Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Chuyển Tàu

Với NGƯỜI CHUYỂN TÀU, ngòi bút của nhà văn đã hóa thành dao trổ, Christopher Isherwood như một điêu khắc gia thuần thành giới thiệu với công chúng pho ngẫu tượng độc đáo bậc nhất trong bộ sưu tập nhân vật văn chương - ngài Arthur Norris: một Đảng viên cánh tả có nết khổ dâm; lịch lãm phong lưu nhưng lại là một tay lừa đảo thành thần; nợ nần chồng chất nhưng lại rất ưa hưởng thụ xa hoa. *** Christopher Isherwood (1904-1986) là một tiểu thuyết gia lớn người Mỹ gốc Anh của thế kỷ 20, người có những đóng góp tích cực trong phong trào đấu tranh quyền lợi cho người đồng tính với hơn 40 tác phẩm được xuất bản rộng rãi trên toàn thế giới. Các tác phẩm do Tao Đàn xuất bản: - Người Chuyển Tàu - Từ Biệt Berlin - Hoa Tím Ngày Xưa - Một Con Người - Chuyện Ở Berlin   *** Ấn tượng đầu tiên của tôi là đôi mắt người lạ kia mang một sắc xanh nhạt bất thường. Chúng chạm ánh mắt tôi trong vài giây, trống rỗng, hoang hoải, rõ ràng là đang sợ hãi. Thảng thốt và ngây thơ vô số tội, chúng thoáng gợi nhắc tôi tới một sự kiện mà tôi không thể định rõ; một điều gì đó đã xảy ra lâu lắm rồi, mãi từ hồi học trung học. Chúng là đôi mắt của một cậu học sinh sửng sốt khi đã vi phạm nội quy. Rõ ràng, tôi chẳng bắt quả tang được ông điều gì ngoài chính những suy nghĩ của ông: có lẽ ông tưởng rằng tôi có thể nhìn thấu chúng. Bất luận thế nào thì có vẻ như ông đã không nghe thấy hoặc nhìn thấy tôi bước đến chỗ ông trên toa tàu, vì ông giật bắn mình khi vừa nghe giọng của tôi; dữ dội tới mức vẻ rúm ró lo lắng của ông dội ngược lại tôi như tiếng vọng. Theo bản năng, tôi lùi lại một bước. Cảm giác giống hệt như thân thể chúng tôi vừa đụng vào nhau trên phố. Cả hai đều bối rối, cả hai đều sẵn sàng xin lỗi. Mỉm cười, lo lắng trấn an ông, tôi nhắc lại câu hỏi của mình: “Ngài có thể cho tôi châm nhờ điếu thuốc được chứ?” Kể cả lúc này, ông cũng không trả lời ngay. Có vẻ như ông đang mải mê làm phép tính nhẩm nào đó, những ngón tay lo lắng giật liên hồi, nguệch ngoạc những đường tròn mông lung trên chiếc áo gi-lê. Thoạt nhìn, tựa hồ như ông chuẩn bị cởi áo, rút khẩu súng lục, hoặc đơn giản là muốn đảm bảo tôi đã không thó tiền của ông. Rồi giây phút kích động lướt khỏi ánh nhìn của ông, như gợn mây trôi, trả lại bầu trời quang đãng. Cuối cùng ông đã hiểu điều tôi muốn: “Vâng, vâng. Ờm - dĩ nhiên là được. Dĩ nhiên.” Vừa nói ông vừa khẽ chạm đầu ngón tay vào thái dương bên trái, húng hắng rồi đột nhiên mỉm cười. Nụ cười của ông rất có sức hút. “Dĩ nhiên rồi,” ông nhắc lại. “Rất hân hạnh.” Một cách tao nhã, ông nhón tay lục tìm trong túi áo gi-lê của bộ vét xám phẳng phiu có vẻ đắt tiền, rút ra một chiếc bật lửa màu vàng. Đôi bàn tay của ông trắng, nhỏ và được tỉa móng gọn ghẽ. Tôi mời ông thuốc lá. “Ờm… cảm ơn cậu. Cảm ơn.” “Mời ngài châm trước.” “Ấy thôi, thôi. Mời cậu.” Ngọn lửa bé xíu trên chiếc bật lửa chập chờn giữa chúng tôi, mong manh như bầu không khí khách sáo quá đỗi giữa đôi bên. Chỉ cần một hơi thở nhẹ cũng đủ làm dập tắt thứ này, chỉ một cử chỉ hay câu từ xuề xòa cũng có thể phá tan thứ kia. Cả hai điếu thuốc giờ đã được châm. Chúng tôi ai lại về chỗ nấy. Người lạ kia vẫn đang ngờ vực tôi. Ông vẫn đang băn khoăn liệu mình đã đi quá trớn, đã tự đẩy mình về phía một gã nhàm chán hoặc một tay lừa lọc. Tâm hồn rụt rè của ông chực chờ ngơi nghỉ, về phần mình, tôi chẳng có gì để đọc. Tôi tiên lượng một hành trình câm lặng tột cùng kéo dài bảy, tám tiếng. Tôi quyết tâm nói chuyện. “Ông có biết khi nào chúng ta tới biên giới không?” Nhìn lại đoạn hội thoại, câu hỏi này với tôi dường như chẳng hề có chút bất thường. Đúng là tôi chẳng quan tâm tới câu trả lời; tôi chỉ đơn thuần muốn hỏi một cái gì đó có thể mào đầu cuộc tán gẫu, và đồng thời không quá thóc mách hay sỗ sàng. Tác động của câu hỏi lên người lạ kia thật đáng kể. Chắc hẳn tôi đã khiến ông hứng thú. Ông liếc nhìn tôi hồi lâu, vẻ cổ quái, khuôn mặt ông dường như căng cứng đôi chút. Đó là cái nhìn của tay chơi bài xì tố đột nhiên phán đoán đối thủ của gã đang nắm tay bài thùng phá sảnh* và rằng gã tốt hơn hết là nên cẩn thận. Hồi lâu ông mới đáp lời, từ từ và thận trọng: “Tôi e là tôi không thể nói cho cậu chính xác được. Khoảng một giờ nữa, tôi nghĩ thế.” Ánh mắt của ông, trong giây lát trống rỗng, lại trở nên mù mịt. Một suy nghĩ khó chịu dường như đang trêu chọc ông như con ong vò vẽ; ông khẽ nghiêng đầu tránh nó. Rồi ông nói thêm, u ám đến bất ngờ: “Mấy cửa khẩu kiểu này… đúng là phiền toái kinh khủng.” Tôi không chắc nên đón nhận lời này như thế nào. Tôi chợt nghĩ có lẽ ông là một người theo chủ nghĩa quốc tế ôn hòa; một thành viên của Hội Quốc Liên*. Tôi đánh liều: “Chúng nên bị dẹp bỏ.” “Tôi khá nhất trí với cậu. Thực sự nên thế.” Rõ ràng ông ta đang tỏ ra thân thiện. Ông có chiếc mũi tròn ủng và một chiếc cằm có vẻ bị lệch, giống như cái đàn concertina bị hỏng. Khi ông nói, nó giật dúm lại vô cùng kì quặc và vết cằm chẻ sâu hoắm như một vết thương đột nhiên xuất hiện lệch một bên. Phía trên gò má đỏ lựng của ông, vầng trán trắng loáng góc cạnh như đá cẩm thạch. Tóc mái màu muối tiêu cắt lem nhem vắt ngang, gọn, dày và nặng. Sau một hồi ngắm nghía, tôi nhận ra, với niềm hưng phấn cao độ, rằng ông ta đang đội tóc giả. “Nhất là ba cái trò hành chính quan liêu,” tôi tiếp bước thắng lợi, “kiểm tra hộ chiếu, đại loại thế.” Nhưng không. Câu này không ổn. Tôi ngay lập tức nhận ra từ vẻ mặt của ông rằng mình vừa gẩy một nốt nhạc chối tai. Chúng tôi đang nói thứ ngôn ngữ na ná nhưng khác biệt. Vậy mà lần này phản ứng của người lạ kia lại không phải là ngờ vực. Ông hỏi, với vẻ thẳng thắn khó hiểu và tò mò không giấu diếm: “Đã bao giờ cậu gặp vấn đề ở đây chưa?” Bản thân câu hỏi không khiến tôi thấy kì lạ bằng chính giọng điệu hỏi của ông. Tôi mỉm cười giả lả. “Ô không. Ngược lại thì đúng hơn. Thường họ đâu có thèm mở cái gì, còn hộ chiếu của ông họ chẳng thèm nhìn qua.” “Thật mừng khi cậu nói thế.” Ông chắc hẳn đã đọc thấy trên mặt tôi những gì tôi đang nghĩ, vì ông vội vã tiếp lời: “Có thể tôi hơi nực cười, nhưng tôi rất ghét bị quấy rầy và làm phiền.” “Dĩ nhiên. Tôi hiểu.” Tôi nhe răng cười, bởi tôi vừa đi đến một lời giải thích thỏa đáng cho hành vi của ông ta. Ông bạn già này đang dính vào một phi vụ buôn lậu nho nhỏ vô hại. Có lẽ là một mảnh lụa cho vợ hoặc một hộp xì gà cho bạn. Và dĩ nhiên, ông đang bắt đầu thấy sợ. Rõ ràng nom ông dư sức trả bất kì khoản thuế nào. Đám nhà giàu quả là có những sở thích lạ lùng. “Vậy là ông chưa bao giờ đi qua cửa khẩu này?” Tôi cảm thấy bản thân tử tế, bảo bọc và trịch thượng. Tôi sẽ động viên ông, và nếu tình hình tệ quá thì phím trước cho ông mấy lời nói dối hợp lý để làm mềm lòng nhân viên hải quan. “Mấy năm gần đây thì không. Tôi thường di chuyển nội trong nước Bỉ. Vì nhiều lý do. Vâng.” Ông lại có vẻ mơ hồ, im tiếng, và nghiêm trang gãi cằm. Đột nhiên, có thứ gì đó dường như thôi thúc ông nhận thức sự có mặt của tôi: “Có lẽ theo thủ tục thì tôi nên tự giới thiệu. Arthur Norris, người Gent. Tôi sống tự lập, nhờ vào thu nhập từ bất động sản.” Ông cười khúc khích vẻ lo lắng, rồi đột ngột thốt lên cảnh báo. “Xin đừng đứng dậy.” Nếu muốn bắt tay mà không di chuyển thì xa quá. Chúng tôi đành thỏa hiệp bằng một cái cúi người lịch sự từ chỗ ngồi. “Tôi là William Bradshaw,” tôi nói. “Ôi trời, đừng nói cậu là người nhà Bradshaw ở Suffolk đấy nhé?” “Tôi đồ rằng đó chính là nhà chúng tôi. Trước Chiến tranh*, chúng tôi sống ở Ipswich.” “Thế bây giờ thì sao? Cậu còn sống ở đấy không? Có lần tôi từng sống cùng với một bà tên là Hope-Lucas. Bà ấy có ngôi nhà đáng yêu gần Matlock. Bà ấy mang họ Bradshaw trước khi kết hôn.” “Vâng, đúng vậy. Đó là bà dì Agnes của tôi. Bà mất bảy năm trước rồi.” “Vậy sao? Ôi, ôi. Tôi rất lấy làm tiếc… Dĩ nhiên, tôi quen bà từ khi tôi còn là thanh niên; lúc đó bà ấy đã trung niên rồi. Với lại nhắc cho cậu khỏi quên, tôi đang nói hồi năm 98* ấy.” Từ nãy đến giờ tôi ngấm ngầm soi xét mái tóc giả của ông. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mái tóc giả nào được làm khéo đến thế. Phía sau gáy, nơi tóc giả tóc thật được chải lẫn với nhau, trông thật hài hòa. Chỉ có phần rẽ ngôi là khiến nó bại lộ, mà thực ra nhìn từ cách xa ba, bốn mét thì cũng không quá kệch cỡm. “Thật là…” Ông Norris trầm tư. “Ôi chao, đúng là trái đất tròn.” “Chắc ông chưa từng gặp mẹ tôi? Hay cậu tôi, ngài đô đốc?” Lúc này tôi đành hạ cố chơi bài quan hệ. Nó tẻ nhạt nhưng thư giãn, lại có thể kéo dài hàng giờ. Chưa gì tôi đã thấy cả chuỗi những nước đi ngon ăn phía trước - các cậu, các dì, anh em họ, đám cưới của bọn họ, gia tài của bọn họ, thuế thừa kế, tài sản thế chấp, doanh số. Rồi tới trường tư thục và đại học, so sánh về đồ ăn, trao đổi giai thoại về những chuyên gia, các trận đấu nổi tiếng và những cuộc đua thuyền trứ danh. Tôi biết đích xác chủ đề nào phải nói bằng giọng lưỡi nào. Nhưng, ngạc nhiên thay, rốt cuộc ông Norris không có vẻ muốn chơi trò này. Ông vội vã đáp lời. “Tôi e là không. Không. Kể từ cuộc chiến, tôi mất liên lạc với kha khá bạn bè người Anh. Vì công chuyện làm ăn nên tôi đi nước ngoài suốt.” Cụm từ “đi nước ngoài” khiến cả hai chúng tôi tự nhiên ngó ra ngoài cửa sổ. Hà Lan đang trôi qua tầm nhìn của chúng tôi êm đềm như cơn mơ sau bữa tối: một vùng đất lầy bình lặng, bao quanh là tuyến xe điện chạy dọc bờ đê. “Ông biết đất nước này rõ không?” Tôi hỏi. Kể từ khi nhận ra bộ tóc giả, tôi nhận thấy không thể nào tiếp tục gọi ông là ngài. Vả lại, nếu ông ấy có đội nó lên để nom trẻ trung hơn thì cũng thật vô ý vô tứ khi cứ cố chấp nhấn mạnh sự chênh lệch tuổi tác giữa chúng tôi. “Tôi biết Amsterdam khá rõ,” ông Norris len lén gãi cằm. Ông có cái kiểu vừa gãi vừa hé môi như thể đang cau có bất mãn, nhưng lại không hung bạo, tựa như con sư tử già trong chuồng. “Khá rõ, đúng thế.” “Tôi cũng muốn đến đó lắm. Chắc hẳn rất tĩnh lặng và yên bình.” “Trái lại, tôi có thể đảm bảo với cậu rằng đó là một trong những thành phố nguy hiểm nhất châu Âu.” “Thật sao?” “Đúng thế đấy. Gắn bó sâu đậm với Amsterdam, tôi vẫn luôn cho rằng nó có ba điểm trừ chí mạng. Thứ nhất, cầu thang trong nhiều ngôi nhà quá dốc đến mức phải là một tay leo núi chuyên nghiệp mới có thể leo thang mà không bị trụy tim hoặc gãy cổ. Thứ hai, đám đi xe đạp. Bọn này hăm hở đạp khắp thành phố rồi lấy đó làm tự hào mà không thèm quan tâm tới mạng người. Mới sáng nay thôi tôi vừa thoát chết trong gang tấc. Và thứ ba, kênh đào. Vào mùa hè, cậu biết không… hôi thối không chịu được, ôi, thối đến phát mửa. Có kể cả ngày cũng chẳng hết. Hàng tuần giời không lúc nào tôi không đau họng.” Đến lúc chúng tôi tới Bentherim, ông Norris đã trình bày hẳn một bài diễn thuyết về những bất lợi của hầu hết các thành phố lớn ở châu Âu. Tôi kinh ngạc khi biết ông đã chu du nhiều đến thế. Ông đã chịu đựng bệnh thấp khớp ở Stockholm và hạn hán ở Kaunas; ở Riga ông buồn chán, ở Warsaw ông bị đối xử khiếm nhã tột cùng, ở Belgrade ông không thể mua được nhãn hiệu kem đánh răng ưa thích. Ở Rome ông bị côn trùng quấy phá, ở Madrid ông bị ăn xin vòi vĩnh, ở Marseilles ông khó chịu vì tiếng còi xe taxi. Ở Bucharest ông đã có trải nghiệm vô cùng khó chịu với cái cầu tiêu. Ở Constantinopole ông thấy xa xỉ và nhạt nhẽo. Hai thành phố duy nhất ông cực kì khen ngợi là Paris và Athens. Đặc biệt là Athens. Athens là thánh địa của ông. Tới giờ, con tàu đã dừng lại. Những người đàn ông mập mạp tái nhợt trong bộ đồng phục xanh dương đi tới đi lui trên sân ga với vẻ nhàn nhã có phần thâm hiểm, làm nên phong thái quan chức ở các ga cửa khẩu. Họ chẳng khác gì những kẻ giám ngục. Tựa hồ như chúng tôi không một ai được phép đi xa hơn. Mời các bạn đón đọc Người Chuyển Tàu của tác giả Christopher Isherwood & Ngô Hà Thu (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Báo Cáo Chính Phủ - Hàn Thiếu Công
Bất ngờ bị bắt khi vô tình dính líu vào một vụ án, “tôi” buộc phải đối diện với một cuộc đời hoàn toàn xa lạ – cuộc sống trong nhà tù tăm tối chỉ có một mảnh trời nhỏ hình vuông. “Tôi” ước sao thời gian quay ngược lại, những quản giáo, đầu gấu, đòn trừng phạt dã man kia chỉ là một giấc mơ. Ba năm sau, được trả lại tự do hằng khao khát, “tôi”, giống như khi đã xếp hàng quá lâu, cuối cùng mới tới được quầy mua hàng, lại không biết mình phải mua cái gì, không biết đồ trong quầy có giá trị gì. “Tôi” lạc lõng trong chính thứ tự do ấy. Dũng cảm rời xa văn phong tinh tế, ngôn từ đậm chất trí thức quen thuộc trong Từ điển Mã Kiều, Hàn Thiếu Công dùng danh xưng ngôi thứ nhất, lấy giọng điệu kể truyện của chính nhân vật chính, một người tù bình thường, để thuật lại một cách tự nhiên cuộc sống tù ngục tăm tối, xót thương, và làm rúng động sâu sa. Báo cáo chính phủ là sự thử nghiệm một cách viết khác của tác giả, trình hiện một cái nhìn mới mẻ đối với thế giới của những con người bị kết tội. *** Tối hôm đó trời oi bức. Cảnh sát đưa bạn tôi vào phòng giam số 2, và dẫn tôi tới trước cửa phòng số 9. Còn đang mường tượng ánh mắt sợ hãi vừa rồi khi bạn tôi quay đầu lại, thì đã nghe một tiếng quát: “Vào đi!” Tiếng khóa cửa loảng xoảng sau lưng đẩy tôi loạng choạng vào bóng tối. Tôi mò mẫm trong tối tăm, mất một lúc lâu đồng tử mới quen với ánh sáng nhờ nhờ, những bức tường gạch dần dần hiện rõ. Buồng giam cao như một cái giếng vuông, một vài sinh vật chìm đọng nơi đáy giếng bừng tỉnh, xôn xao ngồi dậy hoặc đứng hẳn lên. Trong số đôi ba chục thân người ở trần, người trẻ đông hơn, cũng có vài gương mặt đã nhăn nheo. Bọn họ phần đông đầu cạo trọc lóc, ánh mắt đổ dồn vào tôi, cái nhìn lộ vẻ khoái trá thèm khát như phát hiện ra con mồi. “Lại tới một món nữa.” Có người ngáp. “Có mang gì nguy hiểm không?” Câu này hình như hỏi tôi. Tôi lắc lắc đầu. “Mày là người của lão Bí đao à?” Tôi vẫn lắc đầu. Một người giằng mất mảnh chăn chiên đang kẹp dưới nách tôi. Một người bắt đầu lục lọi túi quần áo, lần hai bên hông và đũng quần tôi, nắn đến tận gót chân. Chắc chắn bọn họ rất thất vọng, giống như cảnh sát viên khám người tôi hồi nãy, vừa khám vừa chửi rủa. Quả tình tôi cũng muốn mình phức tạp hơn một chút, tỉ dụ có cả đống tiền bạc biển thủ bị họ khui ra, hay bét nhất cũng phải có tí hung khí hoặc bột trắng gì đấy khiến họ thêm phần mãn ý chứ. Đương nhiên, tôi trong sạch vô tội, nhưng như thế thì tội nghiệp khác nào một gã ăn mày đây? Đáng tiếc, tôi quả là giống gã ăn mày, chả có thể diện, chả có gì, mới lĩnh được mảnh chăn chiên cũ, chiếc bàn chải đánh răng mất cả cán cầm. Cảnh sát cảnh giác với mọi thứ đồ vật kim loại, sợ cái cán bàn chải đánh răng có thể đem mài nhọn, độ dài vừa đủ chạm tới tim, nên chỉ cho tôi một cái bàn chải không cán. ... Mời các bạn đón đọc Báo Cáo Chính Phủ của tác giả Hàn Thiếu Công.
Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ)
Nguyên tác : A Portrait Of The Artist As a Young Man Tác giả : James Joyce Dịch giả : Nguyễn Thế Vinh Thể loại : Tiểu thuyết Văn Học Nước Ngoài Nhà xuất bản : Thế giới Ngày xuất bản : 06/2005 Số trang : 320 Kích thước : 14 x 20,5 cm Số quyển / 1 bộ : 1 Số ấn bản : 300 cuốn Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ) là câu chuyện kể về cuộc sống và môi trường xung quanh của Stephen Dedalus - một chàng trai trẻ người Ireland. Stephen Dedalus hiện lên là người tràn đầy sức mạnh của tuổi trẻ, nhân cách, sự thông minh, tâm hồn nhạy cảm một cách khác thường. Stephan Dedalus được sinh ra và lớn lên tại Ireland, chịu sự ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo, chính trị Ireland nhưng luôn gặp phải sự mẫu thuẫn giữa nghệ thuật và luân thường đạo lý. Chàng trai đã đặt ra rất nhiều câu hỏi, đứng lên chống lại những công ước Công giáo và sau đó quyết định rời Ireland lên đường sang châu Âu, bước chân ra thế giới để rèn giũa lương tâm và tâm hồn mình. Điểm đặc biệt của tiểu thuyết này còn ở chỗ tác giả cũng chính là một người dân Ireland và tiểu thuyết được viết theo hình thức bán tự truyện. *** James Augustine Aloysius Joyce là một nhà văn và nhà thơ biệt xứ Ireland, được đánh giá là một trong những nhà văn ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Ông nổi tiếng nhất với tiểu thuyết bước ngoặt Ulyxơ. Các tác phẩm chính khác của ông là tập truyện ngắn người Dublin (1914), các tiểu thuyết Bức họa người nghệ sĩ là thanh niên (1916) và Finnegans Wake (1939). J. Joyce còn là tác giả của các tập thơ Nhạc thính phòng (Chamber Music, 1907), Thơ một xu một bài (Poems Pennyeach, 1927), Colleted Poems, 1936. Dù số lượng không nhiều nhưng thơ của James Joyce có sự ảnh hưởng rất lớn đến các nhà thơ Anh phái Hình tượng. Có thể coi Joyce là một trong những nhà văn hàng đầu của lối viết "dòng ý thức" với bút pháp độc thoại nội tâm chân thật nhất trong văn học hiện đại. Chủ nghĩa hiện đại hay chính là James Joyce - không chấp nhận lối sáng tác giống các thể loại văn học truyền thống. Nhà văn phá bỏ hoặc tưởng tượng lại các cấu trúc đã được nhận thức và nỗ lực tạo ra chính xác những dòng suy nghĩ theo quy luật hàng ngày với những gì xảy ra. Trong bài viết của nhà nghiên cứu Paul Gray về James Joyce đăng trong tuyển tập 100 con người tạo nên thế kỷ XỬ do báo Time (the Time 100, ngày 6 tháng 8 năm 1998) bình chọn, ông cho rằng chính Ulysses đã mở đường và in dấu sâu đậm trong tác phẩm của nhiều nhà văn lớn của thế giới sau đó như William Faulkner, Albert Camus, Samuel Beckett, Saul Bellow, Gabriel Garcia Marquez và Toni Morrison. Các tác giả này, Paul Gray viết một cách châm biếm, không như Joyce, đều đoạt giải Nobel văn học. James Joyce từng nói "Một trong những điều khi còn trẻ tôi không tài nào quen được là sự khác biệt tôi nhận thấy giữa cuộc sống và văn chương" (trích từ bài của Paul Gray). Joyce dường như đã dành cả sự nghiệp của mình để xóa bỏ sự khác biệt này, đồng thời cách mạng hóa cả nền văn chương thế kỷ XX. Cuộc sống trong tác phẩm của Joyce phần lớn là cuộc đời của chính ông. *** James Augustine Aloysius Joyce (tiếng Ireland: Seamus Seoighe; 2 tháng 2 năm 1882 – 13 tháng 1 năm 1941) là một nhà văn và nhà thơ biệt xứ Ireland, được đánh giá là một trong những nhà văn ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Ông nổi tiếng nhất với tiểu thuyết bước ngoặt Ulyxơ (1922). Các tác phẩm chính khác của ông là tập chuyện ngắn người Dublin (1914), các tiểu thuyết Bức họa người nghệ sĩ là thanh niên (1916) và Finnegans Wake (1939). J. Joyce còn là tác giả của các tập thơ Nhạc thính phòng (Chamber Music, 1907), Poems Pennyeach, 1927, Colleted Poems, 1936. Dù số lượng không nhiều nhưng thơ của James Joyce có sự ảnh hưởng rất lớn đến các nhà thơ Anh phái Hình tượng. Mặc dù phần lớn quãng đời trưởng thành của ông là ở nước ngoài, kinh nghiệm Ailen của Joyce vẫn rất tinh tế trong các bài viết của ông và nó cung cấp tất cả nền tảng cho tưởng tượng của ông và các vấn đề chủ thể nó. Không gian tưởng tượng trước tiên khởi điểm tại Dublin và phản ánh cuộc sống gia đình của ông và các sự kiện và bạn bè (và kẻ thù) từ những ngày ở trường phổ thông và trường đại học. Dù vậy, ông trở thành người chủ nghĩa toàn cầu nhất và là một trong số những người địa phương nhất của tất cả phạm vi tiếng Anh hiện đại. Kinh nghiệm Ailen của Joyce tạo thành một phần tử tinh tế trong các tác phẩm của ông và cung cấp nền tảng cho trí tượng tượng của ông và rất nhiều các vấn đề chủ thể. Tập truyện ngắn trong ấn bản đầu tay Người Dublin đã tập trung phân tích sự đình trệ và sự tê liệt của xã hội Dublin. Các câu truyện kết hợp chặt chẽ The stories incorporate sự hiện thân, một từ được sử dụng riêng bởi Joyce, với ý nghĩa là ý thức bất chợt của "tâm hồn" một thứ gì đó. Câu truyện cuối cùng và nổi tiếng nhất trong tập truyện, "Cái chết", được John Huston đạo diễn như là phim đặc trưng cuối cùng của ông vào năm1987.   Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ) xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng 100 cuốn tiểu thuyết hay nhất , và xếp thứ  57 trong bảng xếp hạng do độc giả bình chọn "Đọc các tác phẩm của Joyce đã thay đổi cuộc đời tôi như thế nào?” là tên một cuộc thi dành cho học sinh năm cuối bậc phổ thông của thành phố New York do những người bạn Mỹ của James Joyce tổ chức năm 2005. Đây cũng là một trong những hoạt động dành cho lễ kỷ niệm Bloomsday năm 2005 vừa qua để tưởng nhớ James Joyce.  Đây là bài tiểu luận đạt giải nhất với tựa đề “Chân dung nghệ sĩ” của một học sinh có tên là Mara Wishingrad. eVăn đặt lại đầu đề. Khi cố gắng lý giải sự hình thành của tài năng, nền văn hóa của chúng ta đã mang ra hình ảnh thần thoại Hy Lạp của Aphrodite1 , tượng trưng cho nữ thần của Tình yêu và Cái đẹp. Nếu như ai đó tin tưởng vào các phương tiện truyền thông đại chúng, họ sẽ cho rằng người nghệ sĩ, cũng giống như Aphrodite được tạo thành từ miếng bọt biển với một tài năng đã phát triển đầy đủ và chỉ cần có một cơ hội đúng thời điểm là có thể bộc lộ năng khiếu bẩm sinh sẵn có đó. Trái lại, James Joyce miêu tả sự phát triển và hình thành nên một người nghệ sĩ trong cuốn tiểu thuyết Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ) và minh họa rằng ý thức của người nghệ sĩ phát triển theo thời gian và cần phải có rất nhiều năm để trưởng thành. Do đó, Joyce chọn một thần thoại khác để tượng trưng cho câu chuyện của mình, đặt tên người hùng của mình là Stephen Dedalus - cái tên được lấy từ một anh hùng trong thần thoại Hy Lạp - Daedulus2 , người đã khôn khéo sử dụng tài năng để tìm được tự do cho chính mình.    Trong Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ), Joyce miêu tả một quan sát những bước phát triển trong trí óc của một nghệ sĩ bằng cách mô tả sự đấu tranh và phát triển nội tâm của một chàng trai trẻ, Stephen Dedalus. Thông qua kỹ thuật “dòng ý thức”, Joyce trực tiếp ghi lại những cảm xúc, suy tư, trăn trở của Stephen thay bằng mô tả thông qua quan điểm của một người khác.           Bằng cách sử dụng ngôn từ mà ngày càng trở nên lưu loát và trí tuệ khi Stephen trưởng thành, Joyce chỉ ra cách tư duy của Stephen phát triển khi cậu là một thanh niên đã chín hơn. Và kết quả là, người đọc cảm nhận rằng Joyce đang chia sẻ cuộc sống nội tâm của Stephen, hơn là chỉ quan sát anh ta từ bên ngoài. Mặc dù hoàn cảnh sống xung quanh và các sự kiện xảy ra với cuộc đời của Stephen không có nhiều điểm chung với tôi, thế nhưng đời sống nội tâm của tôi và cậu ấy lại giống nhau đến bất ngờ. Cũng giống như Stephen, tôi luôn luôn cảm nhận rằng tôi nhìn nhận thế giới bên ngoài một chút khác biệt so với những người xung quanh.          Ngay từ khi tôi còn bé, đời sống nội tâm cũng như thế giới bên ngoài luôn luôn thực và quan trọng đối với tôi. Tất cả những gì cuốn hút tôi đều là những hoạt động dựa trên trí tưởng tượng của tôi hơn là các thử thách về sức mạnh hay hình thể. Trong lúc những người khác hài lòng và thích thú để trở thành những người tham gia tích cực và năng động, thì tôi lại thường xuyên đứng ở ngoại biên nghiên cứu họ và các sự việc diễn ra xung quanh tôi. Thông qua chân dung Stephen mà Joyce vẽ ra, tôi nhận ra rằng những gì làm tôi khác với mọi người là cái gì đó tôi nên chấp nhận chứ không phải cái gì đó tôi cần phải xa lánh. Tuy nhiên, cũng không dễ dàng gì để tin vào bản thân mình khi lớn lên với một ý thức trong đầu rằng người nghệ sĩ được sinh ra vốn dĩ đã hình thành đầy đủ tài năng. Khi so sánh bản thân mình với những thần tượng văn học, những nỗ lực của tôi thường không đạt tới cái gì cả. Không ai chỉ cho tôi biết rằng những nhà văn tài năng đó không phải lúc nào cũng có những trang viết tuyệt vời. Không ai nói cho tôi biết rằng họ đã phải dành hàng giờ đồng hồ, nỗ lực viết, viết và viết lại nhằm tạo nên những câu chữ tưởng chừng như chỉ cần rất ít nỗ lực. Trong khi đó, có những ngày tôi cảm tưởng rằng mình không thể làm được một việc gì cả và thường xuyên tôi cảm thấy những mục đích của mình thật quá xa xôi. Tuy nhiên, hình ảnh sự phát triển của Stephen trong Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ) đã truyền cho tôi nguồn cảm hứng, đưa đến cho tôi một lựa chọn khác với vị thần Aphrodite. Trong thần thoại Hy Lạp mà Joyce lựa chọn, người anh hùng Daedalus lại trái ngược với con trai của mình - Icarus. Daedalus, một bậc thầy lành nghề, tạo cho chính mình và con trai mình những đôi cánh để họ có thể bay và trốn thoát khỏi hòn đảo Crete nơi họ bị vua Minos giam trong ngục tù. Icarus, trẻ tuổi, nông nổi, cẩu thả, say sưa tự do tới quá mức tự chủ đến nỗi đã không nghe lời cha dặn rằng không được bay quá gần với mặt trời và kết quả là đã bị mặt trời thiêu cháy đôi cánh và chết đi. Không giống như Icarus, Stephen chuẩn bị trí tuệ, kinh nghiệm và tinh thần cho chính mình để cất cánh. Thông qua cả giáo dục chính thống và sự tự vấn nghiêm túc, Stephen đã có thể xây dựng cho mình một hệ thống niềm tin, đạo đức, và triết lý về mỹ học của riêng mình. Cậu đã phát triển và nhận ra mình là ai và mình muốn gì. Khi cuốn tiểu thuyết gần khép lại, có người cảm nhận rằng Stephen đã sẵn sàng rời bỏ mảnh đất an toàn của nhà trường, gia đình và tổ quốc để đề ra kế hoạch của chính mình như là một nghệ sĩ. Có người thì cho rằng Stephen đã đạt tới sự trưởng thành về mặt trí tuệ và óc thẩm mỹ qua sự giằng xé nội tâm, và rằng đó không phải là một con đường thẳng tắp mà là một con đường ở phía trước với rất nhiều khúc quanh và chướng ngại vật. Hình ảnh Stephen phát triển để trở thành một nghệ sĩ dưới ngòi bút của James Joyce đã động viên tôi trên hành trình đi tìm cái đẹp của chính mình. Bằng văn phong miêu tả đầy thuyết phục và hấp dẫn của Joyce, những cảm xúc, suy nghĩ của Stephen đã thay đổi lối tư duy để trở thành người nghệ sĩ và người sáng tạo cái đẹp trong tôi. Khi tôi tìm kiếm và tạo nên thần thoại của chính mình, ý thức của tôi chấp nhận một điều rằng chúng ta sinh ra không phải là nghệ sĩ mà chúng ta trở thành nghệ sĩ. 1 : Trong thần thoại Hy Lạp, Aphrodite là vị thần biểu tượng cho tình yêu và sắc đẹp. 2 :  Trong thần thoại Hy Lạp, Daedalus bị vua Minos giam trong hòn đảo Crete. Nhưng bằng tài năng và trí thông minh, Daedalus đã tự tạo cho mình đôi cánh và thoát ra khỏi nhà tù đó. Mời các bạn đón đọc Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ (Chân Dung Một Chàng Trai Trẻ) của tác giả James Joyce.
Mở Mắt Trời Vẫn Xanh
Cuốn sách kể về cuộc sống của Russell Ammiano bị đảo lộn hoàn toàn sau vụ khủng bố 11/09. Hôm đó là 1 ngày kinh hoàng,  bắt đầu bằng việc muộn giờ một cuộc họp quan trọng; rồi anh nhận được điện thoại báo tin mẹ mình đột ngột qua đời; và Russell cần thu xếp về quê ngay lập tức để chăm sóc cho người anh trai bị bại não; sau đó, anh tận mắt chứng kiến cảnh tòa nhà nơi anh làm việc bị khủng bố, và tất cả bạn bè đồng nghiệp cũng như công ty anh đều bị vùi sâu dưới đống đổ nát. Cuốn sách xoáy sâu vào tâm lý xã hội Mỹ sau vụ khủng bố kinh hoàng ấy. Khủng hoảng tinh thần, kì thị người Hồi giáo... Loay hoay trong nỗi ám ảnh; mất mát, lại phải lo toan cuộc sống cho người em trai mắc bệnh bại não, Russell Ammiano đã có lúc tưởng như gục ngã. May sao, cô gái  Anat Nazir xuất hiện và chính tình yêu đã giúp Russell học được cách xây dựng lại cuộc đời mình từ con số Không. Đây là một cuốn sách gây tiếng vang tại quê nhà, và chắc chắn với đề tài đậm chất nhân văn, Mở mắt trời vẫn xanh sẽ chạm đến nơi sâu thẳm nhất của mỗi con người - đánh thức trong họ tình yêu cuộc sống và trân trọng những giờ phút quý giá bên người thân. *** [Review] – Mở Mắt Trời Vẫn Xanh – Catherine Ryan Hyde Sau một loạt những mất mát kinh hoàng của sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ, Russell gần như bị quẳng vào vực thẳm với cái chết đột ngột của người mẹ cùng trách nhiệm chăm sóc người anh trai bị bại não. Bắt đầu một cuộc sống mới không hề dễ dàng, tại một vùng đất cũ không còn quen thuộc, với những con người gần như mới lạ, Russel sẽ phải xoay sở thế nào đây? Vào ngày 11/09/2001, một vụ khủng bố khủng khiếp đã gây chấn động toàn bộ nước Mỹ và dấy lên hàng loạt làn sóng phẫn nộ từ dân chúng. Russell, chàng nhân viên quảng cáo, đã may mắn thoát chết do muộn giờ làm nhưng lại tận mắt chứng kiến tòa tháp mình đang làm việc sụp đổ cùng với mạng sống của những người sếp, người đồng nghiệp của mình. Chưa hết, anh còn nhận được tin mẹ mình đã qua đời khiến anh phải mau chóng về lại quê nhà để chịu tang và thay mẹ chăm sóc người anh trai bị bại não của mình. Khoảng thời gian anh ở tại quê nhà với Ben, người anh trai ấy, đã gần như đẩy Russell vào tuyệt vọng khi mà nỗi ám ảnh vẫn còn, những rắc rối phát sinh, những trách nhiệm phải gồng gánh và tỷ tỷ thứ phải đối mặt khác. Nhưng định mệnh cũng không lấy đi tất cả của anh mà còn cho anh gặp gỡ Anat Nazir, một cô gái Ai Cập cũng chịu nhiều rắc rối sau sự kiện khủng bố ấy. Tình yêu, tình thương còn sót lại là ánh sáng, là động lực mới để Russell làm lại cuộc đời, viết lại một cái kết tốt đẹp hơn mà anh xứng đáng nhận lấy. Sau tất cả, “Mở mắt trời vẫn xanh”, màu xanh của hi vọng, của sự sống mới, của một khởi đầu mới dành cho Russell.  [Image: [Review] - Mở Mắt Thấy Trời Vẫn Xanh - Catherine Ryan Hyde] [Review] – Mở Mắt Thấy Trời Vẫn Xanh – Catherine Ryan Hyde Đọc hết phần đầu câu chuyện, tôi tự hỏi liệu nếu là mình, làm sao mình có thể vượt qua được quãng thời gian ấy chứ. Khi bạn chưa kịp hồi phục sau những thương tổn thì những tai ương đồng thời ập đến. Rồi những ngày sau đó, bạn còn bị “khủng bố tinh thần” bởi những người dân sinh sống xung quanh với đủ thứ rắc rối phát sinh, với những tư tưởng khá cực đoan. Chính điều đó đã dẫn đến sự xung đột giữa Russel và gia đình Nazir cũng như mối quan hệ giữa anh và Anat. Nhưng rất may, sau cùng, tác giả vẫn mở cho anh một con đường hoàn hảo, dù rằng mình mong đợi nó…bi thảm hơn một chút. Câu chuyện được kể bởi giọng văn khá mạch lạc, đầy gợi mở, lúc là giọng của Russel, lúc như của một người thứ 3 vậy. Tuy nhiên, mình thực sự chưa cảm nhận được nỗi đau tinh thần của Russel cho lắm (vì có lẽ mình mong đợi nhiều xung đột về nội tâm hơn) nhưng có lẽ câu chuyện thiên hướng về các mối quan hệ giữa người với người nhiều hơn nên mình cũng cho qua luôn. Dù vậy,truyện vẫn có những phân đoạn để thể hiện cảm xúc tích cực lẫn tiêu cực của mỗi nhân vật và những chi tiết đó cũng khá đắt giá để người đọc hiểu hơn về tâm lý nhân vật. Cách kể theo lộ trình thời gian tựa như một quyển nhật ký cũng khiến người đọc thấy lạ lẫm lúc đầu vì nó không giống văn phong khi viết nhật ký cho lắm nhưng cũng khiến người ta hứng thú hơn khi đọc sách. Càng về sau thì quay lại mạch truyện tự sự nhiều hơn cho nên mất đi vẻ “nhật ký” ban đầu khiến mình cuốn hút. Đánh giá: 7,5/10 *** Review Sách “Mở Mắt Trời Vẫn Xanh” - Câu Chuyện Nhân Văn Sau Khủng Bố 11/9 Một cuốn sách thắt ruột về một người vừa thoát chết sau sự kiện 11/9, mất mẹ ngay trong buổi sáng hôm đó và tiếp nhận một người anh không-bình-thường. Nếu bạn đã chán những cuốn truyện về tình yêu nam nữ đơn thuần, hay những cuốn sách giáo điều triết lý, thì Mở mắt trời vẫn xanh sẽ là một làn gió mới độc đáo dành cho bạn. Mở mắt trời vẫn xanh là câu chuyện kể về cuộc sống trong bốn tháng của Russell Ammiano, kể từ ngày 11/9/2001, ngày đã xoay chuyển cả cuộc đời anh. Ngủ dậy muộn, trễ mất cuộc họp quan trọng ở công ty, Russell đã tưởng rằng ngày hôm đó của anh không thể nào tệ hơn, cho đến khi nhận được điện thoại từ quê nhà thông báo: Mẹ anh vừa đột ngột qua đời, và anh cần thu xếp công việc, về quê ngay lập tức để chăm sóc cho người anh trai bị tổn thương não của mình. Mọi chuyện còn trở nên tồi tệ hơn khi Russell tận mắt chứng kiến cảnh chiếc máy bay khủng bố lao thẳng vào tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới – nơi anh đang làm việc, cũng là mục tiêu cả cuộc đời anh. Russell thực sự suy sụp. Cuộc sống mơ ước mà anh cố gắng bấy lâu trong phút chốc chỉ còn là đống đổ nát. Tất cả bạn bè của anh đều ra đi trong cuộc khủng bố. Và giờ đây, người thân duy nhất anh còn là Ben – người anh trai bị tổn thương não, có tâm trí như một đứa trẻ con. Mở mắt trời vẫn xanh là câu chuyện về cách Russell đã từng bước đối diện với thực tế đau khổ của mình, và dần dần tìm ra con đường để bước tiếp, để hướng về bầu trời xanh trước mặt. Xuyên suốt câu chuyện của nhân vật chính, tác giả Katherine Ryan Hyde đã khéo léo lồng ghép phản ứng rất thực của người dân nước Mỹ trước vụ khủng bố: có những người đồng cảm, giúp đỡ lẫn nhau, cũng có những người dè chừng hơn với người khác, và không thể không kể đến những phần tử yêu nước đến mù quáng, để sự sợ hãi và thù ghét chiếm mất lí trí mà hành động điên rồ. Tất cả những cảm xúc, tích cực lẫn tiêu cực, đều được thể hiện rất chân thực qua các nhân vật dù chỉ xuất hiện trong một thoáng chốc. Một ông chú nóng nảy bênh vực mọi điều về nước Mỹ và sẵn sàng cáu kỉnh với những người mà theo ông là không-yêu-nước; một cô gái mạnh mẽ và cá tính lên tiếng phản đối chiến tranh và những hành động trả thù; cụ bà hơn tám mươi tuổi yếu ớt và không thường giúp đỡ người khác, lại sẵn sàng cho một cậu thanh niên đi nhờ xe bởi “tôi chỉ đang cố gắng giúp đỡ thôi” – khi cậu thanh niên ấy không thể bắt nổi một chuyến bay về quê hương sau vụ khủng bố, v…v… Câu chuyện được viết theo dạng hồi ký qua từng ngày, dần hé lộ những bí mật trong quá khứ khi Russell còn nhỏ, và nguyên do khiến anh muốn chối bỏ vùng quê Norville của mình; cùng những bí mật đầy bất ngờ về một tuổi thơ không êm đẹp với người anh trai – đã từng vô cùng mạnh mẽ, lanh lợi. Giữa sự hỗn loạn của xã hội, Russell gần như lạc lối trong đống đổ nát của nước Mỹ và của chính đời mình. Nhưng rồi sau tất cả, anh vẫn tìm được cách bắt đầu lại tất cả từ con số 0, và tìm được hạnh phúc của riêng mình. Bởi vì dù thế nào, thì bầu trời vẫn luôn xanh.   Theo Bookaholic.vn Mời các bạn đón đọc Mở Mắt Trời Vẫn Xanh của tác giả Catherine Ryan Hyde & Kiệm (dịch).
London Ngày Nắng Hạ - Emily Giffin
“Một cuốn sách duyên dáng... lựa chọn hoàn hảo cho những dịp cuối tuần cuối-mùa-hạ.” - Bookworm Dù đã rời xa Dexter, Darcy vẫn bàng hoàng khi phát hiện ra mối quan hệ giữa anh và Rachel. Ý nghĩ bị hai người từng là những người quan trọng nhất đời mình phản bội choán lấy mọi suy nghĩ của cô, hút cạn niềm vui sống của cô. Mất một người bạn từ thuở ấu thơ. Mất một người yêu đã gắn bó bên cô suốt bảy năm trời. Những thứ quý giá nhất đang trôi tuột qua cô như những hạt cát trôi qua kẽ ngón tay. Thứ duy nhất có lẽ còn lấp lánh trong cuộc sống của cô là cuộc tình với Marcus. Nhưng rồi những mê đắm ban đầu cũng dần tan đi. Chấp chới. Hoang mang... Cô sang London với trái tim đầy thương tổn để tìm lại cuộc sống. Đón đợi cô nơi thành phố già cỗi ấy liệu có phải là người đàn ông và cuộc sống cô vẫn chờ mong? *** Emily Giffin (20/31972) là nhà văn nữ của Mỹ nổi tiếng với dòng tiểu thuyết “Chick Lit”, một dòng tiểu thuyết hiện đại gồm các sáng tác của các tác giả nữ, viết về giới nữ và dành cho giới nữ, bắt đầu từ giữa những năm 90. Emily Giffin đã học trung học tại trường Naperville North ở ngoại ô Chicago, nơi tác giả từng là thành viên của hội viết sáng tạo và là biên tập viên chính cho tờ báo của trường, sau đó tốt nghiệp tại trường đại học Wake Forest University và The University of Virginia. Ngoài Xúc Xắc Tình Yêu, Emily Giffin còn được biết đến với các tiểu thuyết khác như: Khao Khát Của Em, London Ngày Nắng Hạ Và Yêu Người Ở Bên Ta. *** “Tài năng của Emily trong việc tạo ra bầu không khí ấm áp và đầy thấu hiểu đã tỏa sáng trong thiên tiểu thuyết đáng mê say này.” - Hamptons magazine “Vô cùng thú vị.” - The Boston Globe “Scarlett O'Hara trong chicklit hiện đại.” - San Antonio Star-Ledger “Lối viết thông minh. Hội thoại chân thực... Emily Giffin thực sự biết mình đang làm gì.” - The Winston-Salem Journal *** Từ khi sinh ra tôi đã được trời phú cho một vẻ ngoài xinh đẹp. Tôi chào đời theo đường sinh mổ nên không gặp phải những bất lợi thường thấy với trẻ em sinh theo cách tự nhiên, đó là những vết sẹo và mái đầu không tròn trịa. Ngược lại, tôi có một chiếc mũi nhỏ xinh, cặp môi trái tim và hàng lông mày sắc sảo. Chỏm tóc loăn xoăn mọc trên đúng đỉnh đầu không dày cũng chẳng mỏng, hứa hẹn một mái tóc tuyệt đẹp và một đường chân tóc hoàn hảo sau này. Đúng vậy đấy, suối tóc mang màu cà phê của tôi dày và mượt như tơ. Sáng sáng, tôi ngoan ngoãn ngồi im để mẹ quấn tóc cho tôi bằng những lô quấn nóng và to hay tết thành bím thật cầu kỳ. Khi tôi đến lớp mầm non, mấy đứa nhóc khác trong lớp - phần lớn có kiểu tóc bát úp xấu tệ - cứ tranh nhau đặt đệm gần chỗ tôi nằm lúc ngủ trưa để thỉnh thoảng vuốt trộm chiếc đuôi gà của tôi. Chúng vui vẻ cho tôi dùng chung hộp đất nặn Play-Doh hay nhường cho tôi lượt chơi cầu trượt. Bất cứ thứ gì để được kết bạn với tôi. Lúc ấy, tôi nhận ra trên đời này có một thứ gọi là đẳng cấp, và hình thức đóng một vai trò trong nấc thang đẳng cấp ấy. Nói cách khác, ngay từ khi mới chỉ là cô nhóc ba tuổi, tôi đã hiểu rằng vẻ đẹp mang lại cho con người ta quyền lực và đẳng cấp. Bài học ấy chỉ được củng cố khi tôi lớn lên và tiếp tục giành được ngôi vị người đẹp nhất trong các cuộc thi ngày một quy mô hơn. Nữ hoàng sắc đẹp ở trường cấp hai rồi cấp ba. Nhưng khác với các nhân vật trong mấy bộ phim của John Hughes mà tôi yêu thích, sự nổi tiếng và vẻ đẹp không bao giờ biến tôi thành một kẻ xấu xa. Tôi là một kẻ độc tài rộng bụng, luôn để mắt canh chừng mấy đứa con gái đình đám khác vốn luôn cố tình lạm dụng quyền lực của mình. Tôi thách thức tất cả những hội sành điệu, luôn sống chân thành với Rachel, cô bạn thông minh thân nhất của tôi. Sự nổi tiếng của tôi đủ để tôi đặt ra luật của riêng mình. ... Mời các bạn đón đọc London Ngày Nắng Hạ của tác giả Emily Giffin.