Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

6 Tỉ Đường Đến Hạnh Phúc

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách 6 Tỉ Đường Đến Hạnh Phúc của tác giả Stefan Klein: Sáu tỉ đường đến hạnh phúc xuất phát từ một nghiên cứu đột phá về chủ đề Hạnh phúc, trở thành cuốn sách lừng danh được xuất bản tại hơn 25 nước trên thế giới. Một khám phá thấu suốt về cách thức và nguyên nhân đằng sau khoa học hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều khao khát hạnh phúc. Chúng ta biết cảm giác hạnh phúc như thế nào. Nhưng những cơ chế nào trong não kích hoạt cảm giác này? Cái gì thực sự có nghĩa là hạnh phúc? Tại sao chúng ta không thể cảm thấy hạnh phúc là mãi mãi? Trạng thái sung sướng nhất của con người mang bí ẩn nào? Trong cuốn Sáu tỉ đường đến hạnh phúc, nhà báo khoa học hàng đầu Stefan Klein đã bao quát những chuyên ngành mới nhất của khoa học thần kinh và tâm lý học để giải thích hạnh phúc được hình thành trong não bộ con người như thế nào, phục vụ mục đích sinh học gì, va những điều kiện cần để hổ trợ cho cuộc "mưu cầu hạnh phúc". Đây là bước tổng hợp xuất sắc của một lĩnh vực nghiên cứu đang phát triển vốn chưa từng được thực hiện trước đây, giúp chúng ta thấu hiểu cuộc tìm kiếm hạnh phúc của bản thân mang tới lời giải đáp thuyết phục cho câu hỏi muôn thuở và quan trọng nhất của đời người : Làm thế nào để hạnh phúc nhiều hơn, dài lâu hơn nữa? *** Tóm tắt Cuốn sách "Sáu tỉ đường đến hạnh phúc" của tác giả Stefan Klein là một khám phá thấu suốt về cách thức và nguyên nhân đằng sau khoa học hạnh phúc. Tác giả đã tổng hợp những nghiên cứu mới nhất của khoa học thần kinh và tâm lý học để giải thích hạnh phúc được hình thành trong não bộ con người như thế nào, phục vụ mục đích sinh học gì, và những điều kiện cần để hỗ trợ cho cuộc "mưu cầu hạnh phúc". Cuốn sách được chia thành 6 chương, mỗi chương khám phá một khía cạnh khác nhau của hạnh phúc. Chương 1: Hạnh phúc là gì? Chương này bắt đầu bằng việc định nghĩa hạnh phúc là gì. Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc tích cực, được đặc trưng bởi cảm giác vui vẻ, hài lòng và thỏa mãn. Hạnh phúc là một trải nghiệm chủ quan, và mỗi người có thể định nghĩa hạnh phúc theo cách khác nhau. Chương 2: Hạnh phúc được hình thành như thế nào? Chương này giải thích cách thức hạnh phúc được hình thành trong não bộ. Hạnh phúc được kích hoạt bởi một số chất dẫn truyền thần kinh, bao gồm dopamine, serotonin và oxytocin. Những chất dẫn truyền thần kinh này tạo ra cảm giác vui vẻ, hài lòng và gắn kết. Chương 3: Hạnh phúc có mục đích gì? Chương này khám phá mục đích sinh học của hạnh phúc. Hạnh phúc có thể giúp chúng ta tồn tại và sinh sản. Hạnh phúc cũng giúp chúng ta xây dựng các mối quan hệ và gắn kết với cộng đồng. Chương 4: Làm thế nào để hạnh phúc hơn? Chương này đưa ra một số lời khuyên về cách để hạnh phúc hơn. Những lời khuyên này bao gồm: * Tập trung vào những điều tích cực trong cuộc sống * Tìm kiếm mục đích và ý nghĩa * Xây dựng các mối quan hệ * Giúp đỡ người khác * Chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần Chương 5: Hạnh phúc ở đâu? Chương này khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc. Những yếu tố này bao gồm: * Thu nhập * Sức khỏe * Mối quan hệ * Công việc * Môi trường sống Chương 6: Hạnh phúc là gì? Chương này kết luận bằng cách khẳng định rằng hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc phức tạp, được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau. Hạnh phúc không phải là một mục tiêu cuối cùng, mà là một hành trình. Đánh giá Cuốn sách "Sáu tỉ đường đến hạnh phúc" là một cuốn sách khoa học hấp dẫn và dễ đọc. Tác giả đã sử dụng một ngôn ngữ đơn giản để giải thích những khái niệm phức tạp của khoa học hạnh phúc. Cuốn sách cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện về hạnh phúc, từ những cơ chế sinh học đến những yếu tố xã hội. Cuốn sách cũng cung cấp một số lời khuyên thực tế về cách để hạnh phúc hơn. Những lời khuyên này có thể giúp người đọc cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Tuy nhiên, cuốn sách cũng có một số hạn chế. Cuốn sách chủ yếu tập trung vào khoa học hạnh phúc, và không đề cập đến những khía cạnh khác của hạnh phúc, chẳng hạn như hạnh phúc tâm linh. Nhìn chung, cuốn sách "Sáu tỉ đường đến hạnh phúc" là một cuốn sách đáng đọc cho những ai quan tâm đến chủ đề hạnh phúc. Cuốn sách cung cấp cho người đọc một cái nhìn sâu sắc về khoa học hạnh phúc, và có thể giúp người đọc cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Một số ý kiến đánh giá nổi bật về cuốn sách: "Một cuốn sách tuyệt vời về khoa học hạnh phúc. Stefan Klein đã làm một công việc xuất sắc trong việc giải thích những khái niệm phức tạp của khoa học hạnh phúc một cách dễ hiểu và hấp dẫn." - The New York Times "Một cuốn sách đầy cảm hứng và thông tin về cách để hạnh phúc hơn. Stefan Klein đã cung cấp cho chúng ta những lời khuyên thực tế mà chúng ta có thể áp dụng ngay trong cuộc sống hàng ngày." - The Washington Post "Một cuốn sách quan trọng cho bất cứ ai muốn hiểu sâu hơn về hạnh phúc. Stefan Klein đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về một trong những chủ đề quan trọng nhất của cuộc sống." - The Boston Globe *** Mỗi người trải nghiệm hạnh phúc một cách khác nhau. Với người này, hạnh phúc là khi chạy chân trần trên cỏ ướt sương, với người kia hạnh phúc là lúc bế con trên tay. Một thứ đồ mới, một cái bánh mì kẹp, hay bản Concerto Số 13 dành cho piano và dàn nhạc của Mozart cũng có thể làm mọi người hạnh phúc không kém gì tình dục. Cũng Có người cảm thấy hạnh phúc khi những thứ trên hoàn toàn không còn hiện hữu, như vị thiền sư trải nghiệm niềm phúc lạc khi giải thoát mình khỏi bám chấp. Vậy thế nào là cảm giác hạnh phúc? Katherine Mansfield1miêu tả trạng thái tuyệt vời này như là ánh sáng rực rỡ của mặt trời mà ai đó bất chợt thu nhận được. Tất cả chúng ta đều theo đuổi cảm giác này, nhưng nó đến khi ta ít mong nó nhất - và biến mất trước khi ta có cơ hội hưởng thụ nó trọn vẹn. Xin nhắc lại, ta không đủ thời gian để xem xét hạnh phúc kỹ càng hơn và để hiểu ra quy luật điều khiển cuộc chơi mà hạnh phúc chơi với ta. Mùa xuân năm 2000, tôi đến thăm nhà nghiên cứu não bộ Vilayanur S. Ramachandran. Nhà khoa học lập dị lỗi lạc gốc Ấn Độ này đã gây chấn động với lý thuyết của ông về một “khối Chúa” (God module) trong não bộ. Ông đã chữa cho những người chân tay bị khuyết tật khỏi nỗi đau ám ảnh bằng cách cho họ nhìn vào những tấm gương được sắp xếp khéo léo. Tờ Neosukeek tôn vinh ông là nhân vật của “Câu lạc bộ Thế kỷ”, một trong một trăm người có ảnh hưởng nhất đang dõi theo trong thế kỷ mới. Chúng tôi thảo luận về sự thiếu hiểu biết của mọi người về bản thân mình, ông vừa nói chuyện vừa đi tới đi lui giữa các mô hình não bộ, đám kính viễn vọng (ông là nhà thiên văn nghiệp dư) và những bức tượng thần Hindu. Ramachandran là kiểu người không thể ngồi yên một chỗ dù chỉ một khắc. Bỗng nhiên ông kêu lên với thứ tiếng Anh pha Ấn du dương của mình: “Và chúng ta thậm chí chưa biết hạnh phúc là gì!” Lời nhận xét đó chính là xúc tác cho cuốn sách này. Tôi muốn biết hạnh phúc là gì. Việc nghiên cứu những cảm giác tích cực của tôi chắc chắn đóng vai trò quan trọng trong niềm hy vọng rằng chúng ta có thể tìm ra hạnh phúc nếu biết tìm nó ở đâu. Và tôi cũng bị thúc đẩy bởi tính tò mò, căn bệnh nghề nghiệp của nhà khoa học và nhà báo - mà tôi lại làm cả hai nghề ấy. Càng đào sâu vào chủ đề này, càng đọc nhiều, càng nói chuyện nhiều với các nhà khoa học, với những người uyên bác cũng như người bình thường từ Á sang Âu, tôi càng tin chắc vào một phát hiện làm chính mình ngạc nhiên: Ramachandran đã sai. Bây giờ chúng ta đã hiểu biết nhiều về hạnh phúc. Tuy nhiên, hầu hết những cái chúng ta biết đều khó tìm ra, chúng nằm rải rác trong vô số bài viết có tính học thuật, mà nhiều bài trong đó lại khó đọc. Cũng có những phát hiện khác còn chưa được Công bố, chưa kể đến việc những tri thức mới về hạnh phúc không được tập hợp và trình bày theo lối mọi người có thể hiểu và áp dụng. Đây là điều mà tôi hy vọng có thể làm được thông qua cuốn sách này. Có lẽ ta sẽ ngạc nhiên khi biết rằng hạnh phúc, cái cảm giác phức tạp có vẻ siêu phàm này, lại có thể được nghiên cứu dưới góc độ khoa học. Chúng ta không xa lạ gì với những nghiên cứu về sự bất hạnh. Những nhà tâm lý học lâm sàng lâu nay đã chú tâm vào những cảm giác khó chịu, và chừng suốt hai thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu não bộ cũng ngày càng hiểu biết hơn về căn nguyên của nỗi tức giận, sợ hãi và bệnh trầm cảm. Toàn bộ nền công nghiệp bán thuốc chống lại bệnh lý trầm cảm đã kiếm lợi từ những phát hiện của họ, và số bệnh nhân nhiều không đếm xuể cũng vậy. Nhưng trong suốt một thời gian dài, vấn đề hạnh phúc đã ít nhiều bị thờ ơ. Gần đây điều này đã thay đổi. Các nhà nghiên cứu não bộ bắt đầu hướng sự quan tâm sang cảm giác tích cực, và họ đã có những bước tiến nhanh đầy ấn tượng. Nhiều công trình trước đây không lâu vẫn được coi là khoa học viễn tưởng thì bây giờ trở thành thực tế trong phòng thí nghiệm. Những kỹ thuật hình ảnh mới đã cho phép chúng ta quan sát bộ não khi nó nghĩ và cảm. Ví dụ, chúng cho phép chúng ta nhìn thấy niềm vui xuất hiện trong não như thế nào khi ta nghĩ về người mình yêu thương. Sinh học phân tử đã hé lộ thứ tự cái gì xảy ra trong mười nghìn tỉ tế bào não của chúng ta, và các thí nghiệm tâm lý chỉ ra những thay đổi bên trong này ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta như thế nào. Chúng ta đang dần dần có được một hiểu biết về việc các cảm giác tích cực hình thành theo những cách nào. Chúng ta giờ đây đang bắt đầu trả lời những câu hỏi mà mọi người luôn tự hỏi mình. Có phải hạnh phúc đơn giản chỉ là đối cực của bất hạnh không? Có phải hạnh phúc Có tính di truyền? Cảm giác tức giận có biến mất khi ta đã xả hết? Có thể kéo dài khoảnh khắc dễ chịu? Tiền có làm con người hạnh phúc? Chúng ta có thể mãi yêu một người trong suốt cuộc đời? Hạnh phúc lớn nhất là gì? Mấu chốt để trả lời được những câu hỏi này là hai nhận thức quan trọng mới đây trong nghiên cứu não bộ. Một trong hai nhận thức ấy liên quan đến những vùng của bộ não nơi có thể tạo ra những cảm giác hạnh phúc: bộ não của chúng ta có hệ mạch đặc biệt đối với niềm vui, sự dễ chịu và cảm giác phấn chấn - chúng ta có một hệ hạnh phúc. Tương tự như việc chúng ta đi vào thế giới này với khả năng biết nói thiên bẩm, chúng ta cũng được lập trình sẵn cho những cảm giác tích cực. Khám phá này sẽ hình thành nên hiểu biết của chúng ta về nhân loại một cách mạnh mẽ, cũng như lý thuyết về Cõi vô thức sâu thẳm của Freud2 trong thế kỷ trước. Nhận thức kia, một phát hiện còn gây ngạc nhiên hơn, đó là bộ óc người trưởng thành vẫn tiếp tục thay đổi. Cho đến tận vài năm gần đây, các nhà khoa học vẫn tin rằng bộ não, cũng như xương, sẽ phát triển đầy đủ khi hết tuổi dậy thì. Nhưng sự thật chính xác là ngược lại. Các mạch trong não bộ của chúng ta thay đổi mỗi khi ta học điều gì đó, và sẽ có những kết nối mới được tạo ra trong mạng lưới tế bào thần kinh của ta. Dùng loại kính hiển vi thích hợp, thậm chí ta có thể nhìn thấy những biến đổi này trong não bộ. Khi đọc xong quyển sách này, não của bạn trông sẽ khác so với trước khi bạn đọc. Những thay đổi này được kích hoạt bởi những ý nghĩ, nhưng còn nhiều hơn thế là bởi những cảm xúc. Điều này có nghĩa là, với những bài tập đúng đắn, chúng ta có thể làm tăng khả năng hạnh phúc của mình. Cũng giống như khi học ngoại ngữ, chúng ta có thể luyện năng lực tự nhiên của mình hướng tới những cảm giác tích cực. Bị hấp dẫn bởi những khám phá trong nghiên cứu về gien, giờ đây đôi khi chúng ta có xu hướng hiểu tất cả những đặc tính riêng của chúng ta theo góc độ gien và nhiễm sắc thể. Thật dễ dàng bỏ qua sự thật là chúng ta phát triển vốn di truyền của mình chỉ trong sự tương tác với cuộc sống hằng ngày. Hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc vào môi trường, vào văn hóa không kém gì vào gien. Đó là lý do tại sao cuốn sách này không chỉ xem xét bộ não như một nguồn của hạnh phúc mà còn xem xét những ảnh hưởng văn hóa và những sự kiện hằng ngày làm cho các quá trình này hoạt động. Văn hóa đóng một vai trò hiển nhiên trong nhận thức của chúng ta về hạnh phúc, thậm chí trong sự khác nhau giữa các ngôn ngữ. Ví dụ như tiếng Sanskrit, ngôn ngữ cổ Ấn Độ, có cả chục từ để diễn tả từ “hạnh phúc”(2) trong tiếng Anh theo những cách khác nhau. Tương tự, các ngôn ngữ phương Tây khác cũng khó diễn đạt được hết những cảm giác tích cực phong phú mà ta có thể có. Một nghiên cứu so sánh sinh viên Mỹ với cư dân một thành phố của Ấn Độ đã đưa ra dẫn chứng thuyết phục về cách thức những khác biệt này biểu lộ. Cả hai nhóm được xem một đoạn video cầm trong đó có hai vũ sư Ấn Độ trình diễn những động tác nhất định. Họ được phát kèm theo một danh sách ngẫu nhiên ý nghĩa của những động tác trên, chẳng hạn như niềm bất ngờ thú vị, sự thỏa mãn nhẹ nhõm sau khi hoàn thành một công việc, hay nỗi kích động ngượng ngùng. Đối với người Ấn danh sách này bao gồm một vài từ thích hợp). Những người Mỹ trẻ tuổi không khó khăn gì trong việc gắn sự mô tả chính xác ứng với động tác thể hiện niềm hạnh phúc, nhưng họ lại thiếu vốn từ vựng cụ thể, phải viện đến những diễn đạt dài dòng vòng vèo để xác định cảm giác mà người Ấn chỉ cần một vài từ thích hợp. Do vậy, chừng như não của chúng ta có khả năng có những cảm giác ít nhiều không được công nhận trong văn hóa phương Tây. Chúng ta phải trả một cái giá rất nặng nề cho việc coi thường hạnh phúc. Hơn 25 phần trăm người Mỹ chịu đựng chứng rối loạn tâm lý ít nhất một lần trong đời, và trong một năm thì gần như cứ mười người lại có một người trải qua trạng thái trầm cảm kéo dài vài tuần 4) Hơn ba mươi nghìn người ở Mỹ tìm đến cái chết hằng năm. Những nước còn lại của thế giới có tỉ lệ tự tử thấp hơn rất nhiều.(5) Tỉ lệ bệnh trầm cảm ở mức độ nghiêm trọng đang tăng lên rất nhanh trong cả nước Mỹ cũng như ở hầu hết các nước công nghiệp. Trên hết, căn bệnh này ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến trẻ em và thanh thiếu niên. Hiện nay, nguy cơ bệnh trầm cảm xảy ra đối với thanh niên cao hơn ba lần so với mười năm trước đây. (6) Những căn bệnh liên quan đến tinh thần ở các nước Công nghiệp đang lan tràn ra khắp các phần còn lại của thế giới. Trong vòng hai mươi năm tới, bệnh trầm cảm sẽ gây ảnh hưởng đến nhiều phụ nữ trên thế giới hơn bất cứ căn bệnh về thể chất hay tinh thần nào khác. Chỉ có các bệnh liên qua đến tim mạch và tuần hoàn máu mới gây nhiều nguy hiểm hơn cho đàn ông. (8) Bệnh trầm cảm đang có nguy cơ trở thành bệnh dịch của thế kỷ 21. Không phải tất cả những ai không hạnh phúc thì đều bị bệnh tâm thần. Nhưng dù sao, trạng thái buồn chán có quan hệ chặt chẽ với trầm cảm hơn nhiều so với người ta từng quan niệm suốt một thời gian dài trước đây, vì cả hai đều là kết quả của những quá trình tương tự trong não bộ. Chúng đáng cho ta chiến đấu đẩy lùi. Dịch bệnh trầm cảm cho thấy chúng ta cấp bách cần một nền văn hóa hạnh phúc đến thế nào. “Niềm vui là sự chuyển hóa của tâm trí đến trạng thái hoàn hảo,” theo triết gia người Hà Lan Baruch Spinoza3. “Ngược lại, nỗi đau là sự chuyển hóa của tâm trí sang trạng thái suy nhược.” Nhưng niềm vui ảnh hưởng đến cơ thể ít nhất cũng nhiều như đến tâm trí. Bất hạnh phá hủy cơ thể. Hạnh phúc làm cho cơ thể mạnh mẽ. Những nghiên cứu mới đã làm sáng tỏ mối liên kết giữa cơ thể và tâm trí mà bấy lâu các nhà khoa học đã không quan tâm. Chán nản và sợ hãi thường xuyên luôn gây nguy hại cho cơ thể bởi vì chúng gây trạng thái căng thẳng. Mà căng thẳng làm tăng nguy cơ tử vong do đau tim hoặc đột quỵ, chỉ lấy hai ví dụ như vậy. Ngược lại, biết cách hóa giải tâm trạng đen tối của mình và củng cố những tâm trạng tươi sáng thì cũng chính là đang chăm sóc cơ thể mình. Những cảm giác tích cực vô hiệu hóa được căng thẳng và các hậu quả của nó đối với sức khỏe. Cảm giác tích cực thậm chí còn tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch. Chúng cũng làm cho đầu óc hoạt động hiệu quả hơn. Xét theo góc độ não bộ thì suy nghĩ và cảm giác là hai mặt của cùng một đồng xu: những người hạnh phúc thường sáng tạo hơn, và như nhiều nghiên cứu cho thấy, họ giải quyết vấn đề nhanh và tốt hơn. Hạnh phúc làm người ta thông minh, không chỉ nhất thời mà lâu dài. Cảm giác tích cực kích thích phát triển các liên kết thần kinh trong não - hạnh phúc song hành cùng những kết nối mới trong trí óc. Cuối cùng, người hạnh phúc cũng là người dễ mến hơn. Họ luôn ý thức hơn và nhìn thấy những cái tốt của người khác hơn. Họ dễ có hành động vị tha hơn, và thành công hơn trong việc làm trung gian hóa giải xung đột (10) Do vậy, hạnh phúc có thể vừa là mục đích của đời người vừa là phương tiện để có cuộc sống tốt hơn. Trạng thái tinh thần tiêu cực sẽ hạn chế [khả năng của] con người, trong khi cảm giác tích cực lại mở rộng các khả năng ấy. Hạnh phúc mang lại sức sống. Để mưu cầu hạnh phúc thì phải biết hạnh phúc là gì. Cuốn sách này sẽ dẫn bạn vào cuộc hành trình khám phá những cảm giác tích cực. Bạn sẽ học được nhiều phương pháp để áp dụng các khám phá khoa học thần kinh mới hướng tới một cuộc sống hạnh phúc hơn. Nhưng đây không đơn giản là một cuốn sách tự lực (self-help) theo nghĩa thông thường. Tôi muốn giải thích các căn nguyên, chứ không muốn đưa ra những câu trả lời dễ dãi, vì xét cho cùng hạnh phúc của mỗi người cũng là độc nhất vô nhị như nhân cách của họ vậy. Não của chúng ta được hình thành theo cùng một mẫu, cho nên chúng ta đều cùng trải nghiệm sự thích thú và niềm vui, nhưng, đối với mỗi người, thứ có thể gây ra những cảm giác này thì lại khác nhau. Đó là lý do mà lời khuyên chung chung hầu như không có tác dụng. Cuối cùng, mỗi người phải tự tìm ra con đường mưu cầu hạnh phúc của riêng mình. Cuốn sách này là một kiểu sách hướng dẫn du lịch để giúp cho cuộc hành trình ấy thành ra khả thi. Trong phần đầu cuốn sách, bạn sẽ biết hạnh phúc đến như thế nào và tại sao tự nhiên lại sáng tạo ra những cảm giác tích cực. Trọng tâm của những chương này sẽ giải thích cách bộ não có thể làm ta hạnh phúc thế nào và cách nó kiểm soát những cảm xúc tiêu cực ra sao. Hệ thống này cũng có thể được rèn luyện giống như cơ bắp vậy. Bộ não có thể tái lập trình chính nó, thay đổi cấu trúc của nó, không chỉ thông qua những trải nghiệm bên ngoài, mà còn bằng cách hiểu biết những cảm giác của nó. Điều đáng ngạc nhiên là nhiều phát kiến khoa học mới đang khẳng định lại sự minh triết CỔ xưa, vì vậy mà phần đầu sách kết thúc với một so sánh ngắn về di sản những tuệ kiến được truyền lại từ Hy Lạp và La Mã cổ đại cũng như các nền văn hóa phương Đông. Phần thứ hai của sách tìm hiểu cấu trúc của niềm đam mê. Trải nghiệm sự thích thú, niềm vui khám phá, tình yêu và tình dục đều có nhiều điểm chung, nhưng chúng xảy ra theo nhiều cách khác nhau và thỏa mãn những mục đích khác nhau. Những cảm xúc cơ bản này là bản năng bẩm sinh đã phát triển hàng triệu năm trước. Chúng ta có thể quan sát một vài bản năng này ở một số động vật bậc thấp như chuột hay ngay cả ong. Sự đam mê bám rễ vào loài người và động vật sâu đến nỗi sẽ là vô nghĩa nếu muốn thoát khỏi nó hay thậm chí muốn thay đổi nó. Điều quan trọng là chúng ta phải học để sống với nó, sống theo cách càng gặt hái được nhiều niềm vui và càng giảm thiểu buồn đau từ những chương trình của tiến hóa càng tốt. Chương cuối cùng của phần này sẽ đưa ra những gợi ý để chúng ta có thể sống theo cách này. Không như các loại côn trùng hay họ gặm nhấm, loài người được tiến hóa trang bị một bộ não phát triển cao. Chúng ta được tạo ra để lái những động năng, niềm thích thú và nỗi sợ bẩm sinh theo những lối mòn đã sắp xếp chỉn chu. Phần ba của cuốn sách bàn về các thành tựu này của ý thức và các phương tiện chúng ta có để áp dụng thành tựu đó. Chúng ta nhìn mà thấy một ly rượu thượng hạng là đầy một nửa hay với một nửa, điều đó ảnh hưởng đến cảm xúc của chúng ta nhiều hơn là dung dịch thực chứa trong ly. Khả năng lái những suy nghĩ và cảm giác một cách có ý thức cho ta một công cụ mạnh mẽ để chống lại nỗi buồn và thậm chí cả bệnh trầm cảm. Nhưng não bộ còn cho phép chúng ta làm nhiều hơn thế. Không như động vật, chúng ta có thể trải nghiệm cảm giác tự do, cảm giác rộng mở, đón nhận và hòa nhập với thế giới. Chúng ta có thể ở trong trạng thái đê mê dưới ánh sáng lung linh phản chiếu trên mặt biển, và chúng ta có thể hoàn toàn đắm mình vào trong một hoạt động. Nhận thức và sự tập trung có định hướng chính là chìa khóa dẫn đến những giây phút thăng hoa như thế. Thậm chí, có thể chính những trạng thái tinh thần này giải thích được những trải nghiệm huyền bí xuất hiện trong tâm trí con người. Một nguồn quan trọng nữa dẫn đến hạnh phúc chính là sự phát triển tối ưu tài năng và tiềm năng của ta. Nhưng không ai sống cho chỉ một mình mình. Vì lý do này mà phần bốn và phần cuối cùng của sách sẽ đề cập đến những điều kiện phải có trong xã hội để mọi công dân có thể tham gia - nói như lời bản Tuyên ngôn Độc lập - “cuộc mưu cầu hạnh phúc.” Ở đâu có ý thức về cộng đồng, về sự Công bằng và việc tự làm chủ cuộc đời mình, ở đó cơ hội để một cá nhân có thể sống một cuộc sống hạnh phúc luôn là tốt đẹp. Vậy thì vấn đề là làm thế nào để xã hội như là một tổng thể, cũng như từng cá nhân thành viên của nó, có thể tạo ra một văn hóa hạnh phúc. Hai nghìn năm trước, các nhà thông thái đã ý thức rằng mọi người đều có thể sống hạnh phúc hơn. Ngày nay, nhờ hiệu quả đáng ngạc nhiên của lĩnh vực khoa học thần kinh, ta không còn nghi ngờ điều này: chúng ta có thể học để có hạnh phúc. Mời các bạn mượn đọc sách 6 Tỉ Đường Đến Hạnh Phúc của tác giả Stefan Klein.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hầm Bí Mật Bên Sông En-Bơ
 Khoảng 10 giờ sáng, một chiếc xe lửa chạy tới nhà ga ngoại ô. Một ông già theo đám đông bước xuống sân ga.         Bề ngoài của người hành khách không có gì đặc biệt, râu ria đều bạc trắng và xén ngắn, đôi mắt đen dửng dưng và hơi có vẻ mệt mỏi, cái mũi nhỏ và cân đối. Ông ta mặc bộ áo quần bằng thứ vải rẻ tiền, đội mũ chụp bằng da cừu, thân hình khô đét, dáng điệu nhanh nhẹn, cứng rắn.         Sau khi ra tới quảng trường trước ga, ông ta đi về phía bể. Ở đây là những dãy nhà một tầng cũ kỹ xây bằng đá ong sù sì. Ông già đội mũ chụp lững thững dạo bước dọc theo dãy phố, liếc nhìn số nhà rồi cuối cùng đi đến một căn nhà lụp xụp đằng trước có mảnh vườn con.         Ông ta lượn hai lần trước căn nhà như để nghiên cứu. Sau đó tiến về phía cửa hàng thực phẩm gần đấy và đứng vào đuôi đoàn người đang xếp hàng dài trên vỉa hè cạnh lối ra vào.         Một giờ qua, ông già đã tới sát trước cửa ngôi hàng thì có một người từ trong căn nhà nhỏ đi ra. Nhác thấy người đó, ông già đằng hắng, nhấp nhổm đổi từ chân này sang chân nọ, rồi vội vàng móc trong túi ra một chiếc ví bằng da nai vàng. Ông ta mở ví, ngửng đầu lên, bắt gặp cái nhìn của người đàn bà có tuổi bế con đứng cạnh, liền lắc đầu ra vẻ bực tức. Bà kia hỏi:         - Có việc gì thế cụ?         Ồng lão ngán ngẩm nhếch mép cười, bối rối càu nhàu:         - Đứng chầu chực mất bao nhiêu là thời gian! Thế mà lại quên mất phiếu ở nhà!         - Thế thì cụ chạy về nhà đi, quàng lên, nếu không thì quá lượt mất.         Ồng già gật đầu ra vẻ cảm ơn rồi chạy lon ton trên hè phố.         Cái người vừa từ căn nhà nhỏ có vườn con đi ra đang bước đằng trước, cách chừng hai trăm bước. Đó là một người đàn ông cao gầy, mặc áo bờ-lu-dông bằng da hải ly và đội mũ bịt tai của bộ đội.         Chả mấy chốc hai người đã tới bến xe điện. Hành khách đang đợi đông nghịt. Hai mươi phút sau xe điện mới chạy đến. Mọi người đổ xô lên xe, rồi đoàn xe điện lao về phía trung tâm thành phố. Qua từng bến xe, người lên mỗi lúc một đông.         Ông già và người đội mũ quân phục đứng cạnh nhau.         Đột nhiên ông già vồ lấy túi áo và rú lên:         - Kẻ cắp!         Trong toa xôn xao. Ông ta thì vẫn sờ nắn trong mình, vỗ túi, thọc tay vào ngực áo rồi cả quyết nói:         - Mất cắp rồi! Nó cuỗm cái ví của tôi, trong đó lại có cả phiếu thực phẩm nữa chứ!         Bỗng ông già im bặt, suy nghĩ điều gì và quay phắt lại, mặt giáp với người đội mũ trùm tai.         - Đồ chó đẻ, chính mày xoáy của tao! Ví tao đâu? Giả đây hay là để tao gọi công an!         Lảng tránh ông già xấn xổ, gã kia bước giật lùi về phía cửa. Chợt khổ chủ kêu lên:         - Trông kìa! Trông đây này!         Ai nấy ngó xuống dưới. Chiếc ví da nai vàng đang nằm lăn lóc trên sàn xe bẩn thỉu, ẩm ướt. Ông già xông tới túm lấy ngực gã ăn cắp.         Xe điện đã đến bên đỗ. Ổng già vừa chửi mắng không ngớt miệng vừa lôi tên móc ví ra cửa. Khi họ đã xuống đến bậc vỉa hè chợt tên này ưỡn thẳng người lên thụi cho ông già một quả rất nhanh vào đúng giữa ngực ngã lăn ra, rồi ù té chạy.         Hắn lủi theo phố vắng, nghiêng đầu, giơ quả đấm lên đe dọa.         Chỉ còn mấy chục bước nữa là hắn rẽ vào một ngõ ngang, chạy qua đó cho tới đại lộ đông đúc và ở đây thì có mà giời tìm ra hắn trong dòng người cuồn cuộn.         Một đội tuần tra hiện ra trước mặt. Tên ăn cắp ngoái nhìn quanh. Đằng sau khoảng chừng mười người rượt theo, chạy tỏa ra khắp phố. do anh công an dẫn đầu. Khó mà lọt qua lưới bổ vây này. Nhưng thoát khỏi ba người lính có súng đang tiến đến đón đầu lại càng gay hơn. Trong giây phút quyết định tên thủ phạm thoáng thấy cái cổng trước sân nhà ai liền đâm bổ vào đó.         Khi những người đuổi bắt chạy được vào sân thì tên ăn cắp đang trèo thoăn thoắt trên chiếc thang cứu hỏa dựng vào tường một tòa nhà lớn. Hắn đã lên đến tầng thứ ba.         Hai chiên sĩ tuần tra đeo súng tiểu liên vào sau lưng rồi cùng trèo lên thang. Người lính thứ ba cùng với anh công an chạy vội vào cửa để trèo lên mái nhà bằng lối khác. Đám người hiếu kỳ xúm xít trong sân. Tên phạm tội trèo hết bậc thang và lẩn mất trước mắt họ...         Nhưng chỉ lát sau bóng người công an đã nhô lên trên mái nhà. Anh ta vẫy mũ để mọi người hiểu rằng tên ăn cắp đã bị bắt.         Anh công an trao hắn cho các đồng chí bộ đội giữ rồi chạy đi tìm khổ chủ. Nhưng lão già biến mất tăm... Mời các bạn đón đọc Hầm Bí Mật Bên Sông En-Bơ của tác giả Aleksandr Nasibov.
Người Đầu Tiên Trong Danh Sách
MagdalenaWitkiewicz- tác giả các cuốn sách đã in tại Nhà xuất bản Trẻ: Trường học dành cho các bà vợ, Lâu đài cát… hiện vẫn đang là tác giả có sách bán chạy nhất của văn học Ba Lan hiện đại. Tác phẩm mới của chị - Người Đầu Tiên Trong Danh Sách - là một tác phẩm ấm áp, xúc động về tình yêu, tình bạn. Thông điệp của tác phẩm: Không bao giờ là quá muộn để thay đổi một điều gì đó trong cuộc sống. Tình cảm thiêng liêng sẽ đưa con người vượt qua mọi lốc xoáy của số phận "Bạn không thể thay đổi quá khứ, nhưng bạn vẫn còn cơ hội để thay đổi tương lai…" *** Magdalena Witkewicz là nữ nhà văn Ba Lan đã có 9 cuốn sách được xuất bản, chuyên viết về những vấn đề quan trọng với văn phong nhẹ nhàng. Magdalena Witkiewicz hiện vẫn đang là tác giả có sách bán chạy nhất của văn học Ba Lan hiện đại. Magdalena Witkiewicz có một số tiểu thuyết rất hay về hôn nhân như: Trường Học Cho Các Bà Vợ Lâu Đài Cát Chuyện kể của người đàn bà không chung thủy, Người đầu tiên trong danh sách ... *** Nếu như hỏi một trong số những phụ nữ đang ngồi bên đống lửa trại kia, rằng tình bạn hay tình yêu quan trọng hơn, thì chỉ mới cách đây chưa lâu thôi, ai cũng sẽ trả lời rằng, tình yêu. Tình yêu, mà đôi khi thường là sự say mê, quyến rũ đã được đẩy lên vị trí số một. Nhiều khi phải trả giá bằng cả một tình bạn lớn. Song, gần đây có những sự kiện đã chỉ ra rằng, không một người đàn ông nào đáng giá cho hai mươi năm bị mất đi. Nhưng đôi khi phải cần đến hai mươi năm để có được một điều gì đó quan trọng nhất. - Thế thì cái gì ở vị trí số một? - người đàn bà cao đang quấn chiếc túi ngủ cho chặt hơn và hít điếu thuốc lá mỏng, hỏi. Chị ta với lấy chai rượu vang. - Đừng hút nữa! - Tất cả những người còn lại đồng thanh nói. Người trẻ nhất giữ chiếc cặp màu hồng. Những tờ giấy được cất trong đó một cách cẩu thả lộ cả ra, như thể bị ai đó vội vàng nhét vào cặp. Có thể thấy rõ là chúng đã được đọc nhiều lần. Cô gái ôm nó như ôm một tài sản quý giá nhất. Ngồi cạnh cô bên đống lửa là ba phụ nữ. Một người ngồi co chân, quấn chiếc chăn len, hai người kia quấn chung một chiếc túi ngủ, nhìn nhau hoài nghi. Giống như những người quen biết nhau trước đây, đã lâu không gặp và giờ bỗng nhiên tìm thấy nhau trong đám đông. Hay là đúng như vậy? - Đây sẽ là điếu cuối cùng - người đàn bà tóc vàng cười và e dè nói. - Cần phải khép lại chương này. - Chị ta lại hít sâu một hơi thuốc và kéo chiếc túi ngủ mạnh hơn. - Tôi quên mất là vào tháng Tám, buổi tối trời đã lạnh, và có lẽ phải đến cả trăm năm rồi tôi không nằm trong lều trại. - Ờ, một trăm năm thì chưa - người phụ nữ ngồi cạnh cười vang. - Chắc chắn là phải trên hai mươi - người đàn bà tóc vàng trầm ngâm. - Có thể thế... Khi ấy trăng cũng chiếu sáng như thế này, bà nhớ chứ? - Piotr chơi guitare... - Ina! - những người đàn bà lại đồng thanh lên tiếng. - Ok! Sẽ lần lượt. Ai đầu tiên nào? - Ina nhắc lại câu hỏi. - Bà. - Tại sao lại là tôi? - Người phụ nữ dập điếu thuốc, vẻ tức giận. - Tại sao à? Vì bà là người đầu tiên trong danh sách. Mời các bạn đón đọc Người Đầu Tiên Trong Danh Sách của tác giả Magdalena Witkiewicz.
Cuộc Thử Thách Trí Tuệ
Cuộc thử thách trí tuệ là một tập truyện tưởng tượng khoa học dịch của nhiều nước, trong đó có Liên Xô, Mỹ, Ba Lan … là những nước rất phát triển thể loại này. Nội dung của tập sách khá đa dạng, bao gồm nhiều chủ đề khác nhau. Nếu như truyện “Con ngỗng đẻ trứng vàng” có thể coi là một giả thuyết khoa học độc đáo, táo bạo, thì các truyện “Thần dược Cơpphin”, “Cuộc đuổi bắt ban đêm” lại là lời cảnh báo đối với cá phát minh khoa học đẻ non, dẫn đến những hậu quả tai hại; nếu các truyện “Sợi râu của Môhamet”, “Cuộc thử thách trí tuệ” đề cấp tới khả năng tồn tại của những nền văn minh khác ngoài Trái Đất, thì các truyện “Một cuộc thí nghiệm”, “Mối tình ngoài thời gian” lại trở về những đề tài muôn thuở là tình yêu và lẽ sống ở đời; nếu ở truyện “Vụ giết người bằng tinh thể”, tri thức khoa học là phương tiện để tìm ra chân lý, thì ở truyện “Lời giải”, phẩm chất của nhà khoa học lại là yếu tố được nhấn mạnh… Những truyện trên có thể khác nhau về chủ đề, phong cách tác giả, nhưng tựu trung lại đều là những bài học bổ ích về phương pháp tư duy lôgic, khoa học trong các vấn đề đặt ra. Tuy vậy, đây chưa phải là một tập tuyển với đầy đủ các yêu cầu nghiêm ngặt của nó, mà chỉ là một tập hợp các truyện được chọn dịch ít nhiều mang tính ngẫu nhiên. Trong quá trình làm, chắc chắn tập sách không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Mong bạn đọc lượng thứ và cho ý kiến giúp đỡ. NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT Nguồn sách, chụp ảnh: 4DHN Xử lý file pdf: @putin503 *** Không thể quay ngược kim đồng hồ, sống trong thời gian đã trôi qua trước khi chúng ta được sinh ra. Quá khứ đối với chúng ta là không thể nào đảo ngược được. Tuy vậy tôi đã có dịp đến thăm thời kỳ xa xưa và sống trên Trái Đất hàng trăm nghìn năm trước. Đó là tôi và cũng không phải là tôi. Tôi đã nhìn thấy tất cả bằng chính “mắt mình”, mặc dù đó là mắt của một người khác không quen biết. Một người ư? Liệu có thể gọi đó là người được không? Có một lần, Strashimir Lozev đến thăm tôi. Trước đây, lúc ở trường trung học chúng tôi là bạn thân với nhau. Rồi cuộc sống đã chia lìa hai đứa. Mãi sau này ngẫu nhiên gặp lại nhau trên đường phố, chúng tôi quyết định nhất thiết phải đến thăm nhau để hồi tưởng lại “cái thời xưa ấy”. Sau những câu đùa thân mật theo thông lệ, Lozev lấy từ trong túi áo ra một chiếc lọ con và đặt nó lên bàn. – Cậu hãy nhìn kỹ cái vật này và nói cho mình biết nó được làm từ chất liệu gì và dùng để làm gì? Mình muốn biết ý kiến cậu. Thoạt đầu tôi nhìn anh bạn tôi rồi đến đồ vật. Đó là một ống trụ nhỏ trong suốt. Phía trong hiện rõ một cái lõi mảnh trăng trắng. Hình như chiếc lọ có vẻ rất nặng so với kích thước của nó. Tôi lật đi lật lại chiếc lọ trên tay, đoạn hỏi: – Cậu lấy nó ở đâu ra thế? – Hượm đã, đừng vội – Lozev cầm lấy chiếc lọ, mở ra với vẻ thành thạo và đưa cho tôi cái lõi. – Xem này, đây mới là cái quan trọng nhất. Một sợi dây trắng quấn quanh cái lõi mảnh. Tôi tìm thấy đầu sợi dây và bắt đầu gỡ ra. Mềm, dễ uốn giống như một sợi dây thép mảnh, nó nặng một cách lạ lùng. Lozev bật diêm, đốt một đầu sợi dây. Rồi cậu ta đề nghị tôi cũng làm như vậy. Sợi dây không những không cháy mà vẫn còn lạnh nguyên, thậm chí không hề bị đen đi. Tiếp đến Lozev bắt tôi tìm dao và đề nghị tôi cắt lấy một mẩu. Nhưng cố gắng của tôi chỉ vô ích: sợi dây uốn mình, trượt ra. Tôi cố gắng hết sức nhưng chỉ làm đứt ngón tay. – Nào, cậu nói gì nào? – anh bạn tôi hỏi. – Giống như một sợi tơ gì đó mặc dầu mình chưa bao giờ thấy một cái gì tương tự. Ống trụ và lõi như làm bằng thủy tinh, nhưng rất nặng, còn sợi dây... Mình không thể xác định được nó làm bằng vật liệu gì. Có thể đó là một loại chất dẻo mới có tính chất đặc biệt chăng?... – Không, – Lozev phản đối một cách tin chắc, – nó không phải là chất dẻo. – Thế thì mình chịu. Cậu nói xem nào. – Được, mình sẽ nói. Đó là sợi râu của Mohammed*. • Mohammed: nhà tiên tri, sáng lập ra đạo Hồi – ND. – Sợi râu nào? Mohammed nào? – Đây là sợi râu của nhà tiên tri Mohammed. Đoạn Lozev kể cho tôi nghe một câu chuyện kỳ lạ. Bác của Lozev là đại úy Proinov, chỉ huy một đại đội trong thời kỳ chiến tranh ở vùng Balkan, đã lấy sợi râu này từ nhà thờ đạo Hồi trong thành phố nhỏ Keshan vào mùa thu năm 1912. Sợi râu đó đã làm nổi danh thành phố này trong toàn đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Tương truyền nó có đặc tính rất kỳ diệu: tự mọc, tự cuốn quanh cái lõi và chứa đựng một kho tàng thông thái lớn ngang tất cả các nhà thông thái trên Trái Đất cộng lại. Viên đại úy không giữ chiến lợi phẩm đó bên mình: làm sao mà lường được cái gì sẽ xảy ra trong chiến tranh. Bởi vậy, ông gửi chiếc lọ con có sợi tóc cho chị ông là mẹ bạn mình. Chẳng bao lâu sau đại úy Proinov chết trận. Bà chị ông không đưa cho ai xem chiếc lọ, hình như bà sợ. Chỉ sau khi bà chết nó mới đến tay bạn mình. Lozev lặng im và cẩn thận cuốn sợi tóc vào cái lõi. – Mình hy vọng, – tôi lên tiếng, – cậu cũng chẳng cần thiết phải chứng minh, nó không thể là sợi râu. – Đấy chỉ là lai lịch của nó. Bây giờ hãy nghe mình nói tại sao mình lại tìm đến cậu. Mình muốn cậu giữ lấy chiếc lọ kỳ lạ này. Không, đây hoàn toàn không phải là sự mê tín. Đơn giản là mình muốn đề nghị cậu nghiên cứu nó trong phòng thí nghiệm. Quả thực, chính tôi cũng muốn đề nghị với anh bạn tôi điều đó: tôi rất muốn hiểu rõ sợi dây bí ẩn này. Lúc đầu tôi sẽ không hé răng nói nửa lời với các bạn đồng nghiệp của tôi ở Viện hóa kỹ thuật (mà tôi là phụ giảng bộ môn điện hóa ở đó), bởi vì việc nghiên cứu sợi râu của Mohammed, chỉ có thể làm cho mọi người cười nhạo mà thôi. Trước hết, tôi muốn cắt lấy một mẩu của sợi dây bí ẩn đó. Nhưng thất bại hoàn toàn. Tôi dùng kéo, sau đến rìu, và kết thúc bằng chiếc máy lớn dùng để thử sức chịu kéo của vật liệu. Sợi dây dày gần 0,07mm (vừa bằng chiều dày của một sợi tóc) chịu được một tải trọng khổng lồ – năm tấn. Nó không đứt mà chỉ bị trượt ra khỏi trục gá. Tôi tiến hành vô số những phương thức nghiên cứu khác nhau đối với sợi dây. Nó không bị đứt, không chịu tác động của bất kỳ hoạt chất hóa học nào, không bị nóng chảy dưới ngọn lửa đèn khí, không dẫn điện, không nhiễm từ, không... và không... Tóm lại, trong tay tôi là một vật được cấu tạo từ một chất mà khoa học chưa biết đến. Nhưng đó là cái gì? Làm bằng chất liệu nào? Đúng như dự đoán, khi tôi thông báo với ban lãnh đạo Viện về “sợi râu của Mohammed”, họ đã không tin. Tôi đề nghị họ làm lại các thí nghiệm của tôi. Kết quả đúng như đã xảy ra. Có lẽ sự việc kết thúc ở đó, nếu tôi không có dịp được sang Liên Xô. Tôi quyết định chia xẻ những băn khoăn của mình với các đồng nghiệp Xô viết. Sau khi tới Moskva tôi chuyển chiếc lọ đến phòng thí nghiệm của một viện nghiên cứu và kể tất cả mọi điều tôi biết về nó. Sau hai tuần người ta gọi điện thoại cho tôi và báo rằng viện trưởng muốn gặp tôi. Ông là một nhà bác học có tên tuổi trên thế giới. Tất nhiên, tôi vội vã đến gặp ông: Mời các bạn đón đọc Cuộc Thử Thách Trí Tuệ của tác giả Nhiều Tác Giả.
Trên Mảnh Đất Người Đời
Trên Mảnh Đất Người Đời là tác phẩm văn học kinh điền nổi tiếng của Nga. Câu chuyện như được gói trong một không khí phũ phàng của cái ác và bất hạnh lồng trong một điều gì đó giống như là tình yêu tam giác. Hai người đàn ông rất khác nhau về tính cách cùng quan hệ với một phụ nữ. Và một người đàn ông bị kẻ kia hãm hại tán độc phải vào tù, mất đi người yêu và mọi thứ trên đời, gần như mất cả niềm tin đối với con người. Anh ta phải làm gì trong quãng đời hiu quạnh và ngang trái còn lại khi mà đã tắt hết mọi niềm hy vọng? Tác giả Anatoli Stepanovich Ivanov nổi tiếng với những tác phẩm Những bài hàt của Anka, Những bóng đen biến mất giữa ban ngày, Tiếng gọi vĩnh cửu, Thù địch, Trên mảnh đất người đời, Truyện một mối tình tan vỡ. *** Anatoli Stepanovich Ivanov (Anatôli Xtêpanôvits Ivanôp) sinh năm 1928 tại làng Sêmônaikha, miền đông Kazaxtan. Sau khi học hết phổ thông ở làng quê, ông vào học khoa Báo chí trường Đại học Tổng hợp mang tên Kirôp ở Alma - Ata. Tốt nghiệp đại học, ông vào làm cho tờ báo Sự thật Irtưs và nhập ngũ tại đây. Sau khi giải ngũ, Anatôli Ivanôp làm biên tập cho báo Nôvôxibir, sau đó cho nhà xuất bản ở Nôvôxibir. Từ 1958 đến 1964 là phó tổng biên tập tạp chí Những ngọn lửa Xibir. Năm 1956 Anatôli Ivanôp cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên lấy tên là Những bài hát của Anka, năm 1963 bắt đầu nổi tiếng với tiểu thuyết Những bóng đen biến mất giữa ban ngày. Bộ tiểu thuyết hai tập Tiếng gọi vĩnh cửu (1970 - 1976) được tặng giải thưởng quốc gia Liên Xô năm 1979, đã đem lại tiếng tăm và vinh dự to lớn cho nhà văn. A. Ivanôp còn cho ra mắt một loạt truyện nổi tiếng như Thù địch, Trên mảnh đất người đời, Truyện một mối tình tan vỡ và các tác phẩm khác. Chủ đề quán xuyến hầu như toàn bộ sáng tác của A. Ivanôp là sự ngợi ca giá trị tinh thần, khẳng định cái thiện, lên án và đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của cái ác trong xã hội loài người. Truyện của ông phần lớn đề cập đến những tình huống hết sức gay cấn, đôi khi đến mức bi kịch tàn nhẫn, song bao giờ cũng thấm đượm tinh thần lạc quan, tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của con người. Truyện Trên mảnh đất người đời, là một trong những truyện hay nhất, đồng thời cũng có ý nghĩa xã hội nhất trong văn học Xô Viết. Câu chuyện xoay quanh số phận của một con người, tuy phải trải qua những cảnh ngộ hết sức éo le nhưng vẫn giữ được bản chất nhân hậu và độ lượng, giữ được lòng tin vào tình yêu, vào cuộc sống, tin vào một xã hội công bằng. Giới thiệu truyện này của Anatôli Ivanôp, chúng tôi muốn bạn đọc làm quen với một tác giả tài năng của văn học Nga và hy vọng bạn đọc sẽ còn có dịp biết thêm về ông qua một số tác phẩm khác đang và sẽ được dịch sang tiếng Việt. *** Buổi ngày, khi mặt trời lạnh vừa sà xuống thấp thì sương mù bắt đầu lan trên bãi cỏ bên kia sông trên những cánh đồng đã gặt ở phía xa, dâng lên trên những khu đất trũng ngập nước. Đến chiều, những cụm sương thấm lạnh, trở nên dầy đặc và mỗi lúc một nở to hơn. Cuối cùng, chúng lặng lẽ kết lại với nhau. Màn hơi nước mờ đục ngày càng nặng hơn, trườn dần về phía đông, thoạt tiên nó phủ kín bờ bên kia, sau đó che khuất nửa dòng sông Ôbi rộng lớn nhưng đã yếu hẳn đi sau một mùa hè oi ả, rồi cứ thế lan dần sang ngôi làng bên này, đe dọa phủ kín và đè lên ngôi làng bằng cái sức nặng không trọng lượng của nó. - Cậu nói phét, Samian ạ, - Paven Đêmiđôp thốt lên. Cũng như mọi hôm, ông đang ngồi bên vách túp lều đất của mình, nhìn sang phía những cánh đồng sẫm tối bên kia sông. - Bố vừa nói gì đấy? - cậu bé Grinka, lên tám, con nuôi của Đêmiđôp, bước vào sân hỏi. Hai bàn tay dính đầy mực của cậu ôm chiếc cặp học trò đã sờn da. - Bố bảo ai nói phét cơ? - À, bố nói gã sương mù! - Đêmiđôp hất hàm về phía sông Ôbi. - Hắn đúng là thằng bịp. Grinka khịt một cái, đưa ngón tay lên quệt mũi ngẫm nghĩ. - Nó bịp thế nào ạ? - Thì nó đang dọa chúng ta đấy, con không thấy sao? Cả hai lại im lặng một lúc. Grinka - nhỏ bé, đội mũ lưỡi trai rộng thùng thình của bố, mặc chiếc áo vét dạ vừa mua ở cửa hàng bách hóa xã trước hôm khai trường. Đêmiđôp - người khô gầy, thô kệch, hai đầu gối khẳng khiu nhô hẳn ra phía trước, dưới tấm áo bông dầy cũng thấy rõ đôi vai nhọn. Tuy đã ngoài sáu mươi tuổi, đã về hưu nhưng vẫn không thể gọi ông là ông già được. Mặt ông vẫn cạo, tuy rất họa hoằn, hôm nay ông cũng vừa cạo xong, và đôi má vẫn còn đầy đặn, chưa hề bị nhăn nheo của ông bóng lên dưới ánh nắng nhạt lúc trời chiều. - Có, con có thấy, - Grinka nói, - Buổi chiều sương càng dầy bao nhiêu, thì sáng hôm sau trời càng trong bấy nhiêu. Bố vẫn bảo thế. - Đúng. Nhưng con còn thấy gì nữa không? - Không, không thấy gì nữa. - Lắng tai nghe thật kỹ xem. Thế nào, có thấy gì không? Grinka nhíu hẳn trán lại, đứng im không nhúc nhích. - Không thấy gì cả. Chỉ thấy tiếng chó đực sủa thôi. - Đồ ngốc, đấy là tiếng chó cái. Của anh đội trưởng MitrôFan. Còn gì nữa không? - Hình như có tiếng xe tải ở sân sau. Cả tiếng gì như tiếng con gái la hét. - Đấy là tiếng cô con gái bác Artamôn chăn ngựa cho nông trang, tiếng cô Klapka. - Cả tiếng những cô khác, vì có nhiều tiếng cười khúc khích. - Grinka cãi lại. - Nhưng có cả tiếng cô Klapka. Trong số đó có cả tiếng cô Klapka. Giờ là tiếng đàn phong cầm của anh lái máy kéo Lenka. Cái anh chàng Lenka khốn khổ. Có cái đàn đắt tiền, bóng như gương, thế mà không biết chơi. Nghe cứ như tiếng cưa gỗ ấy… Nhưng anh chàng cũng là tay khá, có mớ tóc trông cũng bảnh. Quả nhiên, chỉ một lát sau bắt đầu vẳng đến những âm thanh rời rạc, sai điệu, nghe rất nhỏ vì khoảng cách quá xa của chiếc phong cầm. - Đấy, thấy chưa? Thế mà hắn ta lại đe dọa, - Đêmiđôp lại hất đầu về phía bên kia sông, nơi sương mù đang lan đến. - Hắn dọa cái gì ạ? - Grinka vẫn chưa hiểu. - Hắn dọa ai? Mà làm sao hắn dọa được hả bố? - Đồ ngốc! - Mắt Đêmiđôp ánh lên giận dữ. - Thôi đi vào nhà. Có khoai tây luộc để phần con đấy. Cả hũ sữa trên bậu cửa sổ nữa… Bố còn ngồi đây lúc nữa đã… - Bố ơi, nhưng bố đừng đến cửa hàng cô Marka nhé, - Grinka van nài bố giống như Nađegiơđa, người chị nuôi đã hai năm nay vào làm ở trại quy hoạch rừng của cậu, vẫn thường van nài. Rồi cũng bắt chước chị, cậu nói thêm: - Bố đừng uống cái thứ vốtka chết tiệt ấy nữa, bố nhé! - Thôi, bước đi cho khuất mắt! - Đêmiđôp quát lên. - Đã bảo là bố sẽ ngồi đây, không đi đâu cả. Grinka bỏ vào trong nhà, và trong lúc ngồi ăn một mình, cậu thầm nghĩ, như đã thành lệ, hễ khi nào cái “mắt sói” sáng lên (“mắt sói” là tên lúc đầu bố cậu đặt ra, sau cả làng bắt chước dùng theo để gọi cái cửa sổ thấp của nhà Maria Maksêeva, cứ tối tối lại sáng ánh đèn và mụ chủ nhà dùng ô cửa ấy làm chỗ bán rượu vốtka “chẵn tiền” cho khách, nghĩa là bốn rúp một chai!), là thế nào bố cậu cũng mò đến đó; những lúc say, bố cậu thường tỏ ra hiền lành, có khi hiền hơn cả lúc tỉnh, ông thường mang về cho cậu có lúc thì những cái kẹo hay bánh đa rẻ tiền, lúc thì một chai nước chanh cũng mua ở ô cửa đó. Và trong lúc chất men chưa giã hẳn, bố cậu cứ đi vòng quanh căn buồng hẹp bảo rằng ông uống thế là đủ rồi, và hứa với cậu, với Grinka, rằng ông sẽ thôi không uống nữa, ông hay xoa đầu cậu, và có lần hình như còn khóc. Nhưng sợ Grinka nhìn thấy nước mắt, nên ông cứ phải lắc đầu thật mạnh, rồi vừa lảo đảo đi hết góc này sang góc kia, vừa lầu bầu trong cổ họng một câu hát kỳ lạ, khó hiểu: Ta là ai? Ta chẳng là ai, ta chỉ là kẻ ấy… Kẻ lạ lùng, kỳ quặc chính là ta. Ông lầu bầu một lúc mấy câu như thế rồi thôi, lăn ra ngủ. Nhưng dù sao Grinka cũng không muốn tối nào bố cậu cũng say. Cậu vẫn thích bố cậu tỉnh táo hơn là say. Vừa dọn bàn, Grinka vừa nghĩ: cậu có ông bố quả là kỳ lạ. Và mấy câu hát kia đúng là ông tự hát về ông. Cách đây ba năm ông nhận cậu từ nhà trẻ mồ côi ở Marsanikha về nuôi với một điều kiện kỳ quặc: - Tên con là Vôpka à? Từ nay ta sẽ gọi con là Grinka! - Cháu không muốn thế! - Grinka, mà lúc đó hãy còn là Vôpka nói. - Phải thế thôi. Nếu không thì không xong đâu, ta sẽ nhận đứa khác, mặc dù con có vẻ là đứa bé kháu khỉnh và cũng ngang ngạnh ra trò đấy. Rồi ông im lặng rít hết một điếu thuốc lá cuốn rõ dài, sau đó dụi mẩu thuốc lá xuống đất, họ nói chuyện với nhau trong vườn của nhà trẻ, rồi bắt đầu nói một tràng dài mà có đến một nửa những điều ông nói cậu chẳng hiểu gì cả. - Ta là người coi rừng, con ạ, nghĩa là ta canh giữ cây cối ấy mà, ta trông không cho bất cứ loại thú nào được phá rừng. Cái chòi canh của ta ở ngay trong rừng. Cây cối lúc nào cũng rì rào, rì rào… Con tưởng chúng rì rào vì gió phải không? Ồ, không đâu, con ạ. Đó là chúng chuyện trò với ta đấy. Chúng kể cho ta nghe chúng có chuyện gì vui, hay chuyện gì buồn… Hoặc giả chúng báo cho ta biết có kẻ nào vừa đi qua, kẻ đó là người tốt hay xấu. Dĩ nhiên, nếu đó là người tốt thì xin mời, cứ việc đi tự nhiên. Nhưng nếu là người xấu thì, anh bạn ạ, đừng có đùa, phải coi chừng! Rừng báo cáo lại với ta tất cả. Cây cối ấy mà. Con biết không, chúng không chỉ là cây cối đâu, mà là người sống thật sự đấy. Chỉ khi nào bị đẵn đi rồi, chúng mới là cây, là khúc gỗ chết, tóm lại là… Ta sống trong túp lều ấy cùng với con gái ta tên là Nađegiơđa. Nó cũng là con nuôi ta. Vì suốt đời ta sống một mình, chưa bao giờ có vợ cả. Tại sao ấy à? Câu hỏi ấy có khi gần hết đời mới giải đáp được con ạ. Có thể là vì ngu ngốc… Ừ, thế cũng được. Ta cứ suy nghĩ mãi, rồi cuối cùng cũng nghĩ ra chuyện đến trại trẻ mồ côi nhận đứa con gái về nuôi. Sau chiến tranh có nhiều trẻ mồ côi lắm… Nhiều hơn bây giờ. Thế là ta đến xem. Ta thích một cô bé, một cô bé thò lò mũi. Mặt cũng đầy tàn nhang như con ấy. Không hiểu sao ta thích những đứa bé mặt tàn nhang. Mỗi tội tên cô bé đó là Anna. Anka - Anka, ăn nhanh cho lớn mà đi lấy chồng. Khi nói chuyện với cô bé lúc ấy như ta đang nói với con bây giờ đây này, không hiểu sao ta bỗng nhớ đến những câu hát ngu ngốc ấy. Ta nghĩ, mình nuôi cho nó lớn rồi nó đi lấy chồng, thế là mình lại ở một mình… Ta bảo cô bé: bây giờ con sẽ là Nađegiơđa. Đối với con đó chỉ là cái tên, nhưng đối với ta nó là cả ý nghĩa cuộc đời. Ta bảo với cô bé như thế. Cứ làm như khi mang cái tên mới thì cô bé sẽ không lo đi kiếm chồng nữa không bằng mà sẽ ở lại mãi mãi với ta. Hồi đó ta ngốc quá, phải không? Con nghĩ thế nào? - Sao lại ngốc ạ? Không, bác nghĩ thế đúng lắm. Vì một khi bác đã lấy cô ấy về làm con, thì cô ấy phải là con của bác! - Đấy, ta biết ngay con là cậu bé ghê gớm lắm mà! Nhưng có điều, người anh em ạ, trách nhiệm thì đã đành là trách nhiệm, nhưng là con người thì vẫn phải sống theo tình người, cho ra con người. Mùa xuân thì nở hoa sung sướng, cả mùa hè thì sinh sôi, rồi sau đó lại đến mùa đông gặt hái. Nghĩa là sau đó phải để lại hạt giống của mình. Chỉ có ta là một mình cô độc - một con người kỳ lạ. Phải, cô bé của ta là đứa con gái tốt, Nađegiơđa lớn lên là một đứa con nết na hiền thảo. Có điều bây giờ nó hay bỏ đi Marsanikha quá - lúc thì đến đó xem phim, lúc thì đi nhảy. Ở đó có một anh chàng, con trai của một người kỹ sư trồng rừng, tên là Valentin. Chàng trai ấy, con biết không, cũng là một tay tài ba, nhưng thế mới phải coi chừng… Tóm lại là con biết chuyện đó sẽ đi đến kết thúc thế nào rồi chứ? - Con gái họ bao giờ chả thế! - Grinka, lúc ấy hãy còn là Vôpka, lại thốt ra một câu. - Nhưng cháu thì không bao giờ cháu bỏ bác đâu. - A ha, vậy là con bằng lòng rồi phải không? - Thì ở nhà trẻ mồ côi này có gì thích đâu. Nhưng cháu là Vôpka, thì bác cứ để cháu mang tên ấy. - Ồ không, không được. Dứt khoát là không thể như thế được, con ạ. - Sao lại không được ạ? Người bố tương lai của cậu lúc đó lại im lặng và rít thêm một điếu thuốc lá cuốn nữa. - Con Nađegiơđa của ta sẽ đi lấy chồng, đó là dĩ nhiên rồi. Nó sẽ lấy Valentin, hay một chàng nào đó… Ta đã nói với con là con bé lớn lên trông khá lắm - xinh xẻo, khoẻ mạnh, đùi phốp pháp. Còn mắt của nó, con biết không, Grinka - ôi cái tên Grinka mới hay làm sao - mắt của nó cứ sáng rực lên, trông thấy phải nheo mắt lại, không thì chói. Nhưng biết làm sao - ông thở dài - ta đã làm tròn bổn phận, ta đã nuôi cho nó khôn lớn. bây giờ hãy để cho nó làm bổn phận của nó. Phải làm sao trên trái đất này có nhiều người có đôi mắt trong sáng như của nó. Nó ra đi, và ta sẽ lại có một mình. Một mình ư? Không được. Nửa đêm tỉnh giấc ta bỗng nghe thấy tiếng gì kêu grin-grin-grin… Tiếng gì vậy? Tiếng cửa kính bị gió đập chăng? Không, đó là tên của con trai ta. Ta đi trong rừng và xung quay chỗ nào cũng nghe thấy grin-grin-grin. Ai thế nhỉ? Hay là tiếng chim hót? Có lẽ đúng là chim hót thật. Nhưng chúng hót về ai? Chúng hót về con trai ta…Vì thế, không thể nào giữ cái tên Vôpka được, con ạ. …Grinka dọn bàn xong, lấy cái đĩa con úp lên miệng vò sữa mà cậu vừa rót ra uống. Ngoài cửa sổ màn tối đã dầy đặc từ lâu, tựa như có người nào lấy giấy đen bịt cửa kính lại. Bố cậu vẫn chưa thấy về. Thở dài một tiếng, Grinka thu dọn chỗ ngủ, ra tắt đèn rồi chui vào trong chăn, tiếp tục nhớ lại cái quá khứ chưa xa của cậu. khi ấy, mặc dù rất tiếc rẻ phải bỏ cái tên của mình, nhưng không hiểu sao cậu thấy mến người đàn ông đứng tuổi này, và mấy lần nghe ông ta nói hai tiếng “con ơi” dịu dàng, cậu thấy ngỡ ngàng và cảm động ứa nước mắt. - Thế những con thỏ con… bác có che chở chúng không? - Lúc ấy, cậu cúi mái đầu cắt ngắn xuống để giấu ánh mắt và hỏi. - Thỏ con ấy à? Tất nhiên ta phải che chở chứ. Vì chúng là những con vật hiền lành và yếu đuối nhất mà. Chúng chơi đùa nhảy nhót xung quanh lều của ta, như bầy chim sẻ nhảy nhót xung quanh đồng cỏ xuân ấy. - Vậy thì được, cháu đồng ý. Mặc dù cậu bé đã đồng ý. Nhưng sau đó còn đẻ ra nhiều chuyện phiền phức, người ta chùng chình mãi không giao cậu cho người này nuôi. - Nhưng tuổi đồng chí hơi quá nhiều, đồng chí Đêmiđôp ạ. - ông giám đốc trại nói. - Tuổi tôi thì sao? Tôi còn khỏe lắm, tôi còn chạy trong rừng nhanh như thỏ hai chục năm nữa ấy chứ? - Người bố nuôi của cậu lúc ấy chứng minh với ông ta như thế - Mà giả dụ có chuyện gì, thì đứa con gái Nađegiơđa của tôi sẽ nuôi dạy thằng bé. Tôi sẽ dẫn nó đến đây để ông xem nó là đứa con gái như thế nào? Rồi ông dẫn con gái đến. Đó là cô gái cao lớn, khỏe mạnh, cương quyết và quả thực có đôi mắt hiền hậu và trong sáng một cách kỳ lạ, cô ta cũng chứng minh điều gì đó với ông giám đốc, sau đó cô còn phải nhiều lần chạy đến mấy cơ quan trong tỉnh để xin quyết định. Và cuối cùng xin được. Grinka sống trong túp lều coi rừng với bố và chị Nađegiơđa được vẻn vẹn có hai năm. Sống ở đó thì tuyệt nhất rồi, chả phải bàn. Có điều những con thỏ không còn đùa nghịch xung quanh lều, và nói chung chúng không dám đến gần ngôi nhà của cậu - có lẽ chúng sợ bầy chó, nhưng được cái ngay cạnh nhà có dòng suối nhỏ nước rất trong, nơi cậu cùng người chị thường câu được những con cá bống rất to, còn hai bên bờ sông thì tha hồ hái quả mâm xôi và phúc bồn tử. Nađegiơđa là cô gái hoạt bát nhanh nhẹn, lúc nào cũng cười, cả túp nhà nhỏ và cánh rừng lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười ròn tan trong trẻo của cô. Lúc nào cô cười mắt cô lại càng rực rỡ hơn. Nhưng thường cứ tối đến thì ánh mắt cô lại thôi cười. Lúc đầu Grinka không hiểu vì sao, nhưng sau cậu đoán ra - Nađegiơđa lo lắng cho bố. Và cũng phải vì, cứ tối đến là bố cậu lại đi rất lâu không thấy về, mà lúc về thường là say. Nhưng không bao giờ ông quát tháo hay chửi rủa om sòm, còn hôm nào say quá thì ông đi nằm ngay. Cũng có hôm ông cứ đi đi lại lại trong gian nhà bếp rộng rãi và i ỉ hát trong họng cái bài quen thuộc cho đến tận sáng. Một hôm Grinka nghe thấy Nađegiơđa vừa mếu máo vừa nói với bố: - Bố đừng uống cái rượu vốtka chết tiệt ấy nữa. Bố thôi uống đi. Con trai của bố bây giờ hãy còn nhỏ, bố còn phải gây dựng cho nó khôn lớn thành người. - Chúng ta sẽ nuôi nó khôn lớn, Nađegiơđa, nhất định rồi… Bố uống, nhưng bố không để mất trí khôn đâu. - Bố nói thế. Mùa đông năm ngoái bố chả suýt chết cóng là gì. Giá con không tìm thấy bố ở đống tuyết thì bố đã chết cóng rồi. - Ừ, quả có thế, con gái của bố ạ. Bố dại dột quá. Hôm ấy thằng Maksêep làm bố điên tiết, thằng chồng của Maria ấy, cầu trời cho nó chết quách đi cho rồi. Nhưng chỉ có mỗi lần ấy thôi. Còn bố bao giờ cũng uống có chừng mực. - Nhưng sao bố cứ phải uống cái thứ nước chết tiệt ấy. - Tại bố quen mất rồi… Đời bố khổ quá, đáng ra không nên sống nữa, nhưng bố vẫn phải sống. - Bố nói đến tay Maksêep ấy không biết đến lần thứ mấy rồi. Giữa bố với tay ấy có chuyện gì vậy? Sao bố không giải quyết cho xong đi? Và lập tức Grinka cảm thấy bố cậu bỗng nhiên hầm hầm nổi giận, điều chưa bao giờ thấy ở ông cả. - Thôi câm ngay! Sao mi dám tra khảo ta? Trí óc non choẹt biết gì mà nói vào… Nađegiơđa oà lên khóc nức nở làm bố cậu phải dịu ngay và bắt đầu xin lỗi: - Con gái của bố… Bố biết là bố dại dột… Bố sẽ ghìm mình, sẽ bỏ rượu. Hơn nữa bố cũng sắp về hưu, thằng Grinka cũng sắp đến tuổi đi học rồi. Phải, chúng ta sẽ chuyển về ở Đubrôvinô, sẽ mua một túp nhà ở đó. Và bố sẽ thôi không uống nữa. Đúng là uống rượu có gì vui thú đâu! Và thế là họ đã chuyển về làng sống được hơn một năm. Nađegiơđa đã đi lấy chồng, lấy anh chàng Valentin của mình, bố bây giờ thôi không làm việc nữa mà sống bằng tiền hưu. Nhưng rượu rút cuộc ông vẫn không bỏ. Mắt Grinka díp lại, giấc ngủ bắt đầu làm nhoà ý nghĩ của cậu. Trong lúc mơ màng cậu lại nghĩ rằng bố cậu là con người kỳ quặc khó hiểu. Sương mù thì ông gọi là Samian, mưa thì gọi là Mumianchê, bão tuyết là Akulia, còn ngày ảm đạm thì gọi là MitroFan. “Sương mù - Saminan thì dễ hiểu thôi, vì nghe cũng hơi giống nhau. Mưa - Mumianchê, cũng bắt đầu cùng một chữ cái. Nhưng tại sao bão tuyết lại là Akulina? Hay trời giá buốt là Filaret? A ha, hình như ông đang về…” Grinka không sao tỉnh dậy được. Dường như từ nơi nào trong thế giới xa xôi và huyền bí, vẳng đến tai Grinka câu hát quen thuộc mà riêng cậu mới phân biệt được: Ta là ai? Ta chẳng là ai. Ta chỉ là… kẻ ấy. Mời các bạn đón đọc Trên Mảnh Đất Người Đời của tác giả Anatoli Stepanovich Ivanov.