Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thượng Lĩnh Án

Vi Tam Đắc là một tên ác bá ở làng Thượng Lĩnh, hắn đã làm tan nát biết bao gia đình trong làng từ dân thường đến quan chức. Người dân đều căm hận hắn nhưng không thể làm gì được hắn, kể cả cảnh sát, vì hắn biết luật, hiểu luật, và lợi dụng sự hiểu biết đó để lách luật và liên tiếp phạm pháp. Đột nhiên vào ngày giáp Tết, hắn treo cổ tự tử trên cái cây cao nhất làng với một bức di thư để lại. Và cảnh sát nhận được một tin mật báo rằng hắn bị mưu sát. Khi cảnh sát càng tiến sâu vào điều tra, sự việc lại càng thêm bế tắc, dân làng Thượng Lĩnh nhất mực bao che cho nhau…Và từ cái chết của Vi Tam Đắc lại liên tiếp xẩy ra các án mạng khác. *** Cái thây của Vi Tam Đắc bị treo lên cây đa trước cổng làng. Hơn trăm thôn dân của làng Thượng Lĩnh kéo nhau đến xem chẳng khác nào như đi xem kịch. Trong số bọn họ, không ít kẻ trống ngực đập thình thịch, cứ y như tay thần, tay quỷ đang khua chiêng gõ mõ. Đúng lúc ấy thì gió lạnh như con chó đánh hơi thấy mùi phân thối, hối hả lao tới cắn người, chẳng chừa một ai. Chỉ có điều trong cái bộ dạng lập cập, run rẩy ấy lại không phải là những người dân quê ăn mặc phong phanh, rách rưới; mà lại là một số ít những người mặc áo dày sụ, sạch sẽ mà chỉn chu. Đám người này thoáng nhìn liền biết ngay là những cán bộ, công chức thu nhập cao mới về quê ăn Tết. Còn phần đông số còn lại là đám dân quê quanh năm suốt tháng bám rễ ở làng. Số này nhìn Vi Tam Đắc chết trơ thây cứ y như khán giả đã đoán được kết cục của vở kịch, bởi vậy mà tỏ ra bình tĩnh hơn hẳn. Bỗng từ trong đám đông có hai người phụ nữ lao ra, một già, một trẻ. Hai người này lao về phía Vi Tam Đắc, tóm lấy cẳng chân của y cách mặt đất chừng hai mét. Người thiếu phụ nhón chân với tay, bắt lấy một chân Vi Tam Đắc, chực muốn đẩy thân thể y lên. Chỉ có điều chiều cao và sức lực của chị ta rõ là đã tới giới hạn, cái thây của Vi Tam Đắc vẫn không chút dịch chuyển. Chị ta chực chờ sự giúp đỡ để đẩy thân thể Vi Tam Đắc lên phía trên, giảm bớt lực siết của sợi dây buộc quanh cổ y. Song lúc này chị ta cũng chỉ trông cậy được vào bà lão đang ở bên cạnh mình mà thôi. Bà lão ắt hẳn là muốn giúp chị ta, song muốn giúp cũng chẳng dễ gì, bởi lẽ bà lão vừa thấp vừa còng lưng ấy phải nhảy lên thì may ra mới chạm được tới người Vi Tam Đắc. Lần thứ nhất cẫng chân nhảy, bà lão bắt được chiếc giày xỏ ở một bên chân, nhưng khi bà lão hạ mình và cánh tay xuống thì chiếc giày ấy cũng rơi xuống theo. Bà lão lại nhảy lên lần nữa thì túm được ống quần của Vi Tam Đắc, lần này thì chiếc quần của Vi Tam Đắc đã bị tụt xuống. Từ xa nhìn lại, cặp đùi trắng hếu mà thuôn dài kia giống như hai thớ thịt tươi treo trên gác bếp, còn cái vật mềm nhũn, lông mọc tua tủa nằm giữa cặp đùi khiến ai nhìn gần lại thấy như cái dái dê. Kẻ ngó xa nghía gần, người há mồm trợn mắt, kẻ cúi đầu ngượng nghịu, có kẻ lại vênh mặt cười mỉa. Bà lão và thiếu phụ kia đâu ngờ lại bị rơi vào tình cảnh trớ trêu ấy. Bọn họ cũng chỉ muốn cứu Vi Tam Đắc thôi mà, bởi nghĩ y còn sống. Song từ hành động và hậu quả gây ra, lại chẳng giống như đang cứu người, trái lại, còn như là bêu riếu, sỉ nhục Vi Tam Đắc thì đúng hơn. Bởi vì sự thực là quần của Vi Tam Đắc đã bị tuột mất. Nhưng chuyện này xảy ra thì cũng không lấy gì làm lạ. Lúc Vi Tam Đắc còn sống, y đã làm tổn thương hai người phụ nữ này không biết bao nhiêu lần, bất kể họ, một người là mẹ y, một người là vợ y. Tội lỗi mà y gây ra cho họ, tội lỗi mà y gây ra cho cả cái làng này, dù có chết cả chục lần cũng chẳng thể chuộc hết được. Vậy thì sao mà bảo giống như đang sỉ nhục được. Hai người phụ nữ một già một trẻ ấy vẫn nôn nóng muốn đẩy thân thể Vi Tam Đắc lên, song mọi cố gắng đều vô ích. Việc Vi Tam Đắc bị treo lên cây như thể đã được tính toán từ đầu, gót chân cách mặt đất chừng hai mét, ai muốn cứu y thì cũng đừng hòng với tay tới, chết là cái chắc. Hai người phụ nữ hình như đã nhận ra được điều này, quan trọng hơn là hai người còn phát hiện ra Vi Tam Đắc đã chết, đã tắt thở trước đó lâu rồi, đã hết đường cứu mạng. Vậy là đành từ bỏ. Mẹ của Vi Tam Đắc quỳ bệt dưới mặt đất, lay lóc gào khóc. Còn vợ của Vi Tam Đắc lại không quỳ, cũng chẳng khóc, chị ta thẫn thờ đứng đó, mình mẩy hơi lay động, run rẩy, cứ như người bị trúng phong. Đó là một buổi sớm gió lộng tê tái. Nhưng có điều, hình như chị ta không phải run rẩy vì gió lạnh, mà đúng hơn là vì sự lạnh nhạt của những kẻ xung quanh. Trong số đó có một người đàn ông lớn tuổi nhìn sự việc không lọt mắt, vậy là tiến lên phía trước, đoạn hô hào thêm vài thanh niên nữa. Bọn họ tháo nút dây buộc trên cành cây đa, siết chặt một đầu dây, rồi từ từ thả ra. Vi Tam Đắc dần hạ xuống, rồi được hai thanh niên đỡ lấy, đặt nằm trên mặt đất. Trước đó, người đàn ông lớn tuổi đã kéo chiếc quần bị tuột lên cho Vi Tam Đắc. Xong rồi, ông ta nhìn vào cặp mắt trố trơ trơ của Vi Tam Đắc mà than rằng: “Tam Đắc ơi là Tam Đắc, dái chim của mày đã hại đời bao nhiêu đàn bà con gái ở cái làng này thì giờ cũng đã đến lúc nghỉ ngơi được rồi. Hoàng đế chẳng qua cũng sung sướng giống mày thôi, đừng có chết rồi mà vẫn không nhắm mắt. Hừ, nhắm mắt lại đi.” Người đàn ông lớn tuổi vừa nói vừa đưa tay vuốt mắt cho Vi Tam Đắc. Chắc là do người đàn ông này ăn nói có lòng thành, đức cao vọng trọng, Vi Tam Đắc quả là đã nghe lời mà nhắm mắt. Người đàn ông này còn tìm thấy một bức di thư trong túi áo của Vi Tam Đắc. Nội dung bức di thư như sau: “Vi Tam Đắc tôi đã gây ra nhiều tội lỗi, nay lấy cái chết để đền tội, mong sao mọi người được vui vẻ ăn Tết! Vi Tam Đắc.” Bức di thư viết sai chính tả được nhiều người truyền tay nhau đọc, xong chẳng ai muốn giữ lại, nên lại nhét vào trong túi áo y. Ai nấy như đều tìm thấy chút lương tri trong con người y, bởi vậy mà ánh mắt thù hận cũng nguôi ngoai. Vợ của Vi Tam Đắc nãy giờ vẫn đứng đấy, chẳng khóc chẳng rằng. Chị ta không ngờ lại nhận được sự cảm thông, thương hại của mọi người, lúc này bỗng như kẻ mù lòa trông thấy ánh sáng. Chị ta chợt quay người lại quỳ xuống trước mặt đám đông, khấu đầu, vừa khóc vừa tạ ơn, thay chồng tạ tội. “Hoàng Nguyệt Thu tôi xin cảm tạ mọi người trong làng!” Người đàn bà tự xưng là Hoàng Nguyệt Thu nói. “Xin được cảm tạ mọi người đã giúp tôi thu xác. Hoàng Nguyệt Thu tôi bạc mệnh, số khổ, hèn hạ được gả tới làng Thượng Lĩnh làm vợ của Vi Tam Đắc. Vi Tam Đắc là tên xấu xa, đểu cáng vô độ. Không, hắn vốn không phải con người, hắn là tên súc sinh, mà cũng chẳng bằng súc sinh, chẳng bằng cầm thú. Hắn rước đủ mọi tai vạ cho cả làng, rồi còn chà đạp không biết bao nhiêu đàn bà con gái, giờ thì chết quách đi rồi. Tôi biết, hắn ta có chết cũng không đền hết tội. Hắn gây ra quá nhiều nghiệp chướng, có chín cái mạng cũng chẳng chuộc hết, ngàn lưỡi dao xẻo xác hắn cũng không báo hết thù, cũng không giải hết hận. Tôi số khổ, bạc mệnh, hèn hạ nên mới làm vợ của Vi Tam Đắc, Vi Tam Đắc chết rồi, đi rồi, tội lỗi vẫn còn đó. Tôi thay hắn ta chuộc tội với dân làng! Xin được chuộc lỗi! Xin được chuộc lỗi... Bây giờ người cũng đã chết rồi, tội cũng đã chuộc rồi, tôi xin dân làng giúp tôi chôn cất Vi Tam Đắc. Ngày mai chôn, không, hôm nay phải chôn ngay. Tết tới nơi rồi, tôi không muốn ảnh hưởng mọi người đón Tết. Chôn càng sớm càng tốt, như vậy ăn Tết mới ngon. Chỉ mong mọi người trong làng vui vẻ, phấn khởi đón Tết. Ai nấy đều cảm động trước lời lẽ biết điều, thấu tình đạt lý của người đàn bà mệnh khổ này. Đa phần đã không còn viện được lý do để tiếp tục thù hận Vi Tam Đắc, cũng không có lý do để cự tuyệt lời thỉnh cầu của Hoàng Nguyệt Thu. Vẫn là người đàn ông lớn tuổi có lòng thành, đức cao vọng trọng lúc trước đứng ra hô hào, động viên, bố trí trai tráng, dân làng nghe lệnh mà làm theo. Cả toán người ào ào hành động, mỗi người một việc, nào là nhập liệm, nhập quan, chọn đất, đào mồ, xem giờ, lo liệu đám tang cho Vi Tam Đắc... Ngôi làng bỗng sôi động hẳn lên. Dây pháo đốt ra từ nhà Vi Xương Anh có thể xem là âm thanh đầu tiên đánh tan bầu không gian u uất của ngôi làng, khiến cả thôn làng náo nhiệt hẳn. Ngôi nhà của gia đình Vi Xương Anh nằm tách biệt trên đỉnh dốc, là ngôi nhà rách nát nhất nhưng lại cao nhất làng Thượng Lĩnh. Nói là cao, chẳng qua là vì nó nằm ở trên đỉnh dốc, chứ ngôi nhà ấy thực chất lại thấp lè tè. Nói là rách nát, là bởi nếu so với những ngôi nhà tầng bằng xi măng cốt thép thì nó thực là thảm hại. Ngôi nhà này của Vi Xương Anh vẫn là nhà vách đất từ đời ông cha để lại. Tuy đời nào cũng được tu sửa, cơi nới cho rộng thêm, nhưng cũng không thay đổi được bản chất nhà đất của nó. Cũng giống như Vi Xương Anh, dù anh ta làm bảo vệ hay thợ sửa chữa trong thành phố, thì cũng không thay đổi được bản chất nông dân của mình. Vi Xương Anh đâu phải không cất nổi nhà tầng, anh ta đi làm thuê làm mướn bên ngoài đã mấy năm nay, chắc hẳn cũng dành dụm được chút ít, muốn xây một ngôi nhà bằng gạch vữa xi măng cũng chẳng khó gì. Song Vi Xương Anh lại không xây nhà. Cớ chi mà anh ta lại làm vậy? Chuyện này thì thằng con sáu tuổi của anh ta là rõ nhất. Lúc thằng bé mới chỉ lên ba, cha nó đã căn dặn rằng: “Con trai à, khi nào mày lên bảy tuổi, cha sẽ đón mày lên thành phố học, cha sẽ đón cả u mày lên đó ở cùng, rồi cả nhà ta sẽ chuyển sang ở nhà tầng, không phải làm nông dân nữa. Thế nên ngôi nhà chúng ta đang ở không cần phải xây lại làm gì cho phiền...” Vi Xương Anh lần nào từ tỉnh về cũng đều chuốc vào đầu thằng bé cái cuộc sống lý tưởng ấy. Năm này thằng bé đã sáu tuổi, cũng gần lắm với cuộc sống lý tưởng mà cha nó hứa hẹn rồi. Chỉ có điều năm nay cha nó về nhà lại không thấy nhắc tới chuyện ấy nữa. Cha nó thì cứ tưởng nó đã quên béng đi rồi, nhưng mà nó thì vẫn còn nhớ lắm, bởi lẽ lên thành phố học cũng là giấc mơ của nó. Xế chiều hôm qua, thằng bé đã hỏi Vi Xương Anh: “Cha ơi, con lại lớn thêm một tuổi rồi, lên sáu rồi đấy, chỉ cần thêm một tuổi nữa là có thể lên thành phố học rồi phải không?” Vi Xương Anh mới về nhà được hai ngày liền hằn ngay một cái bạt tai lên mặt thằng bé. Vi Xương Anh cớ sao lại ra tay với thằng bé như vậy? Bởi vì Vi Xương Anh lúc ấy đang điên tiết, đang não ruột, nguyên nhân cũng có thể xem như là liên quan tới chuyện này. Ấy là lúc đương bữa cơm, Vi Xương Anh đang vùi đầu uống rượu thì bỗng dưng nói với chị vợ Tô Xuân Quỳ rằng: “Ra Tết tôi không đi làm thuê nữa.” Chị vợ đang ngậm trong mồm miếng thịt còn chưa kịp nhai, bèn hỏi: “Sao thế hả?” Vi Xương Anh chỉ đáp lại rằng: “Đếch muốn đi nữa.” Tô Xuân Quỳ lại hỏi: “Sao lại không muốn đi?” Vi Xương Anh đáp: “Đếch muốn đi thế thôi.” Tô Xuân Quỳ: “Không muốn là không đi? Anh tưởng anh là hoàng đế à? Anh không đi mà được chắc? Mấy miệng ăn nhà này đều dựa tất vào đồng tiền anh kiếm đấy.” Vi Xương Anh bảo: “Tao ở thành phố ngán lắm rồi, thấy ở quê vẫn hơn, vậy đã được chưa?” Tô Xuân Quỳ có đôi mắt đẹp lại chẳng coi chồng mình ra gì, nói thực trong mắt chị ta, chồng mình là cái hạng chẳng được tích sự gì. Là đàn ông trong nhà, còn hứa hẹn sẽ đưa con cái lên thành phố học, rồi còn đón cả nhà lên thành phố, đúng thật là nói khoác không cần nộp thuế. Vi Xương Anh liếc mắt nhìn vợ bảo: “Mày muốn tao ra ngoài, mày lại không muốn tao ở nhà như vậy. Tao không ở nhà, hay ho gì cho mày?” Tô Xuân Quỳ ngẩn người, đáp lại: “Ý anh là gì?” “Tao không yên tâm với mày, ý tao là vậy đó.” Vi Xương Anh lại nói tiếp: “À, tao phải đi khỏi cái nhà này thì mày mới yên tâm phải không?” “Vi Xương Anh, anh cứ nói thẳng ra, anh nói vậy là có ý gì?” Vi Xương Anh nốc liền hai chén rượu, mặt đỏ ngầu, trợn mắt chỉ tay vào mặt Tô Xuân Quỳ mà nạt: “Tô Xuân Quỳ, tao hỏi mày, mày và Vi Tam Đắc đã làm cái chuyện kia chưa?” Tô Xuân Quỳ hỏi: “Chuyện kia là chuyện gì?” “Thì là cái chuyện đó chứ còn chuyện gì.” Đoạn anh ta còn làm động tác, ngón tay trỏ bên phải chọc vào hốc nắm tay trái, rút ra chọc vào hai lần liền. Tô Xuân Quỳ hỏi: “Chuyện đó, chuyện kia là cái gì, tôi không hiểu.” Vi Xương Anh đưa tay vỗ đùi: “Tô Xuân Quỳ, cái lỗ của mày bị nó chọc nát rồi, còn giả bộ gì nữa, mày tưởng tao là thằng ngu hay sao? Rốt cuộc là mày với Vi Tam Đắc có làm cái chuyện đó hay không, mày nói đi.” Tô Xuân Quỳ đáp: “Không có.” Vi Xương Anh vặn hỏi: “Không có?” “Không có thì là không có chứ sao.” “Vậy thì sao lại có người mách tao là có?” Tô Xuân Quỳ quẳng đũa lên mặt bàn, gằn giọng nói: “Đứa nào mách?” “Đứa nào mách mày không cần biết, mày chỉ cần trả lời tao là có hay không thôi.” “Tôi bảo không có thì anh không tin. Tôi bảo có thì anh mới tin phải không?” “Ừ thì đúng vậy đấy.” Mời các bạn đón đọc Thượng Lĩnh Án của tác giả Phàm Nhất Bình.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bản Thông Báo Tử Vong: Sự Trừng Phạt - Chu Hạo Huy
Vị bác sĩ chuyên khao Thận của bệnh viện Nhân Dân - Lý Tuần Tùng mất tích, ông bị cắt một một ngón tay cái bên bàn tay phải và kẻ bắt cóc đòi tiền chuộc bằng kim cương trị giá mọt triệu nhân dân tệ. Mặc dù cảnh sát đã bủa vây thiên la địa võng, nhưng số kim cương vẫn biến mất còn Lý Tuấn Tùng thì mất mạng.  Đội cảnh sát hình sự dốc toàn lực quyết tâm phá an, bao nhiêu manh mối tìm được lại lần lượt bị cắt đứt, các nhân vật liên quan đến lý Tuấn Tùng đều được điều tra tỉ mỉ, nhưng cái chết của bác sĩ Lý vẫn là một ẩn số.  Liệu La Phi - đội trưởng đội cảnh sát hình sự có nhìn được ra điểm mù vốn được dàn dựng công phu chặt chẽ để phá án thành công hay không? Và rột cuộc , ai là kẻ đã sát hại Lý Tuấn Tùng? Liệu tất cả những kẻ có tọi đều bị trừng phạt *** Ngày 30 tháng 10 " sao không kéo rèm cửa sổ ra? tối om om thế." Vừa bước vào phòng, Dư Tĩnh đã kêu toáng lên. Cô chạy thẳng đến bên cửa sổ, kéo toang rèm ra, ánh nắng chiều rực rỡ tràn vào khiến vẻ âm u nặng nề của bầu không khí trong căn phòng hoàn toàn thay đổi. Mấy anh chàng đang ngồi trong phòng đều không nói gì, xem ra họ đã quen với lối hành động theo ý mình của Dư Tĩnh. Cô gái vùng phương nam trông nhẹ nhàng đằm thắm này lại có tính cách thẳng thắn bộc trực như người phương Bắc. Đợi cô gái ngồi vào bàn họp, một cậu thanh niên đeo kính bên cạnh mới nhắc: Lát nữa phải bật máy chiếu đấy, sáng quá sẽ không nhìn rõ được." "Đợi đến lúc bật máy lên rồi tính". Dư Tĩnh đáp lời rồi nhìn cậu thanh niên hỏi "Sư huynh, anh ngửi xem trên người em có mùi không?" Cậu thanh niên đeo kính trên ghế sát lại ngửi, sau đó nói to xuýt xoa, vẻ mặt ngây ngất: " thơm quá" Tất cả mọi người trong phòng đều cười theo. " Đáng ghét!" Dư Tĩnh giơ nắm tay thon lên đấm một nhát vào đối phương, lại hỏi lần nữa: " Nói thật đấy trên người em có mùi của người chết không?" "Mùi người chết gì? Đấy là mùi formalin." Cậu thanh niên đeo kính sửa lời và vặn lại, "Cái mùi này thì trên người bọn mình ai mà không có hả?" Dư Tĩnh chau mày nhấn mạnh: "Em khác các anh." Cậu thanh niên đeo kính hiểu ra điều gì đó, cậu nhìn cô bằng ánh mắt thông cảm:"Mấy hôm nay em mệt lắm hả?" "Chứ còn gì nữa? Vùi trong đống người chết." Dư Tĩnh nhe răng cười ngao ngán, "Con gái mà bị phân vào khoa Bệnh lý, anh bảo có phải là bi thảm nhất thế giới không cơ chứ?" "Đừng kêu ca nữa, chẳng phải là tự em chuốc lấy còn gì?" Một anh chàng khác ngồi phía đối diện khuyên bảo, "Cô chịu đi. Thường cũng chỉ hai ba tháng thôi, qua được là ổn cả thôi." Cậu thanh niên vừa nói dứt lời thì ngoài hành lang vang lên tiếng gót giày nện xuống mặt sàn. Mọi người trong phòng như thể bất được tín hiệu gì đó, lập tức trở nên im lặng, không dám nói thêm lời nào. Giây lát sau một bóng người bước vào phòng, tất cả sinh viên nam nữ đều đứng lên, kính cẩn chào: "chúng em chào cô Trang" Giáo viên là một người phụ nữ có khí chất đặc biệt, dáng người cao ráo, gương mặt đoan trang. Sau khi vào phòng, bà liền ngồi vào vị trí đầu bàn họp, đồng thời quay đầu nhìn về phía cửa sổ, ánh nắng chiếu thẳng vào khiến bà hơi nhíu mày. Dư Tĩnh ở gần đó hiểu ý, vội ra cửa sổ kéo rèm lại rồi ngồi vào cùng các sinh viên khác. Cô Trang đặt một tập tài liệu và điện thoại di động lên bàn họp, sau đó nói ngắn gọn: "Bắt đầu đi" Thứ tự báo cáo đã được xếp lịch sẵn từ trước. Cậu thanh niên đeo kính khi nãy báo cáo đầu tiên, cậu điều khiển máy chiếu mở file ppt đã chuẩn bị, slide đầu tiên hiện ra tên của cậu: Dương Triết. Trong quá trình Dương Triết báo cáo không khí trong phòng họp vô cùng yên lăng, chỉ có chiếc điện thoại của di động của cô Trang vang lên một tiếng giữa chừng. Có điều bà không hề xem ngay. Khoảng mười phút sau, phần báo cáo của Dương Triết kết thúc. Cô giáo Trang lập tức đưa ra lời nhận xét, đám sinh viên của bà vừa nghe vừa chăm chỉ ghi chép. Cuối cùng cô nói "Được rồi". Dương Triết liền thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng. Cô giáo Trang nhớ ra hình như điện thoại có tin nhắn liền mở ra xem, sau đó phân công Dương Triết :" Tôi có một gói bưu phẩm ở trạm chuyển nhận, cậu đi lấy giúp tôi." Dương Triết cầm chứng minh thư của cô giáo Trang rời phòng họp đi lấy bưu phẩm chuyển phát nhanh. Khi quay lại phòng họp cậu thấy sinh viên báo cáo thứ hai đang cúi đầu nghe cô giáo Trang phê bình. Dương Triết có chút đắc ý, nhưng không thể hiện ra mặt, chỉ lặng lẽ đặt hộp bưu phẩm chuyển phát nhanh vừa lấy về và chứng minh thư trước mặt cô giáo rồi ngồi vào chỗ của mình. Cô giáo Trang cầm chiếc hộp giấy lên xem. Trên chiếc hộp đó dán đầy băng dính, không thể mở ngay ra được. Bà cầm chiếc hộp rời khỏi phòng họp, một lúc sau đã thấy quay lại ngay, trên thay cầm theo một con dao dọc giấy. Vì thời gian có hạn, bà không trao đổi tiếp với sinh viên trước đó nữa. " Chúng ta đừng làm mất thời gian của mọi người vấn đề của bạn hết buổi tôi sẽ tiếp tục trao đổi riêng với bạn." Cô giáo Trang nghiêm khắc nói với cậu sinh viên sau đó bà quay về phía cô gái duy nhất trong phòng họp " Dư Tĩnh, em bắt đầu đi." Dư Tĩnh căng thẳng nuốt nước bọt, mở file ppt. Cô giáo Trang vừa nghe Dư Tĩnh trình bày, vừa bắt đầu dùng chiếc dao nhỏ cắt băng dính trên chiếc hộp giấy. Dư Tĩnh vừa nói vừa liếc nhìn cô giáo Trang, có vẻ không tư tin về bài báo cáo của mình. Và tình hình có vẻ đúng như cô lo lắng, vẻ mặt của cô giáo Trang mỗi lúc một năng nề hơn. Dư Tĩnh lại càng phấp phỏng bất an, giọng nói cũng bắt đầu run. Cuối cùng cô giáo Trang giơ tay chặn lại: "Em đừng nói nữa" Dư Tĩnh nín thở, luống cuống không biết làm gì. Cô cúi đầu chờ đợi trận phong ba bão táp sắp sửa giáng xuống. Nhưng cô giáo Trang không nói gì thêm nữa. Giây lát sau, Dư Tĩnh ngẩng đầu quan sát phản ứng của cô giáo Trang, cô thấy sắc mặt cô tái nhợt, mặt cắt không còn giọt máu. Trong ấn tượng của Dư Tĩnh cô chưa bao giờ thấy sắc thái như vậy trên gương mặt người phụ nữ này, cô biết chắc chắn mình không phải nguyên nhân khiến sắc mặt bà trở nên như vậy. Lúc này, đối tượng mà bà đang chăm chú lại là chiếc hộp chuyển phát nhanh vừa được mở ra ... Mời các bạn đón đọc Bản Thông Báo Tử Vong Ngoại truyện: Sự Trừng Phạt của tác giả Chu Hạo Huy.
Vị Bá Tước Thứ Năm Của Giòng Họ Hauberk - Aldous Leonard Huxley
Aldous Leonard Huxley sinh năm 1894 trong một gia đình nhiều đời làm công tác khoa học: ông nội và bố là những nhà sinh học lớn của nước Anh. "Tuổi trẻ thất trận" (The Defaith of Youth - 1918) mở đầu sáng tác của ông, cũng là mở đầu cho "Thế kỷ đen" ở Anh. Loạt sáng tác kế tiếp trong nhiều năm vẫn nằm trong dòng tư tưởng bi quan: liệu những người tự cho là có trách nhiệm bảo vệ giá trị tinh thần và vật chất của loài người, họ có làm tròn nhiệm vụ không, hay ngược lại họ đang phá hỏng cái gia tài chung ấy? Ông không tin ở những món quà thế kỷ 20 mang tới. "Vàng mạ kền" (Crome Yellow - 1921) "Phản bác" (Point Counter Point -1928): những bức tranh châm biếm cái xã hội tứ chiếng, phè phỡn của châu Ảu những năm 20. "Thế giới mới dũng cảm" (Brave New World - 1932) chỉ giễu tham vọng Mỹ hóa thế giới của các trùm tài phiệt và trùm văn hóa Mỹ. "Bình yên dưới đáy sâu" (1945) phê phán nếp sống gấp... (Jouvence - tên tác phẩm của tập này) ra đời năm 1954. Bằng nhận thức sắc sảo, trí tuệ Aldous Huxley nhìn ra cái thế giới của Con Bò Vàng, ông mất năm 1963 ở California - Mỹ. *** Tại vùng ngoại ô một thành phố miền Nam California, có một tòa lâu đài kỳ dị, cao đến 24 tầng, xây dựng trên đỉnh đồi. Bao quanh khu nhà là hai lớp tường, rồi một hào nước sâu, ra vào bằng một cái cầu treo kiểu trung cổ. Đó là trụ sở một siêu công ty kinh doanh từ xăng dầu, hầm mỏ, ngân hàng tới nghĩa trang, mồ mả. Tòa nhà có đủ cơ quan và phương tiện tối tân, có cả nhà thương làm phúc cho trẻ, thảo cầm viên, một viện nghiên cứu khoa học với các chuyên viên cực giỏi. Phần trên dành riêng cho chủ nhàn và cô nhân tình với một bể bơi hiện đại cách một đất trên 200 mét. Nơi đây đã xảy ra một vụ án tình, kẻ giết người chính là Stoyte. Tỷ phú Stoyte có quá nhiều thú vui nên chỉ có một mơ ước: tìm ra phương thuốc trường sinh. Một học giả Anh có trong tay tài liệu của dòng họ Hauberk ở Anh từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 về phương thuốc. Vị Bá tước thứ năm của dòng họ này, cách đây trên trăm năm đã ứng dụng và ghi chép kỹ diễn biến trên cơ thể ông và một người tình cùng dùng thuốc với ông cho đến năm ông gần trăm tuổi. Có chứng cứ nói rằng hai người cho đến nay vẫn còn sống dưới hầm bí mật của một tòa lâu đài cổ đâu đó ở Bắc Anh. Stoyte đang thất tình, đang bê bối trong vụ án bèn cùng với cô nhân tình và nhà khoa học tới nước Anh truy tìm hai con người bất tử kia. Họ còn sống hay đã chết? Câu trả lời phải dành cho ngòi bút trào lộng mà cay đắng của Huxley. Mời các bạn đón đọc Vị Bá Tước Thứ Năm Của Giòng Họ Hauberk của tác giả Aldous Leonard Huxley.
Ông Cố Vấn: Hồ Sơ Một Điệp Viên - Hữu Mai
Ông cố vấn: Hồ sơ một điệp viên là một tiểu thuyết của nhà văn Hữu Mai, viết về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Việt Nam Vũ Ngọc Nhạ trong khoảng thời gian từ năm 1958 đến năm 1975. Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1987, bao gồm 3 tập, và được tái bản nhiều lần. Lần tái bản gần nhất vào năm 2002, khi đó tác phẩm đã được chỉnh, hiệu đính và gom lại thành 2 tập. Tiểu thuyết kể về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ và mạng lưới tình báo A.22. Bằng tài năng của mình, Vũ Ngọc Nhạ đã trở thành “Ông Cố vấn” đáng tin cậy trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cung cấp cho Hà Nội những thông tin tình báo quan trọng, góp phần vào chiến thắng cuối cùng giải phóng đất nước. *** CUỐI năm 1969, cả Sài Gòn xôn xao vì mới tìm ra một lưới tình báo quân sự của Việt Cộng nằm ngay trong những cơ quan đầu não của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Báo chí đưa tin bằng những hàng tít lớn: “Vụ án gián điệp lớn nhất thời đại”[1], “Vụ án chính trị của thế kỷ”[2]. Các bị cáo đều là những nhân vật quan yếu trong chính phủ Sài Gòn: người là cố vấn đặc biệt của tổng thống, người là cấp bộ trưởng, người là tham chánh văn phòng bộ chiêu hồi... Có nhà bình luận còn nói trong số những người bị đưa ra xét xử, có người được coi là ứng cử viên tổng thống nhiệm kỳ sắp tới. Những cơ quan thông tin đại chúng nước ngoài, đặc biệt là của Mỹ, đã đưa nhiều tin tức về vụ án. Năm 1983 trong cuốn hồi ký của mình[3], Ralph McGehee, một nhân vật CIA kỳ cựu, đã nhận chính CIA dã làm áp lực mạnh mẽ với tổng thống Thiệu để tiến hành chiến dịch phá lưới gián điệp này. Vì nội vụ đề cập tới những nhân vật quan yếu trong chính phủ, những nhà hoạt động chính trị xã hội có uy tín rộng rãi trong quần chúng, nên người phúc trình tin tức đã được chính Dale Waites kiểm tra bằng máy dò sự thật (Polygraph Tost). Cuối cùng, ngày 28-11-1969, chính quyền Sài Gòn đã cho mở phiên tòa quân sự tại Sài Gòn để xét xử những bị can. Trên một trăm ký giả trong và ngoài nước đã có mặt tại Nha Quân pháp ở đại lộ Bạch Đằng chật ních người đến theo dõi vụ án. Bản cáo trạng dài 23 trang, đọc hết một tiếng rưỡi đồng hồ. Theo tường thuật trên báo chí, “Vụ án này rất căng thẳng và quan trọng, vì qua hồ sơ không có một đảng phái chính trị nào, một nhân vật chính trị nào mà không có liên quan ít nhiều đến vụ án. Xếp hồ sơ đó nặng gấp 200 lần so với bản cáo trạng đã đọc...”[4]. Sau ngày giải phóng Sài Gòn, chúng ta đã tìm được toàn bộ những hồ sơ đó tại Nha Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia của chính quyền Sài Gòn. Trong tập 1 của hồ sơ, có thể trích ra vài nhận xét sau đây: “Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám, chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế. (...) Cụm A.22 hoạt động và phát triển đều đặn và đã thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận là huyền diệu và xuất sắc... Cụm đã phát triển một hệ thống diệp vụ vô cùng quan trọng và đã len lỏi vào được nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam cộng hòa (...) Những tin tức chiến lược mà Cảnh sát Quốc gia biết họ đã cung cấp, đều có giá trị giúp cho Hà Nội có được những dữ kiện chắc chắn khi ấn định chính sách của họ đối với cuộc chiến tranh hiện nay. (...) Các dự án quốc gia đều được Cụm A.22 thu thập và phúc trình và nhờ cụm tình báo chiến lược mà các cấp lãnh đạo Hà Nội biết nhiều điều cơ mật mà chính các Tổng Bộ trưởng Sài Gòn không biết. (...) Họ đã tiếp xúc được với các yếu nhân Việt Nam và cũng gặp gỡ đàm luận dễ dàng với các yếu nhân Mỹ như CONLON, HEAVNER, SMITH, COLBY, BURGER...”[5]. Các báo chí Sài Gòn đều ghi nhận “tất cả bị can đều có nét mặt tươi cười và rất tự nhiên”, “như đi dự đám cưới”, “tất cả cũng vẫn có vẻ đẹp trai”... Hơn hai mươi luật sư biện bộ, trong đó có những người danh tiếng nhất, đứng sau lưng họ. Phiên tòa trở thành diễn đàn vạch rõ những mâu thuẫn trầm trọng của chế độ Sài Gòn, giữa chính quyền với các đảng phái, tôn giáo, đồng minh chiến lược Hoa Kỳ, giữa những cá nhân trong những tổ chức nảy, với những bằng chứng cụ thể không thể bác bỏ, và công khai tuyên truyền cho đường lối hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Một luật sư đã nói: “Là người biện hộ trong vụ án, tôi như ếch ngồi đáy giếng mà miệng giếng đã bị tổng thống Thiệu đậy lại rồi...”. Vũ Ngọc Nhạ, người bị tố cáo cầm đầu lưới gián điệp, xuất hiện trước tòa với bộ áo trắng, quần đen, cravat nâu, ung dung cầm một xấp giấy trắng, miệng luôn luôn tươi cười. Riêng anh từ chối nhờ luật sư biện hộ cho mình và cũng không tự bào chữa. Anh tuyên bố những việc mình đã làm chỉ có lịch sử phán xét. Tất cả những bị can không ai có một lời đề nghị được khoan hồng. Nhạ và hai đồng đội chính của anh đã bị án chung thân khổ sai. “Lần đầu trong một vụ án quan trọng và trước những bản án nặng nề, người ta không hề ghi nhận một tiếng khóc nào và chỉ thấy những gương mặt vui thân và nghe những tiếng cười...”[6]. Trước rất đông công chúng tụ tập ở cửa tòa án, vây quanh chiếc xe bịt bùng đưa những người vừa bị kết án về trại giam, Nhạ nói với mọi người: “Các bạn cứ chờ xem, một trang sử mới sắp lật qua. Không còn bao lâu nữa đâu!”. Anh và các bạn hướng về những máy ghi âm, ống kính truyền hình, máy ảnh của những ký giả nước ngoài chõ về phía họ, nói bằng tiếng Pháp và tiếng Anh: “Cuộc đấu tranh chưa kết thúc, đến đây chỉ mới tạm dừng. Chúng tôi ra đi nhưng nhất định chúng tôi sẽ trở về...” Họ đã giữ đúng lời hứa. Ba năm sau đó, họ lại xuất hiện ở Sài Gòn, tiếp tục cuộc chiến đấu trên mặt trận thầm lặng cùng với bao nhiêu đồng chí khác, trong đó có nhiều người dã lập nên những kỳ tích mà chúng ta còn chưa biết tới. Vụ án trở thành một vấn đề thời sự sôi nổi. Dư luận cho là nó còn chứa đựng nhiều nghi vấn. Theo nguồn tin từ dinh Độc Lập, tổng thống Thiệu trong những cuộc trao đổi riêng tư đã nói đây là một việc làm xấu xa của CIA nhằm bôi nhọ uy tín cá nhân mình. Sau đó lại có tin tỉnh trưởng Côn Sơn (Côn Đảo) đã bị thay. Người ta nói tổng thống đưa người của mình ra nắm quyền hành ở Côn Sơn, để chăm sóc ông cố vấn vừa ra đó bắt đầu cuộc sống lưu đày. Giáo hoàng Paul VI cũng gửi tới Côn Sơn tặng ông nguyên cố vấn huy chương “Vì Hòa bình” với một bức thư tỏ lòng ngưỡng mộ người chiến sĩ Công giáo đã cống hiến nhiều cho hòa bình vì lý tưởng thiêng liêng của Chúa. Cho đến những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn tháng 4-1975, Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ quan hệ với người cố vấn cũ của mình, coi đây là một mối quan hệ tốt đẹp trong suốt cuộc đời chấp chính. Tập hồ sơ sau đây sẽ đưa ra ánh sáng những vấn đề đến nay còn chưa rõ ràng chung quanh vụ nghi án. Nó được trình bày dưới dạng tiểu thuyết để cho về hình thức đỡ khô khan. Tuy nhiên, điều mong mỏi chủ yếu của tác giả là được chuyển tới bạn đọc những sự kiện, những chi tiết chân xác, với những con người thật. Bạn đọc có thể gặp nhiều nhân vật của cuốn sách này đang tiếp tục cuộc sống bình dị của họ sau những biến cố lịch sử ở nước ta, cũng như ở đâu đó một số nước ngoài. Nếu có những điều sai sót về họ, tác giả rất mong sẽ được chính họ góp ý kiến để bổ cứu cho lần in sau nếu cuốn sách có được may mắn đó. HỮU MAI Mời các bạn đón đọc Ông Cố Vấn: Hồ Sơ Một Điệp Viên của tác giả Hữu Mai.
Mưu Sát - Tử Kim Trần
Sách Nói Mưu Sát Từ Sách tốt nghiệp tiến sĩ ngành Tâm lý học ở trường Đại học California của Mỹ. Người mẹ đơn thân của anh bị chết trong vụ phá dỡ nhà của Ban Cải tạo khu vực cũ. Anh ta từ Mỹ trở về để báo thù cho mẹ. Đầu tiên, anh ta giết hại Phó Giám đốc Sở Công An huyện, gây rúng động cả huyện, khiến Cao Đông, người bạn học cũ của Từ Sách, là cảnh sát hình sự tài giỏi phải vào cuộc để phá án.Từ Sách đã dàn dựng nên kế hoạch trả thù vô cùng hoàn mỹ, liệu Cao Đông có thể ngăn chặn được sự trả thù này hay không? *** “Đây là một tác phẩm không dùng nhiều chiêu trò thủ đoạn mà thực tế hiếm có. Hãy tin tôi, bạn nhất định không được bỏ qua nó.” – Chu Hạo Huy “Tử Kim Trần đã hòa trộn một số vấn đề nghiêm trọng của xã hội hiện nay vào trong tác phẩm. Thông qua việc khắc họa tâm lý của kẻ tội phạm, khiến chúng ta đứng từ một góc độ khác để suy nghĩ và tìm hiểu một cách nghiêm túc về công bằng trong thể chế xử phạt của pháp luật.” – Lôi Mễ *** Bước vào tháng 12, sau mấy đợt không khí lạnh tràn tới, nhiệt độ đột ngột hạ xuống thấp, mùa đông hình như đã đến thật rồi. Mặt trời dần ngả về phía tây, Từ Sách mặc một chiếc áo khoác rộng, khẽ khom lưng trong cơn gió lạnh, xách theo túi đồ và bước chậm rãi men theo đường Duyên Hải Nam đi về phía tây. Ở ngã tư có đèn xanh đèn đỏ, anh ta ko dừng lại, mà rẽ sang phải đi về hướng bắc tiến vào đường Phong Tây. Ko ngẩng đầu, nhưng đôi mắt anh ta lại một lần nữa quan sát một lượt máy quay camera trên đỉnh đầu. Vị trí của máy quay nằm ở trên đèn xanh đèn đỏ, cách mặt đất khoảng 8m, phương hướng nhắm về phía đường Duyên Hải Nam, dùng để ghi lại những chiếc xe vượt đèn đỏ. Qua mấy lần quan sát, anh ta phán đoán, đây chắc là máy camera cố định, ko chuyển động, chắc ko thể nào quay được đến cảnh ở đường Phong Tây. Nhưng đây chỉ là có lẽ, anh bắt buộc cần phải đảm bảo chắc chắn không có chút sơ sẩy, bóp chết tất cả những nhân tố tiềm ẩn có thể dẫn đến sự thất bại. Được rồi, cần phải nghĩ kỹ về các chi tiết nữa. ... Mời các bạn đón đọc Mưu Sát của tác giả Tử Kim Trần.