Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nếu Còn Có Ngày Mai

Được đông đảo fans trinh thám đánh giá là một trong những tác phẩm cuốn hút nhất của Sidney Sheldon, tiểu thuyết Nếu còn có ngày mai không chỉ lôi cuốn trong cách Sidney tạo dựng cốt truyện gay cấn mà hơn cả là cách ông xây dựng hết sức thành công sự phát triển cá tính, tâm lý của hàng loạt nhân vật. Lòng tin và sự công bằng vốn có tồn tại trong cuộc đời? Có thể nói, thế giới trong tiểu thuyết Nếu còn có ngày mai của Sidney Sheldon là một thế giới của lừa lọc. Một thế giới nghiệt ngã bóp nghẹt tâm hồn con người, khiến sự tin tưởng và tình yêu như chẳng còn vị trí tồn tại. Tưởng chừng nơi đấy con người sống với nhau bằng những điều dối trá, vì thế mà lòng tin hoặc sự công bằng bỗng trở thành những thứ xa xỉ, một giấc mơ xa vời hay một thứ ảo vọng của những ai chưa trải qua khắc nghiệt cuộc đời. Một thế giới như thế, một cuộc đời như vậy, thực sẵn sàng để nhấn chìm mọi điều tốt đẹp nguyên bản, ban sơ nhất. Mà Tracy Whitney chính là minh chứng rõ nét nhất cho việc số phận đã xoay vần và biến đổi con người ra sao. Tracy Whitney, một cô gái trẻ, tuổi ngoài 20, xinh đẹp, thông minh. Nhưng bởi cuộc sống cô dường như quá êm đềm, tương lai cô đã quá rộng mở với một gia đình hạnh phúc, một tình yêu trọn vẹn, cùng viễn cảnh về một đám cưới sẽ diễn ra trong tương lai nên Tracy ngây thơ, đơn thuần vô cùng trong cách cô đánh giá, nhìn nhận cuộc sống và con người. Chính vì thế, khi biến cố liên tiếp xảy đến cuộc đời cô gái: Công ty gia đình phá sản, mẹ cô tự vẫn vì bị lừa đảo, Tracy đã đánh giá mọi chuyện hết sức đơn giản cũng như quá đỗi tin vào chính mình cùng “tính thiện” nơi con người. Cô tự đưa bản thân vào hang cọp, cũng không có bất cứ một sự phòng vệ nào trước bất cứ ai tỏ ra thông cảm với hoàn cảnh của cô, đồng thời Tracy còn vô cùng chậm chạp trong việc thích ứng với hoàn cảnh. Do vậy, không thể phủ nhận một điều, khoảng 100 trang đầu tiên của Nếu còn có ngày mai, tình tiết truyện trôi qua không chỉ chậm mà còn tạo một sự ức chế không nhỏ với độc giả. Ngoài vì Tracy cứ mãi ngây thơ, dẫu đã trưởng thành hơn qua sóng gió thì vẫn mang ám ảnh của một thời ngây dại còn bởi tác giả như gieo vào lòng độc giả một nỗi hồ nghi, về tính thiện của con người, về hai chữ công lý giữa cuộc đời. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, dẫu thế nào thì sự phát triển tâm lý của Tracy Whitney vẫn cực kỳ hợp lý và cũng thể hiện bút lực khá cao tay của Sidney Sheldon trong cách ông xây dựng cá tính con người. Vì là người ngoài cuộc nên độc giả dễ dàng dùng lăng kính của người thứ ba để phán xét nhân vật trên trang sách. Song hãy thử đặt bản thân vào vị trí của Tracy và tự hỏi, nếu ở hoàn cảnh như thế, ta có đù bình tĩnh, sáng suốt để suy xét mọi trường hợp không? Việc Tracy cứ mãi thơ dại, bám víu vào hết sợi dây này đến sợi dây cứu mạng khác, hết hi vọng này tới hi vọng kia là tâm lý bình thường của con người khi đi vào bước đường cùng; cho tới lúc, cô gái bé nhỏ đầy kiêu hãnh đủ chín chắn nhận ra, để sinh tồn giữa cuộc đời khắc nghiệt thì không thể dựa vào ai khác, cũng chẳng thể tin tưởng ai hoàn toàn ngoài tin vào chính bản thân mình. Và trong thế giới của Nếu còn có ngày mai, đâu chỉ Tracy là con người duy nhất sự tin tưởng bị chà đạp. Chính mẹ cô, vì lòng tin đặt sai vị trí mà dẫn đến cái chết bi thương. Hay một kẻ lừa đảo thuần thục như Jeff Stevens mà rồi cũng từng đặt tình yêu vào nhầm người. Thậm chí sau này, khi Tracy chính thức trưởng thành và trở thành một chuyên gia lừa đảo, thì cái cô đánh vào chính là nhục dục, lòng tham, sự thiếu tin tưởng con người dành cho nhau,… Ngỡ rằng cả thế giới ở Nếu còn có ngày mai, ai cũng là Joe Romano, ai cũng là tên luật sự Perry Pope, ai cũng giống tên bội bạc Charles… Sidney Sheldon như đã bóc trần cách người ta sống với nhau bằng lừa lọc và tồn tại bằng sự dối trá. Cuộc đời là chuyến phiêu lưu và dạng Robinhood thời hiện đại. Nếu đủ kiên nhẫn trải qua khoảng 100 trang đầu để thấy được sự trưởng thành của Tracy cả về nhận thức lẫn hành động thì càng về sau, Nếu còn có ngày mai lại càng thêm cuốn hút trong cách Sidney Sheldon tạo dựng lên cuộc đời Tracy như một cuộc phiêu lưu lớn; để ta thực sự nhận ra, cô gái nhỏ đó đã trưởng thành thật rồi. Đó là cách Tracy phiêu lưu trong nhà ngục để sinh tồn trước những mánh khỏe của những nữ phạm nhân sẵn sàng xâu xé cô khi có cơ hội; cách cô tìm hướng đi cho bản thân để thoát khỏi ngục tù. Đó là cách cô gái ngây thơ ngày nào, trả thù từng kẻ đã hãm hại cô bằng cách cho chúng tự xâu xé lẫn nhau. Và đó là cách Tracy, từ vẫy vùng tìm lối đi để tái hòa nhập cộng đồng khi là một người đã có tiền án đến là một chuyên gia lừa đảo khiến cho cả Interpool cũng phải vào cuộc. Một Tracy sợ hãi, rụt rè, nhút nhát, yếu đuối đã hoàn toàn được thay thế bằng một cô gái tự tin, thông minh và đầy sáng tạo. Cuộc sống ngày xưa đã thực sự lùi xa, để giờ đây, Tracy chỉ sống trong thực tại, sống với cuộc phiêu lưu đầy kích thích của riêng cô. “Nếu còn có ngày mai”, mong ước từng là của Tracy quá khứ, có lẽ cũng là lời thầm nhủ của cô hiện tại. Nhưng tâm thế của hai con người ấy đã khác nhau. Trước kia, Tracy sống hôm nay mà không biết tới ngày mai bởi cuộc đời cô không do cô quyết định. Nhưng hôm nay, vận mệnh cô là do cô định đoạt, nên nếu còn có ngày mai, cô vẫn sẽ tiếp tục sống và tiếp tục sống với niềm nhiệt huyết của bàn thân. Nếu coi cả cuốn tiểu thuyết là một màn kịch lừa đảo lớn thì cuộc phiêu lưu của Tracy chính là các lớp, hồi của vở kịch đó. Có trưởng thành, có vấp ngã, có căng thằng, mệt mỏi, nhưng đến cuối cùng, chiến thắng vẫn mìm cười với ai nỗ lực và hiểu rõ quy tắc, luật chơi như Tracy. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản là trần thuật lại mánh khóe lừa đảo dựa trên những chuyến phiêu lưu gay cấn nghẹt thở thì Nếu còn có ngày mai đã không cuốn hút độc giả và được đánh giá là tác phẩm thành công nhất của Sidney Sheldon. Mà vượt qua tất cả, Sidney đã tạo dựng thành công hình tượng một Robinhood thời hiện đại, đặc biệt hình tượng đấy lại gắn với một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh, tự cường. Tracy khiến cả Interpol vào cuộc, biến toàn bộ cảnh sát hình sự tại các nước thành trò hề. Nhưng cô có nguyên tắc hoạt động của cô: Chỉ cướp của người giàu, chỉ cướp của những kẻ làm giàu phi pháp, chỉ lấy của những kẻ giàu có coi rẻ nhân phẩm của những người xung quanh… Vì thế mà các phi vụ của Tracy không chỉ kích thích hơn mà còn gây dựng lên trong lòng độc giả một Tracy, như nữ anh hùng dân gian tồn tại thời hiện đại. Tracy và Jeff, hai con người ở cùng một thế giới, đã từng là đối thủ nhưng chính họ cũng lại là những con người có trái tim thấu hiểu và đồng cảm với nhau hơn bất cứ ai. Trải qua đủ đau thương, nếm trải đủ lọc lừa của xã hội, không ai hiểu sự thối nát của lòng người nhiều hơn hai người đó; cũng không ai hiểu mặt trái của sự giàu sang, bóng tối trong trái tim con người hơn hai người họ; đồng thời cũng chẳng ai rõ, kẻ giàu đã làm giàu trên xương máu người nghèo như thế nào hơn chàng trai, cô gái ấy. Vì thế chăng, xét về lý, hành động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của cả hai là hành động đáng bị lên án, đáng phải nhận hình phạt thích đáng của tòa án thế giới. Song xét về tình, thì hành động ấy lại cũng là chính nghĩa: một dạng chính nghĩa dân gian nhằm trừng phạt những kẻ mà hệ thống luật pháp, kẽ hở pháp luật đã chẳng thể trừng trị được. Cho nên, để nhận định rạch ròi hình tượng như những Robinhood thời hiện đại của Tracy hay Jeff là đúng hay sai, là bất nhân hay chính đạo thì có lẽ, thật khó để phân định rạch ròi. Chỉ biết rằng, hai con người đó đã sống trọn từng phút, từng giây của thì hiện tại với cùng suy nghĩ “nếu còn có ngày mai”. Nếu còn có ngày mai – Tiểu thuyết cuốn hút nhưng ngập tràn lỗ hổng. Không thể phủ nhận với Nếu còn có ngày mai, Sidney Sheldon đã thực sự cao tay trong việc khắc họa lên một Tracy Whitney dần dần trưởng thành qua từng giai đoạn hay tái hiện từng bước tiến nhỏ trong mối quan hệ giữa Tracy với Jeff. Khác hoàn toàn với nhiều tiểu thuyết khác của ông: nhân vật có thể yêu nhau ở đoạn văn thứ nhất, tới đoạn văn thứ ba cả hai đã làm đám cưới? Vì thế chuyện tình giữa Tracy với Jeff dễ tạo cho độc giả sự đồng điệu cũng như thấy rằng đó là một câu chuyện tình yêu chân thật. Cũng không thể phủ nhận, Nếu còn có ngày mai là một tác phẩm hấp dẫn trong cách Sidney Sheldon xây dựng cốt truyện, tạo dựng thắt mở tình tiết đầy gay cấn. Sự đan xen giữa quá khứ với hiện tại trong câu chuyện của từng cá nhân hay mỗi phi vụ nhân vật lại có một cách thức khác nhau để đạt được mục đích cuối cùng; tất cả tạo lên sự phức hợp nhằm duy trì độ căng cho toàn bộ cuốn sách. Tuy nhiên, dẫu là sáng tác được đông đảo độc giả yêu thích thì Nếu còn có ngày mai vẫn là một tác phẩm với ngập tràn lỗ hổng. Cách Tracy được trả tự do quá dễ dàng, cách cô quá đỗi thuận lợi trong việc trả thù mà những kẻ thù của cô lại có thể dễ dàng mắc bẫy không mảy may nghi ngờ một bên thứ ba nhúng tay, cách cô biến toàn bộ hệ thống cảnh sát thành trò hề hay thành những kẻ lố bịch kiêu căng ngu ngốc… Toàn bộ yếu tố đó, nếu độc giả đủ sáng suốt, tình táo để không bị cuốn theo mạch truyện do Sidney Sheldon dẫn dắt thì đều không khó để nhận thấy. Nhưng dù thế nào, Nếu còn có ngày mai vẫn là một cuốn sách mang đậm chất Sidney Sheldon trong cách kể, cách tả, đặc biệt là cách ông tạo dựng cấu trúc cốt truyện như những miếng ghép hình lộn xộn rồi tới cuối cùng, tất cả đều quy về một mối để tạo lên bức tranh tổng thể hoàn chỉnh. Chẳng vậy mà United Press International đã nhận định về Nếu còn có ngày mai cùng tracy Whitney: “Một nhân vật hấp dẫn nhất và một cốt truyện giàu trí tưởng tượng nhất.” *** Tôi vừa mới kết thúc những dòng chữ cuối cùng của tác phẩm “Nếu còn có ngày mai”, một tiểu thuyết Mỹ của nhà văn Sidney Sheldon. Đọc xong, máu review trong tôi lại trỗi dậy. Một người anh – bạn của chị gái đã khuyên tôi nên đọc tác phẩm này. Và thú thực tôi bắt đầu với nó chỉ vì tò mò và tính hiếu thắng của mình. Nếu tóm gọn một câu nói về tác phẩm này, thì tôi nghĩ tôi sẽ chọn từ “Lôi cuốn”. Những câu chuyện của nữ nhân vật chính – Tracy trong tác phẩm khiến tôi không thể rời mắt. Hơn 1000 trang sách, thoạt đầu tiên tôi thấy hơi nản vì quá dài, đã có lúc đọc mờ cả mắt vậy mà tôi vẫn muốn đọc tiếp. Ở bài review lần này, tôi chỉ muốn nói về cảm xúc của mình đối với tác phẩm. Bạn muốn biết cụ thể diễn biến như thế nào, hãy tự mình trải nghiệm nhé. Có một sự thật là bắt đầu đọc những chương đầu tiên, tôi cảm giác tác phẩm không dành cho tôi. Nó có quá nhiều éo le, quá nhiều bi kịch trong xã hội mà đối với cuộc sống của một con người bình thường như tôi thì không thể nào tưởng tượng ra được. Xã hội mà Tracy trải qua được sắp đặt theo ý thích của một người, người đó chính là kẻ đổi trắng thay đen, đã gây ra cái chết cho mẹ cô. Cũng chính con người đó, đã khiến cô phải vào tù với mức án mười lăm năm tù giam về tội ăn cắp và mưu sát. Tuy câu truyện này không còn xa lạ gì trên màn ảnh, nhưng cách miêu tả của tác giả khiến tôi cảm thấy nó chân thực và đầy nghiệt ngã. Tôi nhớ đến câu nói mà người anh giới thiệu sách đã nói với tôi: Nghe tên những cuốn sách tôi thích biết chắc rằng tôi trẻ hơn anh rất nhiều. Tôi đoán bởi vì những cuốn sách tôi đọc hầu như đều có nội dung nhẹ nhàng, vui vẻ. Tôi tự hỏi có phải tôi quá non nớt trước những nghịch lý của cuộc đời? Có phải còn có những góc khác của xã hội mà tôi chưa bao giờ biết tới? Tôi theo con chữ, vừa sợ hãi, vừa tò mò khám phá. Phải nói rằng, bằng ngần tuổi này, cũng đã đọc qua rất nhiều truyện ngôn tình, nhưng chưa tác phẩm nào tôi cảm thấy ngượng ngùng và ái ngại trước những cảnh miêu tả về sự quyến rũ của cơ thể. Có lúc tôi không muốn tiếp tục đọc nữa. Nhưng tôi lại nghĩ, một người con trai giới thiệu với tôi về tác phẩm này, chắc hẳn nó không quá thô tục. Và hơn nữa, bản tính hiếu thắng trong tôi không muốn bỏ giở giữa chừng khi đã nhận lời sẽ đọc cuốn sách. Cảnh nhà tù nữ là một trong những cảnh ám ảnh tôi nhất trong toàn bộ câu truyện. Tôi có thể vừa đọc vừa tưởng tượng ra cảnh tượng tăm tối đấy. Tôi cảm thấy như mình đang đứng sau những trận ẩu đả của bọn tù nhân, chứng kiến những cuộc làm tình phi giới tính, những tiếng kêu thét trong đêm tối… Tất cả đều chân thực. Tác giả đã không giấu giếm mà phơi bày toàn bộ một mặt trái của xã hội. Chưa bao giờ tôi được biết đến cuộc sống mà để dành được địa vị trong thế giới không có đàn ông, những con sói cái đầu đàn phải mang trong mình trọng trách của một con đực, hành xử như những con đực thực thụ. Bọn quản tù cũng chẳng có gì tốt đẹp: đánh đập tù nhân, nhận hối lộ, bảo kê, ban đêm lẻn vào phòng giam làm tình với nữ tù. Một xã hội mà đâu đâu cũng bắt gặp người ta chửi thề đĩ loãn, chó đẻ, chó cái… Tôi thấy sợ hãi cái xã hội ấy. Như tôi đã nói, những cảnh này không thiếu trong các tác phẩm khác, hoặc trong phim ảnh. Nhưng chắc hẳn nó chưa đủ sâu sắc và chân thực như những gì tác giả miêu tả. Nó khiến tôi bị ám ảnh và không muốn đọc tiếp nữa. Càng tột cùng hơn khi Tracy được phóng thích ra ngoài, cái bản án từng ăn cắp và ám sát luôn khiến cô bị xua đuổi. Dù cô chỉ muốn làm một người bình thường, với công việc hết sức bình thường, nhưng tất cả đều là không thể. Xã hội ghẻ lạnh cô, người ta không tin tưởng một người có tiền án mười lăm năm tù như cô, đáng buồn hơn đó không phải là lỗi do cô gây ra. Không một lời văn nào của tôi đủ để tôi bày tỏ lòng mến mộ thành công của việc miêu tả đoạn văn đó. Tôi sẽ cảm ơn tác giả rất nhiều nếu như ông cho kết thúc câu truyện ở đấy. Ông để cho nhân vật của tôi dù chịu nhiều tủi hờn nhưng vẫn thanh thanh cao cao sống tiếp với đời. Khi đọc đoạn miêu tả nội tâm Tracy khi đứng trước vụ trộm đầu tiên, tôi đã thầm cầu mong Sidney Sheldon đừng để nhân vật của tôi trở thành một kẻ trộm, trở nên thay đổi trước đồng tiền. À không, phải là rất nhiều tiền. Tracy đã hy vọng trộm xong vụ đầu tiên ấy, cô sẽ được sống một cuộc sống thanh bình và lương thiện. Nhưng đời đâu dễ dàng như thế. Tôi trở nên ghét cô gái của tôi. Và lại có ý định dừng đọc tác phẩm. Tôi chỉ muốn giữ lại hình ảnh đẹp của một Tracy thông minh, kiên cường, phải chịu nhiều uất ức. Một Tracy dù bị cả xã hội quay lưng nhưng vẫn thanh cao và nghị lực sống tiếp. Nhưng cô ấy đã bị cám dỗ và trở thành một tên siêu trộm. Và chính diễn biến tâm lý ấy khiến tôi nghĩ đến thế giới thực. Con người có thể giữ được đạo đức của mình trước đồng tiền, nhưng rất nhiều tiền thì sao? Đứng trước rất nhiều tiền, liệu rằng người ta có bỏ qua cái nguyên tắc sống mà bấy lâu nay người ta “không bao giờ” vi phạm hay không? Nếu đặt bản thân mình vào tình huống đó, tôi cũng sợ bản thân không đủ bản lĩnh chiến thắng cám dỗ. Ý của tôi ở đây là rất nhiều tiền ( nhiều hơn những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng mình có thể có). Và vậy là tôi lại tiếp tục cuộc hành trình chứng kiến việc trở thành một siêu trộm đẳng cấp của Tracy. Tracy là một người phụ nữ không những xinh đẹp mà còn rất thông minh. Tuy nhiên, điều đó lại khiến tôi thấy đám cảnh sát quốc tế trở nên vô dụng và khờ khạo. Có một số vụ trộm, tôi đoán trước được cách thức mà Tracy vận dụng. Ví dụ như vụ chơi cờ với hai kỳ thủ, vụ đánh lừa tiền giả, và vụ trộm kim cương cuối cùng. Mặc dù vậy, tôi vẫn hồi hộp theo dõi diễn biến của từng câu chuyện. Quả thật là những kế hoạch hết sức táo bạo và thông minh, khiến cho người đọc cảm thấy bất ngờ và đầy phấn kích. Tracy không còn là một cô gái yếu ớt, mỏng manh như trước nữa. Tâm lý của tôi cũng không còn sợ hãi tác phẩm như xưa. Có một điều vớt vát cảm xúc của tôi, những vụ trộm xảy ra đều nhằm vào những kẻ giàu có, hống hách. Vụ trộm không khiến cuộc sống của ai trở nên khổ sở hay rơi vào vực thẳm. Và dường như, cô luôn muốn đặt mình vào trong những hoàn cảnh thử thách cao, càng khó khăn cô càng kích động. Tracy luôn muốn vượt quá giới hạn của bản thân. Tôi thích tính cách ấy. Mỗi một vụ trộm, Tracy lại biến hóa khôn lường, hóa thân thành những nhân vật khác nhau, khi là một nữ tước kiêu sa, khi thì trở thành một góa phụ trẻ, một phụ nữ mang bầu có chồng làm nghề đào vàng ở Châu Phi… Tôi biết việc này có thể xảy ra, nhưng tôi cảm thấy không thỏa mãn với ngờ vực của mình đối với cảnh sát quốc tế. Vì sao họ có thể khờ khạo đến vậy? Vì sao họ có trong tay tất cả hình ảnh của những nhân vật Tracy hóa thân vào mà vẫn có thể kết luận đó là một băng đảng gồm nhiều phụ nữ? Nực cười thật! Giọng nói có thể giả, khuôn mặt có thể trát những lớp phấn dày cộp, nhưng làn da, dáng người thì không thể nào mà thay đổi được. Bỏ qua những tiểu tiết nhỏ nhặt có thể làm hỏng mạch cảm xúc của tác phẩm. Tôi vẫn cảm thấy “Nếu còn có ngày mai” là một tiểu thuyết đáng để đọc trong đời. Và theo cảm nhận của tôi, tác phẩm phản ánh chính xác xã hội, nội tâm của con người. Một Tracy thông minh, giàu có vẫn không thể nào ngừng mơ ước về một bờ vai nương tựa. Đó là ước mơ của tất cả mọi cô gái. Cô khát khao được yêu thương, được sống như một người phụ nữ bình thường. Có nhiều người tiếc nuối với kết thúc mở của câu truyện. Riêng tôi, tôi cảm thấy may mắn. Tôi không muốn nhân vật của mình phải chịu thêm một thử thách nào nữa. Tôi không muốn Tracy vừa mới tìm được tình yêu, niềm tin vào cuộc sống lại phải đối mặt với nguy hiểm. Tôi không muốn cô ấy phải nghĩ đến cảnh nhà tù rùng rợn một lần nào nữa. Nếu có thể, hãy để cô ấy sống cuộc sống bình yên, tôn trọng luật pháp và bên người mà cô ấy thương yêu. Hãy để họ trở lại là những công dân chân chính. Mặc dù việc họ trộm cũng chỉ để thử thách bản thân và quyên góp cho những hoàn cảnh éo le, tôi vẫn không muốn có thêm bất kỳ nỗi đau nào nữa. Đánh giá điểm 8/10 Mời các bạn đón đọc Nếu Còn Có Ngày Mai của tác giả Sidney Sheldon.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cuối Trời Hợp Tan - Anne Tyler
Pauline và Michael yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng sau khi kết hôn, do có quá nhiều sự khác biệt về tính cách, sở thích, thói quen... nên cuộc sống lứa đôi của họ xảy ra liên tiếp những mâu thuẫn, điều này đã làm tình yêu mãnh liệt thuở ban đầu của họ phai nhạt dần. Những cuộc cãi vã bất tận, những lời đay nghiến nhau, nước mắt, chiến tranh lạnh, làm lành rồi lại cãi vã... Họ cứ sống mệt mỏi trong cái vòng luẩn quẩn đó mà không sao tìm được mệt mỏi trong cái vòng luẩn quẩn đó mà không sao tìm được hạnh phúc thực sự, vì cái tôi của cả hai đều quá lớn. Sau ba mươi năm chung sống, cuối cùng họ đã chia tay nhau..., bởi họ nhận ra rằng, dù sống bên nhau nhưng họ không cùng nhìn về một hướng mà vẫn là những kẻ xa lạ trong đời sống hôn nhân, không thể hiểu và dung hòa được với người bạn đời của mình. Tiểu thuyết là một món quà ý nghĩa dành tặng riêng cho những ai đã, đang sắp bước vào đời sống hôn nhân. Từ câu chuyện của hai nhân vật chính, độc giả sẽ có thêm những kinh nghiệm sống quý báu, giúp hóa giải mâu thuẫn không thể tránh khỏi trong đời sống vợ chồng.. Cuối trời hợp tan là cuốn tiểu thuyết tâm lý xã hội thứ 16 của Anne Tyler, từng lọt vào top 10 cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ vào năm 2004 và nằm trong danh sách những cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất do tạp chí "New York Times" bình chọn năm 2005. *** Anne Tyler sinh năm 1941 tại Minneapolis, Minnesota (Mỹ). Là con cả trong một gia đình có bốn anh em, cha là nhà hóa học, mẹ tham gia công tác xã hội, những năm tháng ấu thơ của Anne trôi qua trong cộng đồng những tín đồ giáo phái Quaker trên những dãy núi ở Bắc Carolina và Raleigh Anne Tyler sinh năm 1941 tại Minneapolis, Minnesota (Mỹ). Là con cả trong một gia đình có bốn anh em, cha là nhà hóa học, mẹ tham gia công tác xã hội, những năm tháng ấu thơ của Anne trôi qua trong cộng đồng những tín đồ giáo phái Quaker trên những dãy núi ở Bắc Carolina và Raleigh. 11 tuổi Tyler mới được đến trường. Chính điều kiện giáo dục như vậy khiến cô bé Tyler lúc đó nhìn thế giới xung quanh với rất nhiều ngạc nhiên, lạ lẫm. Anne Tyler sinh năm 1941 tại Minneapolis, Minnesota (Mỹ). Là con cả trong một gia đình có bốn anh em, cha là nhà hóa học, mẹ tham gia công tác xã hội, những năm tháng ấu thơ của Anne trôi qua trong cộng đồng những tín đồ giáo phái Quaker trên những dãy núi ở Bắc Carolina và Raleigh. 11 tuổi Tyler mới được đến trường. Chính điều kiện giáo dục như vậy khiến cô bé Tyler lúc đó nhìn thế giới xung quanh với rất nhiều ngạc nhiên, lạ lẫm. Tuy nhiên, năng khiếu văn chương của Tyler được bộc lộ khá sớm. 7 tuổi Tyler đã bắt đầu viết những câu chuyện đầu tiên cho riêng mình. The Little House (Virginia Lee Burton) - cuốn sách yêu thích nhất của Tyler đã dạy cô bé rất nhiều điều về cuộc sống. Nhưng mơ ước lớn nhất của Tyler lúc bấy giờ là trở thành bác sĩ. Cô bé Anne Tyler có thể bỏ ra hàng giờ ngồi tưởng tượng mình là bác sĩ, trò chuyện với bệnh nhân như thế nào, bệnh tật và cuộc sống của họ ra sao, tự nghĩ ra những vở kịch nho nhỏ xung quanh những nhân vật này và thì thầm một mình trong đêm. “Những câu chuyện tưởng tượng thời thơ bé đã giúp tôi trở thành tác giả được yêu mến như ngày hôm nay”, Anne Tyler chia sẻ.   Trong thời gian học trung học tại Đại học Duke, Tyler từng hai lần đoạt giải Anne Flexner Award về sáng tác. Truyện ngắn đầu tay mang tên Laura được đăng trên tạp chí văn học của trường. Tốt nghiệp trung học, Tyler tiếp tục thực hiện đề tài nghiên cứu về nướcNga tại Đại học Columbia, New York. Trước khi chuyển đến Maryland, bà làm công việc của người sưu tầm tư liệu tại Đại học Duke, sau đó là thủ thư tại thư viện luật của Đại học McGill. Năm 1963, Tyler kết hôn và có hai con gái. Kể từ đó, bà định cư ở Baltimore, bang Maryland và chuyên tâm sáng tác. Những câu chuyện lấy bối cảnh ở Baltimore của Anne Tyler khắc họa cuộc sống của những gia đình trung lưu nơi đây với những bí mật, hoài bão, ước mơ và có cả những khủng hoảng họ phải đối mặt.   Năm 1977, bà giành giải thưởng của Viện Hàn Lâm với tác phẩm Earthly Possessions.   Breathing Lessons, tiểu thuyết thứ mười một mang về cho bà giải thưởng Pulitzer năm 1989. The Accidental Tourist (Du khách bất đắc dĩ) được trao giải National Book Critics Circle Award năm 1985; có mặt trong danh sách đề cử giải thưởng Pulitzer năm 1986 và đứng đầu danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của The New York Times. Du khách bất đắc dĩ cũng đã được chuyển thể thành phim năm 1988 với sự góp mặt của hai diễn viên William Hurt and Geena Davis. Đây cũng là hai tác phẩm nổi tiếng nhất của Anne Tyler.   Ngoài ra, bà còn biên tập cho ba tuyển tập: The Best American Short Stories 1983, Best of the Southvà Best of the South: The Best of the Second Decade. Trong số những nhà văn đương đại sở hữu những cuốn sách bán chạy nhất, Anne Tyler sống giản dị, khép kín nhất. Rất ít khi bà xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn, hiếm khi thực hiện những chuyến đi quảng bá sách và hầu như không lộ diện trước đám đông. Các cuộc phỏng vấn Anne Tyler chủ yếu được thực hiện qua email.  *** Tất cả những người hàng xóm đều có thể miêu tả lại cảnh gặp nhau lần đầu giữa Michael và Pauline. Đó là một buổi chiều thứ hai đầu tháng 10 năm 1941. Con đường St. Cassians vẫn nhỏ hẹp như ngày nào. Nó nằm ở phía Đông thành phố Baltimore, hai bên đường là những dãy nhà bé nhỏ chật hẹp san sát nhau, chen lẫn ở giữa là những cửa hàng rộng chỉ bằng phòng khách. Cặp song sinh nhà Golka đội khăn trùm đầu gần như giống nhau, đang đứng bàn luận về những hộp phấn hồng để trong tủ kính hiệu thuốc của nhà Sweda; bà Pozniak tay cầm gói giấy nhỏ màu nâu bước ra khỏi cửa hiệu ngũ kim; chiếc xe hơi Ford đời B của ông Kostka vừa chạy tới, tiếp đến là một chiếc Cadillac hào nhoáng cũng phóng vèo qua; một lúc sau, anh Ernie Moskowicz hàng thịt cọc cạch đạp chiếc xe cũ kỹ chạy ngang qua. Cửa hiệu tạp hóa nhà Anton nhỏ hẹp và mờ tối chất đầy hàng hóa. Trong đó, có một quầy hàng bằng gỗ đặt theo hình chữ L, còn hàng hóa trên giá xếp cao đụng cả trần nhà thấp bé. Mẹ Michael đang gói hai hộp đậu rồi đưa cho bà Brunek với vẻ mặt lạnh như tiền, thậm chí chẳng thèm nói lấy một câu “Hẹn gặp lại quý khách”. Con bà Brunek - chẳng biết là Carl, Paul hay Peter, bởi chúng giống nhau như khuôn đúc. Một miếng ván bên cạnh chỗ để thực phẩm ngũ cốc kêu ken két, toàn bộ khung sườn của căn nhà cũ kỹ này lại vùi sâu dưới đó. Michael đang đứng phía sau quầy hàng khá dài bên trái, bận rộn chất từng cục xà phòng hiệu Woodbury lên giá. Lúc đó anh vừa tròn 20 tuổi, dáng người cao cao, quần áo không vừa người, tóc đen nhánh và cắt hơi ngắn, khuôn mặt trông rất gầy guộc, râu ria đen sì, cho dù ngày nào anh cũng cạo nhưng chân râu vẫn lộ ra. Lúc này, anh đang chất xà phòng thành hình kim tự tháp, tầng dưới cùng xếp 5 cục, kế tiếp 4 cục, rồi 3 cục... Mặc cho mẹ anh đã nói nhiều lần rằng, bà không thích kiểu thiết kế giàu tính sáng tạo này, mà chỉ sắp xếp làm sao trông cho vững là được. Một lát sau, ngoài cửa nghe tiếng leng keng, leng keng. Bất chợt, rầm một tiếng, bốn cô gái xộc vào, tốc độ nhanh như dòng nước xiết, mang theo mùi mồ hôi và mùi khói xe. “Giúp chúng tôi với!”, Wanda Bryk kêu lên. Cô bạn thân Katie Vilna đang khoác vai dìu một cô gái mặc áo khoác đỏ lạ mặt, đồng thời đè chặt chiếc khăn tay trên huyệt thái dương bên phải của cô ta. “Cô ấy bị thương! Cần được cấp cứu!”. Wanda gào to. Michael dừng công việc đang làm. Bà Brunek hoảng sợ dùng một tay che mặt. Carl, Paul hay Peter “huýt” một tiếng dài. Nhưng bà Anton lại nói không chớp mắt: “Sao lại đưa cô ta đến đây?”, bà hỏi, “Phải đưa đến trạm y tế chứ”. ... Mời các bạn đón đọc Cuối Trời Hợp Tan của tác giả Anne Tyler.
Tuyển Tập Nguyễn Hiến Lê tập 4: Văn học
Nguyễn Hiến Lê là một học giả, một nhà văn lớn của Việt Nam. Ông là tác giả của hơn 100 công trình văn học, văn hóa, văn chương Việt Nam, Anh, Pháp, Trung Quốc. Tác phẩm của ông là những đóng góp lớn cho văn hóa sử Việt Nam hiện đại. Bộ sách Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê do Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. Bộ sách gồm có 4 cuốn: Triết học, Sử học, Ngữ học, Văn học Tuyển Tập Nguyễn Hiến Lê - Tập I: Triết Học Tuyển tập này sẽ giới thiệu với các bạn hệ thống triết học cổ điển Trung Hoa cũng như những tấm gương lớn về chân dung các triết gia Đông Tây. Qua đó, tác giả giúp người đọc hiểu thêm ít nhiều về triết học Trung Quốc cổ đại.Tuyển tập sẽ giới thiệu với các bạn những tác phẩm tiêu biểu của Triết học Trung Quốc: Đại cương Triết học Trung Quốc, Khổng Tử, Lão Tử, Kinh dịch - Đạo của người quân tử. Tuyển Tập Nguyễn Hiến Lê - Tập II: Sử Học Tuyển tập này giới thiệu với các bạn một số tác phẩm về lịch sử, về văn minh thế giới mà tác giả đã bỏ nhiều tâm huyết để thực hiện. Phần lịch sử thế giới là một lược sử về diễn tiến của lịch sử nhân loại từ khởi thủy đến hiện đại xuyên suốt không gian và thời gian; sử Trung Quốc là một “Tập đại thành” của tác giả về toàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ cổ đại đến hiện đại. Đây là một tác phẩm lớn và tương đối đầy đủ nhất của Nguyễn Hiến Lê về “Trung Hoa học”. Những tác phẩm về lịch sử được giới thiệu trong sách là cái nhìn xuyên suốt về lịch sử, văn minh sử thế giới và lịch sử cận đại Việt Nam. Tập III : Ngôn ngữ học  Trong tuyển tập này, các bạn sẽ được giới thiệu các quyển: “Để hiểu văn phạm” là quyển văn phạm Việt Nam phổ thông sớm nhất thoát ly khỏi ảnh hưởng văn phạm Pháp; “Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam”, tác giả trình bày một quan điểm độc đáo về từ tính và từ vụ. Quan điểm này phù hợp với tinh thần tiếng Việt; “Chúng tôi tập viết tiếng Việt” là một số bài viết về cách sử dụng và hành văn của tiếng Việt hiện đại. Ngoài ra, tuyển tập còn trích đăng một số bài báo của tác giả về Ngôn ngữ học Việt Nam. Hy vọng sách sẽ giúp các bạn có thêm tài liệu tham khảo để nghiên cứu về ngôn ngữ học. Tập III : Ngôn ngữ học gồm các quyển: - Để hiểu văn phạm - Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam - Chúng tôi tập viết tiếng Việt - Luyện Văn (I, II, III) Và một số bài báo về Ngôn ngữ học Việt Nam - Đọc Ngôn ngữ học Việt Nam của Nguyễn Bạt Tụy (1959) - Ngữ pháp là gì? (1962) - Cách dùng tiếng “Đâu” trong truyện Kiều (1966) - Nửa thế kỷ chánh tả Việt ngữ (1968) - Bộ Việt Nam từ điển của ông Lê Văn Đức (1970) - Góp ý về việc thống nhất tiếng Việt (1976) Riêng hai cuốn "Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam" và "Chúng tôi tập viết tiếng Việt", tác giả soạn chung, nhưng chúng tôi vẫn đưa vào tuyển tập III này.  Tuyển Tập Nguyễn Hiến Lê - Tập IV: Văn Học Cái đẹp bao trùm cả cái Chân và cái Thiện; mà mục đích của đời người là tìm tòi thực hiện rồi hưởng cái Đẹp. Chúng ta càng văn minh bao nhiêu thì càng bỏ nhiều thì giờ để theo đuổi mục đích đó bấy nhiêu. Ngay từ hồi tiền sử, cả ức vạn năm về trước, tổ tiên ta mỗi khi được rảnh rang, khỏi phải lo cái ăn cái mặt, đã tỉ mỉ đục trên đá hình vạn vật ở chung quanh, nét đục rất tinh xảo, rồi họ lại biết tạo ra những xa xỉ phẩm, chê trái cây trong rừng là không ngon... Nghệ thuật có mục đích ghi và thực hiện được cái đẹp trong vũ trụ; mà trong các nghệ thuật, văn chương và âm nhạc phổ cập hơn hết, cảm người ta sâu hơn hết, riêng văn chương lại có công dụng giảng giải, truyền bá các nghệ thuật khác, nên từ khi nhân loại có chữ viết thì bất kỳ ở thời nào và xứ nào, nó cũng được coi trọng hơn mọi môn khác và đựơc dạy nhiều nhất trong các trường học. Ngày xưa, ở phương Tây cũng như ở phương Đông chúng ta, nói đến học tức là học văn, vì triết lý hay sử ký cũng điều là văn. Ngày nay, khoa học tuy đã chiếm một địa vị lớn trong chương trình giáo khoa, song vẫn không áp đảo nổi văn chương. Muốn luyện thuật viết, phải lĩnh hội được cái Đẹp trong văn và một khi lĩnh hội được rồi thì trí óc ta mở mang hơn, tình cảm ta tế nhị hơn, tâm hồn ta cao cả hơn; tóm lại con người của ta phong phú hơn. Chẳng những vậy, thuật viết còn làm tăng khả năng giúp đồng bào của ta lên. Xét về phẩm thì chúng ta tự hào đã có những trước tác phẩm đáng liệt vào hạng bất hủ của nhân loại, nhưng xét về lượng, nhất là về phương diện phong phú, ta phải nhận văn học của mình còn kém văn học Hoa, Pháp, Anh: Chẳng hạn loại anh hùng ca, loại kịch mới phôi thai hồi gần đây, mà văn xuôi Việt, mặc dầu đã tiến rất mau, mới chỉ là đương bước vào giai đoạn trưởng thành vì như trong cuốn Luyện văn II đã nói, nó mới được thông dụng không đầy một thế kỷ nay. Sách được trích dẫn nhiều văn thơ ngoại quốc, âu cũng là một cách học hỏi thêm để bồi bổ cho văn học Việt Nam. Mời các bạn đón đọc Tuyển Tập Nguyễn Hiến Lê tập 4: Văn học
Gót Sen Ba Tấc - Phùng Ký Tài
Sau năm 1977, văn học Trung Quốc bước vào một thời kì mới, thời kì nhà văn dám viết sự thật về những mất mát sâu xa do “đại cách mạng văn hóa” và những chính sách quá tả trước đó gây ra. Cả một thế hệ đông đảo các nhà văn trẻ ra đời: thế hệ thứ năm, và lập tức trở nên nổi tiếng. Họ chẳng những là nhân chứng mà còn là nhân vật chính trong tấn bi kịch khủng khiếp rộng lớn khắp Trung Hoa. Cơn lốc Hồng vệ binh đã cuốn họ vào các cuộc kiểm điểm, phê bình, đấu tố, cải tạo tư tưởng bằng học tập “trước tác” hoặc bằng lao động khổ sai. Chính trong thời gian mười năm đó (1966-1976), họ đã có dịp hòa nhập vào thực tế, có dịp suy ngẫm lại về cuộc đời và về số phận con người, đã thai nghén hoặc phác thảo xong những tác phẩm tâm huyết chỉ chờ dịp công bố cùng bạn đọc.  Phùng Ký Tài là một nhà văn "ngẫu nhiên" và "tất nhiên" trong cả loạt nhà văn nói trên. Ông sinh năm 1942 ở thành phố Thiên Tân. Năm 1960, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, ông tham gia đội bóng rồi chuyển sang làm giáo viên dạy mĩ thuật. Trong thời gian cách mạng văn hóa, những lần bị đưa ra đấu tố và lao động cực nhọc ở nông thôn đã làm giàu cuộc đời sáng tác của ông. Năm 1978 ông bắt đầu sáng tác và liên tiếp có truyện in từ bấy đến nay. Về truyện dài có Nghĩa hòa quyền (viết chung với Lý Định Hưng), Đèn thần; về truyện vừa có Ngả đường nở đầy hoa, A! (giải truyện vừa ưu tú toàn quốc năm 1977-1980), Trên cả tình yêu, Dấn mình trong mưa gió, Roi thần (giải truyện vừa ưu tú toàn quốc 1983-1984), Cảm tạ cuộc đời (giải ưu tú của tạp chí Tuyển chọn truyện vừa), Gót sen ba tấc v.v..; về truyện ngắn có Chiếc tẩu thuốc khắc họa (giải Truyện ngắn ưu tú toàn quốc 1978-1984), Người đàn bà cao lớn và anh chồng lùn, v.v...  Một loạt tác phẩm trên đây cho thấy Phùng Ký Tài không chỉ sở trường về đề tài hiện thực đương đại mà cả về đề tài phong tục, lịch sử. Ở đề tài thứ hai, văn phong của ông thiên về dí dởm, hài hước, tươi vui; còn ở đề tài thứ nhất, ông viết nghiêm túc, sâu sắc, chân thực, cảm động, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong người đọc. Bới vậy một số truyện tuy không được giải thưởng song vẫn được giới lí luận chú ý nghiên cứu về nghệ thuật dẫn truyện và hình tượng nhân vật của ông. Năm 1987, Trung tâm truyện ký Mĩ tặng ông huy chương danh dự Danh nhân thế giới trong năm. Ông còn có tên trong cuốn Người trí thức nổi tiếng thế giới của Anh và Nhân vật kiệt xuất thế giới của Mĩ.  Gót sen ba tấc là chuyện chương hồi "hiện đại" viết về số phận Qua Hương Liên, một cô gái con nhà nghèo có đôi bàn chân bó xinh đẹp, qua đó cho thấy một tập tục kì cục, tàn nhẫn, dã man. Tập tục này không bắt nguồn từ tôn giáo như nhiều tập tục kì lạ của nhiều dân tộc trên thế giới, mà bắt nguồn từ một quan điểm thẩm mĩ quái gở của người khác giới với chị em, những người đàn ông có quyền thế ngang trời là vua chúa Trung Quốc, sau khi đã chơi chán các kiểu "búp bê" - như sau này nhà văn lớn Na Uy Henrik Ibsen đã gọi đúng tên những người phụ nữ bị coi là đồ chơi cho đàn ông - có dung nhan chim sa cá lặn, liền chuyển ánh mắt thích thú sang hình thể của họ, hết kiểu "búp bê" thắt đáy lưng ong, thon thả, nhẹ nhàng để có thể đứng trên tay, trên mâm mà múa như Triệu Phi Yến, sủng phi của Hán Thành Đế, lại đến kiểu "búp bê" bụ bẫm, mũm mĩm đến mức thị tì nâng dậy mà cứ mềm oặt, không đứng lên được như Dương Quý Phi của Đường Mạnh Hoàng. Rồi không biết tự lúc nào, cái thú chơi bệnh hoạn của họ lại chuyển xuống đôi chân của chị em, muốn bàn chân trời sinh của các nàng cung phi cũng phải biến thành những mầm măng, ý hẳn để cho xứng với búp măng là những ngón tay thon thon trắng xinh của họ chăng? Hay là để cho chị em, dù đã có người xốc nách, mỗi khi bước đi, vẫn còn chập chững, chệnh choạng như say, thảng thốt, kinh hoàng như chim hồng mất vía - như dáng đi đứng của người đẹp từ lâu được ca ngợi trong thơ? Có lẽ cả hai và chắc là còn nhiều thú vị khác nữa, mà những người đàn ông quyền thế tìm thấy ở những đôi gót sen nọ. Chỉ có một điều là những người đàn ông đó không một ai nghĩ đến nỗi khổ của chị em khi bị bó chân nhỏ lại chỉ còn ba tấc ta, nỗi đớn đau khôn tả cả về tinh thần và thể xác buộc phải làm cho đôi chân mình biến dạng. chẳng khác nào nỗi đau đớn khi muốn biến cái đuôi mình thành đôi chân để được yêu như nàng tiên cá trong truyện Andersen.  Gót sen ba tấc chẳng những chỉ viết về những điều kể trên mà còn cho thấy bi kịch của con người khi không làm chủ được mình, để cho hoàn cảnh xô đẩy trở nên tha hóa, dẫn tới một cái ta khác hẳn với cái tôi ban đầu. Qua Hương Liên ngây thơ, hiền lành từ nạn nhân đáng thương của tục bó chân, của thú chơi đồ cổ, dần dần cũng bị chôn vào các cuộc xâu xé, tranh giành quyền lực để rồi trở thành tội nhân đáng tàn nhẫn, ngoan cố, song cũng đầy mâu thuẫn. Phần chìm này trong Gót sen ba tấc cũng giống như phần chìm trong phim Đèn đỏ treo cao của đạo diễn Trương Nghệ Mưu sau này - một phim viết cùng về đề tài búp bê, dù rằng do đặc điểm thể loại và bút pháp, Gót sen ba tấc đề lại ấn tượng cho bạn đọc một cách khác. Gót sen ba tấc đăng lần đầu trên tạp chí văn học cỡ lớn Thu Hoạch số 3 năm 1986. Đây là truyện vừa thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết viết về chủ đề suy ngẫm lại về văn hóa của Phùng Ký Tài mà tập đầu là Roi thần (1984) và tập ba là Âm dương bát quái (1988). Cả ba đều đã được dịch ở Nhật, riêng Gót sen ba tấc còn được dịch ở Mĩ và ở Đức. *** Người ta bảo trong đôi chân bó nhỏ xíu ẩn giấu cả một pho lịch sử Trung Quốc, câu ấy thật sâu sắc! Bàn chân nhỏ dài chừng ba tấc,1 chỉ dài hơn điếu thuốc lá một tẹo, mà quanh năm, suốt đời vải bó kín mít, ngoài cái mùi bốc lên, phỏng còn có gì trong đó nữa? Lịch sử trải qua từng chặng từng chặng một. Triều này hưng thịnh, triều khác suy vong. Hưng hưng suy suy làm cho dân chúng sống không yên, trở ngại việc ăn uống, trở ngại cả việc mặc áo quán, cư trú, nhưng không trở ngại đến việc bó chân. Từ Lí Hậu chủ đến ngài Tuyên Thống,2 sự bó chân của đàn bà đã được một ngàn năm, giữa chừng thay đổi biết bao triều đại, thay đổi biết bao niên hiệu, chân chẳng cứ bó mãi đó sao? Lịch sử can thiệp đến nó mà làm gì? Trên từ thái hậu, cung phi, dưới đến gái quê, nhà chài, văn như Lí Thanh Chiếu,3 võ như Lương Hồng Ngọc,4 ai chẳng bó? Chỉ có khỉ là không bó, tôi tin vậy. Khi người Mãn Thanh tràn qua biên ải, họ ra một đạo lệnh bắt người tộc Mãn không được bó chân, lại còn bắt người Hán phải cởi chân đã̃ bó ra. Cái đận ấy nhà Thanh làm dữ lắm, nhưng dù dữ cũng dữ không nổi với chân bó. Vả lại, dữ hay không, không thể chỉ nhìn vào một lúc. Rốt cuộc, người tộc Hán vẫn bó theo lệ rồi con gái tộc Mãn cũng giấu cha giấu mẹ, lẳng lặng lấy vải bó chân thành "lát dưa". Như vậy là trong bàn chân bó hẳn phải có phép ma nào đó. Ma hay không, khoan hãy nói. Chỉ riêng bàn về quy củ, tài nghệ, độ tinh xảo mức công phu, kiểu cách, biện pháp, kĩ xảo, bí mật của cái trò đó, ít ra cũng phải nói vài ba ngày trời. Đó là cả một môn học vấn. Tôi không hề muốn giấu một vị nào, trong những chương sau đây đều có chép cả. Nếu vị nào chưa hề nghiên cứu, ngàn lần xin đừng góp chuyện bừa. Vị bảo bó chân thật khổ, nhưng bó rồi cũng thật đẹp đấy! Vị chửi chân bó xấu, hừm, chân bó lại mắng vị mới xấu kia! Nếu triều Thanh không đổ, làm sao có khóc có cười, muốn sống muốn chết, bó rồi cởi, cởi rồi bó, lại bó lại cởi, lại cởi lại bó? Người thời bấy giờ thật sự coi chân bó hơn cả đầu óc. Nhưng các vị chớ có tưởng bây giờ tiệt nòi chân bó thì vạn sự đại cát. Không bó chân thì có thể bó tay, bó mắt, bó tai, bó óc, bó lưỡi, rồi cũng lại có khóc, có cười, muốn sống, muốn chết, bó bó cởi cởi, cởi cởi bó bó, cởi bó bó cỏ, bó cởi cởi bó. Chuyện này mà tiếp tục nói thì còn kéo đi xa nữa. Ở đây chỉ kể một câu chuyện về bó chân thôi. Câu chuyện vốn kèm theo bốn câu sau đây:  Bảo giả toàn là giả,  Bảo thật, thật cả thôi. Đọc tới khi hứng thú, Thật giả chẳng đôi hồi. Các vị cứ việc pha một ấm trà nhài, cùng với kẹo vừng làm bằng đường củ cải đỏ vừa ăn vừa uống, giở một chương, đọc một chương coi như trò vui vậy. Nếu bỗng nhiên vị nào vỗ trán, tự cho giác ngộ một điều gì, thì chớ vội nói bừa, không chừng vì bốc máu lên đầu, nghĩ lầm đấy! * * *   Hôm ấy, vệ Thiên Tân như bị ma làm. Vào ngày ấy, tất cả những việc lạ lùng bình nhật không được thấy, không được nghe đều đua nhau xảy ra, chẳng ai ngăn cản được. Trời vừa mới rạng còn chưa sáng hẳn, không mưa không gió, thế mà góc thành phía Đông Nam đang yên lành bỗng ầm ầm lở một mảng lớn như bị đại bác bắn trúng vậy. Chuyện lạ lùng cứ từng việc từng việc nối tiếp nhau.  Trước hết, bậc đại thiện họ Lí xã Bị Tế, am Địa Tạng ở Hà Đông, đầu bỗng bốc hỏa, sai nấu một trăm nồi cháo hoa bố thí cho người tàn tật khắp thiên hạ. Lời vừa nói ra, tiếng chưa tan hết, hầu như tất tật người nghèo túng trong toàn thành, nào mù, điếc, câm, thọt, bại liệt, dở hơi, cho chí rụng tóc, rách môi, chột, gù, sẹo mắt, nói lắp, vẹo cổ, chân vòng kiềng, tay sáu ngón, rỗ trắng, rỗ đen đều kéo đến. Cả đau mắt đỏ, má sưng cũng chen vào, như rừng hoa vây chặt lấy nhà nấu cháo của họ Lí, chẳng khác gì lũ quỷ trong bức tranh người chết cạn, kẻ chết đuối kéo nhau ùn ra. Cả một vùng khiếp vía chẳng ai dám ra đường, trẻ con nín khóc, chó không dám sủa, gà chẳng đậu bờ tường, mèo chẳng lên nhà trên. Vệ Thiên Tân chưa bao giờ có cảnh lạ lùng như thế.  Cùng ngày, tại nhà ông lớn họ Viên, lí trưởng cửa Bắc có chân trong Ty vận chuyển muối cũng xảy ra một việc lạ lùng. Bà cả ăn táo răng ngựa bị hột táo chẹn ngang họng, nuốt bánh, chiêu nước, uống dấm, khạc khan, vừa nhẩy lò cò vừa xách một tai đều chẳng ăn thua. May nhờ một người bán thuốc ê cho con rắn nhỏ dài chừng hơn một gang chui vào cổ đẩy hột táo rơi xuống bụng. Ông lớn họ Viên thưởng cho năm chục lạng bạc. Nào ngờ chẳng bao lâu chú rắn giở trò trong bụng bà lớn, đau đến nỗi bà lớn lăn từ trên giường xuống dưới đất, rồi đấm bụng, đập đầu vào tường. Tìm đến người bán thuốc ê thì gã đã mất hút. Một bà già hiểu biết nhiều chuyện vội vàng bảo người mang kiệu khiêng bà lớn đến Ngũ Tiên đường ở tận đầu phía Tây. Ngũ Tiên đường thờ năm vị đại tiên là Hồ, Hoàng Bạch, Liễu, Xám. Hồ là hồ li, Hoàng là chồn vàng, Bạch là nhím, Xám là chuột, Liễu là rắn. Bà lớn vừa chổng mông rập đầu được ba cái, bỗng thấy hậu môn ngưa ngứa, rồi loạt xoạt con rắn tuồn tuột chui ra. Thế có lạ lùng không? Nghe đâu chỉ vì bà lớn sớm ngày hôm ấy dẫm chết một con rắn nhỏ bên bờ giếng và người bán thuốc ê chính là vị đại tiên, tinh loài rắn biến ra. Chuyện lạ lùng không chỉ có hai việc trên. Ngày hôm ấy, có người ăn món cua bể ở nhà hàng Tụ Hợp thành phố Bắc Cũng, khi lật mai cua nóng hôi hổi ra, bên trong thấy ngay một hạt ngọc, tròn chằn chặn, sáng chói mắt. Từ xưa tới nay, ngọc chỉ có trong trai, chứ ai nghe ngọc có trong mai cua bao giờ? Hạt ngọc ấy không biết béo bở cho con cái nhà nào, chỉ biết nhà hàng buôn may bán lớn. Người kéo đến ăn cua nhiều hơn cả cua. Việc ấy lạ nhưng chưa phải là nhất. Việc lạ hơn còn ở đằng sau. Có người kể thấy một con cá chúa, mình bạc mắt vàng dài một trượng hai (có người nói dài ba trượng sáu) men theo sông đào ở phía Nam để xuôi về Nam, trưa ngày hôm ấy sẽ bơi qua ngã ba sông, vào sông Bạch Hà để ra biển Đông. Tới giữa trưa đã có mấy nghìn người đứng trên đê chờ cá chúa. Người đông, sức nặng đê chịu không nổi, ầm một tiếng sạt một mảng; hơn trăm người rơi xuống sông như thả bánh trôi. Một đứa bé bị sóng cuốn đi, chưa ai kịp nhảy xuống cứu đã không thấy chỏm đầu đâu nữa, hẳn là chết đuối. Không ngờ, một ông chài quăng lưới đánh cá trước cửa cũng Đức Bà, lưới vừa kéo lên thấy cái gì trăng trắng hồng hồng, ngỡ là cá chép bự, hóa ra thằng bé vẫn còn thở, xóc vài ba cái đã chớp mắt đứng dậy được rồi. Những ai có mặt đều ngẩn người ra, chuyện này lạ hết mực rồi còn gì nữa? Ngờ đâu đến trưa chuyện lạ lùng không những không giảm mà còn tăng thêm, xảy ra ngay tại phủ đường.  Số là bọn cân quấy ở góc thành Đông Bắc và ở phố Hà Bắc đánh nhau, thuận tay phá tan bốn mươi tám cửa hàng buôn bán ở phố Hàng Nồi, làm kinh động đến ngài Quan sát trưởng đạo binh bị. Ngài bèn cử những người giỏi trong đội săn bắt tóm ngay hai thằng đấu sỏ là tên Phùng Xuân Hoa và tên Đinh Lạc Nhiên giam trong cui đứng, đặt ở cửa công đường, hai bên tả hữu mỗi bên một đứa. Lập tức bốn năm trăm thằng lỏi càn quấy kéo đến, đứa nào cũng cầm một bản Bài ca sám hối của lũ càn quấy. Bài ca này do ngài Quan sát trưởng phát cho mỗi thằng càn quấy ở trong thành một bản vào dịp ngài đến Thiên Tân nhậm chức ngày hai mươi lăm tháng Mười năm ngoái, để cho đứa nào cũng thuộc lòng mà bỏ ác theo thiện. Hôm ấy, chúng kéo đến quỳ đen đặc cả cổng nha môn, cầm giấy đồng thanh đọc: Bọn càn quấy, đến phủ quan, nhờ ơn giáo huấn,  Bọn càn quấy, nay về sau, sửa loại đổi mình. Nghĩ kĩ rồi, việc trước đây, nhiều điều ngang ngạnh, Đánh đập người, sống hay chết, chẳng thèm ngó ngàng. Dù ngẫu nhiên, trốn pháp luật, may mắn một lúc,  Sẽ có ngày, bị tróc nã, trói đến cửa quan. Bị đóng gông, bị xiềng xích, cực hình chịu đủ, Ngàn lần khổ, trăm thứ tội, chống đỡ khó đành. Đọc đến đây, mấy trăm thằng lỏi đổi sắc mặt, gân xanh trên trán nổi lên, mắt bắn ra những tia dữ tợn, răng nghiến kèn kẹt chẳng khác gì bốn năm trăm con chuột cùng gặm đồ. Ngài Quan sát trưởng ngồi ở nhà sau nghe thấy tiếng đó thì run từ trong lòng run ra, khắp người nổi da gà. Quan vốn là người to gan lớn mật nhưng chống không nổi âm thanh ghê rợn đó, đến nỗi run lẩy bẩy như phát sốt phát rét. Ba chén rượu mạnh xuống đến dạ dầy cũng không át nổi nỗi sợ, quan đành gọi người ra tháo cũi mở lồng. Bọn càn quấy vừa tản ra về, da gà trên mình quan cũng lập tức lặn hết. Lại nói, nha môn trên huyện có việc còn lạ lùng hơn nữa. Mười bảy nhân vật vốn có máu mặt, có tên tuổi, bình nhật cũng là những kẻ hiếu sự, hôm ấy liên danh làm đơn tố cáo những việc làm bậy bạ của bọn hút thuốc lá ở chợ đằng Tây. Bao thuốc vẽ toàn những con đầm hở tay, hở cổ, hở nửa đùi, câu khách thanh niên du đãng. Bọn này ngỏng cổ trợn mắt lên nhìn như chỉ muốn đâm đầu vào bao thuốc lá. Lời lẽ trong tờ trình rất hùng hồn, nói rằng đó là do bọn Tây cố ý làm hư hỏng dân Trung Quốc chúng ta, "làm bẩn mắt ta là làm bẩn lòng ta; hại đến lòng ta tức là làm mất nước ta vậy." Lại còn nói: "Độc hại của thuốc lá còn hơn thuốc phiện, không nghiêm ngặt cấm tiệt là không xong!" Lệ xưa nay, võ biền gây sự bên ngoài, văn nhân gây rối bên trong! Cho nên văn nhân gây rối lại càng dữ, mà lần này là gây với người nước ngoài. Chuyện lạ lùng dính cả với Tây. Vệ Thiên Tân có câu tục ngữ:  Ai mà động đến người Tây, "Trò vui" ắt có mai này cho coi.  Rồi xem, vạ lớn đến nơi rồi! Quả nhiên, ngay ngày hôm ấy có người từ tô giới đến báo rằng việc lớn bất lợi to rồi. Các phố ở tô giới đều dán tờ Lệ cấm ở tô giới gồm tám khoản sau đây: 1. Cấm gái điếm. 2. Cấm ăn mày. 3. Cấm tụ tập đánh bạc, uống rượu, ẩu đả nhau. 4. Cấm đổ rác, đồ bỏ, đất bẩn ra đường. 5. Cấm đái ven đường. 6. Cấm trèo cây bắt chim. 7. Cấm lừa, ngựa, xe, kiệu tùy tiện đỗ lại. 8. Cấm cưỡi ngựa phi, phóng, hoành hành đuổi bắt, đua nhau trên đường.  ... Mời các bạn đón đọc Gót Sen Ba Tấc của tác giả Phùng Ký Tài.
Ba Mùa Yêu - Châu Sa & Nguyễn Phương Văn
Người đọc sẽ đi từ không gian của Hà Nội xưa đầy hoài niệm tới Sài Gòn năng động hiện đại, đồng thời cũng trải nghiệm cuộc sống của tuổi trẻ, dù là những thanh niên của những những thập kỉ 90 hay ở những năm 2000, thì đều yêu mãnh liệt và sống hết mình – cho sự nghiệp, tình yêu, và bè bạn – qua lời kể của một chàng trai tri thức. Với rất nhiều tuyến nhân vật phụ, tưởng chừng như không liên quan gì tới câu chuyện được kể, nhưng lại thống nhất trong tổng thể với dòng suy nghĩ của nhân vật chính. Trong không gian vừa thực vừa ảo, với cái đẹp nên thơ của Hà Nội xen lẫn sức sống sôi động của Sài Gòn, người đọc sẽ thấy đâu đó thấp thoáng tình yêu của mình ẩn hiện trong câu chuyện của các nhân vật. Cho dù ở bất cứ thế hệ nào, ở đầu thế kỷ trước hay đầu thế kỷ này thì tình yêu và tuổi trẻ không có quá nhiều sự biến đổi, vẫn đam mê và cuồng si như vậy. Chỉ có cách thể hiện là đâu đó có chút biến đổi.Cuốn sách là những suy nghĩ miên man, là ký ức và hoài niệm, một dòng chảy chậm rãi nhưng không ngừng. Vì thế, bạn đọc hãy nghe lời khuyên của tác giả ngay từ đầu cuốn sách, rằng hãy “đọc cuốn sách này thật chậm”. *** Ba Mùa Yêu là một “tiểu thuyết tí hon” tôi viết trong mùa đông năm 2014. Gọi là “tiểu thuyết tí hon” bởi vì: + Một là nó rất ngắn. Ngồi cà phê sáng thứ Bảy lâu một chút là đọc hết cuốn sách, hoặc ăn tối xong đọc một lèo là đến giờ đi ngủ. + Hai là tuy rất ngắn nhưng có tới sáu chương. Và dù rất ngắn nhưng Ba Mùa Yêu vừa viết tình yêu vừa về tình báo. Có nhiều mối tình, có cả xếp hình, nhiều sự kiện lịch sử, nhiều phân mảnh, cấu trúc rời rạc. Trong Ba Mùa Yêu, có những người trẻ thế kỷ XXI. Họ dùng Facebook, đọc sách Tây, nghe nhạc Mỹ, và yêu nhau. Có những người trẻ của những năm 1920. Họ lẩn trốn mật thám Pháp, hoạt động chống nhà nước thực dân, và… yêu nhau. Có cả những người trẻ từ Annam đi lính cho Pháp ở châu Âu trong Thế chiến thứ Nhất. Họ tò mò học hỏi cuộc sống xa lạ, và… cũng yêu nhau. Với những bạn không thích diễm tình, trong cuốn sách có các nhân vật mang hơi hướm lịch sử. Khi đọc xong có thể các bạn sẽ có hứng google. Cám ơn sự ủng hộ của các bạn. Hy vọng đọc xong cuốn tiểu thuyết diễm tình tí hon này các bạn ít có cảm giác tiếc tiền mua sách.   Mời các bạn đón đọc Ba Mùa Yêu của hai tác giả Châu Sa & Nguyễn Phương Văn.