Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mùa Hè Để Nhớ - Mary Balogh

Anh - một tử tước đang chạy trốn bản thân - quyết định chọn một cô vợ để buộc ông bố dẹp bỏ ý đồ bắt anh lấy một người mà anh không còn muốn lấy nữa. Và vì lấy vợ mà không cần tình yêu ấy, anh quyết định chọn một quý cô "đoan trang nhất, cao quý nhất và ... buồn tẻ nhất"(!). Nàng - là người được chọn vì đáp ứng hoàn hảo các tiêu chuẩn ấy. Rồi nàng phát hiện ra ý đồ của anh, nhưng nàng đã quyết định làm người hứa hôn giả của anh để giúp anh thực hiện ý định, bù lại anh phải tặng cho nàng "một mùa hè để nhớ". Nàng đã phải nhớ mãi mùa hè ấy... vì những điều anh đã làm... *** Phòng thay quần áo của Lauren thình lình có vẻ đông đúc hơn dù nàng vừa mới đẩy cô hầu đầy nước mắt ra khỏi trước đó năm phút. Cô nàng ngốc nghếch cứ sụt sịt và chảy nước mắt suốt cả tiếng đồng hồ thay quần áo cho cô chủ và làm tóc cho nàng. Trong đời cô chưa bao giờ hạnh phúc hơn, cô đã nói thế khi thiểu não nấc lên và dù cô hoàn toàn chẳng vui tí nào khi không được gặp mẹ, sống ở hạ Newbury, được thường xuyên, thì cô vẫn rất hồi hộp được dời đến Alvesley và gọi ngài Ravensberg là ông chủ. Anh là quý ông tử tế nhất, đẹp trai nhất mà cô từng thấy. Lauren phải cho phép vì sự thật là hôm nay là ngày mà những xúc cảm có thể trở nên rất cao trào. Hôm nay là ngày cưới của nàng. Dì Clara là người đầu tiên vào phòng thay đồ của nàng. Lauren không ăn sáng với tất cả khách khứa trong phòng ăn. Một chiếc khay được mang lên phòng nàng, chất đầy những món ăn ngon lành, những món nàng ưa thích. Nàng không ăn nổi lấy một miếng. Dì Clara ôm lấy nàng nhẹ nhàng, để hai người họ không bị ép nghẹt thở bởi bộ trang phục lộng lẫy cho ngày cưới của mình. "Lauren," bà nói. Đấy là tất cả những gì bà có thể nói, rồi bà mỉm cười. Oh, phải, hôm nay là ngày của xúc động. Lauren biết dì rất vui mừng cho nàng. Bà đã buồn rầu kinh khủng khi biết tin hủy hôn, đã bị thuyết phục là cuối cùng cháu gái mình đã tìm thấy hạnh phúc khi ở Alvesley. Bà thực sự đã khóc – Neville và Lily đã phải an ủi bà – khi Lauren và Kit bước vào phòng khách ở tu viện khá trễ trong buổi chiều mưa một tháng trước. Họ không cần phải nói một lời nào. Mọi người biết ngay là họ đã giảng hòa với nhau. Thật là ngượng ngùng bối rối. Quá rõ như ban ngày tại sao họ lại ở dưới bãi biển quá lâu đến thế. Gwen là người tiếp theo vào phòng. "Oh," cô nói, dừng lại ở ngưỡng cửa, "em mới đẹp làm sao, Lauren. Chưa từng người nào chị biết – có lẽ trừ Elizabeth – có thể làm biến mất vẻ mộc mạc giản dị và làm cho mình thanh lịch và tao nhã đến thế. Vài người chúng ta trở nên vừa lùn vừa béo mất rồi." Lauren bật cười với niềm vui sướng thực sự. Gwen thấp người và tròn trịa hấp dẫn, nhưng lùn và béo mập là từ cuối cùng mà người ta có thể sử dụng để mô tả về cô. Rồi tử tước Whitleaf – em họ Peter – gõ nhẹ vào cửa và ló đầu vào, mặt đỏ bừng đầy háo hức khi Gwen mở cửa ra. "Oh, em nói nhé!" cậu thốt lên. "Chị đẹp lộng lẫy, chị họ. Em vừa ở nhà thờ về. Em nghĩ em sẽ thò đầu vào, chào buổi sáng tốt lành và chúc phúc cho chị, vì em là người thân duy nhất hiện diện từ bên nhà nội của chị. Em hy vọng thế không phải là láo xược. Vũ hội đêm qua rất là vui, đúng không?" Lauren vội băng qua phòng dùng cả hai bàn tay mình nắm lấy hai bàn tay cậu. "Vũ hội rất vui," nàng nói. "một phần lớn vì em đã đến và cuối cùng chị cũng gặp được em. Em đã làm cho niềm hạnh phúc của chị trở nên trọn vẹn." "Oh, em bảo mà!" cậu kêu lên, trông rất vui. "Nhưng em nên ra thôi." Cậu nhìn thấy Gwen đứng bên cửa và cúi chào cô. "Tôi có thể cảm ơn cô lần nữa không, thưa cô, vì lòng tốt vô cùng của cô khi dành phòng mình cho tôi đêm qua?" Chẳng còn phòng nào ở tu viện hay ngôi nhà thừa kế hay quán trọ. Gwen đã ngủ trên chiếc giường phụ trong phòng thay quần áo của dì Clara. Và rồi, chưa đầy hai phút sau khi cậu rời khỏi, Neville và Lily xuất hiện. "Chúng tôi chỉ muốn ghé qua xem Lauren trên đường ra nhà thờ thôi." Lily nói như xin lỗi. "Oh, Lauren, em đẹp tuyệt vời. Tôi rất hạnh phúc cho em. Rất hạnh phúc." Cô ôm lấy Lauren, chẳng bận tâm đến mối nguy hiểm cho bộ trang phục lộng lẫy của họ - và có thể thấy rõ do tình trạng cồng kềnh của cô. Lauren ôm lại cô. "Tôi yêu quý chị, Lily," nàng thì thầm. "Tuyệt quá, tôi cũng nghĩ thế," Lily nói, không chút nao núng. "Nếu không phải vì tôi, thì hôm nay sẽ không phải là ngày cưới của em, đúng không?" Lily đầy tin tưởng nói toạc ra tất cả. Rồi đến phiên Neville. Như dì Clara, anh không nói gì cả - không kể cả tên nàng. Nhưng anh vòng tay ôm chặt lấy nàng sát vào lòng. Nàng cũng vòng tay quanh người anh và nhắm mắt lại. Neville. Neville yêu dấu thân thương của nàng. Người anh trai thân thương nhất, thân yêu nhất mà một người phụ nữ từng có. Nàng biết – dù họ không nói ra điều đó – là ngày hôm nay có ý nghĩa nhiều với anh biết bao nhiêu. Hôm nay là ngày mà cuối cùng anh cũng nhìn thấy nàng được hạnh phúc trọn vẹn, là ngày cuối cùng anh cũng có thể để cho tội lỗi khủng khiếp của mình ra đi. "Hạnh phúc nhé," anh nói, khi cuối cùng cũng thả nàng ra và mỉm cười với nàng. "Hứa với anh nhé?" "Em hứa." nàng mỉm cười lại. "Em yêu anh ấy, anh biết mà." "Nếu chúng ta không đi ngay, Neville," dì Clara nói, "cô dâu sẽ phải lôi chúng ta tới nhà thờ. Như thế hổ thẹn lắm." Họ đều bật cười, và dì Clara là người sau cùng, chần chừ nhìn Lauren khi bước ra với Neville và Lily. Lauren còn lại một mình với Gwen. Nàng quay lại nhìn cô, nụ cười nhạt dần đi. "Có lẽ," nàng nói. "Em đã nên đề nghị tổ chức đám cưới ở Alvesley." Gwen hiểu ngay. Sao nàng không thể? Họ có các chị em gái và bao bạn bè suốt hai mươi ba năm qua. "Không," cô nói. " Sự đứng đắn và dũng khí của em đã không làm em gục ngã hơn một năm rưỡi qua, Lauren. Giờ chúng cũng không thể làm gì em được." Cô hầu của Lauren vỗ nhẹ vào cửa và thò đầu vào nhìn quanh. Cô vẫn còn nước mắt. Nam tước Galton đang đợi cô Edgeworth và quý cô Muir ở sảnh dưới, cô ta thông báo. Mọi thứ đều làm nhớ lại... Lần đó là vào cuối mùa xuân – tháng ba. Lần này là cuối tháng mười. Thời tiết đẹp hơn, mát mẻ nhưng có nắng. Cây cối quanh ngôi nhà thừa kế và dọc theo lối đi ngắn trước khi xe ngựa ra đến cổng công viên và chạy vào trong làng đến nhà thờ ở phía bên kia được trang hoàng bằng tất cả màu sắc lộng lẫy huy hoàng của mùa thu. Lối vào được trải thảm bằng những chiếc lá rơi. Bãi cỏ của làng lố nhố người. Đám người dầy đặc tụm lại quanh cửa và sân nhà thờ. Con đường bao quanh bãi cỏ xếp hàng dài những cỗ xe ngựa không người đủ loại. Những người đánh xe đứng vẩn vơ quanh đó, trố mắt ra nhìn với vẻ thích thú, những bộ chế phục màu sắc phân biệt họ với những người trong làng. Ah, phải, làm nhớ lại sự sợ hãi. Đứng bên trong hành lang nhà thờ vài phút sau đó trong khi Gwen khom người vuốt phẳng viền áo và sắp xếp đuôi áo cho nàng, Lauren có thể cảm nhận được những nhóm người đầy trong nhà thờ chỉ ngay bên kia tầm nhìn của nàng. Cha sở đang chờ ở tay vịn bàn thờ. Kit và Syd cũng vậy. Nàng có hình dung được tất cả những người đứng bên ngoài, đợi tiếng chuông nhà thờ ngân vang để báo nghi lễ đám cưới đã hoàn tất, đợi tóm được cái nhìn thoáng qua của cô dâu và chú rể khi họ từ nhà thờ đi ra, vừa mới cưới xong. Và nàng cũng gần như có thể cảm thấy người đàn bà ăn vận tồi tàn, chạy bổ nhào lên lối đi trong sân nhà thờ vào trong hành lang và phớt qua Lauren để vội vàng vào trong nhà thờ để làm cho thế giới sụp đổ đến tận cùng. Ông ngoại đang đợi một cách kiên nhẫn, mỉm cười yêu thương với nàng. Nàng nghĩ chắc chắn nàng sẽ ngất xỉu. Tệ hơn, nàng thấy cáu gắt kinh khủng. Sự hoảng loạn quắp lấy những bờ mép của sự kiểm soát. Rồi Gwen nhìn lên nàng – và đứng thẳng lên nắm lấy tay nàng, siết nhẹ trong tay mình. "Lauren," cô dịu dàng nói, "hiện giờ mọi chuyện đã qua rồi mà. Quá khứ đã qua rồi. Tương lai đang đợi em. Ngày hôm nay – là ngày cưới của em. Ngày cưới thực sự của em." Cây đàn lớn bắt đầu dạo nhạc. Ông ngoại chìa cánh tay ra. Và họ bước vào trong nhà thờ, vào trong lối đi dài dằng dặc giữa giáo đường. Trong vài phút nàng có thể nhìn thấy mọi thứ, như thể nó luôn được khắc trong tâm trí nàng. Những gương mặt quay lại nhìn nàng bước tới gần, phần lớn đều thân quen, đa số đều mỉm cười. Nàng thậm chí còn nhìn thấy từng người một – Joseph, dám nháy mắt với nàng, Claude và Daphne Willard, dì Sadie và chú Webster, công tước Bewcastle và quý ngài Rannulf Bedwyn, Elizabeth, công tước Portfrey, em họ Peter, bà nội Kit, gật đầu và cười rạng rỡ, Lily và Neville, dì Clara, ông bà bá tước Redfield. Nhưng chỉ vài phút thôi. Rồi mắt nàng tập trung vào điểm cuối lối đi, nơi có một người đang đứng đợi nàng. Anh không cao bằng cha sở đang đứng một bên anh hay Sydnam đứng ở phía bên kia. Nhưng anh đẹp trai không tin được và ăn vận tao nhã tuyệt vời trong chiếc áo khoác đuôi tôm vừa vặn màu đen, chiếc quần ống túm satin màu ngà và chiếc áo gi lê thêu bằng vải lanh và đôi vớ trắng tinh. Đăng ten vòng quanh cổ và cổ tay anh. Kit! Anh trông rất long trọng và trang nghiêm. Nhưng không! Khi đến gần hơn, Lauren có thể nhìn thấy đôi mắt anh mỉm cười. Không phải với vẻ vui tươi và ranh ma thông thường, và là cái gì đó lấy hết hơi thở của nàng dù nàng biết không hề nghi ngờ gì trong suốt cả tháng nay là anh yêu nàng. Anh viết thư hàng ngày từ Alvesley – đôi khi hai lần một ngày, có một lần viết những ba lần một ngày – để nói với nàng điều đó, thường là với thứ ngôn từ cầu kỳ hoa mỹ kỳ quặc ác liệt mà anh biết là sẽ làm cho nàng phì cười. Đôi mắt anh kéo nàng lại với anh. Chúng làm nàng thấy ấm nồng từ đầu đến ngón chân, chúng nhìn như nuốt lấy nàng, làm nàng thấy mình đẹp, được khao khát và rất được thèm muốn. Đôi mắt anh tôn thờ nàng. Đột nhiên nàng tự hỏi là mình có đang mỉm cười không và nhận ra là có. Nàng cũng sợ hãi như thường bị trong suốt những đêm mất ngủ, trong suốt lúc thay quần áo cho đám cưới, trong suốt thời gian đến nhà thờ và đứng trong hành lang. Ngay cả bây giờ nàng cũng sợ, ngay cả bây giờ khi ông nội đang trả lời những câu hỏi của đức cha và trao bàn tay nàng vào tay Kit, là điều gì đó sẽ xảy ra. Đám cưới – đám cưới của nàng – đang diễn ra, nàng nhận ra điều ấy, nhưng nàng vẫn không thể chú tâm vào nó được. Nàng nghĩ hoàn toàn có thể nàng sẽ ngất đi mất thôi. Anh chưa bao giờ thấy nàng đẹp hơn. Chiếc áo dài satin trắng tỏa sáng lung linh không hề trang trí cầu kỳ ngoại trừ viền gấu và vòng quanh đuôi áo, ở mép tay áo ngắn và viền quanh cổ, cổ áo được viền theo kiểu vỏ sò thanh nhã và trang trí bằng chỉ thêu bạc và hàng trăm – có lẽ hàng ngàn – những viên ngọc trai nhỏ xíu. Chiếc mũ, đôi giày mềm, đôi găng tay dài đều màu trắng, chiếc mũ được tô điểm với chiếc khăn trùm bằng ren tốt nhất, dài qua mặt nàng. Chỗ có màu duy nhất là sợi dây ruy băng màu tím dưới ngực áo, đuôi kéo dài đến tận gấu áo, và bó hoa nhỏ màu tím với những chiếc lá xanh sẫm nàng cầm trong một bàn tay. Anh chưa bao giờ nghĩ ngày cưới là ngày hạnh phúc nhất trong đời mình. Anh luôn nghĩ rằng những đám cưới – nếu trừ đêm tân hôn – đều chán ngắt mệt mỏi, một việc khá là rối rắm với đàn ông. Nhưng hôm nay anh phải thừa nhận rằng người ta đã nói điều gì đó về sự rập khuôn xưa cũ. Thật ra là, nhiều điều. Ban đầu nàng trông khá là giống Lauren Edgeworth tượng đá ngày xưa. Nhưng rồi, khi mắt nàng tập trung vào anh và nàng bước tới gần hơn, nàng mỉm cười. Trái tim anh loạn nhịp. Lại một sự rập khuôn nữa. Có lẽ đám cưới là dịp để nhân cách hóa những sự rập khuôn. Anh đã không gặp nàng cả tháng qua. Và hôm qua anh khó khăn lắm mới đến được gần nàng. Hôm nay... phải, hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong đời anh. Rồi anh nhìn thấy sự sợ hãi khủng khiếp sau nụ cười của nàng và cảm nhận được sự đông cứng trong bàn tay nàng. Không chỉ là vì căng thẳng hồi hộp. anh biết nàng đủ rõ, Chúa ơi, để hiểu điều đó. Và dĩ nhiên – dĩ nhiên rồi! Anh đã suy nghĩ về tính thích hợp của nhà thờ Newburry – quang cảnh đám cưới đầu tiên của nàng – cho lễ cưới của họ. Nhưng anh đã kết luận là tốt hơn cho nàng nếu tổ chức đám cưới ở đây, để có thể để cho các bóng ma được yên nghỉ. Anh thật ngu xuẩn – ngốc nghếch ngu si – không nhận ra là phần này của ngày sẽ là sự thử thách khủng khiếp thế nào đối với nàng. Anh cố gắng mang lại sự an toàn cho nàng bằng bàn tay anh, bằng đôi mắt anh. Anh cố bao bọc sự an toàn của tình yêu của anh quanh nàng. Anh không chú tâm vào đám cưới nữa. "Ta yêu cầu và giao trách nhiệm cho cả hai con," cha xứ nói khi Kit tập trung trở lại – và anh có thể thấy Lauren cũng đột nhiên lắng tai nghe, "là hai con phải trả lời vào ngày phán xét đáng sợ này, khi những bí mật của tất cả những trái tim được phơi bày, là nếu ai trong hai con biết bất cứ điều gì cản trở lý do hai con không thể kết hợp với nhau hợp pháp vào đời sống vợ chồng, thì hai con phải thú nhận bây giờ; vì ta đảm bảo với các con rằng những cặp vợ chồng đến với nhau theo những cách khác mà không phải được lời của Chúa cho phép, sẽ không được Thiên Chúa kết hợp, và hôn nhân cũng sẽ không là hợp pháp." Bàn tay nàng đông cứng trong tay anh. Không, tình yêu của anh, không ai phá vỡ sự im lặng này đâu. Không có sự ngăn trở nào cả. Trong thời khắc này tất cả đã qua rồi – tất cả nỗi sợ hãi phi lý đó. Dũng cảm lên, tình yêu của anh. "Người phụ nữ này chưa từng kết hôn chứ?" Đã qua rồi. Đã qua rồi. Nàng thả lỏng ngay tức khắc và mỉm cười rạng rỡ với anh. Không có sự cản trở nào cả. Sớm – rất sớm thôi – họ sẽ là chồng và vợ. Kết hợp với nhau thành một cho đến khi cái chết chia lìa họ. Anh vén tấm mạng ra khỏi gương mặt nàng, gập nó qua vành mũ của nàng. Anh mỉm cười với đôi mắt nàng. Tình yêu của anh. Nữ bá tước của anh. Vợ anh. Sự khiếp sợ - sự khiếp sợ ngu xuẩn – đã được lãng quên. Ký tên vào sổ đăng ký, chuông nhà thờ rung lên từng hồi vui tươi báo cho thế giới bên ngoài, tiếng đàn vang lên tưng bừng hân hoan, cặp vợ chồng mới cưới quay bước lại trên lối đi giữa giáo đường, mỉm cười với tất cả họ hàng và bạn bè, và mọi người cũng cười lại với họ. Nhưng vài sự tụ tập không thể chờ đợi được. Những người họ hàng của cả hai gia đình và vài người khác len ra ngoài và tự trang bị cho mình trước khi Kit và Lauren bước ra ánh nắng mặt trời và người trong làng bùng lên chúc mừng, gần như tất cả mọi người đã tụ tập ở cửa ra vào và cỗ xe ngựa để mở - trang hoàng phong phú với những dây ruy băng và những dải giấy màu trắng – cỗ xe sẽ chở họ đến tu viện cho bữa tiệc cưới. Những người họ hàng đã xếp hàng dọc theo hai bên lối đi của sân nhà thờ, ai nấy đều cười toe toét đầy hiểm độc, người nào cũng được trang bị hàng đống lá cây khô. "Hmm," Kit nói khi Lauren cười rạng rỡ với mọi người xung quanh. Không gì có đủ sức làm hỏng niềm hạnh phúc ngày cưới của nàng. "Chúng ta sẽ co mình lại vào giữa đám đông và hy vọng thoát khỏi tầm nhìn của họ vài phút nhé? Hay là chúng ta chạy băng qua?" "Rất không đàng hoàng," nàng nói, "nếu làm hỏng niềm vui của họ." "Không đàng hoàng." Anh cười nhăn với nàng. "Vậy để nó xảy ra vậy. Nhưng họ sẽ thất vọng nhiều nếu chúng ta chúi đầu xuống và chạy qua. Ta sẽ làm họ thất vọng chứ?" "Chắc chắn," nàng đồng tình, khoác tay anh và điềm tĩnh bước xuống lối đi trong sân nhà thờ với anh, mỉm cười và vẫy tay và bị tưới bởi những chiếc lá đầy màu sắc rực rỡ. Họ vẫy chào đám đông lần nữa khi Kit giúp nàng vào trong cỗ xe và rồi nhảy tót lên ngồi cạnh nàng. Người đánh xe quát lên ra lệnh với giọng hiền lành, và đám đông rẽ ra để họ đi qua, chiếc xe tròng trành chuyển động, và Kit ném tung ra hàng nắm tiền xu để sẵn trên ghế ngồi. Khách dự đám cưới bắt đầu tràn ra khỏi nhà thờ. Bàn tay Kit tìm bàn tay Lauren và ấm áp nắm chặt lấy nó. Họ nhìn nhau, mỉm cười khi cỗ xe chậm rãi chạy vòng qua bãi cỏ trước khi đi vào giữa hai cột cổng vào trong công viên. "Cuối cùng cũng được ở một mình với nhau," anh nói. "Hoặc là gần như một mình. Tháng vừa rồi thật dài vô tận." "Phải, nhưng nó qua rồi." Đôi mắt nàng lóng lánh những giọt nước mắt bất ngờ. "Và sáng nay cũng qua rồi." Anh siết bàn tay nàng chặt hơn. "Mọi việc đều hoàn hảo," anh nói. "Vợ anh ạ. Luôn luôn và mãi mãi là vợ anh, Lauren. Luôn luôn và mãi mãi là tình yêu của anh." "Tình yêu của em," nàng nhẹ nhàng lặp lại. Rồi nụ cười của nàng rạng rỡ hơn. "Ôi, Kit, em rất vui vì anh đã đánh nhau trong công viên hôm đó và em đi ngang qua. Em rất vui là anh đã có cuộc đánh cược quá quắt đó với bạn anh. Em rất vui-" Anh nghiêng đầu qua và hôn nàng. Từ sau lưng họ, một tràng la ó chúc mừng dậy lên. Và một tiếng huýt sáo lảnh lót. Tiếng chuông nhà thờ vang lên từng hồi vui vẻ. Mời các bạn đón đọc Mùa Hè Để Nhớ của tác giả Mary Balogh.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tuyến Hỏa Xa Ngầm
Tuyến hỏa xa ngầm – một bí ẩn lớn trên đất Mỹ vào thời kỳ mà chế độ nô lệ hiện tồn, không chỉ bí ẩn với nhà cầm quyền, giới chủ nô, những tay trùm săn nô lệ mà ngay với chính người nô lệ. Không ai biết rốt cục có bao nhiêu ga, bao nhiêu trưởng ga, những chuyến tàu hoạt động thế nào v.v. cho đến lúc đặt chân lên một toa hành khách. Có thể ví tuyến hỏa xa ngầm như một dấu chấm hỏi khắc rất sâu trong giai đoạn rối ren đó của Hợp chúng quốc – quốc gia bị phân tách làm hai cực: các bang tự do và các bang có chế độ nô lệ. Cũng bởi lý do trên, không ai thống kê được chính xác mà chỉ ước đoán rằng từng có rất nhiều nô lệ đào thoát từ miền nam khắc nghiệt đến những vùng đất tự do nhờ tuyến hoả xa ngầm, như Cora – nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết, một nữ nô lệ tại đồn điền trồng bông ở Georgia. Dù là nhân vật chính, Cora xuất hiện lần đầu tiên không phải trong câu chuyện của chính cô mà trong câu chuyện của bà, của mẹ, Ajarry: người bà bị bắt cóc khỏi quê nhà châu Phi sang Mỹ; Mabel: người mẹ trở thành “huyền thoại” khi được cho là bỏ trốn thành công. Cora tồn tại không như một thân phận đơn lẻ, thân phận cô hoà vào biển-người-đen phải hiến thứ “dầu” đặc biệt cho ngành công nghiệp bông sợi, cho hệ thống xiềng xích mới: mồ hôi và máu. “Truyền thống” của gia đình Cora, hay của biết bao gia đình người Phi khác, là lao động quần quật, đổ máu trên những đồng bông bạt ngàn, chưa kể bị lạm dụng, bị làm nhục, câu chuyện thường ngày đến độ sẽ thật khó dung thứ nếu họ khóc than hay trở nên phẫn nộ. Thứ “truyền thống” đó trở thành duy nhất và tuyệt đối với những nô lệ như Ajarry: chịu phận ở đồn điền, bằng lòng “an cư” bên mảnh vườn vỏn vẹn ba thước vuông tại đó; nhưng cũng bị thách thức quyết liệt bởi chính những nô lệ như Mabel: nhất mực chạy trốn bất chấp hình phạt, bất chấp việc bỏ lại miếng đất “mẹ truyền con nối”, thậm chí bỏ lại đứa con gái bé thơ. Tới lượt mình, Cora cũng hun đúc một kế hoạch riêng, dẫu nó không ngừng làm cô buốt nhói khi chỉ càng chứng minh cho sự thật: cô là con gái của mẹ cô! Hành trình xuyên qua 5 bang: Georgia-Nam Carolina-Bắc Carolina-Tennessee -Indiana, và còn tiếp tục không hồi kết dưới đường hầm “ma” mà Royal tiết lộ cho Cora hay, quả là cuộc rượt đuổi gay go giữa chế độ nô lệ, với một đại diện cốt cán, đầy tham vọng là Ridgeway, và kẻ tử thù của nó – Cora. Ta có thể hình dung một cuộc chiến nảy lửa của cả hai, vì lẽ sinh tồn chẳng những đặt ở thể xác mà còn nằm trong tinh thần. Xích xiềng không chỉ đòi cô mà đòi cả những bạn bè nô lệ của cô, cả những người có lương tri dám bao bọc, giúp đỡ cô, trả giá – chỉ bằng cách ấy, xích xiềng mới chặt. Song Cora luôn là một đối thủ đáng gờm, cô chưa từng thôi chống trả, dù tuyệt vọng và yếu thế, bởi nếu không làm vậy bao giờ người nô lệ mới được tự do. Trong cuốn tiểu thuyết, có một câu nói trở đi trở lại: “Hãy nhìn ra ngoài trong khi tàu đưa các bạn đi, các bạn sẽ thấy khuôn mặt thật của nước Mỹ”. Dường như quốc gia đó vẫn luôn tồn tại trên nền tảng mâu thuẫn, nghịch lý: những con người đến đây vì tự do lại tước đi tự do của người khác. Colson Whitehead đã vẽ khuôn mặt nước Mỹ bằng màu sắc đối lập: đen rồi trắng, trắng rồi đen, luôn luân chuyển, luôn đảo chiều – có những bàn tay da đen sẵn sàng đàn áp các anh chị em của mình không thua gì những bàn tay da trắng, và lại có những bàn tay da trắng sẵn sàng chìa ra cứu giúp những nô lệ khốn cùng. Bằng cây bút giàu cảm xúc nhưng không bị định kiến ảnh hưởng, có lúc còn khá hóm hỉnh trước nghịch cảnh, Colson Whitehead rất chân thành đưa độc giả tới với hình ảnh nước Mỹ trong quá khứ, nhưng đó là điều khó dứt bỏ khỏi hiện tại này. *** “Hãy nhìn ra ngoài trong khi tàu đưa các bạn đi, các bạn sẽ thấy khuôn mặt thật của nước Mỹ”. Đó là lời nhắn gửi những hành khách - những nô lệ da đen trốn thoát khỏi các đồn điền - trước khi lên một chuyến tàu bí mật của tuyến hỏa xa ngầm, một công trình có thật trong lịch sử Mỹ thời chiếm hữu nô lệ còn tồn tại. Không ai xây khi nào, có những ga nào, ai tham gia con đường bí mật đó. Những câu hỏi về tuyến hỏa xa ngầm đó cũng không được giải đáp trong tác phẩm cùng tên được trao giải Pulitzer danh giá vào năm 2017. Vậy nhưng, sức hấp dẫn của “Tuyến hỏa xa ngầm” là ở chỗ chỉ từ câu chuyện của một cá nhân - cô bé Cora - mà đưa người đọc tìm về và hiểu được nhiều khía cạnh của nước Mỹ thời chiếm hữu nô lệ, cũng như con đường bí mật đưa những người nô lệ da màu đến tự do. “Tuyến hỏa xa ngầm” được giải Pulitzer nhờ hòa trộn tài tình chủ nghĩa hiện thực và phúng dụ, cũng như kết hợp được sự tàn bạo của chế độ sở hữu nô lệ và bi kịch trong sự đào thoát của những người nô lệ. Và đúng là như vậy. Quyển sách mô tả chân thực sự tàn khốc của những ngày tháng đọa đày, chịu kiếp nô lệ của Cora và những giờ phút lên kế hoạch chạy trốn, chờ đến giờ G để rồi tiếp tục hồi hộp khi đã chạy đủ xa, những lần lần trốn, trong rừng sâu, hay tầng áp mái, hay lên những chuyến tàu trên tuyến hỏa xa ngầm mà không biết ga dừng lại sẽ là đâu. Tất cả khiến người đọc có thể sốc vì sự tàn bạo của chế độ nô lệ và hồi hộp thay cho nhân vật chính Cora. “Tuyến hỏa xa ngầm” là một bài học lịch sử hay cho những thế hệ sau này, mà có lẽ chưa tìm hiểu hay hiểu tường tận về giai đoạn rối ren được chọn làm bối cảnh chính của câu chuyện: nước Mỹ bị phân tách làm hai cực: Các bang tự do và các bang có chế độ nô lệ. 3 thế hệ nhà Cora cũng là 3 giai đoạn trong lịch sử chiếm hữu nô lệ ở Mỹ và tất cả những ngục tù đối với người Phi châu: bị bắt cóc, mang đến Mỹ, sinh ra các thế hệ nối tiếp trong xiềng xích, cả cuộc đời không biết gì ngoài làm việc tại các đồn điền, cho nên ngày cũng như đêm luôn mơ đến tự do. “Khi chết người da đen trở thành con người, chỉ khi đó họ mới ngang bằng với người da trắng”. “Ngày hôm trước một đứa trẻ da đen còn hạnh phúc, thế nhưng ngày hôm sau ánh sáng đã biến mất khỏi cuộc sống của nó; giữa khoảng thời gian đó nó được giới thiệu với một thực tế mới - cảnh nô lệ”. Cora, sinh ra đã là nô lệ và có một cuộc đời đầy những chuỗi bất hạnh, nhưng không phải vì tính cách hay cách hành xử của cô, mà là vì “da cô màu đen và đây là cách thế giới đối xử với người da đen”. Cora biết rằng đời mình có thể kết thúc hoặc giống bà của em - người bị bắt cóc khỏi quê nhà châu Phi sang Mỹ và mãi mãi là nô lệ, hay mẹ em - một nô lệ trở thành “huyền thoại” khi được cho là bỏ trốn thành công. Cora tin mình cũng có thể được như mẹ; em đã chạy trốn, nhưng những cuộc chạy trốn liên hồi và cuộc đời không thể nào yên ả được lâu. Như những chuyến tàu có lúc ngoặt vào những lối quanh co rải rác trên hành trình, cuộc đời Cora là liên tiếp những khúc cua như thế, từ địa ngục trốn chạy được đến bình yên, rồi lại phải chạy tiếp vì nơi đó không hẳn như mình nghĩ và mong muốn. Dẫu được tuyến hỏa xa ngầm hỗ trợ, Cora và những người nô lệ có quá nhiều thứ để phải tránh: nhà cầm quyền, giới chủ nô, những tay trùm săn nô lệ, và cả những người từng là nô lệ đã được tự do, sợ cái tự do quý giá của mình vì người da đen nô lệ mà lại mất đi 1 lần nữa, đành phải phản lại chính anh em của mình. Tuyến hỏa xa ngầm nhiều lần nhắc lại thông điệp ‘bộ mặt của nước Mỹ’, và đó là một đất nước hóa ra đầy những điều tương phản. Tuyên ngôn độc lập được ký khi chế độ chiếm hữu nô lệ vẫn còn; trong xã hội có những người da trắng ủng hộ bãi nô đánh đổi an nguy của gia đình và bản thân để tham gia cứu giúp người da đen, nhưng cũng lại có người da đen sẵn sàng đàn áp các anh chị em của mình. *** Mâu thuẫn trong tuyên ngôn của Hoa Kỳ “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được tạo hoá ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“, đó là một trong những nội dung được đưa ra trong bản tuyên ngôn độc lập của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Ấy thế, chính trong đất nước  mà “mọi người sinh ra đều bình đẳng” ấy lại không có chỗ cho những người da đen. Họ không được xem là con người, chỉ có sự bình đẳng dành cho người da trắng. Để phản ánh về nỗi thống khổ của những người da màu và tội ác man rợ của những người “thượng đẳng” da trắng, nhiều tác phẩm thơ văn đã được viết lên, trong đó có Tuyến Hỏa Xa Ngầm. Với ngòi bút tinh tế, lôi cuốn, mạnh mẽ của mình, Colson Whitehead đã cho người đọc cảm nhận được tội ác của những người da trắng dưới chế độ chủ nô tàn ác. Colson Whitehead như một ngọn lửa thổi bùng lên sự căm phẫn đối với phân biệt chủng tộc tàn ác hà khắc của đất nước Mỹ. Những người da đen không được xem là con người họ là súc vật, là giống loài hạ đẳng, họ được Thượng đế  tạo ra để trở thành những công cụ biết nói của người da trắng. Tội ác và nỗi thống khổ Cuốn sách là những con chữ biết nói, Tuyến Hỏa Xa Ngầm đã nói lên cuộc sống của người da đen và tội ác man rợ của bọn chủ nô một cách rất chân thực, “những người đàn ông bị treo cổ trên cây”, “Những thân thể còn sống và  đã chết bị nướng trên giàn thiêu”. Chúng sẵn sàng hãm hiếp bất cứ người phụ nữ da đen nào, chúng chặt lìa tay,chân. Chúng thẳng tay sát hại mà không một chút do dự. Tuyến Hỏa Xa Ngầmkhông chỉ nói về hành trình trốn thoát mà nó còn bức tranh về thời kỳ nô lệ tàn ác. Đại diện cho chính quyền, chế độ chiếm hữu nô lệ, nạn phân  biệt chủng tộc trong câu chuyện là  tên địa chủ Terrance. Dưới góc nhìn của Colson Whitehead, Terrance hiện lên như một con quái vật với đôi mắt cú vọ, ánh mắt hắn như muốn ăn tươi nuốt sống những tên nô lệ, hắn hành hạ, đưa ra những hình phạt tàn nhẫn đối với những nô lệ bỏ trốn. Sự đấu tranh Qua ngòi bút tinh tế của Colson Whitehead đã vẽ lên như những nỗi đau khó tả của người da đen. Tác giả đã phải thốt lên rằng “Khi chết người da đen trở thành con người, chỉ khi đó họ mới ngang bằng với người da trắng”, “Ngày hôm trước một đứa trẻ da đen còn hạnh phúc, thế nhưng ngày hôm sau ánh sáng đã biến mất khỏi cuộc sống của nó; giữa khoảng thời gian đó nó được giới thiệu với một thực tế mới – cảnh nô lệ”, vốn dĩ từ khi sinh ra họ đã không nhận được sự công bằng, họ phải sống dưới sự đàn áp của người da trắng. Chính vì lẽ đó, ngọn lửa đấu tranh luôn luôn nhen nhóm trong tâm trí họ. Họ mạo hiểm bất chấp tính mạng chạy trốn để tìm cho mình sự tự do dù biết sẽ bị thiêu sống, bị đánh đập nhừ tử nếu bị bắt. Cora cũng vậy, gia đình cô là một gia đình nô lệ và có truyền thống trốn chạy, mẹ cô đã trở thành huyền thoại khi đã trốn thoát thành công.  Tuy vậy, nhưng hành trình đi tìm tự do ấy chưa bao giờ là yên bình đối với cora. Hành trình trốn thoát của cô trên chuyến tàu ấy có biết bao khúc cua, ngã rẽ, khiến chúng ta phải lặng thinh hồi hộp theo dõi. Với cách kể chuyện lôi cuốn tác giả không ít lần khiến ta  mỉm cười vì hạnh phúc rồi nụ cười đó lại vụt tắt đi trên môi khi sóng gió lại đến với cora. Những cảm xúc… Dẫu có những Tuyến Hỏa Xa Ngầm hay những người bãi nô giúp đỡ nhưng những nô lệ như cora và Caesar vẫn sẽ rơi vào tay của những tên “Terrance”,của những kẻ truy lùng nô lệ bỏ trốn. Dẫu họ có lên được con thuyền “tự do” thì con thuyền đó vẫn sẽ bị thủng và rồi họ lại lênh đênh giữa chế độ chiếm hữu nô lệ hà khắc của đất nước Mỹ. Cuộc đời của những người da đen là những chuỗi ngày đen tối nổi trôi, đau khổ. Không thể rời mắt khỏi câu chuyện, con tim cứ nhói lên từng hồi đó chính là cảm xúc của tôi khi  theo dõi câu chuyện, đây có lẽ là câu chuyện gây ấn tượng sâu sắc với tôi và nhiều người khác. Trong cuốn tiểu thuyết, có một câu nói trở đi trở lại: “Hãy nhìn ra ngoài trong khi tàu đưa các bạn đi, các bạn sẽ thấy khuôn mặt thật của nước Mỹ”. Phải chăng đó là sự mâu thuẫn đến nghịch lý: những con người đến đây vì tự do lại tước đi tự do của người khác.  Tuyến Hỏa Xa Ngầm được xây dựng rất nhiều nhân vật, cả một tuyến nhân vật dày đặc. Điều này có thể khiến bạn đọc khó nắm bắt, theo mạch của câu chuyện nếu chỉ đọc một lần. Mặc dù vậy, nhưng những câu chuyện về người da màu khi được miêu tả qua  những góc nhìn khác nhau của nhiều nhân vật thì được trở nên rõ ràng, sắc nét hơn. Điều này cũng là một điểm đặc biệt, dẫn dắt người đọc nhìn nhận tới nhiều khía cạnh, nhiều cảm xúc hơn để dễ dàng hiểu được tác phẩm trọn vẹn. Tuy nhiên đây vừa là điểm trừ, cũng vừa là điểm cộng. Xuyên suốt câu chuyện, có lẽ hình ảnh in sâu nhất trong tâm trí bạn đọc chính là những chuyến ga tàu, trưởng ga và cả những hành khách. Ở đó có những phương tiện chuyên chở giúp đỡ những người da màu trốn chạy đến những vùng đất tự do, chạy xa khỏi ách nô lệ. Chính vì thế Tuyến Hỏa Xa Ngầm là một hình ảnh hết sức nhân văn, mang tính biểu tượng lớn. Với cách kể chuyện hấp dẫn, cuốn hút của Colson Whitehead, ” Tuyến hỏa xa ngầm” đã ghi được dấu ấn đậm nét sâu sắc về lịch sử đẫm máu đối với người da đen, đồng thời cuốn sách cũng lên án chế độ chiếm hữu nô lệ và phân biệt chủng tộc man rợ. *** Review sách Tuyến Hoả Xa Ngầm   Binh Boog đã review       25 tháng 5, 2019 #Review #Tuyến_hoả_xa_ngầm Ai sinh ra cũng có quyền bình đẳng. Ấy thế mà họ sinh ra mang da màu thôi mà cớ sao lại trở thành nô lệ? Cora, cô gái thế hệ thứ 3 sinh ra làm nô lệ. Từ đời bà cô đã bị những người da trắng bắt cóc từ lục địa đen Châu Phi đem sang các cánh đồng ở Mỹ để làm nô lệ. Tới mẹ cô và cô cũng được sinh ra và lớn lên để làm nô lệ. Người da trắng tự cho mình cái quyền chiếm đất, đuổi người da đỏ da đỏ khỏi mảnh đất của họ để mở rộng những đồn điền, bắt những người da đen về làm nô lệ. Không thể tin nổi là những người da đen bị bắt làm nô lệ không khác gì loài vật. Họ bị bắt cóc từ quê hương của mình, bị bán như một món hàng. Bị đóng dấu sắt nung lên người không khác gì con bò, con lợn. Hàng ngày họ lao động cực nhọc trên các cánh đồng bông, cánh đồng mía, trong các đồn điền. Họ bị roi quất, đánh đập, treo cổ, cưỡng bức, giết chết bất cứ lúc nào. Cuộc sống của họ là một nỗi ám ảnh cho dù được tự do thì nó vẫn là nỗi sợ hãi trong giấc mơ hàng ngày. Mặc dù biết bỏ trốn nếu bị bắt lại bởi chủ nô, bọn tuần tra hay những kẻ săn nô lệ (mà những kẻ săn nô lệ là nỗi sợ hãi của nô lệ bỏ trốn bởi bọn chúng có thể tóm lại bất cứ nô lệ nào bỏ trốn dù họ có đi tới tận đâu. Chúng quyết tâm bắt lại bằng được những nô lệ bỏ trốn để kiếm khoản tiền thưởng và để cho nô lệ biết rằng họ không thể trốn thoát khỏi chủ nô, để dập tắt ý định bỏ trốn của họ. Mà nô lệ bỏ trốn bị bắt lại thì bị tra tấn khủng khiếp, chỉ còn con đường chết. Nhưng Cora vẫn quyết định bỏ trốn. Cora đã bỏ trốn khỏi chủ nô của mình. Trải qua hành trình tìm đến với tự do, được sự giúp đỡ của những người lái tàu trên tuyến hoả xa ngầm mà trên chuyến hoả xa đó họ nói với Cora rằng: “Hãy nhìn ra ngoài trong khi tàu đưa các bạn đi, các bạn sẽ thấy khuôn mặt thật của nước Mỹ”. Quả thật, không chỉ là những bi kịch của thân phận nô lệ mà Tuyến hoả xa ngầm còn là mâu thuẫn trong chính nước Mỹ. Có những người da trắng đã đứng lên đấu tranh cho phong trào giải phóng nô lệ. Họ kết hôn, sinh con với người da màu. Và chính họ đã làm nên những đường hầm bí mật, những tuyến hoả xa bí mật để giúp đỡ những người nô lệ bỏ trốn tới vùng đất mà họ được tự do. Mặc dù họ bị chính những người da trắng vì lợi ích của họ không muốn giải phóng nô lệ chèn ép hoặc bị giết nhưng chính họ đã khơi dậy ý chí đấu tranh đòi quyền tự do cho chính mình của người da màu. Con đường đấu tranh đòi tự do, chống phân biệt chủng tộc còn nhiều gian nan, hy sinh, cần nhiều thời gian để thay đổi nhưng những Tuyến hoả xa ngầm không biết điểm cuối ở đâu đã góp phần vào phong trào đó. Có lẽ vì chính mâu thuẫn về giải phóng nô lệ mà nước Mỹ đã xảy ra cuộc nội chiến. Tác phẩm Tuyến hoả xa ngầm được hai giải thưởng sách quan trọng tại Mỹ là giải sách quốc gia năm 2016 và giải Pulitzer năm 2017. Nhìn hình tác giả ở bìa sách cũng nghệ sĩ lắm: tóc dài tết lọn nhỏ kiểu người Châu Phi họ hay tết ý. Ngắn gọn lại là quyển này hay. Không phải tự dưng mà nó lại được 2 giải thưởng sách quan trọng đâu.   Mời các bạn đón đọc Tuyến Hỏa Xa Ngầm của tác giả Colson Whitehead & Nguyễn Bích Lan (dịch).
Pachinko (Tiểu Thuyết)
TÁC PHẨM VÀO CHUNG KHẢO NATIONAL BOOK AWARD 2017 MỘT TRONG MƯỜI CUỐN SÁCH XUẤT SẮC NĂM 2017 DO THE NEW YORK TIMES BÌNH CHỌN Tiểu thuyết mê hoặc và cuốn hút này xoay quanh 4 thế hệ của một gia đình người đánh cá ở một ngôi làng gần thành phố cảng Busan, Hàn Quốc, bắt đầu từ năm 1910, khi Nhật Bản thôn tính Nam Hàn. Đứa con trai duy nhất còn sống sót của họ - Hoonie - bẩm sinh bị hở vòm miệng và vẹo chân, rốt cuộc cũng lấy được vợ - con gái út của một tá điền mất đất. Để che giấu sự xấu hổ khi đứa con gái mới tuổi thanh thiếu niên của Hoonie, Sunja, trót mang thai với một doanh nhân đã có gia đình, Baek Isak - một vị mục sư tốt bụng đã cưới cô và đưa cô đến sống ở Osaka. Sau khi ông này mất, Sunja đã kiên cường làm việc chăm chỉ để nuôi sống gia đình trong những năm chiến tranh khốc liệt. Con trai lớn của bà đỗ Đại học Waseda. Con trai út phát đạt nhờ mở hàng chơi pachinko, nơi các con bạc dùng các cỗ máy chơi một trò tương tự pinball. Thế nhưng tương lai của họ lại bị những bí mật và sự bội phản trong quá khứ phủ lên một bóng đen u ám… Pachinko là một câu chuyện về tình yêu, sự hy sinh, tham vọng và lòng trung thành. Từ các chợ đường phố nhộn nhịp đến các trường đại học tốt nhất Nhật Bản, các nhân vật phức tạp và nhiệt huyết của Min Jin Lee - những phụ nữ mạnh mẽ, bướng bỉnh, những người con trai tận tụy, những người cha bị lung lay bởi cuộc khủng hoảng luân lý - tồn tại và phát triển chống lại sự thờ ơ vòng cung của lịch sử. NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM “Trong tác phẩm hoành tráng đầy ám ảnh này, không câu chuyện nào là phụ và chỉ để lướt qua. Lee đã cho chúng ta thấy rằng, đằng sau vẻ ngoài của những con người rất khác nhau là vô số ham muốn, hy vọng và những nỗi niềm riêng tư, chỉ cần chúng ta có đủ kiên nhẫn và từ bi để nhìn ngắm và lắng nghe.” _The New York Times Book Review “Thật đáng kinh ngạc. Bóng dáng bút pháp của Dickens và Tolstoy đã được áp dụng cho câu chuyện về một gia đình người Hàn sống ở Nhật trong thế kỷ 20.” _Gary Shteyngart, tác giả ăn khách nhất theo The New York Times “Pachinko đã đưa Lee lên hàng những tiểu thuyết gia tài giỏi nhất của chúng ta.” _Junot Díaz, nhà văn đoạt giải Pulitzer 2008 ______ Trích dẫn “Hãy chi tiêu những gì con cần nhưng hãy bỏ dù chỉ vài đồng xu vào một cái lọ và quên rằng mình có nó. Một người phụ nữ lúc nào cũng nên dành dụm chút ít. Hãy chăm sóc chồng con thật chu đáo. Nếu không, người đàn bà khác sẽ làm việc đó. Hãy đối xử với gia đình nhà chồng bằng sự kính trọng. Hãy nghe lời họ. Nếu con phạm sai lầm, thì họ sẽ nguyền rủa gia đình ta. Hãy nghĩ đến người cha tốt bụng của con, người luôn làm điều tốt nhất cho mẹ con ta.” *** "Pachinko" lấy bối cảnh thuộc thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc và bắt đầu Thế chiến thứ 2. Trong không gian ấy, quyển tiểu thuyết xoay quanh 4 thế hệ một gia đình Hàn Quốc. Một người dân chài lớn tuổi cùng vợ mở nhà trọ ở ngôi làng gần thành phố cảng Busan. Hai ông bà sinh được ba người con trai nhưng chỉ có một đứa con sống sót – đứa yếu đuối nhất và bị dị tật bẩm sinh - Hoonie. Thật may, cậu con trai cũng lấy được vợ, nhưng hai ông bà mất sau ngày con trai cưới 3 năm. Số phận gia đình Hoonie cũng chẳng khá gì hơn, lần lượt sinh được 4 đứa con thì chỉ duy đứa con thứ 4 sống sót – đó là Sunja.  Khi Sunja lớn trạc tuổi thiếu niên thì cô trót mang thai với một doanh nhân tình cờ ghé qua làng chài Yeongdo, Busan. Khi ông ta bỏ đi, một vị mục sư tốt bụng đã cưới cô và đưa cô đến sống ở Osaka. Sau khi chồng mất, Sunja đã cố gắng để nuôi sống gia đình trong những năm chiến tranh khốc liệt. Mọi thứ tưởng như được đền đáp, con trai lớn của Sunja đỗ Đại học Waseda, con trai út làm ăn thuận lợi nhờ mở hàng chơi pachinko – một trò chơi rất phổ biến tại Nhật. Tuy nhiên, tương lai của họ lại bị phủ lên bởi bóng đen u ám và những bí mật của quá khứ. Pachinko là một trong 10 cuốn sách xuất sắc nhất năm 2017 do The New York Times bình chọn. Bình luận về tác phẩm này, The New York Times Book Review viết: “Trong tác phẩm hoành tráng đầy ám ảnh này, không câu chuyện nào là phụ và chỉ để lướt qua. Lee đã cho chúng ta thấy rằng, đằng sau vẻ ngoài của những con người rất khác nhau là vô số ham muốn, hy vọng và những nỗi niềm riêng tư, chỉ cần chúng ta có đủ kiên nhẫn và từ bi để nhìn ngắm và lắng nghe”. Trong khi đó, Gary Shteyngart, tác giả ăn khách nhất theo The New York Times, nhận xét: “Thật đáng kinh ngạc. Bóng dáng bút pháp của Dickens và Tolstoy đã được áp dụng cho câu chuyện về một gia đình người Hàn sống ở Nhật trong thế kỷ 20.” Min Jin Lee sinh năm 1968 tại Seoul. Là nhà văn đương đại người Mỹ gốc Hàn; nổi tiếng với những tiểu thuyết chủ đề di dân. Năm 7 tuổi, Min Jin Lee cùng gia đình di cư sang Mỹ. Cô học lịch sử tại Đại học Yale và luật tại Đại học Georgetown; làm luật sư tại New York vài năm trước khi bắt đầu sự nghiệp văn chương. Min Jin Lee từng ở Nhật trong bốn năm. Hiện cô đang sống và viết tại New York. *** TIỂU THUYẾT PACHINKO CỦA MIN JIN LEE ĐƯỢC OBAMA KHUYÊN ĐỌC Cựu tổng thống Mỹ Barack Obama vừa chia sẻ trên trang cá nhân về những cuốn sách yêu thích gần đây của ông, một trong số đó chính là tiểu thuyết Pachinko của nhà văn gốc Hàn Min Jin Lee. "Đây là một cuốn sách vô cùng hấp dẫn mà tôi được một bạn nhân viên trẻ gợi ý đọc - một cuốn tiểu thuyết lịch sử về trải nghiệm nhập cư của người Hàn Quốc ở Nhật Bản thời chiến. Min Jin Lee thu hút bạn đọc ngay từ dòng đầu tiên: “Lịch sử đã làm chúng ta thất vọng, nhưng không sao.” - “History has failed us, but no matter.” Tựa sách được đặt theo tên của trò chơi pinball phổ biến tại Nhật Bản, một trò chơi may rủi nơi người chơi có thể điều chỉnh tốc độ và hướng đi của quả bóng, nhưng một khi bóng đã được phát đi thì kết quả sẽ được quyết định bởi một mê cung các chướng ngại vật. Tương tự như bản chất của trò chơi này, tiểu thuyết của Min Jin Lee đưa chúng ta qua bốn thế hệ của một gia đình cùng với hành trình tìm kiếm căn cước và thành công của mỗi nhân vật. Pachinko là một câu chuyện mạnh mẽ về sự bền bỉ và lòng trắc ẩn." *** Lấy hình ảnh chiếc máy trò chơi may rủi pachinko của Nhật Bản làm biểu tượng, nữ tác giả người Mỹ gốc Hàn Min Jin Lee đã viết lên thiên tiểu thuyết "Pachinko" kể về lịch sử của một gia đình Hàn Quốc sống lưu vong trên đất Nhật. Câu chuyện bắt đầu ở một làng chài duyên hải Hàn Quốc năm 1910, nơi người dân sống một cuộc đời lầm lũi, đói nghèo dưới ách cai trị lúc bấy giờ của đế quốc Nhật. Cô bé Sunja sinh ra trong gia đình có người cha bị dị tật bẩm sinh, sớm qua đời, bỏ lại cô cùng bà mẹ góa điều hành một nhà trọ tồi tàn. Trong một cuộc gặp gỡ định mệnh, cô phải lòng một người đàn ông giàu có, từ đây số phận của cô hoàn toàn thay đổi… Những nhân vật trong tiểu thuyết này cũng giống như viên bi trong trò pachinko, phó mặc số phận mình cho may rủi, bị ném đi khắp bàn, hay bị đánh tơi tả bởi những thanh chắn mà không tự làm chủ được vận mệnh. Đối với họ, cuộc đời là một chiếc máy pachinko khổng lồ, còn họ chỉ là những đồng xu hay viên bi trong cỗ máy đời ấy. Cô bé Sunja không muốn chấp nhận cuộc sống giàu sang nhưng mang thân vợ lẽ, dấn thân vào dòng đời đầy gian truân, chấp nhận xa lìa tổ quốc, chịu biết bao khổ nạn. Ở "Pachinko", ta có thể bắt gặp những con người đê tiện, cơ hội, ăn hôi trên xương máu đồng bào hay táng tận lương tâm nhưng đồng thời ta cũng thấy những con người độ lượng và bao dung, đối xử với nhau bằng tình thương, chan hòa và bác ái. Min Jin Lee sinh năm 1968 ở Seoul, di cư sang Mỹ cùng gia đình năm lên 7. Trưởng thành trong một xã hội được xem là văn minh hiện đại nhưng đầy rẫy những mâu thuẫn về sắc tộc, cô bé da vàng Min Jin Lee hiểu thế nào là thân phận lưu vong. Trong ấn bản tiếng Việt (dịch giả: Nguyễn Bích Lan; Phanbook và NXB Phụ nữ, quý IV, 2018), độc giả được chứng kiến Sunja từ một thiếu nữ côi cút biến thành một lão bà con đàn cháu đống hay Noa từ lúc còn là một bào thai trong bụng Sunja cho đến khi thành ông bố 4 con, tiểu thuyết "Pachinko" ôm gần như trọn vẹn cả thế kỷ XX của một gia đình Hàn trên đất Nhật. Tài năng của Min Jin Lee được ghi nhận khi "Pachinko" lọt vào vòng chung khảo giải National Book Award và được tờ The New York Times bầu chọn là một trong mười cuốn sách xuất sắc nhất năm 2017. Mời các bạn đón đọc Pachinko (Tiểu Thuyết) của tác giả Min Jin Lee & Nguyễn Bích Lan (dịch).
Khi Loài Vật Lên Ngôi
Đây thực chất là một cuốn tiểu thuyết khôn ngoan, dí dỏm về bản chất man rợ của con người, và sa giông chỉ là một công cụ để biểu đạt cái ẩn dụ sâu sa ấy. Thuyền trưởng người Hà Lan, Đại úy Van Toch, trong một cuộc đi săn tìm ngọc trai, đã phát hiện ra những con sa giông khổng lồ, chỉ có thể được tìm thấy trên một hòn đảo gần Sumatra. Những người bản địa gọi chúng là “tapa”, hoặc "quỷ biển". Những con sa giông muốn ăn hàu nhưng chúng không thể tách vỏ được. Van Toch muốn ngọc trai nhưng rất khó khăn trong việc lặn sâu để bắt được hàu. Ngoài ra các loài động vật ăn thịt lớn như cá mập luôn là mối đe dọa với sa giông. Và chính từ đó, Van Toch đã nghĩ ra một phi vụ làm ăn, có thể xem là mấu chốt của mọi vấn đề. Vị thuyền trưởng bắt đầu cung cấp cho những con sa giông dao để chúng có thể tách hàu, và đâm cá mập. Hơn nữa, kế hoạch nhân rộng sa giông sang những vùng khác cũng bắt đầu được lan rộng. Thuyền trưởng Van Toch tìm thấy một người đầu tư tài chính, và bắt đầu từ đó những con sa giông được rao bán trên thế giới. Sa giông không chỉ thu gom ngọc trai và san hô, chúng con được thuê để làm tất cả những công việc dưới nước như xây đập, thủy điện, đê điều, kéo dài đường bờ biển... Khi Van Toch chết, công ty mang tên Salamander Syndicate đã được thành lập, và bắt đầu khai thác sa giông giống như một lực lượng lao động giá rẻ. Hàng tỷ con sa giông đã lan rộng đến tất cả các bờ biển và các quốc gia. Cuối cùng, con người và sa giông đã đi đến xung đột, để tranh giành địa bàn, tranh giành sự sống, và quyền lực. Karel Capek chính xác là một bậc thầy của thể loại hài hước đen. Ông đã biến tất cả mọi thứ âm mưu xấu xa thành một câu chuyện mang lại niềm vui thú vị. Ông chế giễu cách thủy thủ nguyền rủa sa giông, châm biếm sự thông minh, chợ đen, các doanh nhân, chủ nghĩa tư bản, Ki Tô giáo, nhà sưu tập, rượu, xu hướng và lý thuyết trong giáo dục, khai thác, một nhất thời, thời trang, chú thích, thói tham lam, đạo đức giả, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa Phát xít, những người cố gắng để tiếp tục chương trình nghị sự của của chính họ. Ông chế giễu ô nhiễm, phân biệt chủng tộc, tôn giáo, thói tự cao tự đại, ngụy biện, chiến tranh, những người giàu có, những câu lạc bộ phụ nữ, và đặc biệt là khoa học, những nghiên cứu, hội nghị, khám phá tranh luận dài dòng về loài sa giông.... đã khiến câu chuyện trở thành một bức tranh châm biến lý thú, vạch trần đầy đủ bộ mặt của xã hội, với một thứ văn chương sâu cay, hài hước, và thông minh. Cuốn sách được xuất bản lần đầu vào năm 1936, “khi nó vẫn còn có thể cười vào Adolph Hitler”. Trong cuốn sách có nhiều đoạn thú vị về nước Đức. Ví dụ chi tiết  người Đức quyết định rằng con sa giông của họ là cấp trên, nhạt màu, đi bộ nhiều hơn xây dựng, và có những đặc tính vượt trội hơn hẳn sa giông ở nơi khác. Với thái độ khinh bỉ, họ mô tả những con sa giông Địa Trung Hải thoái hóa, còi cọc cả về thể chất và đạo đức, xem chúng là các con sa giông man rợ nhiệt đới, và hoàn toàn là loài sa giông cấp dưới. Khi loài vật lên ngôi hài hước, châm biếm, bất ngờ, súc tích. Với cách giới thiệu nhân vật mới, phong cách tự sự mở, trong hầu hết các chương, chỉ với một không khí châm biếm. Câu chuyện sa giông cũng có thể được xem là một câu chuyện ngụ ngôn cho những kinh nghiệm của nhiều dân tộc bị áp bức và những nạn nhân của chủ nghĩa thực dân, luôn bị yếu thế, nhưng cũng luôn có ý thức nỗ lực để được văn minh, để trở thành thành viên của xã hội da trắng châu Âu, chiếm đoạt các nghi lễ văn hóa, và tất nhiên là chế độ nô lệ. Đây là một cuốn sách, trong đó có đám đông, và cần được đọc bởi đám đông. Không có nhân vật chính trong Khi loài vật lên ngôi, thay vào đó câu chuyện được trình bày như một bài học lịch sử lâu dài mang tính giải trí. Người kể chuyện trích từ bài báo khoa học, các cuộc phỏng vấn, và những bài báo được sưu tập bởi ông Povondra. Povondra là một nhân vật khá xuyên suốt, và thú vị trong cuốn sách. Ban đầu ông cảm thấy rất tự hào rằng mình là một người có tác động to lớn quan trọng đến sự phát triển của lịch sử văn minh loài người, nhưng rồi đến cuối đời, lại chết trong nỗi ám ảnh tội lỗi về sự xuất hiện của sa giông tại dòng sông nơi quê hương mình. Capek tự hỏi mình: "Này anh, anh không thấy hối tiếc cho loài người hay sao?"  Ông tự đáp:" Lạy Chúa, hãy để tôi yên! Tôi biết làm sao bây giờ?" “Tôi nói cho anh biết: ngay cả lúc này, khi một phần năm châu Âu đã chìm dưới nước, anh có biết ai vẫn ngày đêm làm việc như điên cuồng trong các phòng thí nghiệm để cố sáng chế ra những máy móc và vật liệu phá hủy cho hiệu quả hơn không? Anh có biết ai vẫn cho sa giông vay tiền, ai đang tài trợ cho sự tận diệt thế giới này, cho trận Tân Đại Hồng Thủy hay không?” Capek hẳn có tiếc, nhưng đó là tiến trình phát triển tự nhiên của loài người. Các ông nhà văn chẳng bao giờ có thể can thiệp vào điều đó. Đây không phải là suy đoán về những gì trong tương lai, mà là tấm gương phản chiếu cái đang tồn tại và chúng ta đang sống chung với nó. Khi loài vật lên ngôi dành được rất nhiều lời khen ngợi của những tác giả nổi tiếng. Nhà văn Milan Kundera từng nói “Khi loài vật lên ngôi sẽ không bao giờ rơi vào quên lãng… Čapek có lẽ là nhà văn châu Âu đầu tiên có những tác phẩm hình dung trước được viễn cảnh khủng khiếp của thế giới toàn trị.” Cuốn sách này còn là cảm hứng cho vô số tác phẩm lừng danh được xuất bản sau, có thể liệt kê ra như: 1984 hay Trại súc vật của George Orwell; hay The Sirens of Titan, Harrison Bergeron của Kurt Vonnegut… và ngay cả ý tưởng sinh sản đơn tính của khủng long trong Công viên kỷ Jurassic… Čapek được đề cử giải Nobel Văn học bảy lần, nhưng ông không bao giờ giành chiến thắng. Tuy nhiên, một số giải thưởng lại mang tên ông, như giải Karel Čapek, được trao tặng hàng năm bởi Czech PEN Club cho tác phẩm văn học góp phần củng cố và duy trì các giá trị dân chủ và nhân văn trong xã hội.  Ông cũng là một nhân vật chủ chốt trong việc tạo ra các PEN Club Tiệp Khắc là một phần của Văn Bút Quốc tế.  Phong Linh - Zing.vn *** Tôi thường được hỏi, điều gì đã thôi thúc tôi viết “Khi loài vật lên ngôi”, và tại sao tôi lại chọn loài động vật lưỡng cư để làm hình tượng cho cái gọi là tiểu thuyết viễn tưởng của mình về sự diệt vong của nền văn minh loài người. Thành thực mà nói, ban đầu tôi không hề có ý định viết tiểu thuyết viễn tưởng. Tôi cũng không có mối quan tâm yêu thích nào đặc biệt đối với hình thức viễn tưởng; trước khi bắt đầu viết về những con vật lưỡng cư này, thậm chí trong đầu tôi là một tiểu thuyết hoàn toàn khác. Tôi nghĩ ra hình mẫu một người tốt, hơi giống với người cha quá cố của tôi, một bác sĩ tỉnh lẻ với các bệnh nhân; đó phải là một bài ca về ngành y, và phần nào đó về bệnh lý xã hội. Tôi đã khá hứng thú với ý tưởng đã nghiền ngẫm trong đầu tuần này qua tháng khác, nhưng lại không tài nào thấu cảm hoàn toàn. Tôi hoài nghi, liệu nhân vật bác sĩ tốt bụng có thể làm gì trong cái thế giới hỗn loạn này, như bấy lâu nay. Vâng, ông ấy có thể chữa lành vết thương cho mọi người, nhưng hầu như không liên can gì đến sự bất lực và nỗi đau mà thế giới chúng ta đang chịu đựng. Tôi nghĩ về người bác sĩ tốt bụng, nhưng cả thế giới này lại đang quay cuồng với khủng hoảng kinh tế, bành trướng dân tộc và ngòi nổ chiễn tranh. Tôi không thể nào hóa thân vào nhân vật bác sĩ của mình, bởi tôi - cho dù không ai đòi hỏi điều này ở các nhà văn - vẫn luôn trăn trở một điều: Cái gì đang đe dọa thế giới loài người? Sự thật hiển nhiên là tôi không thể xoay chuyển được hiểm họa của văn minh nhân loại, nhưng ít nhất tôi không thể ngồi nhìn và không thể thôi nghĩ đến điều đó. Mùa xuân năm ngoái, thời kỳ mà kinh tế thế giới xấu đi và chính trị còn tồi tệ hơn, tôi có lần đã viết câu này: “Bạn không được phép nghĩ rằng, sự phát triển đang bùng nổ trong cuộc sống của chúng ta là cơ hội phát triển duy nhất trên hành tinh này”. Và đây rồi. Câu này là nguyên nhân khiến tôi viết “Khi loài vật lên ngôi”. Điều này luôn đúng: Chúng ta không thể loại trừ khả năng là, trong những điều kiện phù hợp, một loài sinh vật khác con người cũng có thể trở thành cái nôi của sự phát triển văn minh. Nếu xét theo con người với nền văn minh và văn hóa của mình, trong suốt lịch sử phát triển từ một loài linh trưởng, từ các bộ lạc nguyên thủy, ta có thể mường tượng một nguồn năng lượng tiến hóa tương tự có thể chi phối quá trình phát triển của các loài động vật khác. Không thể loại trừ khả năng là, trong những điều kiện sống nhất định, ong hay kiến có thể trở thành những giống loài thượng đẳng, năng lực văn minh của chúng không thua gì chúng ta. Cũng không thể loại trừ khả năng này ở các sinh vật khác. Trong những điều kiện sinh học thuận lợi, một nền văn minh khác có thể xuất hiện, không thấp kém hơn nền văn minh của chúng ta, kể cả dưới sâu thẳm đại dương. Đấy là ý tưởng ban đầu; và ý tưởng thứ hai: Giả sử một loài động vật khác con người đạt được cái trình độ mà chúng ta gọi là nền văn minh, thì bạn nghĩ gì? Chúng cũng làm những điều vô nghĩa như loài người? Cũng châm ngòi các cuộc chiến tranh? Cũng gây ra các thảm họa lịch sử? Và chúng ta nhìn nhận thế nào về chủ nghĩa đế quốc của loài bò sát, chủ nghĩa dân tộc của loài mối, về sự bành trướng kinh tế của chim hải âu hay cá mòi? Chúng ta sẽ nói gì khi một loài động vật khác con người, với tri thức và số đông áp đảo, tuyên bố rằng chỉ có chúng mới có quyên ngự trị cả thế giới và thống soái muôn loài? Khi so sánh với lịch sử loài người, và với những gì nóng bỏng nhất vừa xảy ra, tôi buộc phải ngồi vào bàn mà viết “Khi loài vật lên ngôi”. Giới phê bình liệt nó vào tiểu thuyết viễn tưởng. Tôi phản đối từ này. Đây không phải là viễn tưởng, mà là hiện thực. Đây không phải là suy đoán về những gì trong tương lai, mà là tấm gương phản chiếu cái đang tồn tại và chúng ta đang sống chung với nó. Đây không phải truyện hoang đường, thứ mà tôi có thể cho không và còn tặng thêm bất cứ lúc nào, bao nhiêu tùy thích và cho bất cứ ai. Đây chính là hiện thực. Biết làm sao được, nhưng văn chương nếu không quan tâm đến thực tại và những gì thực sự xảy ra trên thế giới, nếu không có những phản ứng mạnh mẽ mà chỉ là ngôn từ và ý nghĩ sáo rỗng, thì đó không phải văn chương của tôi. Thế đấy, tôi viết về những con vật lưỡng cư vì tôi nghĩ đến loài người, tôi đã chọn một loài vật giống con sa giông làm hình tượng, không phải vì tôi thích hay không thích nó hơn những sản phẩm khác của Tạo Hóa, mà vì chuyện dấu tích của loài sa giông khổng lồ tiền sử ở Phân kỷ Đệ tam đã từng bị lầm tưởng là hóa thạch của tổ tiên loài người; do đó trong tất cả các loài vật, sa giông có vị trí lịch sử đặc biệt để có thể bước lên khán đài như là hình ảnh của chúng ta. Và nếu như có một cái cớ để có thể miêu tả những việc liên quan đến con người mà tác giả buộc lòng phải hóa thân vào những con sa giông thì đây là một trải nghiệm hơi lạnh lẽo, nhưng rốt cuộc nó cũng quyến rũ và kinh hoàng như khi hóa thân làm Nhân loại. KAREL ČAPEK (1936) Mời các bạn đón đọc Khi Loài Vật Lên Ngôi của tác giả Karel Čapek & Đăng Thư (dịch).
Đêm Núm Sen
  “Ba giờ đêm, dưới phố, lại lào xào một cuộc hành binh dài dặc, về làng… Tôi tỉnh giấc. Sứa nằm thiêm thiếp bên vai tôi. Tôi nghe tiếng Sứa thở. Tôi vuốt nhẹ, dọc cái lưng trần. Vuốt nhẹ. Tôi nhớ cặp đùi. Khi nãy, nó giãy. Nó giãy cuống quýt. Tôi đưa tay vuốt. Sứa vẫn thiêm thiếp. Tôi vuốt. Căn buồng đỏ mênh mông. Tôi vuốt sự ngây thơ rơm rớm. Con nai nằm nghiêng đùi hơi co. Tôi vuốt… Dưới phố, những ki lô mét hành quân… Tôi vuốt. Sứa tỉnh dậy. Sứa thẹn. Sứa co người lại. Tôi vuốt. Con nai ngây thơ của tôi ơi! Tôi vuốt con nai bị thương của tôi. Rơm rớm… Rơm rớm…” Khi kiến Gầy phải lòng một cô gái vú vểnh, và sục sạo đến tận nhà của cô nàng, tức biệt thự Đá Đỏ, để tìm hiểu và tỏ tình, anh chàng không sao ngờ được cuộc chinh phục của mình lại có thể gian nan đến thế và nhất là, có thể bị chia cắt đến như vậy. Bởi cuộc chiến. Tình yêu của kiến Gầy, như của bao nhiêu người-kiến kiến-người khác, đã bị chiến tranh tràn qua, như một cơn hồng thủy. Đêm núm sen, hơn cả một cuộc phiêu lưu vào một thế giới giả tưởng, nơi mà cuộc sống cá nhân, bị nghiền nát và cuốn đi bởi chiến tranh, bởi đời sống tập thể, trước hết, là một cuộc trình diễn ngôn ngữ của một tác giả mà từ vựng là của thi ca và cảm xúc là của thi sĩ. Ai có thể tả những phấp phỏng, thẹn thùng, nhớ nhung, đay khổ, say đắm như Trần Dần? Ai có thể tả đêm núm sen phập phồng cảm xúc và sexy như Trần Dần? Với Đêm núm sen, sự viết của Trần Dần một lần nữa khẳng định rằng tiếng Việt đẹp thế nào và vì sao ông vẫn là một thành lũy vời vợ Chẳng phải vậy ư, khi những trang bản thảo ố vàng, tìm được đường trở lại sau hơn nửa thế kỷ bị cất giấu, bị gián nhấm và thất lạc, vẫn tỏa nguyên một “quyền lực man mác” lên chúng ta hôm nay. *** Tác giả Trần Dần lựa chọn hình thức ngụ ngôn để viết Đêm núm sen, thay vì chọn bối cảnh thực như Những ngã tư những cột đèn. Hình thức ngụ ngôn khiến cho tiểu thuyết xa rời quy chiếu có tính hiện thực, tạo ra một không gian có tính ước lệ, biểu tượng. Câu chuyện làng Mận, cuộc chiến ở đây gần như là phản chiếu của rất nhiều cuộc chiến, của rất nhiều thân phận con người. Nhà văn Trần Dần thường vượt qua cái khung một thể loại văn chương ở nhiều điểm. Với Đêm núm sen, Dương Tường gọi là một ngụ ngôn đen, giống như những ngụ ngôn đen của Gunter Grass thể hiện gương mặt bị lãng quên của lịch sử. Tác phẩm là một ngụ ngôn đen kể chuyện con vật, nhưng câu chuyện đi rất xa so với tác phẩm đồng thoại. Ở đây, loài kiến không chỉ gợi ra ý niệm nhỏ bé, mà nó sống theo bầy. Khi nhìn kiến, ta chỉ có thể nhìn nó khi cúi thật thấp. Quan hệ của loài kiến là mối quan hệ giữa cá nhân và bầy đàn, mà cá nhân thường bị đẩy ra bên lề lịch sử. Tác phẩm được viết với nhịp độ nhanh, mạnh, gấp gáp, mang hơi thở trên từng bề mặt câu chữ. Tác giả Trần Dần trong những nhật ký có nói ý chiến tranh không cho phép người ta nghĩ được nhiều. Trong cuộc chiến, mọi thứ diễn ra quá nhanh, tất cả câu chuyện dù lớn lao hay nhỏ bé, chiến tranh không làm cho người ta nghĩ. Đêm núm sen dưới lớp vỏ nhanh, gấp gáp, các sự kiện liên tục diễn ra, các nhân vật liên tục xuất hiện, nhưng trong cái cách hối hả đó là sự suy nghĩ thật chậm, thật sâu vào chiến tranh. Tất cả những câu đối thoại ngắn gọn, những nhịp đi gấp gáp trong sách được nhà văn tính toán kỹ lưỡng để người đọc buộc phải suy nghĩ. Nhà phê bình văn học Mai Anh Tuấn thừa nhận “Tôi không đủ sức để đuổi theo hết ý tưởng của Trần Dần. Cuốn sách này làm cho ta ngỡ ngàng về tính hiện đại. Đọc nó, cho tôi những cặp tri nhận khác nhau: chiến đấu – lao động, tình yêu – sự thù oán, đau khổ – hèn nhát, mộng tưởng – tuyệt vọng…" Những cặp cảm giác mà Mai Anh Tuấn nêu ra trong sách không chỉ đúng với con người ở một thời đại, mà đúng với chúng ta ở thời đại ngày hôm nay. Chính vì thế, độc giả hôm nay khi chạm đến cặp cảm giác đó có vẫn có thể tìm được tiếng nói chung ở tác phẩm. Và cũng vì thế, mà tác phẩm dẫu được viết ra từ hơn nửa thế kỷ trước, tới nay vẫn phù hợp và mới mẻ.  *** TRẦN DẦN sinh ngày 23.8.1926 trong một gia đình khá giả tại phố Năng Tĩnh, thành phố Nam Định. Ông học trung học tại Hà Nội, đậu tú tài Pháp và bắt đầu làm thơ. Năm 1946, Trần Dần lập nhóm thi sĩ tượng trưng cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương... Cũng trong năm này, tạp chí Dạ Đài ra số 1, đăng bản tuyên ngôn của phái Tượng trưng do Trần Dần chấp bút. Năm 1954, Trần Dần viết Người người lớp lớp, cuốn tiểu thuyết duy nhất của văn học Việt Nam thời kỳ đó về Điện Biên Phủ. Sau đó Trần Dần viết Nhất định thắng (thơ, 1955); Đi! Đây Việt Bắc (trường ca, 1957), Cổng tỉnh (thơ, 1960); Đêm núm sen (tiểu thuyết, 1961), Jờ Joạcx (thơ, 1963), Mùa sạch (thơ, 1964) Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết, 1964)... Năm 1976, Trần Dần và Dương Tường thử nghiệm Thơ thị giác. Năm 1980, Trần Dần viết bộ tam 36 thở dài - Tư Mã dâng sao, năm 1987 viết Thơ mini... Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997 tại Hà Nội. Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Một số tác phẩm khác của Trần Dần được Nhã Nam xuất bản: — Trần Dần thơ — Đi! Đây Việt Bắc — Những ngã tư và những cột đèn   *** "Mỗi lần đứt tay... lại đau một lần.” Mỗi lần đau, lại một lần thấy có "nhiều im-lặng biết nói”, cùng “nhiều câu nói không-nói-gì”. Đấy là những nỗi đau lặp lại. Đấy là thân phận của một nhân vật kiến, của nhiều nhân vật kiến của cả loài kiến. Đấy là ngôn từ, chẳng thể chỉ dành riêng cho một người, cho nhiều người hoặc cho cả loài người. Đêm núm sen là cuốn sách như thế về một xã hội côn trùng khép mình trong lịch sử của chính nó, một xã hội có thừa đau thương đến nỗi chỉ có thể an bình mà chịu kiếp cô lập, bởi vì mọi lối ra bên ngoài lại chính là những lối vào của nguy hiểm và chiến tranh. Một xã hội mà ở đấy lũ kiến yêu thích giả buồn để mua vui, để sau đó lại “không nên đùa với cái buồn”. Đêm núm sen là cuốn tiểu thuyết về một cộng đồng nhân loại mà ở đấy có “sáng tác tập thể”, có “những tác giả nặc danh của chiến thắng”, có “quá nhiều nước mắt”, có những bữa tiệc mà mỗi lần “đi dự tiệc, cứ phải ngâm thơ”, có diễn thuyết, có những thở dài vì “ai có thể cãi được với tin đồn?” Đêm núm sen cũng là một bài trí sân khấu khổng lồ để đưa khán giả vào những “ki lô mét nhớ”, vào “những ngã tư, cột điện lằng nhằng”, vào phố Bồ Đào, phố Gầm Cầu, phố Xu Xê, phố Hoa Mười Giờ, đại lộ Mùa Thu, chẳng hề tồn tại ở bất cứ nơi nào... rồi vào những phố Hy Lạp, những xóm La Tinh... rồi tới phố Hàng Gà và phòng tuyến Chèm là những địa danh có thật ở Hà Nội. Nhưng trên hết, Đêm núm sen chính là tình yêu, là cuộc đi tìm tình yêu. Và bởi vì tình yêu mà lũ kiến có thể hóa thân thành người hoặc ngược lại con người sẵn sàng mang kiếp của kiến. Nhưng thực ra kiếp người hay kiếp côn trùng, đâu có khác gì nhau. Những loại chủng này bao giờ cũng lủng củng yêu thương, ngay cả khi chiến tranh ập đến, ngay cả khi chúng bị cuốn vào đau thương và mất mát. Cái còn lại chỉ là tình yêu. Và quan niệm về tình yêu thì làm sao thay được. Đấy là khi anh kiến Gầy thổ lộ lời yêu với nàng kiến: “Sứa có tin là tôi yêu Sứa thế này, tức là tôi chỉ yêu độc có mình tôi thôi không?” Đấy cũng là lúc mà kiến Gầy trong những khổ sở vì tình yêu, bất chợt quên cả tổ tiên và nguồn gốc mà than thở, rằng ở nơi mà lũ kiến đang sống “mỗi người là một tiểu thuyết”. Ngôn từ này của anh kiến Gầy, kéo dài trong những độc thoại cùng đối thoại, có đôi chút ngây ngô cụt lủn và kém văn học của loài kiến, có không ít nhạy cảm và phức tạp của loài người, để không thể không nhắc tới chàng trai trẻ của Cổng tỉnh năm 1960, và Trần Dần trong những bài thơ lẻ 1963. Chàng trai tỉnh lẻ, nhà thơ, và anh kiến, cả ba chia nhau cùng những từ vựng, cùng một tình yêu phố phường, cùng một cảm thụ một cảm xúc thẩm mỹ. Chính vì vậy mà đâu đó trong suốt chiều dài lời kể chuyện vụng dại của kiến, thể nào cũng lấp lánh những ngôn từ thô tục mà chỉ Trần Dần mới chắp lại được thành thơ. Viết năm 1961, Đêm núm sen cũng như nhiều tác phẩm khác của cùng tác giả, phải đợi nhiều thập niên mới đến được với công chúng. “Có cần kể nữa không?” câu hỏi chẳng biết trả lời ra sao của anh kiến Gầy, khi mà 56 năm đã qua kể từ khi Trần Dần hoàn thành bản thảo, khi mà Đêm núm sen đã được gấp rút biên soạn trong những ngày đầu năm 2017. Vào đúng lúc mà 20 năm về trước nhà thơ đã vội vã ra đi. Một lần cho mãi mãi. 1 TRẦN TRỌNG VŨ   Mời các bạn đón đọc Đêm Núm Sen của tác giả Trần Dần.