Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Một Chín Tám Tư

Một chín tám tư là tên một tiểu thuyết dystopia (phản địa đàng) phát hành năm 1949 của nhà văn người Anh George Orwell. Kể từ khi ra đời vào năm 1949, Một chín tám tư đã được xem là tác phẩm kinh điển về tư tưởng chính trị và khoa học giả tưởng. Nhiều từ vựng, khái niệm có trong tiểu thuyết như Big Brother, doublethink, thoughtcrime, Newspeak, Room 101, telescreen, 2+2=5 và memory hole đã đi vào đời sống (những người nói tiếng Anh). Tiểu thuyết cũng là nơi phổ biến tính từ Orwellian nhằm chỉ sự phủ nhận lịch sử, tung tin giả, theo dõi ngầm và tuyên truyền của nhà nước toàn trị. Năm 2005, tạp chí TIME đã đưa Một chín tám tư vào danh sách 100 tiểu thuyết tiếng Anh xuất sắc nhất từ 1923 đến 2005. Trong danh sách "100 tiểu thuyết xuất sắc nhất của Modern Library", Một chín tám tư đứng thứ 13 do ban biên tập bình chọn và thứ 6 do người đọc bình chọn. Năm 2003, tiểu thuyết đứng vị trí thứ 8 trong "The Big Read", theo một cuộc điều tra của BBC. *** Anh Cả và tiểu thuyết ‘1984’ Hôm qua, tôi xem cuốn phim “First, they killed my father” do Angelina Jolie đạo diễn. Cuốn phim, sản xuất năm 2017, mô tả thảm cảnh của một gia đình trung lưu ở Pnom Penh sau 1975 khi Khmer Đỏ chiếm Cambodia. Trong phim, có một chữ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần là ‘Angkar‘, có nghĩa là Tổ Chức, nhưng có người dịch là ‘Anh Cả’. Khái niệm ‘Anh Cả’ làm tôi nhớ đến cuốn tiểu thuyết “1984” của văn hào George Orwell. Đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là ở miền Nam, sẽ thấy cuốn phim “First, they killed my father” rất cuốn hút, vì nhiều người có thể tìm thấy mình qua những hình ảnh và nhân vật trong phim. Cuộc sống yên ấm của một gia đình trở thành đảo lộn sau khi Khmer Đỏ tiến vào ‘giải phóng’. Những gì xảy ra sau đó như tịch thu tài sản, tù cải tạo tập trung, tra tấn, giết chóc, v.v. làm cho người ta nhớ lại một thời kinh hoàng. Có những chi tiết nhỏ những đầy ý nghĩa như một cán bộ Khmer Đỏ đòi tước lấy cái đồng hồ của một người dân, vì Anh Cả cần cái đồng hồ đó, hay như chi tiết về một cựu viên chức giả vờ không biết tiếng Pháp để đóng vai người nông dân nhằm thoát bàn tay tử thần của đám cán bộ đang lăm le giết người. Thế nhưng cuối cùng thì anh ta cũng bị giết trong lúc cải tạo. Xuyên suốt cuốn phim, nhân vật vô hình “Anh Cả” được nhắc đi nhắc lại. Anh Cả biết hết. Anh Cả theo dõi mọi người. Anh Cả vĩ đại. Anh Cả bao dung và độ lượng. Nhưng trong thực tế, Anh Cả là kẻ giết người vô hình. Vô hình là vì không ai biết Anh Cả là ai. Đó chính là viễn ảnh của một xã hội được mô tả trong tiểu thuyết 1984. 1984 là một trong hai cuốn tiểu thuyết (cuốn kia là ‘Animal Farm’) nổi tiếng nhứt của văn hào George Orwell được xuất bản vào năm 1949. Trong 1984, Orwell cảnh báo thế giới về một viễn ảnh chế độ toàn trị sẽ gieo rắc lên xã hội, như hạn chế quyền tự do con người, kiểm soát hành vi, thậm chí suy nghĩ của dân chúng. Cảnh báo của Orwell thật ra đã thành hiện thực không chỉ ở các nước theo chế độ toàn trị, mà còn ngay tại những nước từng có thời tự xem là ‘Tự do & Dân chủ’ ngày nay. Khái niệm ‘Anh Cả’ / Big Brother / Angkar bàng bạc trong xã hội ngày nay. Nó không chỉ là những khẩu hiệu, biểu ngữ giăng trên đường phố, mà còn là những ‘Ứng dụng’ trong cái điện thoại động và máy tính cá nhân theo dõi từng bước đi, đếm từng hơi thở, và lắng nghe từng lời nói của chúng ta. Anh Cả ngày nay hiện diện mọi nơi. Tóm tắt ‘1984’ Câu chuyện xảy ra trong nước Oceania vào năm 1984 (nên nhớ ông viết trước đó và chỉ xuất bản vào năm 1949). Oceania là một nước theo thể chế toàn trị (totalitarian). Ngoài Oceania, còn có 2 nhà nước toàn trị khác là Eurasia và Eastasia. Oceania bị thống trị bởi một đảng gọi là Party. Party được sự lãnh đạo của một lãnh tụ ‘anh minh’ có danh xưng là Big Brother (Anh Cả). Anh Cả biến Party thành một tổ chức chuyên tẩy não dân chúng, đổi trắng thành đen, đổi đen thành trắng, làm cho người dân lẫn lộn không biết đâu là thực và đâu là giả. Mục tiêu của Party là làm cho người dân phải vâng lời lãnh tụ Big Brother một cách vô điều kiện. Nhà nước Oceania bao gồm một số bộ có tên rất … khác. Bộ Sự Thật (Ministry of Truth), Bộ Hoà Bình (Ministry of Peace), Bộ Tình Thương (Ministry of Love) và Bộ Dồi Dào (Ministry of Plenty). Những cái tên bộ hoàn toàn đi ngược lại ý nghĩa của nó. Chẳng hạn như Bộ Sự Thật chuyên trách tuyên truyền dối trá. Theo Bộ Sự Thật, 2 + 2 không phải là 4, mà là 5. Bộ Sự Thật kiểm soát tất cả báo chí, giải trí, và nghệ thuật. Trong nhà nước toàn trị, không có báo chí đối lập; tất cả phải phục vụ cho Party. Bộ Hòa Bình chuyên trách chiến tranh, lúc nào cũng sẵn sàng gây chiến với nhà nước Eurasia và Eastasia. Bộ Tình Thương là bộ đáng sợ nhứt vì nó có chức năng như là Bộ Công An, chuyên trách đàn áp và tra tấn người dân. Bộ Dồi Dào có chức năng kiểm soát nền kinh tế tập trung, kiêm luôn phân phối thực phẩm và hàng hoá cho dân. Cuốn tiểu thuyết xoay quanh 4 nhân vật: Winston Smith là một cán bộ cấp thấp, Julia là người yêu của Smith, O’Brien là giả lãnh tụ đảng đối lập, và Emmanuel Goldstein là Anh Cả. Ngoài ra, còn có nhân vật Charrington là chủ tiệm bán đồ cổ, và ông này là một người chỉ điểm, thành viên của Cảnh sát Tư tưởng. Winston Smith là một cán bộ trong Bộ Sự Thật. Công việc của Winston là thay đổi các sự thật lịch sử sao cho phù hợp với đường lối và chánh sách của Party / Đảng. Dù làm công việc đó, nhưng Winston không thấy thoải mái vì sự gian dối của Đảng. Chẳng hạn như Đảng nói nước Oceania luôn là đồng minh của Eastasia trong cuộc chiến chống Eurasia, nhưng sự thật thì không phải vậy. Hay như Đảng cho rằng Emmanuel Goldstein (lãnh tụ của nhóm Brotherhood) là người nguy hiểm nhứt, là Kẻ Thù Của Nhân Dân, nhưng Winston thấy không phải vậy. Winston trú ngụ ở tầng 7 trong một toà nhà tồi tàn, hôi mùi cải bắp luộc, còn thang máy thì thường bị hư hỏng. Trớ trêu thay, toà nhà này được Đảng đặt tên là “Victory Mansion” (Biệt thự Thắng Lợi). Thật ra, cái tên ‘Thắng Lợi’ được dùng cho rất nhiều sản phẩm (như thuốc lá, rượu, bia, cà phê, v.v.) của nước Oceania. Orwell mô tả Smith như là một công chức nghèo, uể oải với công việc và cuộc sống. Chiều về căn hộ, anh ta được ‘chào đón’ bằng những bài ca hay chương trình giải trí mang tính ‘cách mạng’ và tẻ nhạt. Còn cái màn hình thì hình như lúc nào cũng theo dõi mỗi bước đi và hành vi của anh. Còn ra ngoài nhà thì bất cứ anh đi đến nơi nào, Party đều theo dõi anh. Đi đường anh cũng thấy sự hiện diện của Party và lãnh tụ vĩ đại qua băng rôn và khẩu hiệu. Anh phải tỏ ra là một cán bộ trung thành với Party, về nếu không thì anh ta sẽ bị trừng phạt, thậm chí giết chết. Cảnh sát Tư tưởng lúc nào cũng có mặt để bảo đảm anh ta phải trung thành, mẫn cán với Party / Đảng. Winston càng ngày càng thấy bất bình trước sự trấn áp và kiểm soát của Đảng. Đảng cấm không được suy nghĩ tự do, không có tình dục, và không có bất cứ diễn đạt mang tánh cá nhân. Do đó, anh ta bắt đầu không ưa đảng và viết nhựt kí. Nói cách khác, anh ta đang trở thành một Tội phạm Tư tưởng. Winston thương thầm nhớ trộm một cô gái đồng nghiệp tên là Julia. Nhưng Winston sợ Julia là ‘gián điệp’ được cài cắm để theo dõi những kẻ Tội phạm Tư tưởng như anh ta. Một ngày kia, Winston nhận được thư của Julia với dòng chữ ‘I love you’ (em yêu anh), và thế là họ bí mật bắt đầu một mối quan hệ tình cảm. Càng yêu Julia chừng nào, Winston càng ghét Đảng chừng nấy. Một hôm, Julia và Winston nhận được lời mời ghé thăm O’Brien, lãnh tụ của Đảng. Tuy Đảng mang danh là của giai cấp lao động, nhưng O’Brien sống trong xa hoa.  O’Brien cho biết rằng cũng như Winstin và Julia, ông rất ghét Đảng. Ông đang tham gia nhóm Brotherhood (Hội Ái Hữu) nhằm lật đổ Đảng. O’Brien mời Julia và Winston tham gia Hội Ái Hữu và được tặng cuốn sách của Emmanuel Goldstein về tuyên ngôn của Hội. Winston say sưa đọc cuốn sách cho Julia nghe trong một tiệm. Đột nhiên, lính xông vào tịct thu cuốn sách, và người báo lính bắt là chủ nhân của tiệm tên Charrington, ông này là thành viên của Cảnh sát Tư tưởng. Winston được chở tối Bộ Tình Thương, và ở đó Winston lại gặp O’Brien. Lúc bấy giờ, Winston mới biết rằng O’Brien là một gián điệp của Đảng. O’Brien chỉ giả vờ là người của Hội Ái Hữu để gài bẫy Winston. Tại Bộ Tình Thương, đích thân O’Brien tra tấn và tẩy não Winston. Winston kháng cự, và thế là bị gởi đi giam cầm trong Phòng 101, nơi kinh khủng nhứt của Bộ Tình Thương dành cho những tù nhân sừng sỏ nhứt. Cách O’Brien tra tần ở Phòng 101 là buộc một lồng đầy chuột trên đầu của Winston, và để cho chuột gặm nhấm mặt của Winston. Cuối cùng thì Winston bị suy sụp và van xin O’Brien tha thứ cho mình, và hãy dùng hình thức tra tấn này cho Julia. Winston được thả trong điều kiện sức khoẻ tinh thần bị suy sụp hoàn toàn. Ở ngoài tù, Winston gặp Julia nhưng không còn cảm tình gì với nàng. Ngược lại, Julia cũng bị suy sụp tinh thần và không còn yêu Winston nữa. Winston chấp nhận Đảng và học cách yêu thương lãnh tụ Anh Cả. Phân tích ‘1984’ Nội dung câu chuyện tôi tóm tắt có lẽ không làm cho các bạn quan tâm, vì xem quá có vẻ quá … tầm thường. Có lẽ thế, nhưng ý nghĩa đằng sau nó thì không tầm thường chút nào, vì qua câu chuyện, văn hào đã phác hoạ một xã hội toàn trị có hình thù ra sao và vận hành như thế nào. Tác phẩm còn hàm chứa một thông điệp rất quan trọng mà George Orwell muốn gởi đến độc giả, đó là các chế độ toàn trị có khả năng gieo rắc nỗi kinh hoàng đến người dân. Đó cũng là một cảnh báo mà văn hào đưa ra từ những 80 năm trước. Luận đề căn bản của 1984 là thế giới sẽ được chia thành 3 siêu nhà nước toàn trị: Oceania, tượng trưng cho chế độ Stalin; Eurasia tượng trưng cho chế độ Phát-xít; và Eastasia tượng trưng cho xã hội theo tư bản chủ nghĩa. Tuy Oceania tượng trưng cho xã hội Stalin, nhưng câu chuyện lại không lấy Moscow làm bối cảnh mà là London. Tuy nhiên, ngày nay thì chúng ta có thể thấy cái nhà nước Oceania hiện diện ở bất cứ nơi nào trên thế giới, dưới hình thức này hay hình thức khác. Nước Oceania có ba thành phần: một nhóm nhỏ gọi là Nội Đảng (Inner Party), Ngoại Đảng (Outer Party) và nhóm lớn nhứt là Proles không nằm trong Đảng.  Nội Đảng bao gồm một nhóm nhỏ chóp bu của Đảng, có quyền điều hành và ra chánh sách. Ngoại Đảng là nhóm lớn hơn, bao gồm những cán bộ như Winston Smith, những kẻ bị tẩy não nặng nề và chỉ biết phục vụ cho Nội Đảng một cách vô điều kiện. Proles hay thường dân là nhóm lớn nhứt, ngoài Đảng, chẳng có quyền lực gì cả, và gần như vô nghĩa. Nhóm Probes này được quản lí bởi một lực lượng gọi là Cảnh sát Tư tưởng (Thought Police). Nhóm Proles chẳng có vai trò gì, và thường được Cảnh sát Tư tưởng cho chơi thể thao và những màn giải trí vớ vẩn khác để không chất vấn những gì Nội Đảng và Ngoại Đảng làm. Mục tiêu tối hậu của Nhà nước Oceania là kiểm soát toàn bộ xã hội và kiểm soát suy nghĩ của người dân. Để thực hiện mục tiêu này, Oceania dựa vào 2 trụ cột chánh: dối trá & tẩy não, và đàn áp. Dối trá & tẩy não được thực hiện bởi Bộ Sự Thật. Đàn áp thì do Bộ Tình Thương phụ trách. Bộ Sự Thật sáng chế ra một ngôn ngữ gọi là Newspeak. Trong thực tế, Newspeak là loại ngôn ngữ mới nhằm hạn chế tự do tư tưởng và xiển dương đường lối chủ trương của Đảng. Ngôn ngữ Newspeak thay thế tiếng Anh truyền thống. Newspeak không có những chữ mang tính phản kháng. Ngay cả suy nghĩ phản kháng cũng là bất hợp pháp, và suy nghĩ phản kháng trong tâm tưởng là một ‘tội phạm tư tưởng’ (thought crime). Tội phạm tư tưởng là loại tội phạm nặng nhứt trong nhà nước Oceania. Trong Newspeak có một chương trình một cách nói gọi là ‘Doublethinking‘ (Suy Nghĩ Kép). Khẩu hiệu của Doublethinking và cũng là chủ trương của Oceania là: Chiến tranh là hoà bình (War is Peace) Tự do là nô lệ (Freedom is slavery) Dốt nát là sức mạnh (Ignorance is strength) “Chiến tranh là hoà bình” có nghĩa là đặt quốc gia trong tình trạng chiến tranh thì người ta sẽ quên đi những bất công xã hội và thối nát của chế độ để chuẩn bị chiến tranh, và qua đó mà duy trì hoà bình trong nước. Điều này giải thích tại sao các nước toàn trị lúc nào cũng doạ công chúng rằng có một kẻ thù đang đe doạ đến sự tồn vong của chế độ (dù chẳng có đe doạ nào cả) để biện minh cho sự đàn áp của họ và làm cho dân chúng lúc nào cũng bị động, không có thì giờ suy nghĩ sâu xa. “Tự do là nô lệ” có nghĩa là tự do tuyệt đối sẽ dẫn đến một cuộc sống mà người ta chỉ theo đuổi những thú vui vật chất và nhục dục. Họ không thể nào suy nghĩ đến những vấn đề lớn hơn. Do đó, họ rất dễ trở thành nô lệ cho chế độ. “Dốt nát là sức mạnh” có thể hiểu rằng dốt nát là niềm vui. Khi người ta chạy theo niềm vui để thoả mãn nhu cầu cá nhân, người ta sẽ không quan tâm đến sự thật nữa. Sự dốt nát của họ là sức mạnh của nhà nước. Doublethinking là một ‘vũ khí’ lợi hại của Đảng (Bộ Sự Thật). Với Doublethinking, người ta có thể tin vào 2 điều hoàn toàn đối nghịch nhau. Đó chính là lí do tại sao các chế độ toàn trị rất thích nói về tự do, dân chủ, hoà bình. Chế độ Oceania lúc nào cũng nói rằng tự do là quí báu, nhưng chính chế độ đó lại tước đoạt quyền tự do tư tưởng của người dân. Dân chủ là một khẩu hiệu rất phổ biến trong nước Oceania nhưng trong thực tế người dân không có quyền bầu cử. Còn hoà bình thì chỉ là khẩu hiệu, vì trong thực tế Oceania lúc nào cũng chuẩn bị chiến tranh chống các nhà nước khác. Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy nhan nhản những thủ thuật của Bộ Sự Thật trong tuyên truyền và tẩy não người dân. Vì nhà nước Oceania kiểm soát toàn bộ báo chí và hệ thống truyền thông, nên nó có thể nói bất cứ điều gì mà không quan tâm đến phản kháng. Nó nói 2 + 2 = 5 mà không ai dám nói khác. Nó đổi đen thành trắng, và trắng thành đen cũng chẳng ai nói khác được. Dần dần, theo thời gian những ‘tiêu chuẩn’ mới này thành chân lí và người dân phải chấp nhận. Để kiểm soát tư tưởng và tẩy não dân, Đảng duy trì một hệ thống kiểm soát tư tưởng có tên là Thought Police (Cảnh sát Tư tưởng). Cảnh sát Tư tưởng có thể theo dõi công dân mỗi phút và biết họ suy nghĩ gì! Bất cứ ai trong nhà nước Oceania suy nghĩ khác với Đảng là bị bắt bỏ tù và tra tấn. Nhà nước Oceania thích dùng những cách nói thậm xưng. Họ nói về những chiến thắng vang vội, và bất kẻ thù nào cũng bị đánh bại. Tiểu thuyết bắt đầu bằng nhà nước Oceania gây chiến với Eurasia và làm hoà với Eastasia. Nhưng sau đó thì Oceania đột nhiên làm hoà với Eurasia và gây hấn Eastasia. Cứ mỗi lần như thế, Oceania tuyên bố là chiến thắng. Họ khắc cái ‘chiến thắng’ đó bằng cách đặt tên cho các sản phẩm là ‘Thắng lợi’ / Victory. Người dân tưởng đó là thật và cũng tự hào và ảo tưởng về sức mạnh của Nhà nước Oceania. Nhà nước Oceania tuy bề mặt thì tỏ ra là một chánh quyền mạnh và vững chãi, nhưng trong thâm tâm họ rất yếu. Họ rất sợ dân. Họ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù và ai cũng đáng nghi ngờ. Đó chính là lí do họ có đội quân Cảnh sát Tư tưởng. Một trong những cụm từ họ hay dùng là ‘Kẻ Thù Của Nhân Dân‘. Trong ‘1984’, Orwell mô tả các thành viên của Ngoại Đảng cứ mỗi lần họp họ dành ra 2 phút để làm Nghi lễ Thù Ghét chống lại Emmanuel Goldstein, người được xem là ‘Kẻ thù của Nhân dân‘. Tuy nhiên, cái nhãn đó chỉ được dựng lên làm biểu tượng nhằm đánh lạc hướng người dân từ một kẻ thù lớn hơn là Anh Cả! Cái mô hình Oceania dĩ nhiên là có mặt trong thế giới XHCN cũ. Ở Đức, sau khi thống nhất đất nước, người ta mới biết cơ quan mật vụ khét tiếng Stasi đã theo dõi người dân như thế nào. Họ dùng những người thân như cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, đồng nghiệp làm điềm chỉ viên cho họ. Các điềm chỉ viên báo cáo rất chi tiết về người họ theo dõi, như gặp ai, nói chuyện về gì, suy nghĩ ra sao, thậm chí … ngủ với ai! Ngày nay, cái ngôn ngữ Newspeak cũng hay thấy ở những nước chuyển sang XHCN. Ở Tàu, sau cuộc ‘cách mạng’, chế độ mới thay đổi các cách nói và ngữ vựng cũ bằng những cách nói xa lạ và những từ ngữ khó hiểu. Họ cố tình tẩy não sao cho dân chúng phải đoạn tuyệt với ngôn ngữ của cha ông để lại và làm quen với một thứ ngôn ngữ mới. Ngôn ngữ Newspeak cũng có những chữ như tự do, dân chủ, hoà bình, v.v. nhưng ý nghĩa thật thì hoàn toàn ngược lại, y như Doublethinking. Trong cái nhìn của Orwell, không phải chỉ xã hội chủ nghĩa sẽ thất bại, nhưng một xã hội hiện đại (như ngày nay) và xã hội dân chủ đại chúng cũng sẽ thất bại. Trong xã hội ngày nay, những kẻ cai trị đã có trong tay những kĩ thuật và công nghệ để duy trì quyền lực và kiểm soát dân chúng. Trong xã hội Oceania, người dân tin vào những gì kẻ cai trị (Anh Cả) vì họ không thể nào nói lên những bất đồng chánh kiến, hoặc họ bị tẩy não và không nghĩ ra được một cách diễn giải khác. Có lẽ ý tưởng chánh của Orwell trong 1984 là những kẻ cai trị có khả năng ngăn chận những suy nghĩ độc lập của người dân. Lời cảnh báo đó vẫn còn tính thời sự. Dù đã gần 80 năm xuất bản, những khái niệm như Newspeak, Doublethink, Anh Cả, Tội phạm Tư tưởng, Cảnh sát Tư tưởng, v.v. vẫn còn liên quan. Ngay cả người dân ở Mĩ, Úc, Anh trong thời dịch bệnh có lẽ đều tìm thấy nhiều sự trùng hợp lạ lùng với những gì mô tả trong 1984. Chính vì thế mà mà ‘1984’ được xem là một kiệt tác, vì mức độ ảnh hưởng của nó xuyên thời gian. ___ [1] George Orwell tên thật là Eric Arthur Blair sanh năm 1903 và qua đời năm 1950, tức chỉ thọ 46 tuổi. Ông chết vì bệnh lao phổi. Ông xuất thân là một nhà báo và nhà phê bình, nhưng lại biết đến như là một nhà văn. Ông mô tả gia đình ông thuộc giai cấp trung lưu, thân phụ là công chức làm việc ở Ấn Độ (nơi ông sanh ra) và thân mẫu xuất thân từ một gia đình doanh nhân gốc Pháp. Sau một thời gian sống ở Ấn Độ, ông theo thân mẫu về Anh, nơi ông được gởi đi học tại những trường danh tiếng như Sussex và Eton. Ngay từ thuở đó cậu bé George đã biểu hiện một tư chất thông minh nhưng thụ động. Aldous Huxley là một trong những người thầy của Orwell. Tuy nhiên, ông không thích môi trường học đường. Sau trường học, ông làm cảnh sát một thời gian, nhưng ông cũng không thích nghề cảnh sát. Thật ra, ông lúc nào cũng cảm thấy xấu hổ vì đã làm cảnh sát. Sau khi bỏ nghề cảnh sát, ông lang thang ở London và Paris và sống trong một khu tồi tàn, chung nhà với những người ăn xin. Ở Paris ông làm nghề rửa chén trong nhà hàng. Có lẽ chính vì thế mà ông rất ghét chủ nghĩa đế quốc. Ông tự xem mình là một người xã hội chủ nghĩa, thậm chí là người cộng sản. Nhưng trớ trêu thay, hai tác phẩm Animal Farm và 1984 của ông lại là những cảnh báo về một viễn cảnh chế độ Nazi và Stalin áp đặt lên xã hội loài người. Mời các bạn đón đọc Một Chín Tám Tư của tác giả George Orwell & Phạm Nguyên Trường (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Áo Khoác Lông Chồn
Ngay từ lần xuất bản đầu tiên vào năm 1935, Áo khoác lông chồn đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ. Nhà văn John O'Hara - tác giả của tiểu thuyết - đã lấy cảm hứng từ thông báo tìm thấy xác một cô gái trẻ đẹp trôi dạt vào bãi biển Long Island. Đây có thể chỉ là một tai nạn, một vụ giết người hay tự tử? Không ai biết được sự thật về cái chết ấy, nhưng John O'Hara đã chộp lấy tấn thảm kịch này và tưởng tượng ra cuộc đời đầy thăng trầm của một người con gái ở New York vào đầu những năm 1930. Nhà văn O'Hara đã khéo léo khắc họa chân dung cuộc sống của cô gái Gloria Wandrous trẻ đẹp từ giây phút cô tỉnh dậy trên một chiếc giường lạ đến khoảnh khắc cuộc đời của cô chấm dứt. Với sự chân thực đến xấc xược và sự thính nhạy độc đáo, Áo khoác lông chồn đã bóc trần những sự thật thường là xấu xa và được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bên ngoài của một xã hội quay cuồng vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái. Có thể nói đây là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. *** Một nước Mỹ năm 1935 được miêu tả: "Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh…" Tên sách: Áo khoác lông chồn Tác giả: John O’Hara Dịch giả: Đinh Thị Thanh Vân NXB Văn hóa Sài Gòn   Nhắc đến John O’Hara, người ta thường nghĩ ngay tới cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Appointment in Samarra” (Hẹn gặp ở Samarra) – tác phẩm đầu tay gắn với tên tuổi của tác gia nước Mỹ này chưa bao giờ rời khỏi danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại. Nếu như “Hẹn gặp ở Samarra” từng được đánh giá là đạt đến vẻ đẹp kinh điển của một tác phẩm hiện thực trong thế kỷ 20 thì có một tiểu thuyết khác của ông lại được ví như cuốn “biên niên sử của nước Mỹ”. Tác phẩm ấy là “BUtterfield 8” – được xuất bản ở Việt Nam dưới cái tên “Áo khoác lông chồn”. “Áo khoác lông chồn” ra mắt lần đầu năm 1935, thời điểm mà theo tác gia Fran Lebowitz là lúc nền văn hóa cũng như kinh tế của nước Mỹ đang hồi nhiễu loạn: “Năm 1935, nhiều sự việc không nói ra thì tốt hơn. Nhiều đam mê ngấm ngầm, nhiều quy tắc bất thành văn. Có nhiều người giàu không kể xiết và có những anh hùng không được tôn vinh… Năm 1935, chỉ số Dow Jones đóng cửa ở mức 144.13, không những cho thấy tác động của nạn Đại Suy thoái, mà còn truyền đạt một ý nghĩa đặc biệt, đây là một giai đoạn có không ít việc buôn bán ngoài luồng. Năm 1935, Luật cấm buôn bán rượu mới hết hiệu lực được hai năm, sau khi kéo dài mười ba năm liền. Trong nhiều thành công khác, nó còn có tác dụng dân chủ hóa hoàn toàn và rất quái đản tính chất vụng trộm của nền đạo đức, chi phối các cuộc ngoại tình của tầng lớp thượng lưu Mỹ…” Trong bối cảnh ấy, John O’Hara đã tái hiện lại một cuộc đời đầy những biến động của cô gái trẻ Gloria Wandrous. Mồ côi cha từ rất sớm, Gloria sống trong sự bao bọc của một người mẹ mẫu mực và người bác ruột hết lòng yêu thương, chiều chuộng cô. Nhưng rồi bi kịch thứ nhất xảy đến. Gloria bị lạm dụng tình dục bởi thiếu tá Boam – bạn quân ngũ của bác cô. Cô gái 12 tuổi rơi vào tình trạng rầu rĩ và suy nhược, nên buộc phải chuyển đến New York. Từ một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, có giáo dục, Gloria trở thành một kẻ say xỉn, “nhẵn mặt” hầu hết các quán rượu lậu ở New York. Ở tuổi 20, Gloria đã trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Bước ngoặt lớn thứ hai trong cuộc đời Gloria là gặp gỡ và quen biết Liggett – một người đàn ông đã có vợ và hai con.   Từ một mối quan hệ qua đường, cô gái trẻ đem lòng yêu người đàn ông đáng tuổi bố mình. Rồi trong một lần ở cùng nhau, bị chi phối bởi phút bốc đồng của những đam mê nhục dục, Liggett đã xé rách chiếc váy dạ hội của Gloria. Điều này tiếp tục đẩy cuộc đời Gloria vào một bi kịch mới: Bi kịch đánh cắp chiếc áo khoác lông chồn trị giá 6.000 đô la và được bảo hiểm với giá 3.000 đô la.   Chẳng phải ngẫu nhiên mà tác phẩm mang tên “Áo khoác lông chồn”. Thứ đồ xa xỉ ấy cũng giống như bộ mặt của giới thượng lưu Mỹ trong thời Đại Suy thoái. Nó là thứ vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ và hào nhoáng, nhưng phù phiếm và vô giá trị về mặt tinh thần. Nó là món quà người chồng tặng cho vợ mình để minh chứng tình yêu nhưng thực chất chính anh ta lại là kẻ ngoại tình đáng khinh nhất.   Nó – chiếc áo lông chồn ấy cũng vẫn là vật cuối cùng mà Liggett tìm đến sau khi chạy trốn như một kẻ tội phạm khỏi con tàu mà Gloria tội nghiệp đã bỏ mạng. Vẫn theo Fran Lebowitz thì John O’Hara đã: “hiểu rõ hơn bất cứ nhà văn Mỹ nào khác rằng, giai tầng có thể vừa bộc lộ vừa nhào nặn lên tính cách, sự hời hợt có thể trọn vẹn đến vô cùng, và quần áo có thể thực sự làm nên con người ra sao”.   John O’Hara viết “Áo khoác lông chồn” ở tuổi 29. Điều này giúp lý giải một cách thấm thía rằng giọng điệu từng trải, thông thái và lối văn chương chân thực mà tinh tế ấy không phải được tạo nên bởi một ngòi bút nhiều trải nghiệm mà bởi một tài năng đáng ngưỡng mộ, cộng với một tầm hiểu biết sâu sắc.   Cũng bởi thế mà tờNew York Times từng có lời khen tặng: "O’Hara chiếm giữ vị trí độc nhất trong nền văn học đương đại của Mỹ. Ông là nhà văn Mỹ duy nhất tái hiện xã hội Mỹ trong cái cách mà nó đã được thể hiện trong tác phẩm của Henry James về nước Mỹ, hay dưới ngòi bút của Proust về nước Pháp". “Áo khoác lông chồn” xứng đáng được coi là một tuyệt phẩm trên văn đàn nước Mỹ. Năm 1960, tác phẩm này đã được chuyển thể thành phim với sự tham gia của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu Elizabeth Taylor và Laurence Harvey. Bộ phim mang về cho huyền thoại Elizabeth Taylor giải Oscar Nữ diễn viên xuất sắc nhất. *** John O’Hara (1905-1970) viết “Áo khoác lông chồn” năm ông mới 29 tuổi. Tác phẩm trở thành kiệt tác và gần công chúng hơn khi được chuyển thể thành phim với sự tham gia diễn xuất của hai ngôi sao điện ảnh hàng đầu: Elizabeth Taylor và Laurence Harvey năm 1960. Áo khoác lông chồn được cho là “biên niên sử của nước Mỹ”. Ngòi bút sinh động và thực tế của John O’Hara đã bóc trần đời sống xã hội Mỹ những năm 30 với những suy thoái về kinh tế và sự chao đảo về đạo đức.   Nhân vật chính của câu chuyện là Gloria Wandrous. Cha cô là một nhà hoá học đã chết vì phóng xạ, Gloria sống cùng mẹ và bác ruột tên là Vandanm. Tuổi thơ của Gloria diễn ra trong tình yêu thương, sự hy vọng của mẹ và bác trai. Nhưng bất hạnh bắt đầu đổ ập xuống cuộc đời của Gloria từ khi thiếu tá Boam - một người bạn quân ngũ của bác cô - sau một lần đến nhà chơi đã giở trò lạm dụng tình dục đối với cô. Giống như nhiều nạn nhân của bi kịch bị lạm dụng tình dục khác, cô bé 12 tuổi Gloria có những biểu hiện khác thường: hay rầu rĩ, hơi suy nhược. Cuộc đời Gloria thực sự rẽ sang một hướng khác. Cô buộc phải chuyển đến môi trường mới để tiếp tục sống và học tập những mong quên đi bi kịch của mình. Nhưng cô đến New York đúng thời điểm nước Mỹ đang trên đà đại suy thoái về kinh tế và đạo đức, lối sống của xã hội Mỹ đang bị chao đảo nặng nề. Gloria chỉ là nạn nhân, nhiều cô gái trẻ khác cũng chỉ là nạn nhân. Sau một lần nạo thai vì vui vẻ với chàng sinh viên trường Yale, Gloria dần dần trở thành người đàn bà sành sỏi chốn tình trường. Cho đến khi gặp Ligget, gã đàn ông đã có vợ và hai cô con gái, thì cô lún sâu hơn vào bùn lầy không thể rút chân ra được. Để thoả mãn đam mê nhục dục, Ligget đã xé toang váy áo của cô. Chính hành động lúc say tình này mà Ligget đã vô tình đẩy cô đến bi kịch khác: Bi kịch của kẻ ăn cắp chiếc áo khoác lông chồn đắt tiền, chiếc áo có giá trị tới 10.000 USD và được đóng bảo hiểm tới 4.000 USD. Chiếc áo khoác lông chồn bị mất, cuộc hôn nhân của gia đình Ligget bị dồn đến bên bờ vực thẳm. Nhưng có điều Ligget thấy kỳ lạ, ông vừa thấy ghê sợ Gloria nhưng lại thấy đam mê cô khủng khiếp. Điều này ông chỉ nhận ra khi phải đứng ở lằn ranh của cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người đàn ông thứ hai của Gloria và luôn sát cánh bên cô là Eddie Brunner. Anh cũng nhiều lần muốn có được Gloria nhưng luôn bị ám ảnh rằng cô là mẫu đàn bà dễ dãi và từng chung đụng với nhiều người tình. Eddie Brunner được tác giả xây dựng như một người đàn ông tình nghĩa, một người bạn đích thực. Anh biết mọi bi kịch, sự đổ đốn của Gloria nhưng vẫn luôn âm thầm bảo vệ và xót thương cho cô. O’Hara đã tạo nên nhân vật của mình với sự chân thực đến táo bạo, sự thính nhạy độc đáo đã bóc trần thói xấu xa được che giấu, ẩn nấp dưới cái vẻ bề ngoài của một xã hội quay cuồng bởi Đại suy thoái. T.T. Review Mời các bạn mượn đọc sách Áo Khoác Lông Chồn của tác giả John O'Hara & Đinh Thị Thanh Vân (dịch).
Đứa Con Của Thời Tiết
Tình thơ, gặp gỡ và chia ly là những vòng sóng đồng tâm trong thế giới Shinkai Makoto. Từng có cô Yuki chia tay Takao ở Khu vườn ngôn từ để đến dạy văn cho Mitsuha ở Your Name. Nay lại có Mitsuha và Taki chia tay Your Name. để sang ĐỨA CON CỦA THỜI TIẾT, gặp gỡ các tâm sóng mới là Hina và Hodaka.   Đứa con của thời tiết phác ra thương yêu cô đọng giữa hoang mang của đô thị lớn và ngặt nghèo hơn, là giữa hoang mang của một thời đại biến đổi khí hậu bấp bênh.   Vì một sự cố tình cờ, Hina được tạo hóa ban cho năng lực đặc biệt: làm nắng. Năng lực ấy càng thêm nhiệm màu khi đặt vào bối cảnh Nhật Bản hứng mưa triền miên, mưa đến mức vòm trời âm u trở thành cơm bữa, nước dâng gặm dần các đảo, và Tokyo có nguy cơ biến thành đô thị kênh đào.   Nhưng đến đây, phong cách song hành nhất quán của Shinkai lại trỗi dậy. Trong lạc có bi, trong hạnh phúc sẵn chia ly, được ban phép màu ắt phải đánh đổi. Đứa con của thời tiết cũng không thể tùy ý tắt bật nắng mưa mà không phải trả giá gì. Theo sau một lần làm nắng, là chất chứa hàng chuỗi ăn mòn, hối hận, mạo hiểm, giải cứu, và đằng đẵng cách xa.   Cũng như Your Name, ĐỨA CON CỦA THỜI TIẾT tiếp tục đan cài giữa truyền thống và hiện đại, huyền thoại và thực tế, nguy cơ và mộng ước, thiên tai và con người… nhưng có điểm khác là, lần đầu tiên hạnh phúc cá nhân đã được nhấn mạnh, nhân vật đã bứt mình khỏi tâm thế bao la vì mọi người. *** SHINKAI MAKOTO Sinh năm 1973 ở Nagano. Là đạo diễn phim hoạt hình. Năm 2002, bộ phim ngắn Tiếng gọi từ vì sao xa do anh tự thực hiện đã thu hút rất nhiều sự chú ý. Sau đó các tác phẩm Bên kia mây trời, là nơi hẹn ước, 5 centimet trên giây, Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú, Khu vườn ngôn từ, Your Name. lần lượt ra đời và nhận được khá nhiều giải thưởng trong nước. Tiểu thuyết do anh chấp bút, dựa trên nội dung của những bộ phim anh đạo diễn như 5 centimet trên giây, Khu vườn ngôn từ, Your Name. cũng được đánh giá cao.   IPM xuất bản: • 5 centimet trên giây • Khu vườn ngôn từ • Your Name. • Tiếng gọi từ vì sao xa (Shinkai Makoto, Ooba Waku) • Bên kia mây trời, là nơi hẹn ước (Shinkai Makoto, Kanoh Arata) • Những đứa trẻ đuổi theo tinh tú (Shinkai Makoto, Akisaka Asahi) *** Chuyện cậu kể Tiếng còi ngân dài dưới màn mưa tháng Ba báo hiệu phà sắp rời bến. Rung động mạnh khi thân phà to lớn rẽ biển băng về phía trước lan từ mông lên khắp cơ thể. Vé của tôi là vé phòng hạng hai, nằm sát đáy phà. Chuyến hải trình tiến ra Tokyo kéo dài hơn mười tiếng đồng hồ, đến tối phà mới cập bến. Đây là lần thứ hai trong đời tôi đón chuyến phà này ra Tokyo. Tôi đứng dậy, bước tới cầu thang dẫn lên boong. “Hình như tên đó có tiền sự…” “Nghe đâu cậu ta vẫn bị cảnh sát theo dõi…” Sau vụ việc xảy ra tại Tokyo cách đây hai năm rưỡi, tôi bắt đầu nghe mấy lời đồn như thế ở trường. Bị nói này nói nọ cũng chẳng hề gì (thật ra tôi còn thấy đồn đại là tất nhiên), song tôi vẫn không hé răng với ai trên đảo về vụ việc xảy ra ở Tokyo hè năm đó. Tôi từng đề cập vài chi tiết, nhưng chưa bao giờ nhắc đến phần quan trọng nhất, kể cả với bố mẹ, bạn bè hay cảnh sát. Một mực giữ riêng câu chuyện của mùa hè ấy, tôi tìm đến Tokyo lần thứ hai. Giờ tôi đã 18 tuổi. Lần này đi là để sống tại thành phố ấy. Và để gặp lại người ấy. Cứ nghĩ đến đây là ngực tôi lại nóng ran, mặt như có lửa đốt. Tôi leo nhanh hơn để mau ra hứng gió biển. Đặt chân lên boong, tôi liền bị gió lạnh và mưa quất mạnh vào mặt. Như muốn thu hết chúng vào người, tôi hít thở thật sâu. Gió vẫn lạnh nhưng đã nức hơi xuân. Cuối cùng cũng tốt nghiệp cấp ba… Giờ này cảm giác đó mới rộn lên trong lòng tựa bản thông báo đến muộn. Chống khuỷu tay lên thanh vịn, tôi trông về phía hòn đảo đang dần lùi xa rồi ngước nhìn vùng trời cuồn cuộn gió. Vô vàn hạt mưa nhảy múa nơi xa hút tầm mắt. Vào khoảnh khắc ấy, tôi bỗng rùng mình, toàn thân nổi gai ốc. Lại nữa rồi. Tôi bất giác nhắm chặt mắt, bất động. Nước mưa táp vào mặt, tiếng mưa không ngừng dội vào màng nhĩ. Mưa vẫn rơi ở đó suốt hai năm rưỡi nay. Tựa nhịp đập con tim không thể lặng im dù có cố nín thở. Tựa đôi mắt không bao giờ chìm hẳn vào bóng tối dù gắng nhắm thật chặt. Tựa cõi lòng không cách nào bình yên dù nỗ lực trấn tĩnh. Tôi chậm rãi thở ra và mở mắt. Mưa. Mưa liên tục bị hút xuống mặt biển đen thẫm, nhấp nhô như hít thở. Chẳng khác nào trời và biển bắt tay nhau, nghịch ngợm xô đẩy mặt nước. Tôi bỗng thấy sợ. Từng đợt run rẩy dâng lên từ thẳm sâu cơ thể. Tôi ngỡ mình sắp bị xé rách, sắp rã thành từng mảnh. Bám chặt thanh vịn, tôi hít vào thật sâu qua mũi. Hình ảnh người ấy lại hiện về như mọi khi. Cô gái với đôi mắt to, biểu cảm sinh động, tông giọng biến hóa liên tục và mái tóc dài buộc thành hai chùm. Rồi tôi nghĩ, “Sẽ ổn thôi.” Cô ở đó. Cô đang sống ở Tokyo. Chừng nào còn có cô, tôi còn được gắn kết với thế giới. “… Vậy nên Hodaka à, đừng khóc.” Đêm ấy, trong khách sạn ở Ikebukuro nơi chúng tôi ẩn nấp, cô đã nói thế. Tiếng mưa giội xuống trần nhà nghe như tiếng trống vọng tới từ xa. Tóc cô thơm mùi dầu gội hai đứa dùng chung, giọng nói dịu dàng như thể sẵn sàng thứ tha tất cả, làn da ánh sắc trắng xanh giữa bóng tối. Tất cả quá đỗi sống động, đến độ tôi bỗng có cảm giác lúc này mình vẫn đang ở đó. Phải chăng chúng tôi quả thật vẫn ở khách sạn, và tôi chỉ tình cờ gặp hiện tượng kí ức ảo giác mà tưởng tượng cảnh bản thân ở tương lai đi phà? Phải chăng lễ tốt nghiệp hôm qua lẫn chuyến phà hôm nay đều là ảo giác, còn tôi thực sự vẫn nằm trên giường khách sạn? Rồi sớm mai thức dậy, mưa đã tạnh, cô vẫn ở bên tôi, diện mạo thế giới vẹn nguyên như trước giờ, và một ngày như mọi ngày lại bắt đầu? Còi hú vang. Không, không đúng. Tôi xác nhận xúc giác khi nắm lấy thanh vịn sắt, xác nhận mùi thủy triều, xác nhận hòn đảo dần khuất bóng nơi chân trời. Nhầm rồi, giờ không phải buổi tối. Chuyện đã lùi xa vào quá khứ. “Tôi” đang lắc lư trên phà này là tôi thực sự. Ngẫm kĩ đi. Nhớ lại từ đầu đi. Tôi vừa nhìn màn mưa chăm chăm vừa nghĩ. Trước khi gặp lại cô, phải hiểu hết những việc đã xảy đến với hai đứa. Không, dẫu không hiểu cũng phải suy nghĩ cho cặn kẽ. Chuyện gì đã xảy đến với chúng tôi? Chúng tôi đã lựa chọn gì? Còn tôi, sắp tới nên nói gì với cô? Căn nguyên của mọi việc… Phải, có lẽ là hôm đó. Ngày cô chứng kiến hiện tượng kia lần đầu tiên. Sự việc mà sau này cô kể tôi nghe chính là khởi đầu của tất cả. * Mẹ cô hôn mê suốt nhiều tháng nay. Trong phòng bệnh nhỏ chỉ có âm báo điện từ đều đặn phát ra từ màn hình theo dõi bệnh nhân, tiếng tút dài của máy thở và tiếng mưa dai dẳng đập vào cửa sổ. Cùng với đó là bầu không khí tách biệt đặc trưng của những phòng bệnh có bệnh nhân nằm lâu ngày. Ngồi trên ghế đẩu cạnh giường bệnh, cô nắm chặt bàn tay chỉ còn da bọc xương, dõi theo chiếc mặt nạ oxy đều đặn chuyển màu trắng mờ theo nhịp thở, đăm đăm ngắm hàng mi khép chặt của mẹ. Dầu bị nỗi bất an đè nặng, cô vẫn một lòng cầu nguyện. Cầu cho mẹ tỉnh lại. Cầu cho gió mạnh thổi tới như vị anh hùng xuất hiện giữa lúc nguy nan, quét sạch những thứ u ám và nặng nề, bất kể u uất, lo lắng hay mây đen, rồi gia đình ba người lại có thể tươi cười sánh bước dưới trời quang. Tóc cô chợt lay động. Tiếng nước tong tong nho nhỏ vẳng vào tai. Cô ngẩng đầu. Cửa sổ vốn khép chặt, vậy mà rèm vẫn khẽ đung đưa. Ánh mắt cô bị hút về phía khoảng trời ngoài khung cửa. Vầng dương đã chiếu rọi tự khi nào. Mưa chưa ngừng, nhưng một khe hở nhỏ đã xuất hiện giữa tầng mây. Những tia sáng mảnh lách qua khe hở, soi sáng một điểm trên mặt đất. Cô căng mắt nhìn. Vô số tòa nhà trải dài hút tầm mắt. Duy có sân thượng của một trong số đó bừng sáng tựa diễn viên đứng dưới ánh đèn sân khấu. Như thể nghe ai gọi, cô chạy ào khỏi phòng bệnh. Cô dừng bước trước một tòa nhà bỏ hoang. Các kiến trúc lân cận đều mới toanh, riêng tòa nhà phức hợp này mục nát, xám xịt như bị thời gian lãng quên. Hàng loạt biển hiệu gỉ sét phai màu, nào “Bi-a”, “Cửa hàng kim khí”, nào “Lươn”, “Mạt chược”… treo tứ phía. Cô ngẩng đầu, nhìn qua lớp ô nhựa trong suốt. Nắng quả thật đang rọi xuống sân thượng. Liếc sang hông tòa nhà, cô thấy bãi đỗ xe nhở cùng cầu thang thoát hiểm hoen gỉ cũ kĩ dẫn lên sân thượng. Hệt một vũng ánh sáng. Leo hết cầu thang, cô sững lại giây lát, mê mẩn ngắm cảnh sắc trước mắt. Sân thượng có lan can bao quanh, rộng chừng phân nửa hồ bơi dài 25 mét. Gạch lát nền vỡ gần hết, phủ một lớp cỏ dại xanh mướt. Ở góc sân có một cổng torii[1] nhỏ đứng im lìm như nằm trong lòng bụi cây. Nắng xuyên qua tầng mây, chiếu thẳng xuống cổng. Dưới chùm nắng, màu đỏ tươi ánh lên lấp lánh bên những hạt mưa. Đây là nơi duy nhất rạng rỡ giữa thế giới mưa phủ mờ này. Cô chậm rãi băng qua sân, tiến về phía cổng. Cứ mỗi bước giẫm trên lớp cỏ mùa hè đẫm mưa, âm thanh loạt soạt êm tai lại vang lên cùng cảm giác đàn hồi dễ chịu. Những tòa cao ốc trắng đục vươn mình thẳng tắp sau màn mưa. Không gian ríu rít tiếng chim non. Dường như đâu đây có tổ chim. Thoảng trong đó là âm thanh tuyến Yamanote xa xôi tựa hồ vẳng đến từ thế giới khác. Cô đặt ô xuống đất. Cái lạnh của cơn mưa ve vuốt đôi gò má mịn màng của cô. Sau cổng torii có một ngôi miếu nhỏ bằng đá, hoa tím li ti mọc kín xung quanh. Không biết ai đã đặt hai cỗ xe ngựa vong hồn[2] dùng cho lễ Obon[3] tại đó. Trông chúng như bị vùi vào vạt hoa. Một bằng cà tím, một bằng dưa chuột, đứng trên bốn que tre mảnh. Gần như vô thức, cô chắp tay, khẩn thiết cầu nguyện. Cầu cho mưa tạnh. Cô chậm rãi khép mi, vừa cầu nguyện vừa bước qua cổng. Cầu cho mẹ tỉnh lại và cùng cô bước đi dưới trời quang. Qua khỏi cổng torii, không khí lập tức thay đổi. Tiếng mưa ngừng bặt. Và rồi cô mở mắt… giữa bốn bề là trời xanh. Gió lớn thổi cô bay bồng bềnh trên tầng không cao vời vợi. Không, chính xác là cô đang rẽ gió rơi xuống. Tiếng gió hú trầm thăm thẳm chưa từng nghe trong đời cuộn xoáy xung quanh. Cứ mỗi nhịp thở ra, hơi thở lại đông trắng, lấp lánh bay lượn giữa vùng trời xanh thẳm. Vậy mà cô không hề sợ hãi, cảm giác kì lạ như thể đang mơ trong khi vẫn tỉnh táo. Dưới chân là những cột mây vũ tích trông như cây súp lơ khổng lồ trôi lơ lửng. Mỗi đám mây phải rộng đến mấy kilomet, tạo nên một khu rừng trên không tráng lệ. Cô chợt nhận thấy sắc mây đang biến đổi. Từng đốm xanh nối nhau xuất hiện trên đỉnh những đám mây, nơi bằng phẳng như đồng bằng và tiếp giáp với không khí. Cô mở to mắt theo dõi cảnh tượng ấy. Giống thảo nguyên quá. Những chấm màu xanh lục nhộn nhịp hiện ra rồi biến mất trên đỉnh mây, nơi mà người dưới đất chắc chắn không thể nhìn thấy. Để ý kĩ, cô còn thấy thứ gì đó bé xíu tựa sinh vật sống tập trung thành đàn khắp bốn bề. “… Cá?” Quần thể khoan thai uốn lượn thành hình xoáy ấy giống hệt đàn cá. Cô vừa rơi vừa nhìn không chớp mắt. Vô số cá đang bơi lội giữa bình nguyên trên mây. Đột nhiên, ngón tay cô chạm phải thứ gì đó. Cô kinh ngạc nhìn xuống tay. Quả nhiên là cá. Những chú cá nhỏ với cơ thể trong suốt bơi qua ngón tay và tóc cô như những cơn gió có trọng lượng. Có con vây dài ve vẩy, có con tròn như sứa, có con lại mảnh dẻ như cá sóc. Bầy cá trong suốt muôn hình muôn vẻ lấp lánh như lăng kính dưới nắng. Chẳng rõ tự khi nào, cô đã bị vây giữa đàn cá trời. Trời xanh, mây trắng, màu xanh lục lao xao, đàn cá ánh sắc cầu vồng. Cô đang hiện diện giữa thế giới trên không đẹp đẽ và kì lạ, chưa từng nghe qua mà cũng chưa từng tưởng đến. Cuối cùng, mây đen vần vũ dưới chân cô dần biến mất như thể tan chảy. Phố phường Tokyo mênh mông hiện ra dưới tầm mắt. Từng tòa nhà, từng chiếc xe, từng tấm kính cửa sổ tắm mình dưới nắng, kiêu hãnh rực sáng. Cô cưỡi gió, chầm chậm đáp xuống thành phố vừa tái sinh sau khi được mưa gột rửa. Cảm giác hợp thể lạ lùng từ từ lan đi khắp người. Bằng một dạng giác quan tồn tại trước cả ngôn từ, cô hiểu rằng mình là một phần của thế giới. Mình là gió, là nước, là xanh, là trắng, là trái tim, là nguyện ước. Niêm hạnh phúc cùng nỗi day dứt lạ thường xâm chiếm châu thân. Và rồi, ý thức dần tan biến tựa hồ lún sâu vào tấm đệm dày.. * “Cảnh tượng đó… Có thể những gì tớ thấy khi ấy đều là mơ…” Cô từng nói với tôi như thế. Song đó không phải mơ. Giờ đây chúng tôi đã biết đó là thật. Sau ngày cô kể tôi nghe, hai đứa còn tận mắt chiêm ngưỡng khung cảnh tương tự một lần nữa, chiêm ngưỡng thế giới trên trời không ai biết đến. Vào mùa hè tôi cùng cô trải qua năm ấy, trên bầu trời Tokyo, chúng tôi đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của thế giới. Mời các bạn mượn đọc sách Đứa Con Của Thời Tiết của tác giả Shinkai Makoto & Mỹ Trinh (dịch).
Trái Tim Ngọt Ngào
Với một cơ thể đầy thương tích, một tâm thần chìm sâu trong ám ảnh và một trái tim đau khổ, Archie Sheridan quay về với cuộc sống cùng hai đứa con và người vợ cũ mà anh từng yêu thương nồng nàn… Nhưng dường như càng cố gắng anh càng chìm sâu hơn trong nỗi ám ảnh với Gretchen Lowell! Trở lại với công việc, anh gặp ngay một tình huống tương tự vụ án đầu tiên lúc mới vào nghề: Thi thể một cô gái trẻ bị phân hủy được tìm thấy trong công viên, trùng khớp địa điểm phát hiện ra nạn nhân đầu tiên của Gretchen. Và rồi một điều không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra: Gretchen trốn thoát khỏi nhà tù. Liệu Archie có bắt được ả để kết thúc tất cả, dù biết rằng mình có thể trở thành nạn nhân cuối cùng của Mỹ nhân đoạt mạng - Gretchen Lowell? *** Chelsea Cain Archie và Gretchen- Kẻ Săn Đuổi và Cơn Ác Mộng của cuộc đời. Mối quan hệ giữa Archie và Gretchen là một câu hỏi lớn cho những ai theo đuổi series này. Đó là một mối quan hệ mập mờ, không rõ ràng theo nhiều khía cạnh và hơn hết, là một mối quan hệ vô cùng khó chịu, khiến người ta vừa bực bội bất lực, lại vừa bị cuốn hút sâu sắc. Gretchen xâm nhập vào cuộc đời của Archie từ lúc nào, ngay chính anh ta cũng không hề biết, nhưng ả là một cơn ác mộng thực sự, phá hoại cuộc đời, sự nghiệp và cả gia đình nhỏ êm ấm của anh. Archie là một nhân vật được xây dựng khác biệt, một con người tồn tại hai thái cực khiến người đọc vừa thương vừa ghét – một cảnh sát thương thiện có trách nhiệm nhưng là một gã đàn ông tồi. (Thật ra từ tồi này, tôi đã giản lược gấp đôi so với nỗi bức xúc của tôi về nhân vật này, với phương diện là một người phụ nữ.) Gretchen giết người từ rất sớm, không biết từ khi nào và lý do vì sao. Ả là một bí ẩn cuốn hút đáng nguyền rủa, một dấu chấm hỏi to bự về thân thế và cuộc đời của ả. Nạn nhân đầu tiên của Gretchen (theo sự nhận định của cảnh sát) là một cô gái tên Heather Gerber, cô gái điếm không thân thích và bị sát hại dã man, xác vứt ở một khu rừng. Đây là cái xác đầu tiên trong cuộc đời làm cảnh sát của Archie, và anh ta ngàn lần không ngờ đến, đó sẽ là vụ án thay đổi hoàn toàn số mệnh của mình. Mười hai năm lần theo dấu vết Gretchen Lowell, Archie dần dần bị ả huỷ hoại đến cùng cực từ tâm hồn đến thể xác. Ả như một con giòi có ánh vàng, bên ngoài đẹp đẽ bao nhiêu, bên trong thối nát bấy nhiêu và không ngừng luồn lách và đục khoét bất kỳ người nào có lợi cho mục đích của ả. Gretchen tàn nhẫn và máu lạnh, ả giết người không chùn tay, ả tìm niềm vui trong sự giết chóc. Ả thú nhận: “Nó là vấn đề làm phong phú cảm xúc trong em. Nó là quyền năng.” Chính thế, Gretchen vờn Archie như Mèo vờn Chuột, vờn anh ta mất cả lá lách, sẹo đầy rẫy người và phải sống bằng thuốc giảm đau, ả vờn anh ta, và chơi trên đầu trên cổ cả lực lượng cảnh sát, chỉ để thoã mãn cái “quyền năng” trong tư tưởng của ả. Còn Archie? Anh ta tập họp mọi ưu điểm và khuyết điểm của một người đàn ông, một cảnh sát tốt và một “con mồi có trách nhiệm”. Archie luôn ý thức được rằng anh ta cần săn đuổi Gretchen Lowell, giam ả sau song sắt, moi ra mọi thông tin về các nạn nhân của ả và buộc ả nhận mọi tội danh đã gây ra. Archie luôn mang một tín niệm rất lớn rằng đó là nhiệm vụ của riêng anh ta, và đặt nó lên hàng đầu. Anh ta không ảo tưởng về việc thực thi công lý với lý tưởng anh hùng, anh ta làm thế bởi cảm thấy một sự liên hệ vô hình với những vụ án mở chưa có lời giải và trách nhiệm công vụ luôn mang trên mình. Nhưng theo một hướng nào đó, việc săn đuổi Gretchen là minh chứng cho sự hấp dẫn của ả đối với anh ta, sự hấp dẫn chết chóc nhưng đầy ma mị mà anh ta không cách nào thoát khỏi. Ả không cần phải câu dẫn Archie theo cái cách của những phụ nữ tầm thường thích chen chân vào gia đình người khác. Ả ngọt ngào và quấn quít khi gần khi xa như mùi tử đinh hương, len lỏi vào tâm trí Archie và ngự trị xúc cảm của con mồi, đẩy anh ta xa ra khỏi gia đình và trói buộc anh ta vĩnh viễn trong lời nguyền và tội lỗi. Về phần Archie, anh ta trượt dài vào cái hố bùn và lún sâu trong sự tuyệt vọng một cách tự nguyện, anh ta sẵn sàng huỷ hoại bản thân để buộc Gretchen vào vòng lao lý, nhưng vẫn ôm ấp ảo mộng và nhục dục dành cho ả. Đó là sự lựa chọn tồi tệ và đốn mạt của một gã vừa mang chứng PTSD, vừa mắc hội chứng Stockholm, nghiện nặng thuốc giảm đau với lá gan trên bờ vực cấy ghép. Cũng như Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, series Tim nói chung và tập Trái Tim Ngọt Ngào nói riêng, sở hữu một lực lượng cảnh sát khá mờ nhạt và vô dụng, nhưng bù lại, nhân vật phản diện chính là “spotlight” to bự nhất, cuốn hút nhất. Ở Gretchen có một sự điềm tĩnh biến thái như Hannibal, với cái đầu nhanh nhạy nguy hiểm, thích điều khiển tâm lý người khác, và đôi tay khát máu. Mặt khác, cô ả cũng mang một chút tuỳ hứng và điên loạn như Harley Quinn, hứng thú giết chóc bệnh hoạn của Dexter Morgan, khả năng điều khiển người khác phạm tội như Moriaty và để lại nỗi ám ảnh kinh hoàng trong bóng đêm như Jack Đồ Tể. Sự nguy hiểm của Gretchen không dừng lại ở những cái xác nát bét, hay những miếng thịt bị cắt rời khỏi cơ thể, mà còn là ở khả năng thấu hiểu tâm lý và nét duyên dáng quyến rũ chết người. Tuy có nhiều vấn đề tiêu cực tồn tại trong tính cách nhân vật Archie Sherridan nhưng cuốn sách cực kỳ lôi cuốn với những tình tiết hồi hộp. Chính những vấn đề ấy chính là điểm thu hút khiến tác phẩm đi theo hướng khác và nổi bật so với các câu chuyện truy bắt thường thấy. Các tình tiết vụ án đủ đen tối và máu me, nhưng ngôn từ miêu tả không bị biến đổi theo hướng bạo lực. Tình tiết các khẩu súng phải tránh xa lũ trẻ và cảnh sát hành xử có chừng mực khi tập kết ngôi trường tiểu học khá được lòng độc giả có con nhỏ. Tập Trái Tim Ngọt Ngào khép lại sau một đợt bầm dập khác của Archie Sherridan, sau những nỗ lực truy đuổi cơn ác mộng mang tên Gretchen. Một ngày không xa, ta lại mong chờ những cuộc đối đầu khác. Gigi Bui Mời các bạn mượn đọc sách Trái Tim Ngọt Ngào của tác giả Chelsea Cain & Orkid (dịch).
Phép Màu Tình Yêu
Tiểu thư Johanna kết hôn với Nam tước Raulf khi chỉ mới niên thiếu. Cuộc hôn nhân không tình yêu khiến nàng luôn bị Raulf hành hạ, và lúc gã qua đời, nàng thề sẽ chẳng bao giờ kết hôn lần nữa. Nhưng Đức vua lại yêu cầu nàng tái hôn với một người do ông ta sắp đặt, Johanna có vẻ ưng thuận... cho tới khi anh trai thuyết phục nàng kết hôn với bạn anh, lãnh chúa người Scot điển trai Gabriel MacBain. Ban đầu, nàng vô cùng e sợ người chồng cao ngạo và nóng nảy ấy, nhưng khi nhận được sự quan tâm của Gabriel cũng như cùng hắn chia sẻ những niềm vui tuyệt vời, nàng dần hoài nghi rằng mình đã phải lòng gã chiến binh này. Toàn bộ thị tộc ở Cao nguyên rõ ràng cũng sớm nhận ra lãnh chúa của họ đã hoàn toàn đầu hàng trước tiếng gọi trái tim. Song âm mưu tàn độc của Đức vua cùng tay sai trong cuộc ganh đua quyền lực lại đe dọa sẽ cướp mất nàng khỏi tay Gabriel và hủy hoại người đàn ông mà tình yêu của hắn có ý nghĩa với Johanna hơn những gì nàng hằng mơ... Liệu sóng gió có khiến họ rời xa nhau? Liệu tình yêu thương có thể bù đắp cho những nỗi đau và mất mát của mỗi người? *** Đôi điều về tác giả: Julie Garwood là một tác giả người Mỹ khá thành công ở thể loại tiểu thuyết lãng mạn với hơn 27 đầu sách, 35 triệu bản in được phát hành trên khắp thế giới. Các tác phẩm của Julie thường xuyên góp mặt trong danh sách best-seller của New York Times. Julie viết cả tiểu thuyết lịch sử - lãng mạn lẫn hiện đại lãng mạn pha trộn sự hồi hộp, gay cấn. Bên cạnh Gentle warrior (Chiến binh nhân từ); A girl named summer (Cô nàng mùa hè); Prince Charming (Hoàng tử trong mơ); các series: Crown's Spies (Những chàng điệp viên hoàng gia); Lairds' Brides (Những nàng dâu quý tộc); Highlands' Lairds (Những quý tộc miền cao nguyên)...The Secret (Điều bí mật) là một trong những tác phẩm xuất sắc của Julie Garwood. Sách đã xuất bản và dịch tại Việt nam: Món Quà Tình Yêu Lâu Đài Hạnh Phúc Thiên Thần Hộ Mệnh Danh Dự Huy Hoàng Cô Nàng Sư Tử Rebellious Desire Kẻ Phá Đám Điều Bí Mật Sizzle Người Đàn Ông Lý Tưởng Shadow Music Khát Vọng Nổi Loạn Âm Điệu Bóng Đêm Vì Những Đóa Hồng - Julie Garwood Phép Màu Tình Yêu ... Mời các bạn mượn đọc sách Phép Màu Tình Yêu của tác giả Julie Garwood.