Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ba Gã Say Luận Đàm Thế Sự

Ba gã say luận đàm thế sự ra đời năm 1887, đúng thời điểm đất nước Nhật Bản đang đứng giữa ngã ba đường của lịch sử, loay hoay tìm đường hướng phát triển quốc gia: Phải lựa chọn chế độ chính trị như thế nào? Cần theo đuổi chính sách ngoại giao ra sao để có thể trở thành một cường quốc ở châu Á? Là xác lập chủ nghĩa lý tưởng Tây phương, qua hình tượng chàng Thân sĩ Tây học, sống trong “khuê các tư tưởng”? Là đi theo chủ nghĩa quốc quyền, qua hình tượng vị Hào kiệt, con người của hành động, thao thao bất tuyệt về mưu toan bành trướng Trung Hoa? Hay là chủ nghĩa hiện thực với đường lối trung dung, tùy thời tiến thoái, như hình tượng vị Nam Hải tiên sinh? Được cấu tứ dựa trên ý tưởng một cuộc luận đàm về chính trị giữa ba gã say, Ba gã say luận đàm thế sự đã chỉ ra những ưu nhược điểm của chủ nghĩa phương Tây, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa quốc quyền, bành trướng, như một lời chỉ dẫn về con đường Nhật Bản nên đi và cũng được xem như điềm báo về sự thịnh suy của đế quốc Nhật Bản trong tương lai. Với văn phong cổ kính, ngôn từ hàm súc, sử dụng nhiều điển tích Đông Tây kim cổ, cuốn sách đã khắc họa một bức tranh đa diện, nhiều màu sắc về lịch sử văn minh thời Minh Trị, về những vấn đề mà giới tinh hoa Nhật Bản đang đau đáu bận tâm. Tác phẩm được coi như một danh tác tiêu biểu cho văn minh thời Duy tân Minh Trị. “Nói rằng nhiều vấn đề trọng đại của Nhật Bản hiện tại như hòa bình, tự do, phòng vệ, tiến bộ - bảo thủ, dân quyền - quốc quyền… được gói gọn trong Ba gã say luận đàm thế sự cũng không phải quá lời.”       --- Kuwabara Takeo *** VÀI NÉT VỀ TÁC PHẨM   Nakae Chōmin tên thật là Tokusuke, sinh ngày 1 tháng Mười một năm 1847 tại Kochi phiên Tosa (nay là tỉnh Kochi). Cha của ông là Tameshichi (sau đổi thành Motosuke, Yasosuke), mẹ là Yanagi và một người em trai tên Kōma. Tổ tiên của nhà Nakae có thể tính lùi về đến ông cố của Tokusuke là Densaku. Không có nhiều thông tin về lai lịch của Densaku, chỉ biết vào năm 1766 ông được tuyển làm Ashigaru của phiên Tosa, được cấp sinh hoạt phí gấp đôi và nhận bổng lộc bốn thạch lúa gạo. Tokusuke là đời thứ tư, sau người ông Katsuji và cha Tameshichi. Cha ông bị ràng buộc ở Edo nên thời thơ ấu được một tay mẹ nuôi dưỡng. Người ta truyền rằng ông vốn trầm tính như con gái và rất thích đọc sách. Năm 1861, cha mất, ông kế tục làm một Ashigaru. Năm sau, ông vào học Bunbukan (Văn Võ quán) khi nơi này vừa được thành lập, rồi nhận được sự chỉ dạy của Hosokawa Junjiro, một nhà Tây dương học nổi tiếng, người này sau làm Viện trưởng Đế quốc học sĩ. Nhờ sự tiến cử của Hosokawa, ông được gửi đến Nagasaki với tư cách là du học sinh của phiên và học tiếng Pháp với Hirai Gijūrō. Hai năm sau, ông lên Edo, theo học bậc thầy Pháp học Murakami Hidetoshi nhưng vì quá phóng đãng nên đã bị khai trừ. Khi Công sứ Léon Roches xuống phía tây vì vấn đề mở cửa Hyogo, ông đi theo với vai trò là tùy viên hỗ trợ phiên dịch. Trước và sau Minh Trị Duy tân, Chōmin không có hành động của một chí sĩ, ông chỉ học tiếng Pháp và nghiên cứu Pháp điển đồng thời khổ luyện âm khúc truyền thống Edo như Nagauta. Sau Duy tân, ông là học trò tại trường tư của Mitsukuri Rinsho, rồi trở thành người đứng đầu trường tư Nisshinsha (Nhật Tân xã) của Fukuchi Gen’ichirō, sau đó nhận giảng dạy tiếng Pháp tại Đại học Nankō (Nam Hiệu, sau là Đại học Tokyo). Năm Minh Trị thứ 4 (1871), ông có nguyện vọng sang Pháp du học, nhờ sự tận tình của Ōkubo Toshimichi, ông vào phục vụ ở Tư pháp sảnh [Bộ Tư pháp], rồi đồng hành cùng Iwakura Tomomi với tư cách là Đại sứ toàn quyền sang Tây dương. Trong thời gian lưu trú tại Pháp, ông từng giao du với Saionji Kinmochi và Komyoji Saburō, học hỏi nhà tư tưởng chính trị cấp tiến Acollas. Năm 1874, ông về nước và mở “Pháp Lan Tây học xá” để dạy Pháp học tại nhà, nhưng đến năm Minh Trị thứ 8 (1875) ông đến nhậm chức Hiệu trưởng trường Ngoại ngữ Tokyo. Chōmin nhận chức hiệu trưởng này chưa được ba tháng đã từ chức, có thuyết cho rằng vì ông chủ trương giáo dục Nho giáo nhưng bị phản đối. Việc này không có chứng cứ xác thực, nhưng có một sự thật là sau này vì yêu thích Hán học ông đã vào trường tư thục của Okamatsu Ōkoku. Genrōin (Nguyên lão viện) được thành lập, ông được thư ký quan của viện mời về làm việc, công việc ở đây cũng nhàn, lại thuận tiện cho việc kinh doanh “Pháp Lan Tây học xá” nên ông chuyển việc đến đó cũng là lẽ tự nhiên. Nhưng ở Genrōin, ông lại xung đột với Mutsu Munemitsu, nên đã từ chức vào năm 1877. Sau đó, ông vẫn nhận công việc phiên dịch do chính phủ ủy thác nhưng không thuộc chế độ phục vụ suốt đời. Có vẻ như khí chất ông không thể chịu được cuộc sống viên chức. Cuộc vận động tự do dân quyền cũng bắt đầu vào năm Chōmin về nước, nhóm người Itagaki Taisuke dâng bản điều trần [kiến bạch thư] thiết lập dân tuyển nghị viện. Chōmin không lập tức tham gia cuộc vận động này, ông phổ cập tư tưởng chủ nghĩa dân chủ, xây dựng cơ sở lý luận cho nó dựa vào Pháp học. Ông thử nghiệm việc dịch Khế ước Xã hội, nhưng rồi sau đó ông cùng Saionji Kinmochi sáng lập tờ báo Tōyō Jiyū shimbun(Đông Dương Tự do tân văn), do Saionji làm chủ tòa soạn, còn bản thân ông thì làm chủ bút. Số đầu tiên ra ngày 18 tháng Ba năm Minh Trị thứ 14 (1881). Đây là lần đầu tiên từ “Tự do” xuất hiện trên mặt báo ở Nhật Bản. Chính phủ lo sợ cuộc vận động tự do dân quyền lan rộng, bèn dựa vào uy quyền của Thiên hoàng đàn áp tờ báo, ép Saionji từ chức, tờ báo không tránh khỏi bị đình bản sau khi đã ra được 34 số. Cuộc vận động dân quyền phát triển đến mức, Iwakura Tomomi cho rằng “dù là thời điểm trước cách mạng Pháp, e cũng không sánh được với tình thế hiện tại”. Thế nhưng phe phản chính phủ cũng có nhiều yếu điểm nên cuộc vận động sớm nảy sinh chia rẽ, một bộ phận phần tử cấp tiến đã tự ý hành động trực tiếp, chẳng hạn như các vụ bạo động ở Gunma, Kabasan; hệ quả tất yếu là trung ương bộ của Đảng Tự do tự giải tán (tháng Mười năm 1884). Trước sự kích động như thế, Chōmin hầu như chưa có hoạt động chính trị nào. Ông phản đối đường lối khởi sự thô bạo mà chỉ muốn đào sâu về lý luận, ông dốc sức dịch sách L’Esthetique của Eugene Veron (1883), Histoire de la Philosophic của Alfred Jules Émile Fouillee (1886) và viết Rigaku Kogen(Lý học câu huyền) và Kakumeizen France Niseki Kiji (Ký sự hai thế kỷ nước Pháp trước cách mạng), quyển Ba gã say luận đàm thế sự này cũng là một trong những thử nghiệm đó. Chúng tôi sẽ bàn về điều này sau. Tuy nhiên, trong thư phòng của Chōmin chắc chắn sẽ không có những nghiên cứu thấu triệt mà chuyên sâu làm thỏa mãn việc tranh luận về lý luận chính trị. Sau khi quyển sách này xuất bản không lâu, nhân dịp Ngoại tướng [Bộ trưởng Bộ Ngoại giao] Inoue Kaoru phản đối kế hoạch Cải chính Điều ước*, cuộc vận động tổng lực của phái tự do dân quyền đã bùng nổ trở lại, đả đảo chính phủ phiên phiệt. Chōmin tham gia tích cực vào cuộc vận động này, đóng vai trò chỉ đạo, chấp bút thượng tấu buộc tội chính phủ thay cho Gotō Shōjirō. Thế nhưng chính phủ lo sợ cuộc vận động này nên đã công bố Điều lệ Bảo an vào cuối năm Minh Trị thứ 20 (1887), liệt ông cùng 570 người nhóm Ozaki Yukio, Hoshi Tooru vào thành phần nguy hiểm và bị trục xuất khỏi Tokyo, ông đành phải dời về Osaka. Nhưng, ở Osaka ông lại lập tức thành lập và kiêm chủ bút tờ Shinonome shimbun (Đông Vân tân văn), ra sức phổ cập tư tưởng dân quyền, ủng hộ việc thiết lập quốc hội. Mạch chính trong chủ trương của Chōmin là đưa việc khâm định hiến pháp vào quốc hội, cho phê duyệt từng hạng mục [điểm duyệt], qua đó có thể thực hiện được chủ trương dân chủ hóa. Nhờ đợt ân xá vào thời điểm công bố Hiến pháp, lệnh trục xuất Chōmin được giải trừ, ông quay lại Tokyo, ra ứng cử Khu số 4 Osaka và trúng cử trong cuộc tuyển cử Chúng nghị viện lần thứ nhất. Trong quốc hội, thành phần chống đối chiếm đa số nhưng không thể gắn kết trong một chiến tuyến thống nhất, bị chia rẽ bởi chính sách mua chuộc của chính phủ, tháng Hai năm Minh Trị thứ 24 (1891), dự toán thỏa hiệp với chính phủ được xác lập do phe Tosa phản bội, Chōmin giận dữ, nộp đơn từ chức “Tiểu sinh sắp tới đây e là phát bệnh do trúng độc rượu, không tiện đi lại, khó tham dự cuộc bỏ phiếu, vậy nay trình đơn này xin phép được từ chức” và rời bỏ quốc hội. Dù rất nhiệt tâm nhưng ông không thành công trong cuộc vận động thực tiễn có tính tổ chức. Đó phần nào cũng do tính cách cá nhân của riêng ông, nhưng cũng là bởi tình hình quá tệ, ông từng mắng những nghị viên nhút nhát là bọn sâu mọt không máu, cuối cùng lại phải ôm mối tuyệt vọng với giới chính trị hủ bại và dời về Hokkaido, ông làm chủ bút tờ Hokumon Shinbo (Bắc Môn tân báo) ở thành phố Otaru. Mùa hè năm Minh Trị thứ 25 (1892), ông rút khỏi tờ Hokumon Shinbo,sau đó bắt đầu sự nghiệp kinh doanh. Xét thấy nếu không có tiền thì cả hoạt động chính trị lẫn sáng tác đều mất tự do và suy thoái, ông quyết định sẽ kiếm tiền trước, ông cai rượu, quyết tâm dấn thân vào nhiều ngành nghề nhưng phần nhiều bị cho là mang tính môi giới. Tất cả liên tục bị thất bại, Chōmin rơi vào cảnh nghèo túng. Trong thời gian kinh doanh ông đã dịch lại Die beiden Grundprobleme der Ethik của Authur Schopenhauer từ tiếng Pháp nhưng trước sự can thiệp của ba nước sau chiến tranh Nhật-Thanh, ông đã phẫn uất thốt lên rằng “đó là vết nhơ lớn hằn sâu vào trang sử của Đế quốc Nhật Bản chúng ta”. Sau đó vào năm Minh Trị thứ 31 (1898), hầu như một mình ông tự sáng lập Kokuminto (Quốc dân đảng), phát hành bản tin Hyaku rei ichi (Bách linh nhất). Tuy nhiên, cương lĩnh đó không phải là chủ nghĩa quốc quyền mà là chủ nghĩa tự do tiến bộ, là yêu sách về tuyển cử phổ thông, miễn phí giáo dục tiểu học, tự do ngôn luận, xuất bản. Năm Minh Trị thứ 33 (1900), ông gia nhập Kokumin Domeikai (Quốc dân Đồng minh hội) của Konoe Atsumaro nhằm tiến vào đại lục, đồng thời khích lệ Risodan (Lý tưởng đoàn) của Kuroiwa Shuroku, Uchimura Kanzo cân nhắc đến việc bãi bỏ quyền sở hữu đất đai và quyền kế thừa tài sản, lại gia nhập “Phổ thông tuyển cử kỳ thành Đồng minh hội” (1901). Qua đó để thấy có không ít hành động trong cuộc đời ông bộc lộ sự mâu thuẫn. Tháng Ba năm Minh Trị thứ 34 (1901), Chōmin đến Osaka vì công việc kinh doanh và ngã bệnh, ông được chẩn đoán là ung thư thực quản, thời gian còn lại chỉ là một năm rưỡi. Sau khi làm phẫu thuật, ông viết lchinen yūhan(Nhất niên hữu bán) và Zoku lchinen yūhan (Tục nhất niên hữu bán) trong cơn đau bệnh. Ngày 13 tháng Mười hai, ông kết thúc cuộc đời 54 năm tại nhà riêng ở quận Koishikawa, thị trấn Takeshima. Mời bạn đón đọc Ba Gã Say Luận Bàn Thế Sự của tác giả Nakae Chōmin & Nguyễn Mạnh Sơn , Võ Vương Ngọc Chân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Một Thời Say Đắm - Danielle Steel
Danielle Steel, tác giả "Bây giờ và mãi mãi" là tiểu thuyết gia của hơn 500 triệu bản sách được tiêu thụ trên toàn thế giới, đem lại cho bà gia tài trị giá hàng trăm triệu USD. Nhưng khi còn nhỏ, Danielle chỉ mong trở thành người dốc lòng phụng sự Chúa. Kế hoạch triển khai một cuộc sống thanh đạm và khổ hạnh của Danielle Steel sụp đổ hoàn toàn khi bà kết hôn vào năm 17 tuổi và bắt đầu viết lách sau đó hai năm. Đến nay, ở tuổi, ở tuổi 60, nhà văn sắp sửa xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 72 có tiêu đề Honor Thyself. Danielle Steel sinh năm 1947 tại New York. Bà là nhà văn có bút lực dồi dào và đặc biệt thành công về mặt thương mại. Tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên danh sách best-seller của The New York Times. Những tiểu thuyết của Steel đã được xuất bản và dịch tại Việt Nam, gồm có: Now And Forever (Bây giờ và mãi mãi), The Ring (Chiếc nhẫn tình yêu), Second Chance (Cơ hội thứ hai), Five Days In Paris (5 ngày ở Paris) Ánh Sao Chiều Bóng Hình Hẹn Yêu Lối Về Một Thời Say Đắm Ngôi Sao Lầm Lỗi Annabelle Người Phụ Nữ Tuyệt Vời Những Trái Tim Vàng Ba Chàng Độc Thân Tình Khúc Mùa Thu Tiền Chuộc Mạng Sự Huyền Diệu của Tình Yêu Bẫy Tình Muôn Nẻo Đường Tình Thỏa Niềm Nguyện Ước Sóng Tình Phương Nam Bến Cũ Chị Em Gái Tình Yêu Cuối Cùng Hơn Cả Ước Mơ Người Vợ Người Tình Đến Rồi Bến Đợi Một Chặng Đường Dài Bến Bờ Tình Yêu Tiếng Nói Của Con Tim Nối Lại Tình Xưa Những Cánh Hoa Lạc Loài Nỗi Buồn Số Phận Âm Vang Ngày Cũ Cánh Đại Bàng Đơn Độc Quỷ Ám Tình Hè Rực Lửa Căn Nhà Trên Phố Hi Vọng Người Đàn Ông Tuyệt Vời ... *** - Nào! Bây giờ con hãy nhắm mắt lại. Tygue ngồi im bên cạnh nàng trong xe, mắt nhắm lại. Nàng nhận ra xe sắp đến khúc quanh cuối cùng trước khi tiến vào thành phố. Nàng tự hỏi không biết nó nghĩ gì khi nhìn thấy cảnh vật trong thành phố lớn lần đầu tiên. Những tòa nhà cao vút bắt đầu hiện ra trước mắt. - Được rồi. Bây giờ con hãy mở mắt ra nào! Nó mở mắt ra nhìn mọi vật nhưng vẫn còn im lặng không nói gì. Kate ngạc nhiên. - Con nghĩ gì? - Về điều gì? - Về San Francisco. Kia là những tòa nhà lớn nhất thành phố. Tygue chưa bao giờ thấy nhà cao hơn bốn tầng. - Con nghĩ nó có quá nhiều dốc. Giọng nó có vẻ thất vọng. Nàng không biết nói gì nới nó, khi nó ngồi nhìn thẳng trước mặt. Nó muốn về nhà nhưng nàng lại muốn nó ưa thích San Francisco. Nàng và Felicia đã hoạch định nhiều điều. Nàng sẽ ở đây cả tuần. - Con có muốn xem những con đường ngoằn ngèo nhất trên thế giới không? - Chắc chắn có. Nó ôm chặt chú gấu Willie trong tay. - Con có đói không? Nhưng nó lắc đầu. Nàng hỏi tiếp. - Ăn kem nhé! Nó mỉm cười gật đầu. Nàng tìm chỗ đậu xe và đưa Tygue vào một quán kem. Nó ăn kem một cách thích thú đến nỗi kem dính cả lên mũi và cằm. Khi họ rời quán kem, nó bắt đầu vui vẻ và nàng khó mà bắt nó lên xe được. - Chúng ta sẽ đi dạo sau. Trong suốt một tuần ở San Francisco, nàng và Felicia đã đưa Tygue đi chơi mọi nơi. Đó là tuần lễ của Tygue và cả hai người đàn bà đều mệt nhoài. - Dì Licia, lớn lên cháu sẽ làm nhân viên trên xe điện. Felicia cười: - Ý kiến thật vĩ đại. Bỗng Felicia như chợt nhớ ra. - Còn quyển tiểu thuyết của em thì sao, Kate? Nàng đang cố gắng để quên đi. Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày xuất bản sách. - Đó là vấn đề của họ. Em đã viết nó. Bây giờ họ có thể bán nó. - Nghe có vẻ đơn giản quá nhỉ! Felicia nhướng mày nhìn Kate. - Em viết truyện. Em có nghĩ rằng họ sẽ cần em giúp họ để bán truyện không? - Làm sao em biết họ cần gì? Vả lại bán sách được hay không cũng không thành vấn đề với em. - Ồ! Thật à? Thế thì cái gì mới thành vấn đề. - Em không muốn làm điều gì mà em không cảm thấy thoải mái. - Đừng dại dột như thế Kate. Hãy nghe chị. Em tậht điên rồ nếu không làm gì để giúp cuốn tiểu thuyết của em được nổi tiếng. Đây là cơ hội tốt nhất cho em. nếu em chịu khó lần này, quyển truyện tới đây sẽ nổi tiếng hơn nữa. Em mãi mãi thành công trong lĩnh vực văn chương. Em sẽ không bao giờ có cơ hội nữa. - Làm sao chị biết họ cần em? Những độc giả đâu cần đến tác giả. Em không thích đưa mặt mình lên truyền hình để bị ném bánh hay một mũi dao xuyên qua tim. Em sẽ không nhận cơ hội này đâu, Licia. - Em thật sự là người đàn bà cứng đầu. Có lẽ Stu Weinberg sẽ làm em thay đổi ý kiến. Kate và Tygue rời San Francisco vào trưa chủ nậht. Felicia đã nghỉ cả tuần để đi với họ, ngày mai nàng mới bắt đầu đi làm lại. Còn Tom thật tội nghiệp, nàng đã không thăm anh trong hai tuần nay. Tuần trước khi đi San Francisco nàng bận nên đã không ghé anh. Sáng hôm sau, việc đầu tiên là nàng sẽ ghé thăm anh. Nàng không thể đưa Tygue đi cùng với nàng đến chỗ Tom. ... Mời các bạn đón đọc Một Thời Say Đắm của tác giả Danielle Steel.
Lối Về - Danielle Steel
Sau khi chồng mất, Amanda Robbins rơi vào tình trạng ưu phiền, khủng hoảng. Bà nhận được sự quan tâm, chia sẻ của ông thông gia góa vợ Jack Watson và dần dần bình tâm trở lại. Một tình yêu lại nảy sinh giữa hai người và kết quả của tình yêu đó là một bé trai đang tượng hình. Đây là một điều khá thú vị vì cả hai người đều không còn trẻ để làm cha làm mẹ. Họ gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía các con nhưng cuối cùng sức mạnh tình yêu đã chiến thắng tất cả... *** Là tác giả của những tiểu thuyết mang những cái tên như "Hẹn yêu", "Chuyện của trái tim", "Bây giờ và mãi mãi"… nhưng Danielle Steel vẫn khẳng định, tác phẩm của bà không phải là văn học lãng mạn. Đến nay, Danielle Steel là tác giả của 113 đầu sách. Trung bình mỗi năm bà xuất bản 3 cuốn. Sách của Steel đã tiêu thụ được 590 triệu bản trên toàn thế giới. Trong các sáng tác, nhà văn thường xây dựng hình ảnh những phụ nữ mạnh mẽ, tự chủ, vượt lên mọi thách thức trong cuộc sống và tình yêu. Nhưng trong cuộc phỏng vấn với CBS, Steel khăng khăng rằng, tác phẩm của bà "không phải là tiểu thuyết lãng mạn"… "Thực sự tôi đề cập sâu hơn đến những vấn đề của nhân loại. Lãng mạn chỉ là một yếu tố trong đó thôi". Hiện tại, nhà văn đang viết dở hai cuốn sách mới. Ngoài tiểu thuyết, bà còn sáng tác thơ dành cho thơ, truyện thiếu nhi và các thể loại phi hư cấu. Bà là nhà văn được xếp thứ tư trong danh sách 10 tác giả kiếm tiền giỏi nhất thế giới trong năm 2009 - 2010 của tạp chí Forbes. *** Tối hôm đó, gã Jack làm cơm tối cho nàng ăn. Tự nhiên gã ít tiếng hẳn. Nàng lo vì có thể sự việc của Jan và Paul đã khiến gã rồi bời. Khi nàng hỏi gã nói không sao cả. Gã vẫn bình thường, tự tin, hai người ngồi xuống ghế vải cùng ngắm sao, gã nắm tay nàng nhoài người tới trước, ôm hôn nàng. Một buổi tối êm ả. “Anh có vài điều hỏi em,” suy nghĩ hồi lâu, gã mới nói. Nàng không nghĩ ra được chuyện gì. Nàng ngoái nhìn, hơi nhíu mày. “Cả chiều nay em suy nghĩ. Nói thật, gần đây em nghĩ nhiều lắm. Chuyện sắp xếp cho Jan và Paul nhận đứa bé thật dễ dàng. Để anh quyết việc đó càng dễ dàng hơn.” “Ta muốn giúp bọn trẻ đó mới là chuyện hệ trọng.” Nàng không vừa ý. Nàng không hiểu nổi mình đang nghĩ chuyện gì. “Đúng rồi. Em làm được việc đó thật quá sức tưởng tượng. Nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Có thể dù cho có thiên sứ trên cao hiểu rõ chuyện này, giúp Jan có thai được đứa con.” Gã ngưng ít phút. “Anh muốn mình giữ đứa bé... anh thấy rất cần có nó.” Mắt nàng ngấn lệ long lanh, trong đêm tối nàng không hay biết. “Anh nói thật sao?” đã hai lần cùng trong ngày nàng thấy yếu đến độ chỉ quệt nhẹ cũng té ngã. “Anh đã chắc chưa?” “Anh cam đoan chắc chắn. Anh chán cái lối sống tân thời này lắm rồi. Anh muốn cưới em. Ngay bây giờ. Ngày mai cũng được. Nhanh đi. Anh không muốn thấy thằng bé là đứa con ngoài giá thú.” “Anh phải chờ bốn tuần nữa.” Nàng Amanda nhìn gã cười. Không biết gã có nói thật không hay là gã làm ra vẻ như vậy. “Anh chả phải yêu cầu điều đó. Ta yêu thương nhau đến thế thì cũng như đã lấy nhau từ lâu rồi.” “Thế càng hay. Sao không thu xếp cho xong. Cứ lặng lẽ sắp xếp. Anh ở Malibu, em ở Bel Air, cứ mỗi cuối tuần gặp nhau, được chứ? Anh muốn gần em để chăm sóc con, cho tới khi nó chập chững biết đi, rồi mọc răng cho đến khi tóc em đổi màu, và rồi...” Gã cười nhìn nàng. Nàng đáp. “Em ghét không muốn nói anh nghe, anh quên mất rồi. Mười năm rồi anh còn nhớ chứ?” “Thế thì anh phải nhớ hết phần còn lại. Anh không hiểu mình đã nghĩ gì nữa. Anh biết lo cho riêng mình suốt hai mươi năm, quên lo chuyện của em. Cái đáng trách nhất anh đã quên cái ý nghĩa cao quý của cuộc sống. ANh không muốn chia cắt cái khoảng thời gian đó, cuộc sống đó. Anh muốn ôm trọn tất cả. Mỗi lúc em đau ốm có anh ngay, chia sẻ buồn vui. Rồi anh lại muốn em đến với anh những lúc thiếu vắng em. Nếu anh có khao khát thì nó cũng theo y như bố nó.” Gã sờ nhẹ tay trên vùng bụng căng đầy, nàng kéo tay gã đặt trên môi hôn. “Em cũng muốn đến cùng với anh,” nàng nhỏ nhẹ. “Anh cũng phải có mặt tại chỗ.” Bất chợt nàng thấy lo. “Anh không nên lo xa, hãy còn quá sớm phải không?” Lần này được nghe tiếng cười to của gã. “Amanda, anh yêu em. Có bao giờ em nhìn lại mình chưa? Chỉ mới thấy một nửa. Không, chưa phải là quá sớm. Đừng để trễ phút nào. Tuần sau ta làm đám cưới. Anh sẽ báo tin cho bọn trẻ, nếu có đứa nào phiền trách điều gì, ta sẽ truất quyền thừa kế, ta nói cho bọn nó thế. Kể cả con Louise. Đến đây thì bọn nó phải ra tay giúp sức để có qua có lại dù là một việc đơn giản thay vì cướp đi niềm vui của em hoặc buộc em phải nghe theo bọn nó. Và hãy báo bọn trẻ biết chỉ nên nói những điều có lợi mà thôi. Ta chỉ muốn nhìn thấy những nụ cười, nghe lời chúc tụng. Bọn chúng nợ ta điều đó.” Nàng nhìn mắt gã, rõ ràng không có đùa, nàng thương gã ở chỗ đó. Ngày hôm sau gã ra tay ngay. Gã cho gọi bọn trẻ đến báo tin đám cưới của gã với Amanda. Tổ chức thứ bảy tuần sau. Gã nhờ một bạn cố tri, ông quan tòa, đứng ra chủ lễ. Lễ cưới tổ chức tại cửa hiệu Julie’s, khách mời ăn mừng có đến hai trăm, Jack và Amanda đứng ra tổ chức. Phần lớn công việc không kham nổi, nàng nhờ gã lo giùm vì quá mệt. Gã tìm mua cho nàng một bộ áo lụa Gazar màu kem mặc vào phất phơ như cánh hoa thật đẹp. Nàng cài hao trên tóc, tay cầm bó hoa ly ly, lan,... Hai đứa con gái cho hay sẽ đến chúc mừng. Gã Jack còn đề nghị chúng tới cửa hàng chọn đồ dự tiệc. Jan nhận lời cọn Louise tuyệt nhiên không nhận. Cô ta chỉ trả lời qua điện thoại, sẽ dự lễ cưới. Cô bực vì gã báo tin qua máy. Đáng lẽ Amanda nên gọi. Cô lúc nào cũng bực dọc đủ chuyện. Ngày cưới đến, Jack và nàng dạo một vòng bãi biển Malibu rồi về thay áo cùng các con. Hai đứa phụ nàng. Nàng cũng cảm động như bao cô dâu trẻ, tay run run mặc áo cưới. Thợ tóc tới tận nơi làm theo kiểu tóc búp yêu thích của nàng, một cô dâu lộng lẫy mang thai tám tháng rưỡi. ... Mời các bạn đón đọc Lối Về của tác giả Danielle Steel.
Hẹn Yêu - Danielle Steel
Là tác giả của những tiểu thuyết mang những cái tên như "Hẹn yêu", "Chuyện của trái tim", "Bây giờ và mãi mãi"… nhưng Danielle Steel vẫn khẳng định, tác phẩm của bà không phải là văn học lãng mạn. Đến nay, Danielle Steel là tác giả của 113 đầu sách. Trung bình mỗi năm bà xuất bản 3 cuốn. Sách của Steel đã tiêu thụ được 590 triệu bản trên toàn thế giới. Trong các sáng tác, nhà văn thường xây dựng hình ảnh những phụ nữ mạnh mẽ, tự chủ, vượt lên mọi thách thức trong cuộc sống và tình yêu. Nhưng trong cuộc phỏng vấn với CBS, Steel khăng khăng rằng, tác phẩm của bà "không phải là tiểu thuyết lãng mạn"… "Thực sự tôi đề cập sâu hơn đến những vấn đề của nhân loại. Lãng mạn chỉ là một yếu tố trong đó thôi". Hiện tại, nhà văn đang viết dở hai cuốn sách mới. Ngoài tiểu thuyết, bà còn sáng tác thơ dành cho thơ, truyện thiếu nhi và các thể loại phi hư cấu. Bà là nhà văn được xếp thứ tư trong danh sách 10 tác giả kiếm tiền giỏi nhất thế giới trong năm 2009 - 2010 của tạp chí Forbes. *** Marie thức giấc lúc rạng đông. Nàng thấy tinh thần tỉnh táo phấn khởi, như chưa bao giờ thấy thế. Vài tiếng đồng hồ nữa thôi là nàng hoàn toàn thoải mái tự do, dứt hẳn với quá khứ hẹn ước hai năm trước đây. Chính hẹn ước như trẻ thơ ngày đó đã ràng buộc nàng rất nhiều trong hai năm quạ Nàng cũng không buồn dùng bữa sáng, chỉ uống hai tách cà phê, rồi ra xe đã thuê sẵn. Nàng định khoảng mười giờ là tới nơi. Rồi trở về khách sạn khoảng quá trưa, lấy máy bay trở về San Franciscọ Khoảng xế chiều là tới nhà, có thể còn gặp Peter ở sở, đủ làm ông ngạc nhiên. Tội nghiệp, ông ta rất bình tĩnh nhẫn nại trước chuyến đi này của nàng. Nàng vừa lái xe vừa nghĩ đến Peter. Nàng mong là ông có thể hiểu nàng hơn sau cuộc du lịch ngắn ngủi này. Nàng yêu ông. Điều đó không còn gì nghi ngờ nữa. Marie lái xe xuyên qua vùng quê New England, không chú ý gì lắm đến cảnh vật hai bên đường cũng một màu xanh như ngày nào. Tựa hồ cảnh miền quê trong hai năm qua cũng bị chôn vùi trong ký ức. Lúc nàng đi nàng Revere Beach thì đã chín giờ rưỡi. Đây là nơi đã tổ chức hội chợ năm kia. Tim nàng như se lại khi nhận ra chỗ cũ. Nàng cho xe đi theo một con đường đất dọc theo bờ biển, rồi đến một nơi nàng ngừng lại, ra khỏi xe. Nàng không mệt nhưng cảm thấy tê cả chân taỵ Tâm trí thì hơi bấn loạn. Nàng phải làm chuyện này thôi... phải làm thôi... Nàng đứng nhìn một hồi lâu cái cây xanh mà trước đây nàng đã dựa. Tựa hồ nó biết rõ lịch sử những bí mật của nàng. Tựa hồ nó đang chờ nàng. Rồi nàng bước đến, như đón chào một người bạn cũ. Nhưng, cũng giống như những đồ vật mà những người nàng từng yêu, bây giờ cái cây cũng trở nên xa lạ với nàng chứ không là người bạn cũ. Nó tựa như một cái mộ bia trên nấm mồ của Nancy McAllister! Nàng bước chầm chậm tới chỗ tảng đá. Tảng đá năm xưa vẫn yên đó. Nhưng nàng và Michael thì đã di chuyển về hai hướng đời đối nghịch, đến hai thế giới khác lạ nhau. Nàng đứng một hồi lâu, tựa hồ để có thời gian thu hết sức lực và can đảm mà cúi xuống xê dịch tảng đá. Xong nàng lấy một nhánh cây moi đất dưới tảng đá lên, tìm món vật mà nàng đã chôn ở đấy. Nhưng chẳng có gì cả. Kẻ nào đã lấy mất chuỗi hột của nàng. Nàng xô tảng đá lại chỗ cũ. Chưa kịp thở lấy hơi bỗng nàng nghe một giọng nói sau lưng: - Cô không tìm được đâu! Nó là của người khác. Của một người mà tôi yêu. Của một người mà tôi không bao giờ quên được. Nước mắt long lanh, Michael nhìn nàng say đắm. Anh đã chờ gần nửa đêm để gặp nàng ở đây. Anh đã thuê một chuyến máy bay để có thể đến được đây trước khi nàng đến. Anh đưa tay ra, và Marie nhìn thấy chuỗi hột trong bàn tay anh. Chuỗi hột vẫn còn dính cát. Nước mắt nàng tuôn trào. Michael vẫn nhìn nàng và nói: - Anh đã hứa không bao giờ nói lời từ biệt... - Vậy mà anh đâu có đi tìm em! - Họ bảo với anh rằng em đã chết. ... Mời các bạn đón đọc Hẹn Yêu của tác giả Danielle Steel.
Đợi Chờ - John Le Carré
Tại lầu chót của một khách sạn kiến trúc kiểu Staline, nằm trên một đại lộ ở Matxcơva, hội chợ audio đầu tiên được British Council tổ chức để quảng bá văn hóa nước Anh, sắp bước vào giai đoạn bế mạc. Lúc 17 giờ rưỡi .Hôm ấy là một ngày mùa hè, thời tiết thay đổi một cách kỳ cục : suốt buổi sáng, những trận mưa rào lớn đã đổ xuống thành phố, nhưng bây giờ ánh mặt trời lấp lánh trong các vũng nước và hơi nhè nhẹ bốc lên từ các lề đường ..... *** John le Carré (sinh năm 1931) tên thật là David John Moore Cornwell. Trước khi trở thành nhà văn Anh gạo cội, ông từng làm việc cho cơ quan tình báo MI5 và MI6. Sau thành công lớn của tiểu thuyết thứ ba, The spy who came in from the cold (1963), ông rời MI6 để cống hiến toàn bộ thời gian cho nghiệp viết. Đến nay ông đã cho ra đời hàng chục tiểu thuyết, trong đó có thể nhắc tới The ppy who came in from the cold; Tinker, tailor, soldier, spy; The tailor of panama; The constant gardener và A most wanted man. Các nhân vật của John le Carré thường được đặt trong một bối cảnh chính trị cụ thể, luôn mang mối băn khoăn trước tính nước đôi về mặt đạo đức trong công việc của mình, hoài nghi về tính đúng đắn của nền dân chủ phương Tây và các cơ quan ngầm bảo vệ. Tác phẩm của ông khác với những câu truyện xoay quanh kiểu mẫu người hùng hành động như James Bond, với kịch tính thể thể hiện qua diễn biến tâm lý phức tạp, những tình tiết cân não hơn là những cuộc phiêu lưu hay đấu súng ngoạn mục. *** Các màn ảnh của chúng tôi cho biết lúc 18 giờ Barley bước ra khỏi văn phòng Nhà xuất bản Tháng Mười. Có một lúc chúng tôi đã kinh hoàng nghĩ rằng, có thể là Barley say, vì Zapadny cũng là một bợm rượu như ông ta, và rất có thể hai người đã cùng nhau làm một chầu Vodka trong cuộc thăm viếng từ giã này. Zapadny tiễn Barley ra tận cửa. Ở đó, hai người ôm hôn nhau thắm thiết, Zapadny có những cử chỉ như bị kích động, còn Barley thì trái lại, cứng đơ như một cái cọc. Vì vậy, các trinh sát sợ rằng Barley say, nên đã quyết định chụp hình ông ta trong lúc ấy, với ý nghĩ kỳ cục rằng như thế sẽ có thể làm cho ông ta bớt say. Tấm hình ấy là tấm hình chót trong hồ sơ, và tôi đã nghiên cứu kỹ tấm hình ấy. Barley ôm lấy Zapadny trong vòng tay mình. Người ta có thể nói Barley nâng đỡ Zapadny để truyền qua cho anh chàng tội nghiệp này lòng can đảm để anh ta giữ lời hữa. Và màu hồng có vẻ lạ lùng. Trụ sở của Nhà xuất bản Tháng Mười nằm tại đường Bolchaia Bronnaia ở trung tâm thành phố Matxcơva, trước kia là một ngôi trường cũ được xây cất từ đầu thế kỷ, với những cửa sổ lớn và một mặt tiền bằng thạch cao, năm nay được sơn lại màu hồng nhạt. Trên tấm ảnh màu này đã chuyển thành màu cam rực rỡ, chắc là vì có những tia mặt trời đỏ chói chiếu vào. Do đó, quanh đầu của Barley và Zapadny có một vòng hào quanh đỏ thắm và sáng lên một cách lạ lùng. Một trong những người trinh sát đi vào tiền sảnh với lý do đến quầy giải khát, để tìm cách chụp hình cảnh tượng ấy dưới một góc độ khác, nhưng không chụp được, vì có một người đàn ông cao lớn đứng che tầm nhìn của anh ta. Barley trở về khách sạn của mình. Ở đó ông uống một ly rượu với một nhóm bạn bè đều là những nhà xuất bản, trong đó có Henziger. Henziger đã khẳng định rằng Barley không say rượu, trái lại ông ta rất bình tĩnh và có vẻ trầm tư. Điều ấy làm cho êkíp ở Luân Đôn cảm thấy nhẹ nhõm. Vào lúc bảy giờ tối, Barley kêu đói bụng. Henziger và Wicklow dẫn ông ta đến nhà hàng Nhật Bản cùng với hai thiếu nữ xinh đẹp làm việc cho Nhà xuất bản Simon and Schuster. Trong bữa ăn tối, Barley tỏ ra hấp dẫn đến nỗi hai cô gái này mới ông ta tháp tùng họ đến nhà hàng National, nơi đó một nhóm nhà xuất bản Mỹ có tổ chức một cuộc tiếp tân, Barley trả lời rằng ông ta có một cuộc gặp mặt đã hẹn trước rồi. Đúng 20 giờ theo đồng hồ của Wicklow, có người muốn gặp Barley nơi máy điện thoại của nhà hàng và Barley đến bắt máy chỉ cách bàn ăn chưa đầy năm mét. Wicklow và Henziger dỏng tai nghe, theo phản xạ nghề nghiệp. Bây giờ Wicklow nhớ lúc đó đã nghe: “Đó là tất cả những gì đáng kể”, và Henziger tin rằng lúc đó đã hiểu “đồng ý” hay “không đồng ý”, hay ngay cả “còn chưa đồng ý”. ... Mời các bạn đón đọc Đợi Chờ của tác giả John Le Carré.