước cổng bệnh viện Honjou đã khiến Kurihara trở nên tiều tụy và quay cuồng trong nỗi hồ nghi về mục đích đời mình. Làm sao để trở thành một bác sĩ tốt? Hối hả chạy theo những kỹ thuật y học không ngừng phát triển, hay dừng hẳn lại để chăm lo cho những bệnh nhân già yếu cô độc bị xã hội bỏ rơi? Và rốt cuộc cái bệnh viện tỉnh lẻ này có gì để níu chân anh ở lại? Đầy ắp những khắc khoải nhân sinh, nhưng đồng thời nồng ấm tình người và bừng sáng niềm lạc quan tuổi trẻ, câu chuyện về người bác sĩ do một bác sĩ chấp bút đã làm rung động bao trái tim độc giả, trở thành một trong những cuốn sách bán chạy tại Nhật Bản và được dựng thành phim điện ảnh. *** Bệnh án của thần linh là quyển sách cuối cùng mà mình đọc trong năm 2018 (hoàn thành ngay trong đêm 31 luôn) và là quyển sách đầu tiên mình review của năm 2019. Lý do mình biết đến tác phẩm này thì phải quay ngược một chút về mấy năm trước, khi mình tình cờ biết đến nhóm sub phim Gothcafe. Hồi ấy mình theo bộ phim "Quán ăn đêm" mà nhóm thầu, xong thích luôn cách dịch và cách chọn phim để sub của các bạn ấy. Xong đến khi Nhã Nam thông báo sắp xuất bản quyển này và thấy status thông báo dịch giả chính là bạn chủ fanpage thì mình quyết định mua luôn, không đắn đo gì. Một là có niềm tin tuyệt đối về gu của bạn ấy, hai là cái tên truyện nghe đáng yêu quá chừng, và thứ ba là do bìa sách đẹp mê hồn, nhìn phát đã phải lòng luôn. Phải nói đây là quyển sách có bìa đẹp nhất mà mình từng đọc luôn.    Truyện kể về cuộc sống của bác sỹ trẻ tuổi Ichito Kurihara tại một tỉnh nhỏ Honjo. Tuy bị đánh giá là tính tình hơi lập dị nhưng với sự dày dặn kinh nghiệm y học và tấm lòng hết mình vì người bệnh và bạn bè mà anh được tất cả mọi người vô cùng kính trọng và thương mến. Đặc biệt trong tình trạng thiếu bác sỹ trầm trọng tại tỉnh lẻ thì người luôn thức đêm thức hôm làm việc suốt 40 tiếng đồng hồ như anh lại càng trở nên quan trọng. Có thể tóm gọn mô tả con người này trong 1 câu là y đức toàn  tài. Ngoài các mối quan hệ tốt trong công việc, Ichito có một người vợ không những luôn thấu hiểu, bao dung mình mà còn luôn khéo léo, tháo vát săn sóc căn hộ nhỏ bé của hai người. Anh còn có hai người bạn tốt đầy mơ mộng hàng xóm cùng khu nhà trọ cũ kỹ, lúc nào cũng sẵn sàng giúp anh giải tỏa bớt nỗi căng thẳng, mệt mỏi trong lòng. Nhìn qua thì có vẻ êm đềm là vậy nhưng vẫn có những lúc anh cảm thấy hoài nghi không biết con đường mình lựa chọn có đúng đắn hay không. Cho đến một ngày anh nhận được thư mời tham gia viện y tế tại trường đại học và...... Quyển sách chia thành 4 câu chuyện nhỏ xoay quanh công tác thường nhật của Ichito, đồng thời cũng nối tiếp nhau trở thành cuộc hành trình tìm ra ý nghĩa thực sự của nghề y cũng như quan niệm về sự thành công, sự sống của Ichito. Với thể loại Slice of life thế này thì thực sự là muốn spoil nội dung cũng không biết nên spoil thế nào cho phải, vì chỉ khi cầm quyển sách trên tay, yên tĩnh ngầm nghiễn từng trang sách thì người đọc mới thực sự tìm ra được điều mà tác giả muốn truyển tải. Thú thực là khoảng 50 trang đầu của quyển sách khiến mình hơi hụt hẫng một chút, vì giọng văn tự sự và tưng tửng vốn không phải là gu của mình. Nhưng càng kiên nhẫn đọc về sau mình càng tìm được cảm giác "A, đây chính là quyển sách dành cho mình." Lời văn càng về sau càng rất dịu dàng, mềm mại, đúng chất Nhật Bản mà mình yêu thích. Chưa kể ngoài những dòng tâm sự, triết lý thì những câu tả cảnh sắc và chuyển cảnh vô cùng uyển chuyển cũng cực kì hợp ý mình.  Mình thích những cuộc nói chuyện dí dỏm mà cũng vô cùng sâu sắc giữa những người sống trong khu nhà trọ ấy. Giữa những bộn bề cuộc sống, thật kì diệu khi đâu đó vẫn còn tồn tại những tình bạn đẹp, chân thành đến thế. Có những người bế tắc suốt bao năm trời luôn thất bại liền liều mình kết liễu bản thân nhưng chỉ một đêm tỉnh dậy, được thức tỉnh bởi hơi ấm tình bạn và gia đình lại tiếp tục tiến về phía trước. Đó chính là kiểu tình bạn mà mình luôn luôn tìm kiếm và ngưỡng mộ. Không cần phải quá thân thiết, dành quá nhiều thời gian cho nhau hay can thiệp đến cuộc sống của nhau nhưng đủ quan tâm và chân thành để làm cuộc sống đối phương hạnh phúc hơn, dù chỉ là những điều cỏn con nho nhỏ. Bên cạnh đó thì mối quan hệ giữa vợ chồng bác sỹ và tình đồng nghiệp giữa các bác sỹ với nhau cũng cực kì đáng yêu, là những điểm sáng của truyện nữa. Mình cũng cực kì thích cách tác giả truyền tải lí tưởng nghề y và nhiếp ảnh vào câu chuyện. Có thể vì giấc mơ hồi bé của mình là mua được một chiếc máy ảnh để lưu giữ mọi khoảnh khắc tự nhiên trên thế giới này nên mình cực kì thích thú khi đọc những phân đoạn về vợ của Ichito. Thật đáng tiếc là đến giờ mình vẫn chưa đủ đam mê, dũng cảm cũng như tài năng để làm được điều này. Với cá nhân mình thì dù tương đồng đề tài nhưng Bệnh án của thần linh có lẽ sẽ dễ đọc hơn là Người đan thuyền xếp chữ. Nếu ai đang tìm kiếm một câu chuyện nhẹ nhàng đậm chất Nhật với độ dài vừa phải thì đây sẽ là một lựa chọn hợp lý. Tổng kết: 8.5/10 (Định cho 8/10 nhưng thôi cho thêm 0.5 vì cái bìa sách quá sức xinh đẹp - đẹp nhất trong số các tác phẩm của Nhã Nam từ trước tới nay với mình -  và văn phong dịch trau chuốt của dịch giả) Người Review: Blue Faith *** Chuyện xoay quanh những câu chuyện nghề và trăn trở cuộc sống của bác sĩ Ichito Kurihara ở một bệnh viện nhỏ tuyến tỉnh, cùng với mối quan hệ giữa anh và vợ mình, những người xung quanh và các bệnh nhân “đặc biệt” ở đây. .Quay lại câu chuyện thì bác sĩ nhân vật chính có cái tên khá đặc biệt: Ichito 一止 nếu viết dọc sẽ là 正 (chính nghĩa). Bác sĩ này khá trẻ, theo mình nhớ là mới tốt nghiệp về lại bệnh viện đây 5 năm, làm việc ở một bệnh viện nhỏ tuyến dưới nhưng lại làm một điều hơi khác thường là treo biển khám chữa bệnh 24 giờ, 365 ngày trong năm. Điều này đồng nghĩa với việc cứ cuối tuần sẽ đầu tắt mặt tối, và những ngày nghỉ Tết cũng chỉ còn trong mộng tưởng, đã bận vậy rồi nhưng anh Ichito này còn mắc thêm cái xui là cứ hôm nào ảnh trực đêm thì ca cấp cứu rồi ca nhập viện lại tăng nhiều hơn, tới mức các y tá phải đánh dấu lại ngày nào anh làm để chuẩn bị tinh thần nghênh chiến bão táp. Cuốn này là cuốn đầu tay của tác giả Natsukawa Sosuke, cũng là một bác sĩ, nên những tình tiết trong bệnh viện được mô tả rất chân phương, mộc mạc, bản thân mình lúc đọc truyện quên mất là đã từng xem phim (xem phim lâu lắm rồi, hồi ấy xem vì idol đóng :”>) nhưng chỉ cần men theo những lời văn khắc hoạ trong truyện cũng có thể hình dung ra được một bệnh viện ở vùng quê nhỏ, rồi hình dung được cả con đường heo hắt ánh đèn ở ngoài cổng thành Matsumoto nơi vợ bác sĩ đợi anh về này nọ.   Cuốn này có ba mẩu truyện nhỏ, có những nhân vật khác nhau xuất hiện trong cuộc đời bác sĩ, để giúp bác sĩ đưa ra quyết định to lớn ảnh hưởng tới cuộc đời sau này: tiếp tục ở lại bệnh viện này chữa trị cho những ông bà cao tuổi và những kẻ nát rượu hay đi về bệnh viện đại học tuyến đầu để đương đầu với những ca khó nâng cao tay nghề. Mình rất phục cách viết của tác giả này, chi tiết truyện mà kể thì đau xé lòng, nhưng khi đọc tác giả đan xen những chi tiết rất nhỏ, giọng văn rất vui tươi, đọc xong cảm giác trong lòng nhẹ nhàng thư thái, và đương nhiên là càng thêm kính trọng một cái nghề mà trước giờ mình đã vốn rất ngưỡng mộ: nghề y :D. Có lẽ ở quanh ta không thiếu những người đang trăn trở về mỗi một quyết định của bản thân mình, nhưng rồi đọc cuốn này xong mình mới nhận thấy, suy nghĩ nhiều trước khi quyết định cũng là chuyện cần thiết, nhưng có những lúc chính một nhân vật không ngờ tới xuất hiện kéo theo câu chuyện giữa ta và họ, kết quả là lựa chọn sẽ rất tự nhiên mà có thôi, đọc hết gập truyện lại thì mình cũng thấy mừng cho bác sĩ, vì đã có quyết định của chính mình, ít nhất là ở thời điểm hiện tại. Sách đọc nhẹ nhàng mau hết, đáng ra thể loại văn học đọc nhanh không lắt léo này mình ít khi có ấn tượng nhiều nhưng cuốn này khá riêng lại đúng ngành nghề mình thích (mình thích bác sĩ và cảnh sát, truyện nào có yếu tố này tự dưng sẽ điểm cao lol), đánh giá cũng cao hơn bình thường chút ^^. Đánh giá: 4/5  Review: yuu3008.com *** Lời bạt Câu chuyện mùa Xuân Uehashi Nahoko Một câu chuyện thật ấm lòng... Gấp sách lại, đó là suy nghĩ đầu tiên hiện lên trong tôi. Tác phẩm của tôi đã vinh hạnh được nhà văn trẻ Natsukawa ưa thích, và vì cái duyên ấy, anh đã ngỏ ý nhờ tôi viết lời bạt cho cuốn sách của anh. Lúc đó tôi rất bất ngờ, tôi đã thưa với anh rằng chuyện "viết lời bạt" tôi thật không rành cho lắm. Nhưng anh nói rằng chỉ cần viết một đoạn cảm nghĩ là được, nên tôi xin mạn phép mượn một vài trang giấy để chia sẻ cảm giác dễ chịu ấm áp trong lòng tôi với quý độc giả vừa đọc xong truyện. Mong các bạn kiên nhẫn dành cho tôi một chút thời gian. Khi đọc xong cuốn sách, trái tim tôi như được thắp sáng vậy. Chẳng hề có những phút hồi hộp, thót tim. Chỉ có ánh sáng nhỏ bé và yên tĩnh tựa ánh lửa nơi đầu ngọn nến, nhẹ nhàng từ những con chữ truyền sang, sáng lên trong tâm khảm, khẽ rung rinh, rồi ngay sau đó lại tiếp tục lưu giữ hình hài một ngọn lửa tĩnh lặng. Đối với tôi, đây là một câu chuyện như thế. Vừa khắc họa sự sống và cái chết của con người, vừa viết nên một câu chuyện ấm áp tựa ánh nến nhỏ bé, việc ấy thực rất khó. Thế nên tôi đây có đôi phần cảm phục anh Natsukawa, người đã làm được điều đó ngay trong tác phẩm đầu tay. Sự sống, cái chết, tình yêu của con người, bản thân những điều ấy đã mang theo sức mạnh phi thường. Trong chương trình Hành trình nhỏ của đài truyền hình NHK có một phiên bản được thực hiện bằng cách đọc những lá thư từ khán giả, nếu quý độc giả đây đã từng xem chương trình ấy thì có lẽ sẽ hiểu được điều tôi muốn nói. Những câu chuyện liên quan đến sự sống - cái chết hay tình cảm hướng về người khác, dù chỉ xuất hiện trong hồi ức của những con người đã sống một cuộc đời hết mực bình thường, vẫn mang theo sức cuốn hút mãnh liệt, tác động mạnh mẽ tới trái tim người nghe. Khoảnh khắc đời thực ấy vô cùng sống động, lại mang sức mạnh sâu sắc nên chẳng cần phải biên tập làm tăng phần kịch tính, chỉ cần những câu chuyện từ những cánh thư đã vang vọng tới trái tim những khán thính giả ở nơi xa xôi. Tại những cơ sở y tế, nhất định cũng có rất nhiều câu chuyện như thế. Thiết nghĩ, trong tâm tư của người bệnh, hay trong vô vàn cách thức mà họ lìa bỏ cõi đời, hẳn đã khỏi sinh một điều gì đó sống động rực rỡ. Những vị bác sĩ ngày ngày chăm sóc cho họ, tiếp xúc trực tiếp với họ nhất định không thể ngăn bản thân mình trằn trọc suy nghĩ về điều ấy, rằng dù mô tả thế nào chăng nữa thì vẫn có gì đó không đúng, không chính xác... Thế nên, dẫu các bác sĩ biết rằng mọi trải nghiệm của họ khi thuật lại đều có thể làm lay động trái tim độc giả, nhưng để viết thành truyện thì thật là một công việc khó khăn. Tuy không phải là bác sĩ, nhưng bấy lâu nay tôi cũng đã xỏ hai chiếc dép rơm mang tên "nhà văn" và "nhà nghiên cứu nhân học văn hóa" mà bước đi, nên tôi hiểu rất rõ tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà trải nghiệm cuộc đời trao tặng cho những người sống bằng ngòi bút. Muốn viết, nhưng càng viết lại càng cảm nhận được khoảng cách với "điều ấy". Sự tiến thoái lưỡng nan này, có lẽ những tác giả viết thể loại phi hư cấu sẽ nhận thấy rõ nét hơn. Còn đối với những nhà văn, tôi nghĩ đó chính là một viên đá thử vàng. Chỉ với những mô tả bằng văn chương - tức sự hư cấu mang tên "chuyện kể" - ta mới có thể biến những kinh nghiệm cá nhân thành thứ gì đó ngân vang trong lòng những độc giả chưa từng có trải nghiệm tương tự. Đó chính là công việc của một nhà văn.   Trong số những bác sĩ ngày ngày đối diện với sinh tử của con người, có vài vị đã viết nên những tác phẩm tuyệt vời. Phương pháp mà họ sử dụng để chuyển hóa "kinh nghiệm" thành "chuyện kể" vô cùng đa dạng, nhưng thảy đều hấp dẫn. Điều đó cũng giống với những chi tiết về "cà phê" xuất hiện nhiều lần trong cuốn sách này. Có người đặc biệt sử dụng bột cà phê hòa tan, tạo ra hương vị đậm đặc quá mức, tầm thường một cách có chủ đích, vừa ngọt lịm lại vừa đắng ngắt. Có người lại kén chọn hạt cà phê, chỉ uống loại cà phê đen nguyên chất thơm lừng. Tác giả Natsukawa không nhấn mạnh vị đắng gay gắt, cũng không câu nệ những giá trị lớn lao, mà đã tạo ra cho cuốn sách này một hương vị thơm ngon, chân thành, dễ chịu, giống như cà phê Trân Châu Ả Rập của hãng Inoda được pha đầy sữa - loại cà phê mà Ichito ưa thích. Cách nói chuyện của Ichito, vẻ dễ thương của Haru, không khí trong lành của Matsumoto, sự hiền từ của bà Azumi, sự quan tâm của các bác sĩ cấp trên, tất cả những điều ấy nhẹ nhàng bao bọc hiện thực nghiệt ngã về sinh và tử, khiến nó tái sinh trở thành một câu chuyện tựa như nắng ấm. Vì lẽ nào đó mà một số người thường hay hiểu sai về "truyện", họ cho rằng truyện là thứ nông cạn, ấu trĩ, và vô giá trị hơn nhiều so với "hiện thực cuộc sống". Theo tôi, định kiến ấy là hết sức sai lầm. Nếu không phải là một người đã cắm mũi kim cảm xúc vào sâu bên trong "hiện thực", thì không thể nào viết nên được một truyện hay. Một câu chuyện hay, đó là thứ kết tinh từ ước mong tha thiết rằng " muốn nó như thế này - nếu được như thế này thì...". Chính vì hiểu rõ mùa đông, nên mới có thể họa nên mùa xuân. Khi đối diện với cái chết của một người nào đó, đột nhiên hình hài cuộc sống hữu hạn của bản thân sẽ tiến gần đến tâm khảm của ta. Cuộc đời vốn dĩ vô thường... Chính vì ngày ngày không ngừng trăn trở suy tư về điều đó, nên mới không thể ngăn bản thân thôi trằn trọc nghĩ về việc ôm lấy sự trống rỗng đó mà sống tiếp. Truyện là thứ được tạo ra để những người đó, bất chấp trăn trở trong lòng, có thể thắp lên ngọn lửa nơi trái tim và tiến bước trên đường đời. Và trong tim các độc giả được trao gửi điều ấy, cũng mang theo năng lượng để thắp lửa. Ichito, Haru, và ngay cả tác giả đều là những người trẻ tuổi. Vô cùng trẻ. Những con người trẻ tuổi ấy đối diện với những người đã chạm tới điểm cuối của cuộc đời như bà Azumi, ngắm nhìn một mùa đông lạnh cóng xương. Dẫu vậy, họ đã nghĩ về mùa xuân. Một mùa trẻ trung và dễ chịu. Vậy nên, đối với tôi, cuốn sách này có lẽ là một câu chuyện mùa xuân rất đỗi ấm lòng. Abiko, ngày 14 tháng 4 năm Heisei thứ 23[20]. (Uehashi Nahoko/ - Nhà văn, giảng viên Đại học Nữ sinh Kawamura Gakuen) Mời các bạn đón đọc Bệnh Án Của Thần Linh Tập 1 của tác giả Natsukawa Sosuke.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tầng Đầu Địa Ngục
Bản dịch khác: Vòng Đầu Tác giả: Aleksandr Solzhenitsyn NXB Ngàn Khơi, 1971 Dịch giả: Vũ Minh Thiều Nguyên tác: В круге первом (1968) Tác phẩm Tầng đầu địa ngục do Nhà xuất bản Đất Mới chúng tôi gửi tới tay bạn đọc được dịch theo bản Anh văn The First Circle do Nhà Bantam Books ấn hành. Quyển này dày 674 trang và gồm 87 chương. Như các bạn đã thấy, tiểu thuyết Tầng đầu địa ngục của Aleksandr I. Solzhenitsyn diễn tả cuộc sống mất tự do trong tù ngục của những chính trị phạm Nga trên Liên bang Xô Viết. Chính tác giả từng sống trong những ngục tù này nên những gì ông viết lại đều rất trung thực, rất sống, làm rung động tâm hồn người đọc. Trong truyện, ông viết lại cuộc đời của rất nhiều tù nhân, mỗi tù nhân là một trường hợp đặc biệt, một cảnh ngộ riêng. Vì muốn diễn tả thật nhiều trường hợp bị tù đày nên trong The First Circle có quá nhiều nhân vật không liên lạc gì đến cốt truyện. Với mục đích làm cho cốt truyện được đúc kết hơn, có liên lạc hơn, chúng tôi đã lược bỏ một số trang khi dịch The First Circle sang Tầng đầu địa ngục. Việc lược bỏ của chúng tôi chỉ làm cho tác phẩm thêm trong sáng, chặt chẽ, cốt truyện vẫn còn nguyên, những nhân vật chính vẫn có đủ mặt. Giá trị văn chương của The First Circle, qua bản dịch của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, chỉ có tăng chứ không giảm. Chúng tôi mong bạn đọc nhận xét, so sánh, nhận biết sự cố gắng của chúng tôi và đồng ý với chúng tôi rằng khi chuyển ngữ một tác phẩm tiểu thuyết ngoại ngữ sang tiếng Việt, đôi khi việc lược bỏ vài đoạn không liên hệ đến cốt truyện là việc làm cần thiết và hợp lý. Trân trọng cám ơn bạn đọc. Nhà xuất bản Đất Mới. *** Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn là nhà văn, nhà viết kịch của Liên Bang Xô Viết và Liên Bang Nga đoạt giải Nobel Văn học năm 1970. Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn sinh ở Kislovodsk, vùng bắc Kavkaz. Bố mất khi Solzhenitsyn chưa sinh, mẹ đi làm nghề đánh máy để nuôi con. Năm 1925 hai mẹ con chuyển về thành phố Rostov-trên-sông-Đông (Rostov-na-Donu). Từ năm 1926 đến 1936 học ở trường phổ thông thường bị bạn bè chế diễu vì đeo thập tự và không muốn vào Đội thiếu niên Lenin. Sau đó, nghe theo lời khuyên của các thầy cô giáo, Solzhenitsyn đã tiếp nhận lý tưởng cách mạng, năm 1936 vào Đoàn thanh niên cộng sản Komsomol. Từ nhỏ Solzhenitsyn đã muốn trở thành nhà văn nhưng có năng khiếu toán học nên năm 1936 ông theo học khoa Toán trường Đại học Rostov để sau này dễ kiếm việc làm. Những năm học ở Đại học Rostov, Solzhenitsyn luôn là sinh viên xuất sắc, được nhận học bổng Stalin.   Năm 1970, Alekxandr Solzhenisyn được tặng giải Nobel nhưng ông không đến Thụy Điển nhận lễ trao giải vì sợ sau đó không trở về nước được; hai năm sau ông mới đến nhận giải và đọc Diễn từ. Năm 1974, sau khi công bố bản tuyên ngôn Không sống bằng dối trá (Жить не по лжи) và cho in tác phẩm Quần đảo GULag (Архипелаг ГУЛаг) ở Paris, Solzenitsyn bị bắt, bị nhà nước Liên Xô tước quyền công dân và bị trục xuất sang Cộng hòa Liên bang Đức, sau đó ông định cư ở Hoa Kỳ. Bản tuyên ngôn Không sống bằng dối trá được viết ngay trước khi ông bị trục xuất khỏi nước Liên Xô đã thể hiện tâm tư của ông, có đoạn viết Chúng ta đã bị phi nhân tính một cách tuyệt vọng tới mức chỉ vì một khẩu phần ăn khiêm tốn hàng ngày cũng sẵn lòng đánh đổi mọi nguyên tắc của mình, tâm hồn của mình, những nỗ lực của tiền nhân và cơ hội dành cho hậu thế - cốt sao sự tồn tại mong manh của mình không bị phá vỡ. Chúng ta chẳng còn lấy một chút vững vàng, một chút tự hào và một bầu nhiệt huyết. Chúng ta thậm chí còn chẳng sợ cái chết vì vũ khí hạt nhân, không sợ thế chiến thứ ba (còn có thể trú ẩn trong những kẽ hầm mà!), thế nhưng lại sợ những hành động can đảm của công dân! Bài viết này được các báo chí trên thế giới đăng lại hoặc nhắc đến, gồm The Washington Post [2], Time [3]. NewYork Times [4] *** Đôi kim đồng hồ chỉ bốn giờ năm phút. Trong ánh sáng hấp hối của một ngày tháng Chạp, mặt đồng của chiếc đồng hồ đặt trên giá trông như có màu đen. Hai cánh cửa kiếng của khung cửa sổ cao nhìn xuống dãy phố đông đảo, nhộn nhịp bên dưới, nơi những người gác cửa đang dồn những mảnh tuyết nâu lại thành từng đống, tuyết tuy mới rơi nhưng đã ướt và dơ bẩn, những cây cào gỗ đẩy tuyết ngay dưới chân những người qua đường. Innokenty Volodin, cố vấn Quốc gia đệ nhị, nhìn ngây xuống cảnh đó nhưng không ghi nhận gì hết, chàng đứng dựa vài vào thành cửa sổ, miệng khẽ huýt gió một điệu nhạc mệt mỏi. Những ngón tay chàng lật mở từng từ giấy trắng bóng, in sặc sỡ nhiều màu của một tập san ngoại quốc. Nhưng mắt chàng cũng không nhìn thấy những hình ảnh in trên những trang báo đó. Cố vấn Quốc gia đệ nhị hạng Innokenty Volodin, chức vụ này của chàng trong ngành ngoại giao tương đương với cấp Trung tá trong quân đội, là một thanh niên cao và mảnh mai. Không bận đồng phục và bận bộ y phục may bằng một thứ hàng len dệt, trông chàng có vẻ là một công tử hào hoa hơn là một viên chức trung cấp trong Bộ Ngoại giao. Bây giờ đã đến lúc chàng phải bật đèn trong văn phòng nếu chàng muốn ở lại làm việc ngoài giờ, nhưng chàng không bật đèn, hoặc rời văn phòng để về nhà. Chàng cũng không để lộ vẻ gì là sửa soạn ra về. Bốn giờ chiều không có nghĩa là giờ làm việc trong ngày đã hết, bốn giờ chiều chỉ có nghĩa là ánh sáng của một ngày đã tắt, hoặc mờ đi, vào giờ nay tất cả mọi người đều về nhà ăn bữa tối để rồi bắt đầu từ mười giờ đêm, cả ngàn khung cửa sổ của sáu mươi nhăm cơ quan chính phủ ở Mạc Tư Khoa lại sáng đèn. Chỉ có một người, một người mà thôi, sống ở giữa khoảng một tá tường thành ở Mạc Tư Khoa, không ngủ được ban đêm, và người này đã làm cho tất cả những viên chức chính phủ lớn nhỏ ở Mạc Tư Khoa cũng phải thức với y cho tới ba, bốn giờ sáng. Vì đã biết rõ thói quen thức đêm của Vị Chúa Tể, đêm nào cũng vậy, khoảng ba mươi ông Tổng trưởng ngồi như những chú học trò được gọi đến tên. Để cho khỏi buồn ngủ, những ông Tổng trưởng này hành hạ những ông phụ tá, những ông phụ tá hành hạ những ông trưởng phòng và những nhân viên phụ trách lưu trữ hồ sơ vất vả leo lên những bậc thang mở những ô kéo tìm những tấm phiếu lý lịch hồ sơ, trong hành lang có những viên thư ký hấp tấp đi lại và trong văn phòng có những viên thư ký hồi hộp làm gãy những ngọn viết chì. ... Mời các bạn đón đọc Tầng Đầu Địa Ngục của tác giả Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn.
Bàn Có Năm Chỗ Ngồi - Nguyễn Nhật Ánh
Tác giả quen thuộc của thiếu nhi, của tuổi ô mai. Những tập truyện của anh luôn dí dỏm, hài hước, đem lại nhiều cảm xúc, nhiều bài học nhẹ nhàng cho lứa tuổi học trò. Hãy đọc để cùng gặp những nhân vật rất dễ thương, hoặc phải vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, hoặc sẵn lòng chia sẻ với bạn bè, người thân… Thậm chí cả những nhân vật tạm gọi là “phe xấu” với nhiều trò đùa nghịch… cũng mang dáng dấp hồn nhiên. Tất cả hướng về Chân - Thiện - Mỹ. Họ là năm người bạn với năm cá tính và hoàn cảnh khác nhau cùng chung trong một lớp học. Những trò nghịch ngợm trẻ con đôi khi gây ra mâu thuẫn, nhưng trên tất cả đó là những đứa trẻ ham học, giàu lòng nhân ái và biết quan tâm đến bạn bè. Cảm thông với hoàn cảnh của nhau, từng bạn nghĩ ra cách giúp đỡ bạn mình theo khả năng để tình bạn ấy lớn dần theo năm tháng. *** Nguyễn Nhật Ánh là tên và cũng là bút danh của một nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh. Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm. Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học, làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Từ 1986 đến nay ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt viết về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn. Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,... Tác phẩm mới nhất của Nguyễn Nhật Ánh được NXB Trẻ ấn hành mang tên Ngồi khóc trên cây, xuất bản ngày 27 tháng 6 năm 2013. *** Kể từ ngày đi xem triển lãm về, tật làm biếng rời bỏ tôi, tất nhiên không phải cùng một lúc. Với những chuyện đã trải qua trước đó, tôi cũng mơ hồ nhận ra rằng chỉ có siêng năng, chịu khó mới thành công ở đời (thằng Quang là một tấm gương trước mắt, kể từ ngày kiên trì học nhóm, nó tiến bộ thấy rõ) và tính lười nhác không được ai nể nang. Nhưng phải đến khi "gặp" bà Võ Thị Thơi thì mọi chuyện mới rõ ràng đối với tôi. Từ việc học tập, lao động đến sinh hoạt, kiểm điểm lại, tôi thấy mình còn thua xa so với thiên hạ. Đầu đuôi cũng tại tôi ít chịu cố gắng. Tôi nhớ lại chuyện thằng Thành hôm trước. Nó với thằng Tú đều ở tổ mười, đều nghịch như nhau, nhưng thằng Tú nghịch mà siêng, còn Thành thì lười. Nó lười còn "ác" hơn tôi. Ai đời trực quét sân mà nó bỏ tới ba buổi liền. Thầy Dân nhắc nhở, cảnh cáo hai, ba lần nó vẫn không chừa. Tới lần thứ ba, thầy Dân gởi sổ liên lạc về nhà mời ba nó lên. Nó giấu biến sổ và nói dối thầy là ba nó bận. Thầy Dân tới nhà, mới rõ đầu đuôi sự việc. Thế là thằng Thành bị đưa ra hội đồng kỷ luật nhà trường. Bữa đó ba nó phải hứa hẹn đủ điều, lại phải làm tờ cam đoan nữa, thằng Thành mới được học tiếp. Nghĩ tới chuyện đó, tôi phát ớn lạnh. Gì thì gì, tôi không bao giờ để bị đưa ra hội đồng kỷ luật. Nghĩ tới cảnh ba tôi phải ngồi trong văn phòng ban giám hiệu, đau xót nghe các thầy cô kể tội con mình, tôi thấy thà độn thổ cho xong. Thấy tôi tự dưng đâm ra gọn gàng, ngăn nắp, chịu mó tay vô chuyện nhà, má tôi mừng lắm: - Thằng Huy độ rày thay đổi quá xá! ... Mời các bạn đón đọc Bàn Có Năm Chỗ Ngồi của tác giả Nguyễn Nhật Ánh.
Trang
Trang, một bé gái mồ côi người Trung Hoa được một gia đình người Do Thái mua về để bầu bạn học hành với David, cậu con trai của chủ nhà. Tình yêu trong sáng đã nảy sinh và phát triển cùng với tuổi ấu thơ và thời hoa niên của họ. Do trở ngại bởi tôn giáo, bởi đẳng cấp và thành kiến dân tộc, mối tình giữa Trang và David trở thành vô vọng. Nàng bèn tìm mọi cách để bảo vệ tình yêu ban đầu của mình, quyết đấu tranh để được sống chung dưới một mái nhà với chàng, dù chỉ với tư cách là một tì nữ. *** Sau khi được trao tặng giải thưởng Nobel năm 1938, tên tuổi nữ văn hào Mỹ Pearl S. Buck đã trở nên quen thuộc và thân thiết với bạn đọc trên khắp thế giới. Pearl S. Buck (1892 – 1973) là một nhà nhân văn lớn. Bà sống và gắn bó với đất nước Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung gần như suốt cuộc đời. Với trí tuệ sắc sảo và trái tim nhạy cảm, bà đã miêu tả xã hội Trung Quốc ở nhiều thời đại và bình diện khác nhau qua các tiểu thuyết nổi tiếng, trong đó có Bà Vua – hay còn gọi là Người cung nữ (Imperial Woman) và Trang (Peony)… Nhân vật chính trong tiểu thuyết không phải là một bà hoàng đầy quyền uy và tham vọng như Từ Hi Thái hậu; cũng không phải là một tiểu thư khuê các, diễm kiều chốn Hoàng cung mà chỉ là một nữ tì Trung Hoa trong gia đình thương gia Do Thái giàu có. Tình yêu trong sáng giữa Trang và Đavít (con trai ông chủ) nảy sinh và phát triển cùng với tuổi thơ ấu và hoa niên của họ. Song mộng mơ của tuổi trẻ đã vấp phải những trở lực vô hình mà vô cùng nghiệt ngã của tôn giáo, đẳng cấp và thành kiến dân tộc. Bao đau đớn, dằt vặt đã vò xé cõi lòng người thiếu nữ tài sắc vẹn toàn. Nàng tìm mọi cách để bảo vệ tình yêu ban đầu và duy nhất của mình. Nàng luôn phải đối phó với những hoàn cảnh éo le, ngang trái, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để được sống chung với chàng dưới một mái nhà - dù chỉ với tư cách là một nữ tì. Suốt đời, Trang âm thầm hy sinh cho quyền lợi của mọi người. Còn nàng, nàng đã tìm cho mình một nơi ẩn thân yên tĩnh, thâm nghiêm: nhà chùa, để gìn giữ trọn vẹn những kỷ niệm sâu sắc về mối tình đầu thiêng liêng - kho báu vô giá của nàng. Mối tình âm thầm mà thiết tha, cháy bỏng và thanh khiết tuyệt vời giữa Trang và Đavít là bài học bổ ích cho mỗi chúng ta. Qua mỗi trang viết, tác giả dẫn dắt người đọc đi sâu vào thế giới phong phú, đa dạng đầy hương vị ngọt ngào cùng cay đắng của tình yêu. Tác giả khiến chúng ta rung động thực sự trước tâm hồn cao quí của Trang. Qua nhân vật này, bà khẳng định chắc chắn rằng: nhân cách con người không phải do địa vị xã hội và tiền tài quyết định. Với những cống hiến to lớn trong lãnh vực văn chương, Pearl S. Buck đã góp phần giúp nhân loại ngày càng hiểu và xích lại gần nhau trong tinh thần Hòa Bình và Nhân Bản. Thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Kỷ Tỵ Giáo sư Lê Trí Viễn *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 15 tuổi, bà được gửi trọ học tại một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi, cha mẹ cho Pearl Buck về Mỹ, học tại Trường Đại học Randolph Macon (tiểu bang Virginia). Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo tại miền Bắc Trung Hoa. Từ năm 1922, bà dạy ở Đại học Nam Kinh và Kim Lăng. Năm 1925, Pearl Buck bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Gió Đông, Gió Tây (do chạy loạn Quốc dân đảng, năm 1930 mới xuất bản được). Sau đó hàng loạt tiểu thuyết nổi tiếng khác về đề tài Trung Quốc ra đời, như Đất Lành, Những Người Con Trai, Một Nhà Chia Rẽ, Người Mẹ, Những Đứa Trẻ Chậm Lớn… trong đó tiểu thuyết Đất Lành được nhận giải Pulitzer năm 1931. Năm 1933, bà được Đại học Yale tặng bằng Cử nhân Văn chương Danh dự. Năm 1938, bà được Đại học West Virginia và Đại học St. Lawrence trao tặng bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Trong Thế chiến II, Pearl Buck viết nhiều sách báo chính luận chống chủ nghĩa phát xít. Những năm 50, bà xuất bản một số tác phẩm về đề tài gia đình và xã hội Mỹ, kí bút danh I. Sedge. Năm 1951, Pearl Buck được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ. Năm 1955, bà li dị chồng và tục huyền với giám đốc một hãng quảng cáo. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ.” *** Như vậy, ông Era đã chết. Người ta chôn cất ông bên cạnh mộ phần thân phụ ông và bên dưới là nơi mà thân xác bà Era đã hòa lẫn cùng đất cát Trung Hoa. Đavít xúc động nghĩ đến điều đó khi chàng đứng trên miệng huyệt cha chàng. Chàng nghĩ đến mẹ chàng, một người đàn bà có cá tính đặc biệt, đã tạo nhiều ảnh hưởng trong đời chàng và đến nay những ảnh hưởng ấy vẫn còn tồn tại. Cuộc chiến đấu mà bà theo đuổi suốt đời để tách rời chính mình và gia đình mình sống riêng rẽ như những người Do Thái chân chính, bây giờ đã chấm dứt. Sự chết đã thắng bà. Chiều nay trên đồi, không khí mát dịu, Đavít không thể dửng dưng với đoàn người đông đảo đã đưa cha chàng ra đến mộ phần. Đavít thầm tiếc không có mặt mẹ chàng để bà nhìn thấy lòng tốt của đám bạn hữu cha chàng, họ đi đưa đông đến nỗi đám tang chẳng khác nào đám tang của một vị thượng quan người Trung Hoa; thật không có chút gì có vẻ là Do Thái cả. Chỉ có một mình Đavít là còn giữ nguyên trong lòng những ý niệm về nguồn gốc, dòng giống. Lần đầu tiên trong đời chàng, Đavít hiểu tại sao mẹ chàng đã ao ước đến cuồng nhiệt được trở về cố quốc và được chôn cất ở đấy. Chắc chắn bà đã biết rõ, như bà đã biết rõ nhiều điều mà không nói ra, rằng nếu bà chết ở đây, tro bụi của thân xác bà sẽ trộn lẫn cùng đất cát của xứ ngoại quốc này. Năm thành phố chồng chất lên nhau dưới lòng đất nơi Đavít đang đứng. Nhiều thế hệ kế tiếp, đã xây dựng các thành phố ấy, cái này chồng lên cái kia; tại miền đất cổ xưa này, người ta không thể đào quá sâu mà không gặp các người xưa đã chết. Cha mẹ chàng hẳn đã bị buộc chặt vào mảnh đất này cùng với các người khác, và không bao giờ họ còn có thể thuộc về một dân tộc riêng biệt. Tiếng tụng niệm ê a của các sư sãi đã làm cho Đavít đau nhói trong lòng. Quả thật Đavít muốn từ chối khi vị sư già chùa Kim Phật đến nghiêng mình trước vong linh người chết; chàng đã hết lòng giải thích rằng Phật giáo không phải là tôn giáo của cha chàng. Với tất cả sự nhã nhặn, chàng cố nói cho sư cụ hiểu rằng, không nên tụng kinh Phật trước mộ huyệt của cha chàng. Mời các bạn đón đọc Trang của tác giả Pearl S. Buck.
Thần Tượng
William, tên thường gọi là Will, trốn học, băng qua cả thành phố đi coi phim, cốt để không bị người quen bắt gặp. Nhưng cậu lại chạm trán cha mình - Sonny -  ở ngay phòng đợi của rạp xi-nê ấy. Ông đang đi cùng với một người đàn bà da trắng, tóc vàng. Đó là một rủi ro rất bình thường. Song cha cậu không phải là một người bình thường, và gia đình cậu, bị biết bao sự việc đang xảy ra đe dọa cuộc sống của họ, cũng không phải là một gia đình bình thường.  Thần tượng là một câu truyện rất cảm động, viết về tình yêu của một người đàn ông với hai người phụ nữ, của người cha với con trai và ngay cả cái tình yêu trừu tượng hơn - tình yêu tự do - cũng được nhắc tới trong tác phẩm. Trong Thần tượng, những mâu thuẫn cá nhân và cuộc đấu tranh của cả cộng đồng chống lại chủ nghĩa Apartheid được đẩy lên kịch tính rất cao. Đó cũng chính là cái giá mà những con người như Sonny và gia đình ông phải trả để tạo nên những chuyển biến trong xã hội Nam Phi. *** Nadine Gordimer (sinh 20 tháng 11 năm 1923) là nữ nhà văn Nam Phi đoạt giải Nobel Văn học năm 1991. Nadine Gordimer sinh ở Springs, Gauteng, ngoại ô thành phố Johannesburg, Nam Phi, trong gia đình thợ kim hoàn gốc Do Thái di cư. Bố người Litva, mẹ là người Anh. Sau khi học xong trường dòng, bà vào học trường Đại học Witwatersrand ở Johannesburg. Gordimer đã đi du lịch khắp châu Phi, châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng vẫn sống chủ yếu ở Johannesburg. Năm 1954, bà kết hôn với một thương gia tên là Reinhold Cassirer. Mỗi người có một con gái riêng từ cuộc hôn nhân trước và họ có với nhau một đứa con trai chung. Nadine Gordimer bắt đầu viết lúc lên chín và truyện ngắn đầu tiên được đăng trên một tạp chí của Nam Phi khi bà mười lăm tuổi. Tập truyện đầu tiên Face to face (Mặt đối mặt) xuất bản năm 1949. Một năm sau đó tập truyện The soft voice of the serpent (Lời dịu dàng của rắn) ra mắt và bà bắt đầu nổi tiếng. Tiểu thuyết đầu tiên The lying days (Những ngày gian dối, 1953) kể về cô gái Helen đã trải qua những biến cố chính trị, xã hội phức tạp ở Nam Phi giống như chính tác giả. Các tiểu thuyết Occasion for loving (Cơ hội tình yêu, 1963), The late bourgeois world (Thế giới tư bản đã mất, 1966) trong một thời gian dài bị cấm xuất bản ở Nam Phi. Năm 1974 tác phẩm The conservationist (Người bảo thủ) được trao giải Booker. Bà nổi tiếng thế giới với tiểu thuyết July's people (Những người tháng bảy, 1981) kể về gia đình một kiến trúc sư bỏ thành phố Johannesburg chạy về làng quê. Trong tiểu thuyết này, bà phân tích mối quan hệ của những người nông dân với một gia đình người da trắng, chỉ ra sự thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa những tầng lớp xã hội khác nhau. Những năm 1940-1950, khi ở Nam Phi thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, đề cao chủ nghĩa Apartheid, cấm hôn nhân giữa người da trắng và da đen, Nadine Gordimer đã dùng ngòi bút của mình để phản kháng. Là một người da trắng sống tại Nam Phi, một nhà hoạt động xã hội xuất chúng, các tác phẩm của bà có ảnh hưởng rất lớn trong dư luận xã hội ở Nam Phi, đặc biệt là tập tiểu luận Living in hope and history: Notes from our century (Sống trong hi vọng và trong lịch sử: Những ghi chép về thế kỉ chúng ta) được xuất bản năm 1999. Gordimer còn đề xuất một dự án từ thiện: tổ chức một tuyển tập của các tác giả truyện ngắn xuất sắc nhất thế giới (trong đó có 5 nhà văn đoạt giải Nobel), xuất bản và bán lấy tiền ủng hộ các nạn nhân bị nhiễm HIV trên khắp thế giới. Nadine Gordimer luôn mong muốn được sống cuộc sống bình thường, thoát khỏi sự chú ý của công chúng, nhưng sự nổi tiếng của bà cùng nhiều giải thưởng, các bằng tiến sĩ danh dự ở nước ngoài (bà đã từ chối một bằng tiến sĩ danh dự ở Nam Phi), việc bà giữ nhiều vị trí (bà là phó chủ tịch Hội Văn bút Quốc tế) và việc bà liên tục viết, phát biểu tự do trong một đất nước cảnh sát nơi mà sự kiểm duyệt, sự khủng bố các tác phẩm và người dân vẫn còn tồn tại đã khiến bà trở thành "nhà văn Nam Phi kì cựu nhất". Gordimer đã nhiều lần được đề nghị tặng giải Nobel và năm 1991 bà trở thành nhà văn Nam Phi đầu tiên giành được vinh dự này. Sách của Nadine Gordimer được dịch ra gần 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. Tác phẩm: Face to face (Mặt đối mặt, 1949), tập truyện. The soft voice of the serpent (Lời dịu dàng của rắn, 1952), tập truyện. The lying days (Những ngày gian dối, 1953), tiểu thuyết. Six feet of the country (Sáu thước đất, 1956), tập truyện. A world of strangers (Thế giới những kẻ lạ mặt, 1958), tiểu thuyết. Friday's footprint (Dấu chân ngày thứ sáu, 1960), tập truyện. Occasion for loving (Cơ hội tình yêu, 1963), tiểu thuyết. Not for publication (Không phải để công bố, 1965), tập truyện. The late bourgeois world (Thế giới tư sản đã mất, 1966), tiểu thuyết. A guest of honour (Khách danh dự, 1970), tiểu thuyết. Livingstone's companions (Những người bạn của Livingstone, 1971) tập truyện. The conservationist (Người bảo thủ, 1974), tiểu thuyết. Selected stones (Những viên đá chọn lựa, 1975), tập truyện. Some monday for sure (Ngày thứ hai nào đó, 1976), tập truyện. Burger's daughter (Con gái của Burger, 1979), tiểu thuyết. A soldier's embrace (Vòng tay người lính, 1980), tập truyện. July's people (Những người tháng bảy, 1981), tiểu thuyết. Something out there (Điều gì ở ngoài nơi đó, 1984), tập truyện. A sport of nature (Môn thể thao tự nhiên, 1987), tiểu thuyết. My son's story (Thần tượng, 1990), tiểu thuyết. Jump and other stories (Cú nhảy và các truyện khác, 1991), tập truyện. Crimes of conscience (Tội phạm lương tâm, 1991), tập truyện. Why haven't you written (Tại sao anh chưa viết, 1992), tập truyện. None to accompany me (Không ai cùng tôi, 1994), tiểu thuyết. The house gun (Súng trong nhà, 1998), tiểu thuyết. Living in hope and history: Notes from our century (Sống trong hi vọng và trong lịch sử: Những ghi chép về thế kỉ chúng ta, 1999), tiểu luận. The pick up (Lượm nhặt, 2001), tiểu thuyết. Loot and other stories (Chiến lợi phẩm và các truyện khác, 2003), tập truyện. *** Will, hãy thắt cà vạt vào. Cầu chúa phù hộ châu Phì. Tôi yêu Kausre Chiefs. Tôi nhìn vào phía sau đầu của ông trong chuyến trở về bằng xe hơi và thấy như cõi lòng tôi khép lại. Tôi không nghĩ đến gì hết. Tôi không nghĩ đến bà. Tôi chỉ ý thức những gì ở bên ngoài. Những hình dáng trên những xe chở khách "combi" mà luật sự cao bồi chạy đuổi theo và qua mặt. Nhạc của Sting và The Genuises đang phát ra từ băng nhạc. Lớp len dầy ở nệm bọc da cừu dưới bàn tay của tôi. Đủ mọi thứ xung quanh một chỗ trống rỗng, muốn lúc nào có lúc đó. Khi tôi thấy người đàn ông ôm đầu hai khuỷu tay trong khi bị một cảnh sát viên đánh, và ruột gan tôi lộn tùng phèo – lo sợ cho mẹ tôi! cho bản thân tôi, lo sợ cuộc sống - cha tôi đã áp bàn tay ông lên vai tôi. Ông đã biết. Một bàn tay đặt lên vai tôi. Ðể đòi hỏi ở tôi một điều gì hòa nhập với ông. Và sau khi bà đến gần tôi, để dành tôi là người sau chót như trước kia bà thường làm vậy - một bí mật giữa chúng tôi – khi vào hôn Baby và tôi trước khi đi ngủ. Tôi đã thấy bà để ý, phải đã ghi nhận: trọng lượng của tôi, da hai bên cằm nhão ra và dây nịt tụt xuống ở bụng. Trong gia đình tôi ai cũng gầy xẹp đi. Chẳng phải bà muốn tôi như vậy. Nhưng mặt khác, Baby đã làm cho bà trở nên như chị tôi muốn. Tôi không biết nói gì với bà. Tôi biết mọi thứ ông đã chuẩn bị để nhìn thấy là sai. Tệ hơn thế nữa, bà không cần thế. Tôi đã có thể bảo ông như vậy. Tôi đã có thể bảo ông nhiều điều ông không để ý, luôn luôn bận tâm vì những chuyện đâu đâu nên không để ý, những điều ấy bây giờ tôi hiểu. Những cuộc đi thăm “bạn đồng nghiệp” ông đã bằng lòng chấp nhận, vì đỡ cho ông khỏi phải chịu trách nhiệm về sự lơ là của ông, các chuyến đi thường có của bà qua biên giới - ồ, ông đã ý thức các chuyến đi ấy không phải hoàn toàn để thăm cháu ngoại, nhưng ông đã sai lầm khi cho rằng bà đã bị Baby và chồng nó lợi dụng (điển hình! dĩ nhiên chỉ người đàn bà tóc vàng của ông có sự thông minh và lòng gan dạ để làm chiến hữu của ông). Ắt hẳn ông đã thấy bà không “vô tội”, một tính từ có nghĩa là từ chối chịu trách nhiệm với nhân dân, như tôi đã nghe ông dùng trong các bài diễn văn. ... Mời các bạn đón đọc Thần Tượng của tác giả Nadine Gordimer.