Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tôi Đã Chết Vào Một Ngày Nào Đó

"Tôi đã chết vào một ngày nào đó, liệu cái chết của tôi có ý nghĩa gì không?" Hai dòng đầu cuốn nhật ký Jae Joon để lại, giống như một điềm gở về sự ra đi đột ngột của cậu. Nó ngăn trở đồng thời cũng thôi thúc Yoo Mi thu hết can đảm lật từng trang nhật ký, bước vào thế giới của cậu bạn thân, và gặp lại một Jae Joon vừa quen vừa lại. Bắt đầu bằng bi kịch nhưng lại không hoàn toàn chìm đắm trong nỗi buồn, Tôi đã chết vào một ngày nào đó mang đến sức mạnh của sự sống và hi vọng. Những băn khoăn, mất mát, nổi loạn và trưởng thành của tuổi trẻ được miêu tả sống động qua một cốt truyện tự nhiên. *** REVIEW “TÔI ĐÃ CHẾT VÀO MỘT NGÀY NÀO ĐÓ”: NHỮNG BĂN KHOĂN, MẤT MÁT, NỔI LOẠN VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA TUỔI TRẺ Jae Joon, cậu bạn thân có một không hai của Yoo Mi, đột ngột qua đời do một tai nạn xe máy, làm cho cô bé không khỏi ngỡ ngàng và đau đớn. Trốn tránh khỏi nỗi đau thương giằng xé, cô không dám đối mặt với cái chết của Jae Joon, lại càng không dám đến thăm ngôi nhà của cậu ấy, đối diện với những con người có lẽ còn đang đau đớn gấp hàng nghìn cô.  Jae Joon, cậu bạn thân có một không hai của Yoo Mi, đột ngột qua đời do một tai nạn xe máy, làm cho cô bé không khỏi ngỡ ngàng và đau đớn. Trốn tránh khỏi nỗi đau thương giằng xé, cô không dám đối mặt với cái chết của Jae Joon, lại càng không dám đến thăm ngôi nhà của cậu ấy, đối diện với những con người có lẽ còn đang đau đớn gấp hàng nghìn cô. Đứng trước lời đề nghị đọc cuốn nhật ký của Jae Joon, Yoo Mi lại càng nhớ về những kỉ niệm cùng với người bạn cũ của mình, rồi thu hết can đảm, đọc những dòng suy nghĩ của cậu khi còn sống, để rồi gặp một Jae Joon “vừa quen vừa lạ.” Như lời giới thiệu nằm ở bìa của cuốn sách, “Tôi đã chết vào một ngày nào đó” bắt đầu bằng bi kịch nhưng lại không hoàn toàn chìm đắm trong nỗi buồn. Đọc nhật kí của Jae Joon gợi nhớ cho Yoo Mi rất nhiều về người bạn cũ, cũng như cho cô hiểu thêm về những khía cạnh mà cô chưa bao giờ biết tới. Như tình cảm dành cho cô bạn cùng lớp Jung So Hee mà cậu mãi không từ bỏ được, trò chơi “giả làm người chết” hay góc nhỏ mà cậu vẫn để dành cho cô bạn thân Yoo Mi trong trái tim mình. Những điều được viết trong cuốn nhật ký đó càng làm cho cô không thể tin được rằng Jae Joon đã mãi rời xa thế giới này rồi, nhưng cuối cùng lại phải chấp nhận rằng cậu ấy đã ra đi mãi mãi, để sống tiếp mà luôn giữ một góc nhỏ cho Hwang Jae Joon trong trái tim. Trò chơi giả làm người chết của Jae Joon thực sự đã để lại cho tôi rất nhiều suy nghĩ. Chính trò chơi này đã giúp cậu nhìn thế giới dưới một con mắt khác, một con mắt đau buồn hơn và tự biết trân trọng sự sống và những con người xung quanh mình hơn. Có lẽ, mỗi chúng ta cần dành một chút thời gian để thử chơi trò chơi của cậu thiếu niên ấy, để nhìn đời theo một cách nhìn khác, để thêm yêu quý và trân trọng những con người xung quanh mình, hay đơn giản chỉ là bình tĩnh lại sau giây phút nóng nảy. Như cái cách Jae Joon làm hòa với em trai của mình vậy. Gấp lại "Tôi đã chết vào một ngày nào đó", tôi đã thực sự hỏi bản thân mình rằng "Liệu cái chết của tôi có ý nghĩa gì không?" Nhưng rồi câu hỏi ấy cũng không tồn tại được quá lâu trong tâm trí tôi, vì tôi biết: mình có gia đình, có bạn bè - những con người sẽ mãi nhớ về tôi sau khi tôi ra đi. Đọc xong cuốn sách, tôi lại càng trân trọng và yêu quý thêm những con người xung quanh mình, cũng như trân trọng sự sống này vậy. Nội dung: Anh Thư - Bila Team *** “Yoo Mi à, cô... cô có chút việc muốn nhờ. Hôm nào đó con gặp cô một lát được không?” Tôi vô cùng bất ngờ khi nhận được điện thoại của cô. Nghĩ thế nào tôi cũng không đoán ra nổi cô có việc gì nhờ đến mình. Đã hai tháng rối, kể từ ngày Jae Joon qua đời, nhưng tôi chưa một lần đến nhà cậu ấy. Ngay cả mấy đứa chẳng thân thiết lắm cũng đã đôi lần qua động viên mẹ Jae Joon, thế mà tôi - cái đứa bạn thân có một không hai của cậu - lại chẳng bén mảng dù chỉ một bước chân về phía ngôi nhà đó. Cả cô cũng vậy. Dù thi thoảng có hỏi thăm lũ bạn về tôi, nhưng cô khỏng hề gọi tôi đến, một cuộc điện thoại cũng không. Tôi không đủ dũng khí để gặp cô. Dường như nếu gặp cô thì sự thật rằng Jae Joon đã chết sẽ ập đến và tôi sẽ chẳng thể vượt qua nổi nỗi khổ đau khi ấy. Tôi đã không hề liên lạc trong suốt hai tháng liên vì cho rằng cô cũng có cảm giác tương tự, thế nên tôi hoàn toàn không ngờ cô lại đột nhiên gọi điện và hẹn gặp mình. Trên đường đến chỗ hẹn, chưa gì khóe mắt tôi đã ướt rượt. Tôi nôn nao sợ rằng chỉ cần nhìn thấy cô, mình sẽ òa khóc mất. Cô ngồi lặng lẽ gần cửa sổ trong góc quán trà, đăm đắm nhìn ra ngoài. Dáng vẻ ấy chẳng khác nào một cành hoa héo úa. Như thể hai tháng qua đã rút cạn nước trong cơ thể cô. “Cô ơi...” Tôi đứng đó khó nhọc mở lời, nhưng cũng chỉ nói được một câu như vậy. Tôi không khóc như đã sợ, nhưng những lời chào hỏi “Con chào cô”, “Cô có khỏe không?” nghẹn ứ trong cổ họng, không sao thoát ra được. “A, Yoo Mi đến rồi đấy à. Mau ngồi xuống đi con.” Cô rời mắt khỏi khung cửa sổ và nhìn về phía tôi, thoáng nở nụ cười. Vậy nhưng, ngay khoảnh khắc trông thấy tôi, đôi mắt cô bỗng ngập những nước. Nước mắt tôi quả nhiên lập tức trào lên, tôi cúi gằm đầu. Chúng tôi đã không gặp nhau vì biết là sẽ thế này đây... Cô đưa mu bàn tay quệt qua vành mắt, rồi lại nhìn tôi mỉm cười. Tôi cũng cố ngăn nước mắt trào ra, gượng cười nhìn cô. “Ở trường học tốt chứ con?” Cô hỏi. “Vâng ạ...” “Cô nhớ con lắm...” “Con, con xin lỗi cô...” “Không đâu. Cô cũng không gọi cho con mà... Cô vừa nhớ con, lại vừa không dám gặp con...” Tôi chẳng biết nói gì thêm nữa. “Cô tự nhiên gọi con ra thế này...” Vừa nói, cô vừa rút trong túi xách ra một quyển sổ, đưa cho tôi. Quyển sổ bìa màu xanh da trời, vừa nhìn tôi đã nhận ra ngay. Đó là quyển nhật ký tôi tặng Jae Joon. “Đây là sổ nhật ký của Jae Joon... Hôm qua cô vô tình tìm thấy. Nhưng mà... Con có thể đọc nó trước giúp cô được không...” “Dạ? Sao cô không đọc luôn ạ...” Dù nói vậy tôi vẫn nhận lấy quyển sổ không chút đắn đo. Nhưng ngay sau khi lơ đãng giở ra trang đầu tiên, nhìn thấy những dòng chữ được viết trên đó, tôi liền hoảng hốt gập vội sổ lại. Tôi đã chết vào một ngày nào đó. Liệu cái chết của tôi có ý nghĩa gì không? Như bị giội cả xô nước lạnh, toàn thân tôi bỗng dưng run lên bần bật. Những ngón tay đang đặt trên quyển sổ cũng run lẩy bẩy. Nhìn bộ dạng đó của tôi, cô nói: “Con cũng bất ngờ phải không, Yoo Mi à, mấy lời này là thế nào chứ? Cô... Tim cô run lắm, một trang thôi cô cũng không đọc nổi.” Cô rùng mình, như đang rũ tấm thân ướt nhẹp. “Con là bạn thân nhất của Jae Joon nhà cô, con thay cô đọc có được không... Cô... Cô...” Cô cuối cùng cũng bật khóc. “Cô ơi...” Tôi cũng chỉ gọi được như vậy, rồi thấy họng mình nghẹn cứng, không nói thêm được lời nào. Jae Joon, bạn của tôi - Jae Joon, người bạn tôi yêu quý nhất từ khi sinh ra trên đời - Jae Joon, người bạn bỗng dưng bỏ tôi đi mất như những cánh hoa bay tan tác - Jae Joon... Nước mắt lăn dài trên má. Nhưng tôi vội vã lau đi. Nếu tôi cứ thế này thì tâm trạng cô sẽ ra sao chứ? “Cô, cô xin lỗi con, Yoo Mi à. Cô không muốn khóc đâu, nhưng...” Đôi vai cô rung lên. Hẳn là cô đang cố hết sức để ngăn mình khóc. “Không sao đâu ạ. Cô cứ khóc cho thỏa đi cô...” Những người khách xung quanh liếc nhìn chúng tôi, nhưng tôi vẫn nói vậy. Chẳng ở đâu và chẳng ai trên thế gian này có quyền ngăn cản nước mắt của một người mẹ mất con hết... Tôi im lặng chờ cho tới khi cô ráo nước mắt. Lúc này, hình ảnh Jae Joon cũng hiện lên trong tâm trí tôi, khiến tôi suýt chút nữa thì òa khóc; nhưng ngay lập tức, tôi ép mình hướng dòng suy nghĩ tới kỳ thi giữa kỳ sẽ diễn ra vào ngày kia. Kỳ thi giữa kỳ hai của năm lớp chín sẽ ảnh hưởng đến thành tích vào cấp ba. Thế mà giờ này, đến phạm vi ôn tập của kỳ thi tôi còn chưa biết. Trước cái chết của đứa bạn thân nhất thì thi giữa kỳ có ý nghĩa quái gì cơ chứ. Chậc, tôi lại nghĩ đến Jae Joon mất rồi. Tôi đưa mắt nhìn quyển nhật ký bìa xanh. Đã chết vào một ngày nào đó, câu nói như điềm gở khủng khiếp ấy lại một lần nữa thắt chặt lấy tim tôi. Tại sao cậu ấy lại viết như thế chứ? Lẽ nào Jae Joon đã...? Tôi lắc đầu. Không lý nào lại vậy. Jae Joon tuy rất hứng thú với cái chết, nhưng cậu ấy tuyệt đối không phải người có thể tự kết liễu mạng sống của mình. Nếu vậy thì tại sao chứ...? “Giờ thì cô ổn rồi. Thực sự xin lỗi con, Yoo Mi à... Cái đó... Được không con... Con có thể đọc hộ cô được không?” Cô nói sau khi chật vật nín khóc. “Vâng, con sẽ đọc ạ. Nhưng mà... có lẽ sẽ hơi lâu. Nếu cô có thể cứ quên chuyện này đi...” Tôi nói lí nhí. “Được, được mà... Cô sẽ không giục gì đâu, con cứ đọc hết, nếu thấy có chuyên gì muốn nói thì gọi cho cô nhé.” Cô nói vậy, rồi lại một lần nữa đưa mắt nhìn xa xăm ra ngoài cửa sổ. Tôi ngẩn ngơ nhìn gương mặt quay nghiêng của cô, tìm ra trong đó hình bóng Jae Joon. Làn da trắng, nét mặt thanh tú, hai hàng lông mi rủ xuống... Jae Joon vẫn còn đây, trong gương mặt mẹ cậu ấy. Có thế nào cũng không thể trốn nổi cậu. Cậu vẫn ở đây, đâu đâu tôi cũng nhìn thấy cậu... Tôi thì thào nói với chính mình. Sau khi chia tay cô, tôi lơ đãng lên bừa một chiếc xe buýt. Tôi muốn ngồi trên xe buýt lang thang chỗ nọ chỗ kia rồi mới về nhà. Nước mắt cứ chực tuôn ra, khó khăn lắm mới có thể kìm lại. Trên xe hầu như chẳng có ai. Tôi ngồi xuống một ghế trống ở phía cuối xe, nhìn ra ngoài cửa sổ, đúng lúc một chiếc xe máy chở hộp sắt giao hàng của tiệm cơm Trung Quốc phóng vụt qua. Khoảnh khắc ấy, trái tim tôi bất giác ngã quỵ. Làm sao tôi có thể quên được ngày hôm ấy? Đó là một ngày Chủ nhật. 3 giờ sáng ngày Chủ nhật. Tôi thức thâu đêm ngồi trước bàn học. Trước đó tôi đã bật băng xem hết bộ phim Ghost World, rồi đọc tận chín quyển truyện tranh 20th Century Boys đến khuya, mà chẳng hiểu sao vẫn thấy lòng trống trải quá đỗi, thế là bèn ngồi thử viết lời bài hát. Dưới chân tôi, con mèo Geombi cuộn tròn mình lại, rên ư ử và ngủ ngon lành. Đêm đã chìm sâu nhưng cải chết vẫn chưa đến Ném tuổi thanh xuân xuống dòng sông đang chảy kia đi Hôm nay bạn có sống không Ngày mai bạn có sống không Dượng tôi đã nói thế này. Viết một cách bình dị, đúng với cuộc sống của mình, đúng với những cảm nhận của mình, ca từ như vậy mới là ca từ hay. Thế nhưng tôi không muốn viết kiểu đấy. Tôi mà viết đúng với cái cuộc sống mình đang sống thì có gì hay. Thức dậy rồi tới trường, bị ăn mắng, học bài; ngủ gật, về nhà, xem ti vi rồi đi ngủ. Còn những gì tôi cảm nhận ấy à, chán ngấy bọn xung quanh, căm ghét mấy thầy cô giáo, nổi cáu với mẹ, ngoài ra thì còn gì nữa đâu. Tôi muốn viết một ca khúc với toàn những từ như là “cái chết”, “thanh xuân”, hay “tuyệt vọng”. Mấy cái thứ “tình yêu”, “cô độc”, tôi thấy ghét đến sởn gai ốc, nhưng “cái chết”, “tuyệt vọng”, “thanh xuân”, dù viết thế nào cũng không bao giờ chán. Bình minh đã đến nhưng cái chết vẫn chưa rời Bắt lấy tuổi thanh xuân trên ngọn núi phủ tuyết kia đi Hôm nay bạn có sống không Ngày mai bạn có sống không Dượng mà nhìn thấy đoạn ca từ này thể nào cũng lại tặc lưỡi, nhưng nếu là Jae Joon thì chắc chắn cậu ấy sẽ sáng mắt lên rồi khen tôi cho mà xem. Nhìn cái từ “bắt lấy” kìa, quá sức tuyệt vời luôn, Tôi cực kỳ hài lòng. Tôi muốn chia sẻ tâm trạng hào hứng này với Jae Joon luôn và ngay. Giờ này thì hẳn là cậu ấy đang ngủ say đến nỗi có vác lên đem đi cũng không hay, nhưng dù thế cũng phải khoe với cậu ấy ít nhất là một dòng chứ. Tôi mở điện thoại và gửi tin nhắn. Viết xong ca từ rồi mau chúc mừng đê đêm đã chìm sâu nhưng cái chết vẫn chưa đến câu đầu tiên đấy hết sảy phải không thức dậy thì lập tức trả lời nha ngủ ngon... Đúng lúc ấy, Jae Joon bay lên khỏi con đường trống trải thênh thang. Như một chú chim tự do, với tốc độ không ai tin nổi. Và rồi rơi xuống, nát tan. Như một hòn gạch vỡ, với dáng hình không ai tin nổi. Đêm đã chìm sâu nhưng cái chết vẫn chưa đến... Jae Joon đã chết ngay tại chỗ. Mời các bạn đón đọc Tôi Đã Chết Vào Một Ngày Nào Đó của tác giả Lee Kyung Hye & Liên Hương (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chiều Hôm Lỡ Chuyến - Mishima Yukio
Yukio Mishima tên thật là Hiraoka Kimitake sinh năm 1925 tại Tokyto - Nhật Bản và kết thúc cuộc đời bằng việc tự sát năm 1970. Các thể loại sáng tác bao gồm: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ và kịch. Sự nghiệp của ông được bắt đầu bằng cuốn tiểu thuyết “Confessions of a Mask”, năm 1948. Ông chịu ảnh hưởng lớn của chủ nghĩa yêu nước trung quân truyền thống và tinh thần võ sĩ đạo Samurai của Nhật Bản, tuy ông vẫn diện đồ tây và ở nhà tây. Ông được đánh giá là một trong những nhà văn quan trọng nhất trong nền văn học Nhật Bản thế kỷ 20. Trước tác của ông bao gồm 40 cuốn tiểu thuyết, 20 tuyển tập truyện ngắn và khoảng vài chục vở kịch cùng với một số bài thơ. Ông là nhà văn 3 lần được đề cử là ứng cử viên sáng giá cho giải Nobel Văn học *** Giải thưởng: Giải Shincho (1954); Giải thưởng Kishida cho tác phẩm kịch (1955); Giải Yomiuri (1957, 1961). Truyện kể về Ryuji, một chàng thủy thủ luôn sống với ý nghĩ, dù là mơ hồ, rằng có một niềm vinh dự đặc biệt nào đó đang chờ đợi chàng ngoài biển khơi. Chàng gặp một thiếu phụ có tên là Fusako và yêu nàng say đắm. Cuối cùng, chàng quyết định kết hôn với nàng. Đứa con trai 13 tuổi của Fusako – Noboru – là một trong những đứa trẻ trong nhóm những cậu bé có tính nết hoang tàn. Những đứa trẻ này tin vào cái gọi là “tính khách quan”, bài trừ thế giới người lớn bởi theo chúng người lớn là những kẻ luôn sống trong ảo mộng, là những kẻ đạo đức giả và lụy tình. Ngay khi Ryuji bắt đầu thân thiết với Fusako – người thiếu phụ sống bên bờ biển – cũng là lúc chàng xé bỏ những ước mơ mà chàng đang đeo đuổi trong cuộc đời chàng. Con trai của Fusako, Noboru, có một sở thích nhìn lén mẹ nó qua lỗ khóa cửa: mỗi lần nhìn ngắm mẹ nó trút bỏ xiêm y, nó lại thấy cơ thể mình đê mê, rạo rực. Noboru căm ghét cái ý nghĩ rằng mẹ nó đang dần xa rời nó để đến với một người đàn ông, người mà đã lấy đi của nó niềm hy vọng và sự tự do. Sự giận dữ, nỗi lo sợ vì phải cô đơn ấy của Noboru đã hóa chuyển thành những hành động hung dữ khủng khiếp của chính nó và những đứa trẻ cùng trong nhóm. *** Truyện kể về Ryuji, một chàng thủy thủ luôn sống với ý nghĩ, dù là mơ hồ, rằng có một niềm vinh dự đặc biệt nào đó đang chờ đợi chàng ngoài biển khơi. Chàng gặp một thiếu phụ có tên là Fusako và yêu nàng say đắm. Cuối cùng, chàng quyết định kết hôn với nàng. Đứa con trai 13 tuổi của Fusako – Noboru – là một trong những đứa trẻ trong nhóm những cậu bé có tính nết hoang tàn. Những đứa trẻ này tin vào cái gọi là “tính khách quan”, bài trừ thế giới người lớn bởi theo chúng người lớn là những kẻ luôn sống trong ảo mộng, là những kẻ đạo đức giả và lụy tình. Ngay khi Ryuji bắt đầu thân thiết với Fusako – người thiếu phụ sống bên bờ biển – cũng là lúc chàng xé bỏ những ước mơ mà chàng đang đeo đuổi trong cuộc đời chàng. Con trai của Fusako, Noboru, có một sở thích nhìn lén mẹ nó qua lỗ khóa cửa: mỗi lần nhìn ngắm mẹ nó trút bỏ xiêm y, nó lại thấy cơ thể mình đê mê, rạo rực. Noboru căm ghét cái ý nghĩ rằng mẹ nó đang dần xa rời nó để đến với một người đàn ông, người mà đã lấy đi của nó niềm hy vọng và sự tự do. Sự giận dữ, nỗi lo sợ vì phải cô đơn ấy của Noboru đã hóa chuyển thành những hành động hung dữ khủng khiếp của chính nó và những đứa trẻ cùng trong nhóm. ***  “Ngủ ngoan đi con”, Mẹ nó vừa nói vừa đứng từ bên ngoài khoá tách cửa phòng ngủ lại. Không biết khi cháy nhà thì bà sẽ xoay xỏa ra sao. Việc trước tiên phải làm là cứu nó thoát ra khỏi phòng, bà vẫn thường tự thề với mình như vậy. Nhưng ngộ nhỡ lửa nóng làm khung cửa gỗ cong queo hoặc sơn chảy ra bịt kín lỗ khoá cửa đi thì sao? Nhảy qua cửa sổ mà chạy trốn ư? Phía dưới cửa sổ là lối đi trải đá hơn nữa tầng nhì của căn nhà ngất nghểu này lại cao quá chừng, thực tuyệt vọng chẳng còn trông mong được gì hết. Chẳng qua cũng đáng đời cho nó, tự thân tác nghiệp cả! Nếu không có một lần nghe lời thằng thủ lĩnh dụ dỗ lẻn trốn khỏi nhà giữa đêm khuya thì làm gì có chuyện. Sau đó dù bị cật vấn biết bao lần, nó vẫn nhất định không chịu xưng tên thằng thủ lĩnh ra cho mẹ nó hay. Hai mẹ con nó sống trong căn nhà cha nó xây lên lúc còn sinh tiền trên đỉnh đồi Yado ở Yokohama. Sau chiến tranh, căn nhà bị quân đội chiếm đóng trưng dụng và sửa sang để cho căn phòng nào trên tầng nhì cũng có nhà tiêu, nhà tắm riêng rẽ. Đêm đến có bị nhốt trong phòng cũng chẳng đến nỗi khó chịu tù túng bao nhiêu nhưng đối với một thằng bé mười ba tuổi như nó thì thật là một sự khuất nhục khủng khiếp. Một sáng phải một mình ngồi trông nhà, muốn phá phách cho hả, Noboru đã lục lọi lung tung khắp phòng chẳng chừa một chỗ nào hết. Áp ngay vào bức tường phòng ngủ mẹ nó, có kê một cái tủ gỗ đầy những ngăn kéo rộng lớn. Nó lôi hết mấy cái ngăn kéo ra hất tung hê các thứ bên trong vung vãi khắp sàn và bất chợt nó nhìn thấy một tia sáng chiếu rọi vào trong một ngăn tủ rỗng không. Nó chui đầu vào trong khoảng trống và khám phá ra nguồn ánh sáng: qua một cái lỗ nhỏ nó nhìn thấy mặt trời buổi sáng đầu mùa hè phản ánh chói chang trên măt biển chiếu sáng chan hoà căn phòng trống không của mẹ nó. Ngăn tủ này rộng lắm. Nó uốn mình chui tọt vào trong, ngay cả một người lớn nếu chịu khó cuộn mình cũng có thể chui lọt vào nữa. Ghé mắt qua lỗ hổng nhìn vào phòng ngủ của mẹ, Noboru cảm thấy có một cái gì thực mát mẻ tốt tươi. Mấy chiếc giường ngủ bằng đồng thau bóng loáng mà ba nó gửi mua tận New Orleans ở châu Mĩ đem về vẫn được kê sát tường bên trái sau khi ba nó qua đời. Một tấm khăn trải giường và trên tấm vải trắng tinh có một chữ «K» to tướng nổi bật lên – đó là chữ đầu trong họ Kuroda nhà nó. Một cái mũ cói màu xanh nước biển để đội khi đi dạo mát nằm trỏng trơ trên giường, dải mũ dài có tua xanh lợt buông thõng phất phơ. Trên chiếc bàn đặt đèn ngủ, có một cái quạt điện màu xanh. Phía bên phải, gần cửa sổ là cái bàn phấn có tấm gương ba mặt hình bồ dục. Tấm gương vẫn chưa hoàn toàn khép kín, mép kính phía trên lấp lánh trông như những mảnh giá băng có góc cạnh sắc nhọn. Phía trước gương là cả một rừng chai lọ nho nhỏ: nước hoa eau de Cologne, bình xịt nước hoa, lọ hương thuỷ màu tím để pha vào nước tắm, cái cốc chân vại theo lối người Bôhêmiêng trông như pha lê trong vắt, mặt cốc lóng lánh dưới ánh sáng mặt trời, một đôi bao tay màu nâu nhăn nheo dúm dó trông như mấy chiếc lá sam. Một bộ trường kỉ, hai chiếc ghế, một cây đèn và một cái bàn thâm thấp, bóng bẩy hào nhoáng được kê ngay dưới cửa sổ. Trên bộ trường kỉ có một tấm khung thêu mới bắt đầu thêu phác một hình vẽ. Thứ này gần đây không còn thấy lưu hành nữa, nhưng mẹ nó lại thích những trò thủ công nghệ như thế này. Hình thêu dường như là một nửa cánh chim anh vũ màu sắc sặc sỡ trên nền xám bạc. Bên cạnh khung thêu là những chiếc bít tất dài vứt bừa bãi chồng chất lên nhau. Tiêng ni lông mỏng dính màu da người và tấm vải thêu phủ trên bộ trường kỉ cọ sát vào nhau kêu sột soạt làm cho toàn thể căn phòng có một vẻ rộn rã xôn xao. Chắc hẳn là ngay lúc sắp sửa đi ra ngoài mẹ nó mới khám phá thấy đôi tất dây bẩn nên vội vã thay ngay đôi khác. Qua khung cửa sổ chỉ có thể nhìn một khoảng không có mấy áng mây dày, cứng và bóng lộn như là men sứ dưới ánh sáng chói chang phản chiếu trên mặt biển. ... Mời các bạn đón đọc Chiều Hôm Lỡ Chuyến của tác giả Mishima Yukio.
Chiếc Âu Vàng - E.T.A. Hoffmann
Chiếc âu vàng là một trong những áng văn xuôi hay nhất của nước Đức trong thế kỷ XIX, tinh hoa của một trí tưởng tượng cực kỳ phong phú và khoáng đạt, đầy sức hấp dẫn bởi sự biến hóa khôn lường giữa cái ảo và cái thực, giữa vô thức và hữu thức, giữa cái nội tại và cái ngoại tại. Hai trăm năm qua, Chiếc âu vàng - món quà tặng của tình yêu luôn được nhìn nhận là tuyệt tác của nhà ảo thuật phương Đông (Nhà văn Pháp H. Balzac ca ngợi Hoffmann là “nhà ảo thuật phương Đông”)... Có người nói, Hoffmann là nhà văn lãng mạn - huyễn tưởng, thậm chí có nhà nghiên cứu coi ông như một bậc tiền bối của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, và gần đây nhất, trong một công trình giới thiệu Hoffmann với đông đảo bạn đọc Đức qua tủ sách phổ thông Reclam, nhà phê bình K. Nussbaecker còn khẳng định tác phẩm Chiếc âu vàng là một điển hình của chủ nghĩa siêu thực trong văn học. *** Ernst Theodor Amadeus Hoffmann sinh ngày 24.1.1776 tại Königsberg, là nhà văn được giới văn học sử nhất trí tôn vinh là một thiên tài đa dạng trong giai đoạn văn học lãng mạn Đức thế kỷ 19. Ông là luật sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà phê bình âm nhạc, giám đốc nhà hát, nhạc trưởng... và nổi bật hơn cả là một cây bút danh tiếng có sức mê hoặc người đọc cùng thời và có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến các trào lưu lãng mạn ở Đức và châu Âu. Với hai cuốn tiểu thuyết Rượu trường sinh của quỷ (Die Elixiere des Teufels, 1816), Quan niệm sống của chú mèo Murr (Lebensansichten des Katers Murr, 1819 - 1821) và hơn 70 truyện vừa và truyện cổ tích văn học (trong đó có những tác phẩm nổi tiếng thế giới như Chiếc âu vàng (Der goldene Topf, 1814), Vua chuột và chàng cắn hồ đào (Nußknacker und Mausekưnig, 1816), Zaches Tí Hon mệnh danh Zinnober (Klein Zaches, genannt Zinnober, 1819), Thống lĩnh Bọ Chét (Meister Floh, 1822), Tiểu thư Scuderi (Das Fräulein von Scudéry, 1819)..., được sáng tác trong vòng 13 năm cuối đời, E.T.A. Hoffmann ngay lúc sinh thời đã là một nhà văn có sách bán chạy nhất nước Đức, là một cây bút luôn được người đọc ở trong và ngoài nước đón đợi, ái mộ và tán thưởng. Các truyện cổ tích văn học của Hoffmann được nhiều nhà phê bình Đức đánh giá là những tác phẩm bậc thầy trong làng văn học lãng mạn và huyễn tưởng mà đỉnh cao, tiêu biểu nhất là câu chuyện tình hấp dẫn và kỳ thú Chiếc âu vàng. Bằng giọng văn bi hài và giầu chất men say của một cây bút thường sáng tác văn chương trong trạng thái ngà ngà, say say, tỉnh tỉnh, E.T.A. Hoffmann đã rất tài tình pha trộn màu sắc và âm thanh của thế giới hiện thực với thế giới huyền ảo, mộng mị và có chút ma quái cuốn hút người đọc vào một câu chuyện tình đầy vẻ huyền bí và biến ảo khôn lường của chàng sinh viên Anselmus với hai người đẹp là Veronika, con gái rượu của viên hiệu phó Paulmann và Serpentina, một con rắn xanh óng ánh vàng và là con gái của hỏa thần Lindhorst - một vị thần vì tình yêu đã phạm tội và bị lưu đầy xuống thế giới trần tục của con người. Chuyện tình của Anselmus là câu chuyện của một tâm hồn nghệ sĩ bị giằng xé, vật vã giữa thế giới vật chất và tinh thần, giữa khát vọng về một cuộc sống cao đẹp hài hòa với thiên nhiên trong trí tưởng tượng bay bổng của thi ca với đời sống thường nhật tẻ nhạt, háo danh, háo lợi và đầy những toan tính thấp hèn. Và cuối cùng, sau biết bao thử thách cam go và đau khổ, sau những cuộc chiến ác liệt giữa ác thần (dưới hình dạng một mụ già bán táo và phù thủy) và hỏa thần (người dẫn lối cho Anselmus đến xứ sở thần tiên trong trí tưởng tượng của thi nhân), chàng sinh viên thông minh nhưng vụng về và lạc lõng trong đời thực đã đến được nơi chàng hằng ước mơ... Trong một lần đề cập đến nguyên tắc sáng tác, Hoffmann đã phát biểu: “Tôi cho rằng, nền tảng của chiếc thang bắc lên trời mà người ta muốn trèo lên, vươn tới những miền cao cả hơn phải bám chắc vào cuộc sống để mỗi người đọc đều muốn trèo lên theo. Và khi con người trèo lên cao, cao hơn, cao hơn nữa và thấy mình đang ở trong một vương quốc kỳ diệu, huyễn tưởng, con người sẽ tin rằng cả vương quốc này cũng vẫn thuộc vào cuộc sống của mình và nó lại là cái phần kỳ diệu, tuyệt vời nhất của cuộc sống”. Hoffmann đã dũng cảm lên tới được nơi chốn huyền diệu nhất của con người và để lại cho văn chương nhân loại nhiều tác phẩm kỳ thú, trong đó, tác phẩm Chiếc âu vàng được chính Hoffmann đánh giá là sáng tác thành công nhất của cả cuộc đời mình. Giới phê bình Đức cũng nhất trí với Hoffmann cách đánh giá như vậy và còn bổ sung thêm: Chiếc âu vàng là một trong những áng văn xuôi hay nhất của nước Đức trong thế kỷ XIX. Đó là tinh hoa của một trí tưởng tượng cực kỳ phong phú và khoáng đạt bay vút lên từ hiện thực cuộc sống và xã hội thời đại ông, là một tác phẩm tài hoa trong nghệ thuật cấu trúc, đầy sức hẫp dẫn bởi sự biến hóa khôn lường giữa cái ảo và cái thực, giữa vô thức và hữu thức, giữa cái nội tại và cái ngoại tại, và cũng rất đặc biệt, bởi nó được sáng tác bằng tâm hồn của một nhạc sĩ kiêm nhạc trưởng dàn nhạc có tên là E.T.A. Hoffmann, một tài năng âm nhạc có nhiều nhạc phẩm đáng kính nể với vô số các bản giao hưởng, nhạc thính phòng và các vở nhạc kịch, trong đó vở ôpera Udine của ông hoàn toàn xứng đáng với thiên tài âm nhạc Mozart mà ông từng tôn thờ. Hơn nữa, Chiếc âu vàng cũng như nhiều tác phẩm văn chương khác còn được sáng tác bằng con mắt tinh tường và sắc sảo của một họa sĩ, một nhà đồ họa và một nhà vẽ tranh biếm họa có biệt tài hài hước và châm biếm có tên là E.T.A. Hoffmann. Vì vậy, văn chương ở đây là sự hội tụ của thơ, của nhạc và của hội họa trong cùng một con người lạ lùng ấy. Hai trăm năm qua, Chiếc âu vàng - món quà tặng của tình yêu - luôn được nhìn nhận là tuyệt tác của nhà ảo thuật phương Đông[1]. E.T.A. Hoffmann đã và vẫn đang là đối tượng nghiên cứu với nhiều mâu thuẫn của giới phê bình văn học, nhất là trong việc xác định vai trò lịch sử và vị trí của ông trong truyền thống văn chương Đức. Có người nói Hoffmann là nhà văn lãng mạn - huyễn tưởng, thậm chí có nhà nghiên cứu coi ông như một bậc tiền bối của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, và gần đây nhất, trong một công trình giới thiệu Hoffmann với đông đảo bạn đọc Đức qua tủ sách phổ thông Reclam, nhà phê bình K. Nussbaecker còn khẳng định tác phẩm Chiếc âu vàng là một điển hình của chủ nghĩa siêu thực trong văn học. Dù sao, thời gian cũng đã chứng minh một cách đầy thuyết phục nhận định của văn hào Áo Stefan Zweig: Ai đã vượt qua được thử thách một trăm năm, người đó sẽ vượt qua mãi mãi và tồn tại. E.T.A. Hoffmann là một người như thế. Cùng với Goethe, Schiller, Heine, ông thuộc vào số ít những cây đại thụ của thời hoàng kim văn chương Đức mà tác phẩm được tôn vinh là những kiệt tác văn chương thế giới. Ngày 25 tháng 6 năm 1822, E.T.A. Hoffmann đã ra đi vĩnh viễn, ngọn lửa kỳ ảo Hoffmann vụt tắt trong tiếng nhạc chuông thủy tinh du dương và tiếng vọng của màu Xanh huyền bí mà ông đã từng viết cho đời: - Ôi! Màu Xanh, màu Xanh! Màu Xanh mẹ hiền của tôi! - Xin hãy đón tôi vào vòng tay của mẹ!... Hà Nội, ngày 30/11/2011 QUANG CHIẾN Mời các bạn đón đọc Chiếc Âu Vàng của tác giả E.T.A. Hoffmann.
Ảo Hỏa - Hermann Hesse
Ảo hóa, một truyện ngắn chỉ vài mươi trang nhưng nó giúp chúng ta vỡ lẽ triết lý “Tánh Không" của Đạo Phật: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành thức cũng lại như vậy". Có thế nói, khi đọc đến chứ cuối cùng của tác phẩm này, Ảo hóa đã đem lại cho người đọc sư vỡ òa của trí tuệ, giúp nhìn rõ thưc tánh “không có chỉ bên" của vạn vật, giống như là vừa tung xong bài “Bát nhã Tâm Kinh". *** Văn hào lỗi lạc người Đức Hermann Hesse sinh ngày 2/7/1877 tại Đức. Cha mẹ ông đều là những nhà truyền giáo từng làm nhiệm vụ ở Ấn Độ, còn ông ngoại là nhà nghiên cứu nổi tiếng về Ấn Độ, bởi vậy tư tưởng của Hesse chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo. Cảnh gia đình trí thức ngoan đạo với sự pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau ảnh hưởng rất sâu đậm trong con người nhà văn Hermann Hesse. Tâm hồn ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông - Tây để đi tìm một nhân loại thuần khiết, một nhân loại sống trong cảnh bình yên. Hermann Hesse khởi nghiệp sáng tác bằng thơ ca năm 1898, với tập thơ "Romantische Lieder" (Các bài hát lãng mạn). Tuy nhiên, tên tuổi ông được biết đến nhiều hơn qua các tiểu thuyết "Peter Camenzind", "Demien", "Steppenwolf" (Sói đồng hoang), "Siddhartha" và "Das Glasperlenspiel" (Trò chơi với chuỗi hạt cườm). Con đường sáng tác của Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn của cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng, có trách nhiệm đối với xã hội ở thế kỷ XX, ước mơ và tin chắc vào tương lai tốt đẹp hơn của con người. Hermann Hesse đã từng viết : "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này". Cuộc đời ông đã trải qua vô vàn những thăng trầm đau đớn, nhưng ông vẫn miệt mài sáng tạo. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. *** Theo truyền thuyết Ấn giáo, thần Vishnu có lần hoá sinh làm một vị vương tử sống bên bờ sông Hằng. Tên ông là Ravana. Ravana có một người con trai tên Dasa. Mẹ Dasa chết sớm, vương tử cưới một người vợ khác. Sau khi người đàn bà đẹp và tham vọng này sinh được một con trai, bà đâm ra thù ghét Dasa. Bà muốn cho Nala, con mình kế vị, nên âm mưu chia rẽ cha con Dasa, và chờ cơ hội thanh toán cậu bé. Trong triều, có một người Bà-là-môn, tên Vasudeva, viên quan coi về tế tự, biết được âm mưu của bà. Ông thương tình cậu bé, người mà ông thấy có khuynh hướng sùng tín và đức công bằng giống mẹ. Ông trông chừng cho Dasa khỏi bị hại, và chờ dịp đưa cậu ra khỏi tầm tay mẹ ghẻ. Bấy giờ vua Ravana sở hữu một đàn bò được xem là thiêng liêng. Sữa và bơ của chúng dùng để tế thần. Những đồng cỏ tốt nhất trong xứ dành cho những con bò ấy. Một ngày kia, người chăn bò đem sữa về kinh, báo cáo rằng trong vùng bò đang ăn cỏ, có những dấu hiệu sắp hạn hán. Do đó, đoàn người chăn dẫn bò lên những dãy núi cao, ở đó nước và cỏ luôn luôn sẵn sàng ngay cả vào những thời khô ráo nhất. Người Bà-la-môn đã quen biết người chăn bò này từ lâu, anh ta là một người đáng tin cậy. Ông cho anh ta biết dự định của mình. Hôm sau, khi hoàng tử bé Dasa biến mất, thì chỉ có ông và người chăn ấy biết được lý do bí ẩn của sự mất tích. Người chăn bò đem cậu bé theo lên núi rừng. Họ theo kịp đàn bò di chuyển chậm chạp. Dasa sung sướng được gia nhập đoàn mục tử. Cậu phụ giúp thả bò, vắt sữa, chơi với những con bê, và lang thang khắp những đồng cỏ trên núi, uống sữa tươi ngọt ngào. Những bàn chân trần của cậu lấm đầy phân bò. Cậu thích đời sống mục tử này, dần quen với rừng núi và những cây trái, hoa cỏ của nó. Cậu nhổ những củ sen ngọt trong ao đầm, và vào những ngày lễ hội, cậu đeo một tràng hoa rừng đỏ chói. Cậu trở nên quen thuộc với đường đi lối về của thú rừng. Tập tránh cọp, chơi với những con sóc và nhím. Mùa mưa cậu ở trong căn nhà lá, mà ở đó bọn chăn bò chơi cờ, hát hoặc đan giỏ hay chiếu cói. Dasa không hẳn quên hết đời sống vương giả của mình trước đấy, nhưng chẳng mấy chốc những thứ này đối với cậu dường như một giấc chiêm bao. Một ngày kia, khi đàn bò đi đến một vùng khác, Dasa vào rừng để tìm mật. Từ ngày biết núi rừng, cậu đã bắt đầu thích; nhưng đặc biệt khu rừng này, cậu thấy nó đẹp lạ. Những tia nắng lượn khúc qua những cành lá trông như những con rắn vàng. Những tiếng của rừng, tiếng chim hót, tiếng xào xạc của những ngọn cây, tiếng của những con khỉ quyện vào nhau thành một mạng lưới âm thanh êm dịu trong sáng, giống như ánh sáng giữa những cành cây. Những mùi hương cũng vậy, hoà vào nhau rồi lại phân tán: hương của hoa rừng, của những loại cây, lá, nước, rêu, thú vật, trái cây và của đất, vừa cay nồng vừa dịu ngọt, vừa hoang dã vừa thân thiết, vừa kích thích vừa thoa dịu, vừa buồn vừa vui. Dasa quên mất việc tìm mật. Trong khi lắng nghe tiếng hót của những con chim nhỏ màu sáng như ngọc, cậu chú ý đến một đường mòn giữa những cây phong chót vót, trông như một cụm rừng nhỏ ở trong khu rừng lớn. Đấy là một lối đi rất nhỏ hẹp, cậu im lặng rón rén bước theo dấu đường mòn, và đến một cây bàng có nhiều nhánh lớn. Dưới gốc cây, có một cái chòi nhỏ, một túp lều đan bằng lá dương xỉ. Cạnh túp lều, một người đàn ông đang ngồi bất động, lưng thẳng tuột, hai bàn tay đặt trên đôi chân bắt chéo. Dưới mái tóc bạc trắng và vầng trán rộng, đôi mắt bất động của ông tập trung trên mặt đất. Đôi mắt ấy đang mở, nhưng như nhìn vào bên trong. Dasa nhận ra rằng đấy là một người thánh thiện, một người tu phái Yoga. Trước đấy cậu đã thấy những người như vậy, đó là những người được ân sủng của thần linh, đáng được tôn trọng, cúng dường. Nhưng người cậu đang thấy đây, ngồi trước túp lều được lợp rất đẹp và ở nơi kín đáo này, hoàn toàn bất động như thế, đăm chiêu trong thiền định - người này càng lôi cuốn cậu bé hơn bất cứ người nào cậu đã gặp. Ông ta dường như bay lượn trên mặt đất, trong khi đang ngồi đấy, và dường như cái nhìn xa xăm của ông, thấy và biết mọi chuyện. Một hào quang của sự thánh thiện vây phủ ông, một phép mầu của sự tôn nghiêm lan toả làm cho cậu không dám phá tan bằng một lời chào hay một tiếng kêu. Vẻ uy nghiêm của người ông, ánh sáng nội tâm rạng ngời trên gương mặt ông, mãnh lực tâm linh toát từ nơi ông khiến Dasa có cảm tưởng đây là một con người mà, chỉ cần móng một niệm nghĩ, không cần phải ngước mắt lên, cũng có thể sinh và sát được cái gì ông muốn. Người ẩn sĩ ngồi bất động hơn cả cây cối mà những cành lá còn lay động trong hơi thở của gió. Người này ngồi bất động như một pho tượng đá, và từ khi thấy người ấy, cậu bé cũng đứng bất động, say mê, như bị bùa lực lôi cuốn. Cậu đứng nhìn chòng chọc vào vị thầy. Cậu thấy một đốm sáng mặt trời trên vai ông ta, một đốm sáng trên một bàn tay buông thõng của ông, cậu trông thấy những điểm sáng di động ẩn rồi hiện, nhưng những thứ này không làm vị ấy cử động, cũng như tiếng chim hót và tiếng của những con khỉ từ các khu rừng xung quanh. Một con ong rừng đến đậu trên má ông, đánh hơi làn da ông, bò một đoạn ngắn trên má ông rồi vụt bay đi. Nhà ẩn sĩ vẫn ngồi bất động trước tất cả sự sống động đủ màu sắc của khu rừng. Tất cả cảnh tượng này, những gì mắt có thể thấy, tai có thể nghe, những cái đẹp và xấu, đáng yêu hay kinh khủng, đều không mảy may liên hệ đến con người thánh thiện này. Toàn thể thế giới xung quanh ông đã trở thành bề mặt vô nghĩa lý. Cậu bé mục tử có gốc gác vương giả tưởng chừng như vị ẩn sĩ này đã lặn sâu xuống dưới lớp bề mặt của cuộc đời và đi vào bản thể của mọi sự. Một điều lạ lùng, trong khi đứng đấy, cậu bỗng nhớ lại gốc gác vương giả của mình. ... Mời các bạn đón đọc Ảo Hỏa của tác giả Hermann Hesse.
Ánh Nắng Nhiệm Màu - Chân Phương
Đến đại lộ Cộng Hòa lúc nào cũng không hay, Hiệp theo thói quen cho xe chạy chậm lại. Đây là một trong những con đường còn xứng danh là một đại lộ của Đô thành, có đường rộng cho xe lớn lướt vội vàng, có lối thênh thang cho xe hai bánh chạy ung dung, có lề lót gạch phẳng phiu và nhất là có bóng mát, thật nhiều bóng mát cho người đi bộ. Ở đây, mỗi người cất bước là một vì vương tiến giữa hai hàng cây sừng sững như những tên lính khổng lồ đứng thẳng tắp giương lên thật cao những chiếc lọng thiên nhiên lợp bằng lá cây xanh ngắt. Dù bận đến đâu, Hiệp cũng không nỡ cho xe chạy nhanh trong cái khung cảnh êm đềm ấy. Nó gợi lại trong đầu chàng bao nhiêu kỷ niệm ngọt ngào của thời thơ ấu. Bao nhiêu buổi sáng mát rượi, bao nhiêu buổi chiều dìu dịu, chàng đã được cùng các bạn nô đùa thỏa thích nơi đây trong khi ở đàng kia, không xa, trời nắng như đổ lửa. Hiệp mỉm cười ôn lại những trận đấu sức cùng các bạn ngày nào trong bóng cây râm mát. Bỗng chàng giật mình thấy một toán sáu bẩy cậu học sinh trạc 14, 15 tuổi đang sắp sửa dánh nhau. Đánh nhau thật sự chứ không phải giả ngộ như ngày xưa chàng nô giỡn cùng chúng bạn. Một bên hai cậu, một bên đông gấp đôi, bốn cậu, đã quăng cặp xuống đường, sắp xông vào đấm đá. Hiệp ngừng xe, chưa kịp chạy lại can thiệp đã thấy từ đâu phóng tới một cậu học sinh thứ bẩy cũng trạc tuổi sáu cậu kia. Cậu này giang hai tay tách sáu người ra làm hai toán. - Thôi – cậu ôn tồn nói – cho tôi xin đi, anh em cả mà, đánh nhau chi cho mệt, kỳ lắm! Hiệp ngạc nhiên, bụng bảo dạ tiếng ai nghe quen quen như tiếng thằng Thuận. Vẫn ngồi yên trên xe lúc này đã đậu sát lề, chàng gỡ cặp kính râm ra coi, thấy quả là cháu mình, lại đeo kính lên, lặng yên thử xem nó hòa giải các bạn của nó ra sao. Thuận, một tay cầm cặp, vẫn tươi cười giang rộng hai tay như một đôi cánh xòe ra giữa hai toán đứng ngó nhau gườm gườm. Quay sang bên phải, nó bảo hai cậu vốn là bạn cũ ở gần nhà: - Thiết, Thực, hai bác đang trông ở nhà kìa! Nghỉ hai giờ cuối, sao còn lạng quạng ở đây? Về nhà lẹ đi kẻo hai bác la cho đó! Rồi quay sang bên trái, nó ngạc nhiên nhận được một người quen: - Ủa! Lợi hả? – nó hỏi – Giờ này chưa đi học sao? Hà hà, anh phải mách anh Lộc trị tội cậu này mới được! - Giáo sư bệnh – Lợi vội bào chữa – chúng em cũng được nghỉ hai giờ chót mà. - Ờ, thôi được – Thuận nói – Lợi về đi. Cả ba anh nữa. Học trò với nhau cả mà, ai lại nói chuyện phải trái với nhau bằng đấm đá bao giờ! Thằng Lực, to con và vẻ mặt ba trợn nhất trong đám bạn thằng Lợi, định sừng sộ. Thằng Lợi vội gạt đi, cướp lời: - Vâng, vâng, chúng em về… Dĩ hòa vi quý mà anh! Trong khi hai anh em thằng Thiết dắt nhau đi vô hướng đường Lý Thái Tổ thì Thuận rảo bước đi còn ngoái lại bảo Lợi: - Lợi vô nói với anh Lộc tối nay ghé chơi anh Thuận nghe! - Dạ, anh Thuận nhớ đừng mách anh em đấy nhé. - Ờ! Hiệp mỉm cười, sắp nổ máy cho xe chạy, bỗng ngưng lại lắng tai nghe. - Lợi, thằng nào đó? – Lực hậm hực hỏi bạn – Thằng Thuận nào mà mày có vẻ ngán dữ vậy? - Anh Thuận bạn thân của anh Lộc tao đó. Khỏe lắm mày ơi! Mày đánh không lại đâu! - Nhưng tao không thích nó can cái kiểu đàn anh ấy – Lực vẫn ấm ức nói – Đánh không lại, tao cũng không ngán. Thằng Lợi cười cười: - Biết rồi. tao thấy bộ dạng mày muốn ăn đòn nên phải cướp lời không để cho mày gây sự. Bộ mày chưa nghe tiếng Thuận đầu bò sao? - Chưa, nó ghê gớm như thế nào, nói tao nghe đi. - Oai hùng không thể tả! – Lợi ba hoa kể – Chẳng những một mình thằng Lực chả đi đến đâu, cho luôn cả ba thằng chúng mày xúm vào, ảnh cũng đá bay trong nháy mắt. Đến anh Lộc tao sừng nhất trường, muốn hạ tụi du đãng choai choai xóm Sáu Lèo để cho các em lớp Sáu khỏi phải nạp tiền mãi lộ, còn phải nhờ anh Thuận giúp một tay mới xong. Chúng mày biết không, năm sáu thằng đen chùi chũi và đô thật là đô, có cả dao con chó nữa, thế mà hai anh ấy tay không đánh cho một trận bò lê bò càng, cạch không dám bắt nạt và làm tiền các em nhỏ nữa… Thằng Chi nãy giờ đứng im, lên tiếng hỏi: - Thằng chả cùng học với anh mày ở Chu văn An hả, Lợi? - Đâu có! - Nhưng chắc cũng trên chúng mình vài lớp? – Chi hỏi gặng. ... Mời các bạn đón đọc Ánh Nắng Nhiệm Màu của tác giả Chân Phương.