Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Sống Nhờ

Nhân vật chính trong tự truyện Sống nhờ (1942) là Dần gọi thế bởi cậu sinh vào giờ Dần. Dần sống ở nông thôn, một làng quê tỉnh Hải Dương; mồ côi cha từ lúc chưa sinh, lên sáu tuổi mẹ đi lấy chồng. từ ấy, Dần sống với bà nội và với các cô chú bên nội: rồi lại chuyển sang bên ngoại, với ông bà và các cậu, dì. Một thế giới họ hàng gồm cả hai bên nội ngoại thật là đông đúc, nhưng Dẫn vẫn rất thiếu tình thương. Chỉ vài ba tình cảm hiếm hoi của một người cô, một người mợ và hai phía ông – bà không thể làm ấm lên được bao nhiêu bầu không khí lạnh lẽo bao lấy một đứa trẻ mồ côi. Giữa những mắng mỏ, hắt hủi, đánh đạp. Dần chỉ còn tìm được nguồn an ủi và chỗ dựa là bà nội – người cho đến tuổi già còm cõi, gần đất xa trời vẫn còn góp nhặt từng đồng cho Dần đi học, và cố đỡ vực cho một đại gia đình trong suy sụp vì những đứa con phá tán cơ nghiệp bởi cờ bạc và rượu chè. “Sống nhờ” trong thế giới người thân, bị đun đẩy qua lại giữa hai bên nội ngoại, Dần từ nhỏ đã quen cảnh sống vất vưởng, lang thang. Lớn lên một chút, Dẫn cũng được đi học, cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ, trước là ở trong làng, sau được gửi lên tỉnh. Nhưng thói quen lêu lổng và nỗi nhớ nhà khiến Dần chẳng thể nào chí thú trong việc kiếm chữ. Sao nhãng việc học, Dần tìm đến những đam mê của một tuổi trẻ cô đơn, buồn tẻ. Và, đến lúc mấp mé tuổi lớn, trong cảnh sa sút của gia đình và bao người thân lần lượt ra đi, Dần mới chợt giật mình thấy phải nuôi dần cái chí tự lập để thoát ra khỏi thân phận “sống nhờ”. Trên mạch hồi ức của đứa trẻ từ tuổi lên sáu xa mẹ đến tuổi mười lăm chuẩn bị bước vào đời, luôn luôn in bóng hình ảnh người mẹ trong quyến luyến và cách xa. Trên mạch hồi ức của đứa trẻ từ tuổi lên sáu xa mẹ đến tuổi mười lăm chuẩn bị bước vào đời, luôn luôn in bóng hình ảnh người mẹ trong quyến luyến và cách xa. Đọc Sống nhờ để hiểu một tuổi thơ xót xa buồn khổ trong xã hội cũ. Xót xa không phải chỉ do tình cảnh mồ côi cha và mẹ đi lấy chồng. Mà vì cả một bối cảnh xã hội, do sự mưu sinh vất vả và sự mờ mịt của tương lai mà rất vắng thiếu tình yêu. Và để thấy, việc thay đổi trạng huống bơ vơ, buồn khổ, để cho mọi tuổi thơ được sống đầm ấm, êm vui dẫu có Cách mạng tháng Tám vĩ đại, vẫn không dễ chút nào. Đọc Sống nhờ, để thương cảm và chia sẻ với biết bao tuổi thơ bất hạnh; và để mong mỏi cho mỗi tuổi thơ như thế có được một chỗ dựa, một ý chí vươn lên tự lập mà thoát ra khỏi cảnh “sống nhờ”, dưới bất cứ hình thức nào. Cuốn sách là kết đọng mười năm tuổi thơ của một người giàu nhận xét, giàu xúc cảm – nhà văn Mạnh Phú Tư. Phải đọc vào truyện, phải soi vào mỗi trang chữ mới sống hết được các cảnh đời, mới cảm nhận được hết cái dư vị chua xót nhưng cũng đầy chất thơ trong một hồi tưởng và hình dùng, theo tôi nghĩ, khó ai đạt được sự sắc nét và thiết tha đến thế. Sống nhờ, dẫu trong dạng tự truyện xen hồi ức, nhưng Mạnh Phú Tư vẫn rất biệt tài trong tạo dựng các cảnh đời và khắc họa các chân dung – từ những ông chú, bà cô, ông cậu, bà mợ và hai phía ông bà nội ngoại trong gia đình Dần, đến những ông thầy: thầy lang, thầy phù thủy, thầy đồ Nho đồ Tây, rồi các loại bạn bè từ bé đến lớn của Dần, trong đó có đến ba cô… người yêu, đều chưa vượt tuổi vị thành niên. Có thể nói, Mạnh Phú Tư đã giúp cho người đọc hiểu, không kém Ngô Tất Tố, Nam Cao về đời sống làng quê Việt Nam xưa, trong cả bề mặt và bề sâu các vấn đề xã hội, phong tục và tâm lý dường như nghìn năm không đổi của nó. Đọc Sống nhờ từ tuổi bé, rồi nhiều lần đọc lại Sống nhờ qua các lứa tuổi, niềm hứng thú trong tôi gần như không giảm. Có thể nói đó là một trong số ít cuốn sách tiêu biểu và sáng giá của văn học hiện thực Việt Nam trước 1945. Cuốn sách viết về tuổi thơ, nhưng là để cho tất cả mọi lứa tuổi, tất cả những ai đã qua tuổi thơ cùng đọc. Giáo sư Phong Lê ***   Mạnh Phú Tư (1913-1959), tên thật là Phạm Văn Thứ, cùng chi với chi của tuyển thủ bóng đá nam quốc gia Phạm Như Thuần, quê ở xã Thanh Lang, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông là một tác giả văn xuôi nổi tiếng trước năm 1945, trong đó tác phẩm tiêu biểu là tiểu thuyết "Làm lẽ" được giải thưởng của Tự lực văn đoàn năm 1939. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện Thanh Hà. Ông tiếp tục viết văn, làm báo. Năm 1959, ông mất ở Hà Nội khi đang làm biên tập viên báo "Văn học". Tác phẩm chính: Làm lẽ (1939), Gây dựng (1941), Nhạt tình (1942), Sống nhờ (1942), Một thiếu niên (1942), Người vợ già (1942), ... *** Tôi sinh vào giờ Dần. Bà tôi lấy ngay cái giờ đó để đặt tên cho tôi. Người bảo như thế cho tiện về sau, khi nào muốn lấy số tử vi hoặc có ốm đau xem bói cũng dễ nhớ giờ. Vừa mới lọt lòng mẹ, tôi đã là đứa trẻ mồ côi. Mẹ tôi có thai tôi được ngoài năm tháng thì cha tôi chết. Mẹ tôi nuôi tôi tới năm lên sáu, bỏ tôi lại rồi đi lấy chồng. Năm đó mẹ tôi chừng hai mươi ba tuổi. Cha tôi và mẹ tôi khi mới lấy nhau hãy còn như hai đứa trẻ: Chồng mười bẩy, vợ mười lăm. Những cặp vợ chồng trẻ như thế, hiện nay ở vùng tôi cũng hãy còn có rất nhiều. Thường thường gia đình nào cũng vậy, chỉ mong cưới được nàng dâu về để cho trong nhà được thêm đông đúc và có người giúp đỡ các công việc. Bà tôi cũng có cái ý nghĩ đó, nên đều lấy vợ sớm cho các con. Vả lại, nuôi con mà chưa gây dựng cho trai có vợ, gái có chồng thì vẫn chưa là đủ; bởi thế, khi thấy người đã bắt đầu già yếu, bà tôi chỉ nghĩ tới sự kiếm đủ vợ cho các con. Ngày mẹ tôi sa vào cảnh góa bụa, là ngày bà tôi bắt đầu hắt hủi mẹ tôi. Hình như bà tôi đã hiểu rằng một người đàn bà góa chồng vào cái tuổi mười bẩy, mười tám thì khó lòng ở vậy được. Lòng hắt hủi đã khiến bà tôi coi mẹ tôi như một người ngoài và chỉ còn nghĩ tới tôi, giọt máu đầu tiên và cũng là giọt máu cuối cùng của người con giai mà bà tôi thường khen là khấm khớ. Cả đến các chú, các thím tôi cũng tỏ vẻ ghét bỏ mẹ tôi. Bà tôi dành riêng cho hai mẹ con tôi một gian buồng bên cạnh buồng bà tôi. Mẹ tôi vẫn phải ăn chung và làm chung với các chú tôi. Trong khi mẹ tôi phải đi cuốc hoặc đi cấy ngoài đồng, ở nhà, một mình tôi tha thẩn góc sân, xó vườn để nghịch đất, đào giun. Chiều chiều, cứ khi nào gà đã lên chuồng, các công việc đã thu dọn xong cả, mẹ tôi lại dẫn tôi ra cầu ao rửa mặt và chân tay cho tôi. Mẹ tôi rủ rỉ hỏi tôi: - ở nhà, con có ăn no không? - Con ăn ba bát, chan với canh. Mẹ tôi bế tôi từ cầu ao về nhà để khỏi lấm chân. Mẹ tôi lại mắng yêu tôi: - Sao u dặn con ở nhà không được nghịch đất mà hôm nào chân tay cũng bẩn thỉu thế? Chẳng bao giờ tôi trả lời câu hỏi đó. Tôi chỉ đưa tay ôm chặt lấy cổ mẹ tôi. Đêm tới, mẹ tôi đưa tôi đi ngủ. Bao giờ mẹ tôi cũng duỗi thẳng một tay, đặt đầu tôi lên và một tay nhè nhẹ vỗ trên mông đít tôi. Tôi nằm nghiêng về một bên, đặt một tay lên ngực mẹ tôi. Có hôm tôi ngủ được ngay. Có hôm tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Những hôm đó, tôi thấy bà tôi dịu dàng gióng một, nói với sang giường mẹ tôi: - Gái hóa cũng vạn người người ta ở vậy nuôi con đấy. Có gan một tý là được. Cái hạng người mà chưa chôn xong chồng đã tấp tểnh đi lấy chồng, chẳng trời nào chứng cho đâu. Tiếng nói của bà tôi cứ nhỏ nhỏ dần rồi bà tôi ngáy đều đều. Rồi chợt, bà tôi lại tỉnh giấc, chẳng hiểu là mẹ tôi còn thức không, nhưng cứ tiếp lời: - Những lúc đi đây đi đó, phải có ý có tứ mà giữ gìn. ăn uống cái gì của ai cho phải cẩn thận. Nhỡ mà nó bỏ thuốc thì rồi lại mẹ một nơi con một nẻo sớm... Không biết mẹ tôi có nghe những nhời đó chăng, nhưng hôm nay bà tôi nói những câu tương tự như thế tôi lại thấy mẹ tôi luôn luôn thở dài. Cái hơi thở làm nóng cả cổ và mặt tôi. Tôi không hiểu gì, tôi chỉ thấy trong người hơi sờ sợ. Những lúc đó, tôi nằm im thin thít, không dám cử động và nín cả thở. Cứ sau một hơi thở dài của mẹ tôi một lúc tôi lại ôm ghì lấy mẹ tôi. Có một buổi tối về mùa đông, hai mẹ con nằm trên chiếc giường rải rơm, và đắp trên người hai chiếc chiếu cói. Tôi vẫn nằm kê đầu lên tay mẹ tôi. Trời lạnh quá thành khó ngủ. Mẹ tôi thỉnh thoảng đùa cù tôi trên cạnh sườn. Tôi bật cười, giãy giụa. Hai chiếc chiếu cọ nhau sột soạt. Bà tôi cất tiếng hỏi: - Cái gì thế? Tôi sợ quá nín hẳn cười. Yên lặng. Bà tôi lại gắt: - Cái gì mà rả rích thế? Mẹ tôi vừa giở mình vừa đáp lại: - Có gì đâu. - Có tiếng ai cười đùa mà lại bảo có gì đâu. Nghe bà tôi nói vậy, tôi quay đầu nhìn ra. Một cái bóng đen lờ mờ từ phía bên kia thong thả tiến lại gần phía giường mẹ tôi. Thỉnh thoảng cái bóng đó lại khuất hẳn sau một cây cột rồi lại hiện ra. Tôi không hiểu là cái gì và nhớ tới những chuyện ma quỷ tôi sợ đến run cả chân tay. Mẹ tôi tưởng tôi rét quá kéo chiếc chiếu phủ kín cho tôi. Cái bóng ấy lại gần hẳn cạnh giường hai mẹ con tôi. Tôi kêu rú lên. Mẹ tôi hỏi: - Sao thế con? Lúc đó bà tôi mới lên tiếng: - Có ai thế? Mẹ tôi hơi sẵng tiếng: - Thằng Dần đấy chứ ạ! Bà tôi sờ soạng khắp cả giường: - Ai đây? Gái hóa: phụ nữ có chồng chết. - Con đấy mà. Bà tôi sờ tới tôi. Tôi sợ quá không dám cựa mình. - Ai đây? Mẹ tôi vội đáp hộ tôi: - Cháu đấy mà. Bà tôi lại quờ quạng khắp giường một lượt nữa rồi quay đi. Tôi lại nhìn thấy cái bóng ghê sợ lúc trước, ẩn hiện ngay giữa nhà và cứ xa xa dần mãi. Tôi không dám nhìn theo nữa. Khi tôi đã nghe thấy tiếng những nan ở giường bên kia sột soạt kêu, bà tôi lên tiếng nói: - ấy, có thân thì giữ... ở giường bên này, lúc đó tôi mới dám bắt đầu thở đều. Mẹ tôi sụt sịt khóc, nước mắt ướt đầm cái cánh tay tôi gối. Tôi không hiểu tại sao. Thấy mẹ khóc, tôi cũng đem lòng thương, tôi ôm chặt lấy cổ mẹ tôi. Và từ cái buổi tối ấy, tôi thấy sờ sợ bà tôi. Nhất là khi bà tôi đi đâu về hãy còn ở đàng xa mà thân hình chưa rõ, chỉ mới như một cái bóng cử động. Mẹ tôi đi lấy chồng giữa năm tôi lên sáu. Ngay từ khi mẹ tôi còn ở với bà nội tôi, cũng đã có người mối manh nói với bà ngoại tôi xin lấy mẹ tôi. Bà ngoại tôi phân vân mãi rồi sau hết nói lại riêng với mẹ tôi, cố tìm cách giấu hết mọi người bên họ nội. Sau đó người ta cứ hỏi tin tức mãi và cách ít lâu người mối lại ngỏ lời xin ăn hỏi. Bà ngoại tôi nhận nhời. Nhưng trước khi nhận lễ bà ngoại tôi cũng có nói lại công việc gả chồng cho mẹ tôi để bà nội tôi được biết. Cái hy vọng giữ được một người nàng dâu ở vậy nuôi đứa cháu giai bị tiêu tán. Không bao giờ bằng lúc này bà nội tôi đem lòng thù ghét bà ngoại tôi: - Tôi không thấy ai lại như bà. Con gái đầu lại gả chồng hai lần. Giá có lấy mười con gái mà gả chồng như bà thì rồi tha hồ mà nhà ngói cây mít. Mời các bạn đón đọc Sống Nhờ của tác giả Mạnh Phú Tư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ông Cử
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Ông Cử của tác giả Hồ Biểu Chánh. Truyển kể về ông Cai-Tổng Ngô-Minh-Tâm. Ông vì thương một cô „ả đào“ và vì quá tin vợ nên bị phá sản. Vợ ly dị dẫn theo con bỏ ông và lập gia đình với một người khác. Ông buồn rầu, bỏ quê lên một xóm lao động ở Sài Gòn sống và tìm cách giúp đỡ những người sống chung quanh. Vì vậy ông rát được họ tôn trọng và gọi ông là Ông Cử. Mười năm sau khi cô con gái của ông lớn lên, học xong và muốn lập gia đình. Cô cần một giấy cho phép đính hôn của ông. Qua đó ông Cử có điều kiện gặp lại người vợ cũ, cô con gái bây giờ đã trưởng thành và chàng rể tương lai. Hồ Biểu Chánh xây dựng ở đây một cốt truyện khá cảm động xảy ra giữa vợ chồng, cha con, trong cuộc sống của người dân lao động nhiều tình nghĩa, cuộc sống trần tục và ý muốn thoát ly của ông Cai-Tổng Ngô-Minh-Tâm *** Gần 20 tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh được chuyển thể thành phim: Con nhà nghèo, Khóc thầm, Nợ đời, Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời..., nhận được sự yêu mến từ khán giả. Tiểu thuyết Ông Cử của Hồ Biểu Chánh là tác phẩm gần nhất mới được chuyển thể thành phim truyền hình với tên gọi Thế thái nhân tình. Câu chuyện phản ánh bức tranh xã hội, con người Nam Bộ những năm 1930-1940. Truyện kể về ông cai tổng Ngô Minh Tâm, vì thương ả đào và quá tin vợ nên bị phá sản. Vợ ly dị và lập gia đình với một người khác. Ông buồn rầu, bỏ quê lên một xóm lao động ở Sài Gòn sống và tìm cách giúp đỡ những người sống xung quanh. Vì vậy ông rất được họ tôn trọng, gọi là Ông Cử. Mười năm sau khi con gái của ông lớn lên, học xong và muốn lập gia đình, cô cần một giấy cho phép đính hôn của ông. Ông Cử có điều kiện gặp lại vợ cũ, con gái đã trưởng thành và chàng rể tương lai. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thường có cốt truyện đơn giản, triết lý chủ đạo là thiện thắng ác, ở hiền gặp lành, rất Nam Bộ từ giọng văn đến miêu tả con người. Khi ông mất, hai nhà thơ Đông Hồ và Mộng Tuyết đã lấy tên những tác phẩm tiêu biểu của ông sáng tác thành hai câu đối độc đáo đến phúng viếng: Cay đắng mùi đời, Con nhà nghèo, Con nhà giàu, tiểu thuyết viết sáu mươi ba thiên, Vì nghĩa vì tình, Ngọn cỏ gió đùa, Tỉnh mộng, mấy Ai làm được? Cang thường nặng gánh, cơn Khóc thầm, cơn Cười gượng, thanh cần trải bảy mươi bốn tuổi, Thiệt gia gia thiệt, Vườn văn xưa ghé mắt, Đoạn tình còn Ở theo thời. *** Tóm tắt Tiểu thuyết "Ông Cử" của Hồ Biểu Chánh kể về câu chuyện của ông Cai-Tổng Ngô-Minh-Tâm, một người đàn ông hiền lành, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Ông Tâm vốn là một người đàn ông thành đạt, có vợ đẹp, con ngoan. Tuy nhiên, vì quá tin vợ và thương một cô "ả đào", ông đã bị vợ bỏ rơi, dẫn theo con gái đi theo người khác. Ông Tâm đau khổ, buồn bã, bỏ quê lên Sài Gòn sống. Tại đây, ông sống cuộc sống của một người lao động bình thường, làm thuê cho một người chủ giàu có. Ông Tâm cũng tham gia vào các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những người nghèo khổ, khó khăn. Mười năm sau, cô con gái của ông Tâm lớn lên, học xong và muốn lập gia đình. Cô cần một giấy cho phép đính hôn của ông Tâm. Ông Tâm đồng ý, và vì vậy ông có điều kiện gặp lại người vợ cũ, cô con gái bây giờ đã trưởng thành và chàng rể tương lai. Hai vợ chồng ông Tâm gặp lại nhau, và họ đã tha thứ cho nhau. Ông Tâm cũng chấp nhận cho con gái kết hôn với người mà cô yêu. Review Tiểu thuyết "Ông Cử" là một tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, trong đó có thể kể đến: Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Ông Cử" được xây dựng chặt chẽ, hợp lý, có nhiều tình tiết bất ngờ, gây cấn, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Ông Cử" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Ông Tâm là một người đàn ông hiền lành, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Ông cũng là một người có tấm lòng nhân hậu, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Ông Cử" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự bao dung, lòng nhân ái. Tác phẩm cũng lên án những thế lực tàn ác, độc ác, chà đạp lên quyền lợi của con người. Đánh giá Tiểu thuyết "Ông Cử" là một tác phẩm xuất sắc của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, đặc biệt là cốt truyện hấp dẫn, nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Một số điểm nổi bật của tác phẩm Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Ông Cử" được xây dựng theo mô típ "tình yêu trắc trở" quen thuộc, nhưng được Hồ Biểu Chánh xử lý một cách khéo léo, mang đến cho người đọc nhiều bất ngờ, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Ông Cử" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Ông Tâm là một người đàn ông hiền lành, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Ông cũng là một người có tấm lòng nhân hậu, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Ông Cử" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự bao dung, lòng nhân ái. Tác phẩm cũng lên án những thế lực tàn ác, độc ác, chà đạp lên quyền lợi của con người. Tác phẩm có giá trị lịch sử "Ông Cử" được viết vào đầu thế kỷ 20, khi xã hội Việt Nam đang có nhiều biến đổi. Tác phẩm đã phản ánh được những mâu thuẫn, xung đột trong xã hội đương thời, đồng thời thể hiện tinh thần yêu nước. Mời các bạn mượn đọc sách Ông Cử của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Hai Vợ
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Hai Vợ của tác giả Hồ Biểu Chánh. Trước thời Pháp thuộc, xã hội Việt nam xem xét giá trị hôn nhân trong khuôn khổ văn hóa truyền thống, thứ thường nhấn mạnh sự phục tùng của cá nhân với lợi ích gia tộc, và đi kèm quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó.” Khi người Pháp đô hộ Việt Nam, các giá trị hiện đại coi trọng tự do cá nhân khi kết hôn bắt đầu lan rộng. Vấn đề hôn nhân thời thuộc điạ chịu sự giằng xé giữa truyền thống và hiện đại. Tại Nam Kỳ thuộc Pháp, chuyện kết hôn của con cái vẫn phụ thuộc vào cha mẹ. Tuy nhiên, các tranh cãi về tự do luyến ái và sự hình thành luật pháp còn lỏng lẻo về hôn nhân đã dẫn đến sự phóng túng trong việc kết hôn và ly dị. Xã hội do đó cũng theo đuổi dục vọng hơn là cam kết các giá trị nhân bản bằng cách “hô hào” quyền tự do để đi dây giữa truyền thống lễ giáo và lối sống tân thời. Đây dẫu là hệ quả từ quyết định của mỗi cá nhân, song những chuyển biến của thời đại phần nào đã tiếp thêm sức mạnh cho xu hướng theo đuổi tự do luyến ái. Thông qua hai câu chuyện điển hình, Hồ Biểu Chánh đặt ra hai vấn đề. Thứ nhất, ông chỉ ra các động lực đen tối ẩn sau lớp vỏ phong tục hôn nhân và hậu quả của nó. Thứ hai, ông lột tả cách con người khước từ các giá trị nhân bản để theo đuổi dục vọng cá nhân thông qua tập tục cưới hỏi. Đầu tiên, sự ép buộc, tiền bạc và danh vọng ẩn sau lớp áo hôn nhân đều đem lại nỗi đau cho người phối ngẫu. Trong Đóa Hoa Tàn, Cai tổng Bình là một viên chức mới nổi, tham vọng, hám danh lợi. Vì muốn kết thông gia với một gia đình quyền thế, Bình ép gả con gái là Túy Nga cho một chàng trai giàu có nhưng vô trách nhiệm. Vì vậy, cuộc hôn nhân vỏn vẹn hai năm khiến Túy Nga đau buồn vì người chồng lạnh nhạt, thậm chí còn đệ đơn ly hôn cô nhiều lần. Nghiêm trọng hơn, nó khiến Túy Nga rơi vào sự mặc cảm về thân phận gái một đời chồng và nghi ngờ về hạnh phúc trong hôn nhân, đến mức không dám chấp nhận yêu Hải Đường, một kỹ sư tài năng mà cô đem lòng yêu từ lâu. Những chuyện này khiến cha cô ân hận. Câu nói của Túy Nga nói lên điều mà các thế hệ phải nằm lòng: “Theo ý tôi, cưới vợ lấy chồng phải vì tình vì nghĩa, chớ không nên vì quyền thế, vì bạc tiền.” Với trường hợp khác, Hồ Biểu Chánh khắc họa lớp người lợi dụng khuôn khổ hôn nhân truyền thống để theo đuổi tư lợi. Trong Từ Hôn, Tất Đằng là một sinh viên du học Pháp ngành bác vật nhưng không có bằng cấp và thất nghiệp. Là một người ưa thích chủ nghĩa "không làm mà vẫn có ăn," Đằng vừa khích bác tất cả những phong tục và định kiến giới về lao động, vừa mưu cầu cuộc sống nhàn nhã. Cùng lúc, Đằng được người chị đồng hương mai mối cho Bạch Yến, một tiểu thư xinh đẹp và danh giá, hứa hẹn cuộc sống giàu sang cho Đằng. Để cưới được Yến, Đằng phải nói dối về nghề nghiệp và dựng màn kịch hoàn hảo về con đường công danh xán lạn. Nhờ thế, Bạch Yến và mẹ cô nhanh chóng xiêu lòng trước Đằng. Trớ trêu thay, sự dối trá và ích kỷ lại dằn xé tâm trí Đằng, vì anh cũng đem lòng yêu Bạch Yến và không thể nói dối người mình yêu. Cuối cùng, Đằng từ hôn và bỏ khỏi Sài Gòn, để lại nỗi đau không nguôi cho Yến. Trong khi cai tổng Bình che đậy lòng tham sau lớp áo choàng hôn nhân buồn thảm của con gái ông, thì Tất Đằng lại khước từ sự thật và để cho lời nói dối lẫn tiền bạc phủ bóng mối quan hệ tốt đẹp ngay từ đầu. Ở hai trường hợp, nhơn nghĩa đều phải chào thua thiên kim; động lực hôn nhân đều là toan tính vật chất, và nhận về cái kết đau thương. Hồ Biểu Chánh hàm ý rằng người lạm dụng hôn nhân để thỏa mãn dục vọng sẽ bị phán xét, không phải bởi miệng đời hay luân lý xã hội, mà trước hết trước tòa án lương tâm của họ và cái giá mà người họ yêu thương họ phải gánh chịu. Mời các bạn mượn đọc sách Hai Vợ của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Hai Thà Cưới Vợ
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Hai Thà Cưới Vợ của tác giả Hồ Biểu Chánh. Lại là một trở lại với một tác phẩm mới, những đứa con tinh thần của nhà văn Nam Bộ tài năng Hồ Biểu Chánh. Câu chuyện lần này nhân vật chính là một chàng trai 35 tuổi tên là Hai Thà. Hai Thà mồ côi cha đã 10 năm rồi, một mình lo tảo lo tần, lo nuôi mẹ già, lo dựng sự nghiệp, đã mướn lại của Thôn Sáu mà làm hai dây ruộng đồng trên Bình-Lạc, lại còn mướn thêm ba thiên đất rẫy công điền Bình Thành mà làm nữa, làm mấy năm trong nhà có dư lúa ngàn, đã cất được một cái nhà ngói nhỏ ba căn xông vách ván, coi vẻ-vang mà lại còn có ba con trâu, một cặp trâu lớn với một con trâu tơ mới giựt dàm mùa nầy. Thấy Hai Thà tính tình chân chất, lại gia tư phú phong, năm rồi làng có muốn cử làm Thôn Trưởng, Hai Thà từ chối, viện lẽ mắc nuôi mẹ già và mắc lo ruộng rẫy. Người trong làng ai thấy hai Thà làm ăn xân-xẩn cũng đoán anh ta sẽ giàu to. Sau một trận đau đẻ dữ dội kia, vợ Hai Thà không may qua đời, để lại mình anh cùng hai đứa con thơ 6 tuổi và 8 tháng tuổi. Mẹ già con thơ, Hai Thà phải tiếp tục sống ra sao đây khi thiếu đi bàn tay săn sóc của một người vợ? *** Tóm tắt Tiểu thuyết "Hai Thà Cưới Vợ" của Hồ Biểu Chánh kể về câu chuyện của Hai Thà, một chàng trai hiền lành, chịu thương chịu khó, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Hai Thà mồ côi cha từ nhỏ, một mình lo nuôi mẹ già và dựng sự nghiệp. Anh đã thành công trong việc làm ăn, có ruộng vườn, trâu bò, nhà cửa khang trang. Nhưng rồi, vợ anh không may qua đời, để lại anh cùng hai đứa con thơ. Hai Thà rất đau buồn vì mất vợ. Anh phải lo lắng cho mẹ già và hai đứa con nhỏ. Anh thuê người giúp việc, nhưng vẫn không thể bù đắp được tình cảm của một người mẹ, người vợ. Một hôm, Hai Thà gặp lại Thị Lệ, một cô gái xinh đẹp, hiền lành. Hai Thà và Thị Lệ yêu nhau và quyết định kết hôn. Thị Lệ là một người phụ nữ đảm đang, hiền hậu. Cô đã giúp Hai Thà chăm sóc mẹ già và hai đứa con nhỏ. Hai Thà và Thị Lệ sống hạnh phúc bên nhau. Review Tiểu thuyết "Hai Thà Cưới Vợ" là một tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, trong đó có thể kể đến: Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Hai Thà Cưới Vợ" được xây dựng chặt chẽ, hợp lý, có nhiều tình tiết bất ngờ, gây cấn, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Hai Thà Cưới Vợ" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Hai Thà là một người hiền lành, chịu thương chịu khó, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Thị Lệ là một người phụ nữ đảm đang, hiền hậu, luôn yêu thương chồng con. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Hai Thà Cưới Vợ" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự bao dung, lòng nhân ái. Tác phẩm cũng lên án những thế lực tàn ác, độc ác, chà đạp lên quyền lợi của con người. Đánh giá Tiểu thuyết "Hai Thà Cưới Vợ" là một tác phẩm xuất sắc của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, đặc biệt là cốt truyện hấp dẫn, nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Một số điểm nổi bật của tác phẩm Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Hai Thà Cưới Vợ" được xây dựng theo mô típ "tình yêu trắc trở" quen thuộc, nhưng được Hồ Biểu Chánh xử lý một cách khéo léo, mang đến cho người đọc nhiều bất ngờ, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Hai Thà Cưới Vợ" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Hai Thà là một người hiền lành, chịu thương chịu khó, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Thị Lệ là một người phụ nữ đảm đang, hiền hậu, luôn yêu thương chồng con. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Hai Thà Cưới Vợ" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự bao dung, lòng nhân ái. Tác phẩm cũng lên án những thế lực tàn ác, độc ác, chà đạp lên quyền lợi của con người. Tác phẩm có giá trị lịch sử "Hai Thà Cưới Vợ" được viết vào đầu thế kỷ 20, khi xã hội Việt Nam đang có nhiều biến đổi. Tác phẩm đã phản ánh được những mâu thuẫn, xung đột Mời các bạn mượn đọc sách Hai Thà Cưới Vợ của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Cười Gượng
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Cười Gượng của tác giả Hồ Biểu Chánh. Cô Đặng Thị Hảo, con của thầy giáo Đặng Phi Điểu và Lý Thị Phòng, một cô gái nhà nghèo, không may cha mất lúc cô mười tám tuổi nên cô sống lạt lẽo tình cha cùng với mẹ và hai đứa em trai khờ dại. Song cô có sắc đẹp trời cho, dầu lam lũ mà sắc cô không phai, nên ai ai nhìn vào cũng trầm trồ khen ngợi. Tú tài Xương, con ông Cả Hoàng, vì mê mẩn nét đẹp ấy mà đem lòng yêu thương cô Hảo, nhưng cái sự quý mến, yêu thương đó nó chẳng như những lời cậu hứa hẹn với cô. Cậu Tú tài ăn ở với cô Hảo có chửa ba tháng rồi cậu sanh lòng phản bội, tham phú phụ bần, cậu phủi tay đuổi cô đi để cậu được cưới con gái Bá hộ Chịnh giàu có trong vùng. Mẹ con thím giáo Điểu vì phận nghèo, lại trót mang tiếng xấu nên không còn cách chi ở lại xóm Láng Dài nên đành ngậm ngùi từ bỏ đất đai, nhà cửa, mồ mả ông bà lên Sài Gòn tìm phương sinh sống với ba trăm đồng bạc tủi hổ, xót xa. May mắn trên bước đường cơ cực của cô Hảo, có cơ duyên gặp được vợ chồng Hương sư Thiện, là bà con ruột thịt với gia đình ông Cả Hoàng, vì cảm cái tính hiền lành, chơn chớt, vì quý cái lòng nhơn nghĩa, thiệt thà nên cưu mang mẹ con thím giáo Điểu hết sức. Rồi cô Hảo lại một lần nữa may mắn trúng giấy số Thượng Hải nên cô được giàu sang hơn hẳn song cô không vì vậy mà khinh khi hay chà đạp những người thấp hơn mình, ngay cả với gia đình Tú tài Xương trước đây đã phụ rẩy cô, bây giờ gia tài đang suy ngã, tiêu tán. Cô vẫn lấy tình thương mà đối đãi, vẫn dùng lời lẽ tử tế mà đối đáp, lấy lòng từ tâm mà đáp đền ơn nghĩa của vợ chồng Hương sư Thiện nên cô đồng ý lấy Tú tài Xương làm chồng để giúp gia đình chồng vực dậy. *** Tóm tắt Tiểu thuyết "Cười Gượng" của Hồ Biểu Chánh kể về câu chuyện của cô Đặng Thị Hảo, một cô gái nhà nghèo, xinh đẹp, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Cô Hảo yêu thương Tú tài Xương, con ông Cả Hoàng, nhưng Tú tài Xương lại là một kẻ tham phú phụ bần, đã phản bội cô để cưới con gái Bá hộ Chịnh giàu có. Mẹ con cô Hảo vì mang tiếng xấu nên phải bỏ quê lên Sài Gòn sinh sống. Tại Sài Gòn, cô Hảo may mắn gặp được vợ chồng Hương sư Thiện, họ đã cưu mang, giúp đỡ cô. Cô Hảo cũng trúng số Thượng Hải, trở nên giàu có. Mặc dù vậy, cô Hảo vẫn giữ được tấm lòng lương thiện, nhân hậu. Cô quyết định lấy Tú tài Xương làm chồng để giúp gia đình chồng vực dậy. Review Tiểu thuyết "Cười Gượng" là một tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, trong đó có thể kể đến: Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Cười Gượng" được xây dựng chặt chẽ, hợp lý, có nhiều tình tiết bất ngờ, gây cấn, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Cười Gượng" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Cô Hảo là một cô gái xinh đẹp, hiền lành, tốt bụng, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Tú tài Xương là một kẻ tham phú phụ bần, bạc tình bạc nghĩa. Hương sư Thiện là một người tốt bụng, nhân hậu, đã cưu mang, giúp đỡ cô Hảo. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Cười Gượng" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự nhân hậu, lòng vị tha. Tác phẩm cũng lên án những thế lực tàn ác, độc ác, chà đạp lên quyền lợi của con người. Đánh giá Tiểu thuyết "Cười Gượng" là một tác phẩm xuất sắc của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, đặc biệt là cốt truyện hấp dẫn, nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Một số điểm nổi bật của tác phẩm Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Cười Gượng" được xây dựng theo mô típ "tình yêu - thù hận - hóa giải" quen thuộc, nhưng được Hồ Biểu Chánh xử lý một cách khéo léo, mang đến cho người đọc nhiều bất ngờ, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Cười Gượng" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Cô Hảo là một cô gái xinh đẹp, hiền lành, tốt bụng, nhưng lại gặp phải nhiều bất hạnh trong cuộc đời. Cô đã vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống để trở thành một người phụ nữ thành đạt, giàu có, nhưng vẫn giữ được tấm lòng lương thiện, nhân hậu. Tú tài Xương là một kẻ tham phú phụ bần, bạc tình bạc nghĩa. Dù đã được cô Hảo tha thứ, nhưng anh ta vẫn không thể thay đổi bản tính của mình. Hương sư Thiện là một người tốt bụng, nhân hậu, đã cưu mang, giúp đỡ cô Hảo. Ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Cười Gượng" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự nhân hậu, lòng vị tha. Tác phẩm cũng lên án những thế lực tàn ác, độc ác, chà đạp lên quyền lợi của con người. Tác phẩm đã phản ánh được những mâu thuẫn, xung đột trong xã hội đương thời, đồng thời thể hiện tinh thần yêu nước, chống cường quyền của tác giả. Mời các bạn mượn đọc sách Cười Gượng của tác giả Hồ Biểu Chánh.