Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Đến Từ Mariupol

Trong bức ghép hình mang tên châu Âu thế kỷ 20, có một mảnh sử rời không ai muốn nhắc. Một mảnh sử rời chính người trong cuộc cũng muốn xóa đi. Đó là là lịch sử của hơn năm triệu lao động cưỡng bức người Đông Âu trong Thế chiến II. Thân phận của họ trở thành một vết nhơ mà quốc gia nào cũng muốn chối bỏ. Cố quốc coi họ là kẻ phản bội, cúi đầu đi làm nô lệ cho kẻ thù. Nước Đức, quốc gia trở nên hùng mạnh một phần nhờ mồ hôi và máu của “đám công nhân Miền Đông,” chỉ coi họ là những con vật người, sinh ra để bị bóc lột sức lao động đến hơi thở cuối cùng, trong điều kiện không hơn gì trại tập trung. Người đến từ Mariupol là khúc bi ca về một cuộc chiến nhỏ đã bị nhấn chìm trong cuộc chiến lớn: cuộc chiến giành lấy sự sống và đòi lại quyền được làm người. *** Câu chuyện hấp dẫn bởi tác giả Natascha Wodin như kéo độc giả cùng tham gia một cuộc thám hiểm trong thế giới Internet, cùng lần mò với bà từ những đầu mối mong manh về người mẹ của nhân vật xưng tôi Natalia Nikolajevna. Mẹ của bà, người phụ nữ Ukraina, một nạn nhân chiến tranh bị dồn đuổi đến Đức, bị cưỡng bức lao động và sống một cuộc đời lưu lạc. 11 năm sau Thế chiến 2, bị "bỏ quên" tại vùng đất thuộc Tây Đức, sống trong một khu vực dành cho những người lưu vong đầy cô độc, người mẹ ấy đã gieo mình xuống sông Regnitz ở tuổi 36 chẳng để lại gì ngoài cái tên Jevgenia Jakovlevna Ivashtschenko, đến từ vùng Mariupol. Nhân vật tôi đã lần lại gốc tích của mẹ mình khi thử gõ tên bà trên Internet mà chính bà cũng nghĩ rằng “gõ cho vui vậy thôi”. Sau đó tình cờ, bà được một người đàn ông chuyên kết nối các hồ sơ sau chiến tranh của vùng Mariupol nơi mẹ bà ra đi, có tên Konstantin, giúp đỡ. “Trong trí nhớ tôi, mẹ chỉ thấp thoáng như một cái bóng, như một cảm giác mơ hồ thì đúng hơn là một kỉ niệm”. Nhưng qua từng trang sách, sự mơ hồ ấy dần được hiện hình, dù ngoài họ tên mẹ, bà chẳng biết gì thêm về người sinh ra mình. Vùng đất Mariupol trong những biến động thăng trầm của lịch sử đã được tái hiện trong kí ức của từng nhân vật thân nhân mà Natalia Nikolajevna tìm thấy trong quá trình lần về nguồn cội. Câu chuyện cứ nở ra dần, mở ra dần, từ chỗ tưởng như vô vọng, bằng một cách kì diệu đã từ từ sáng rõ. Dòng họ Jakovlevitsch Ivashtschenko khi xưa tan tác với những số phận bị cơn địa chấn long trời trước Thế chiến trong cơn vặn mình từ chế độ quân chủ đi lên Chủ nghĩa xã hội đánh bật đi muôn nơi, trải dài khắp dải đất Xô viết rộng lớn, đến những đất nước xa xôi, và đặc biệt là trong lòng nước Đức, kẻ thù trong chiến tranh với Liên Xô, đất nước thuộc phe phát xít bị thua sau Thế chiến. Câu chuyện bắt đầu từ những năm nội chiến trên lãnh thổ Liên bang Xô Viết, cụ thể tại đất nước Ukraine với những thế hệ trước của người mẹ nhân vật. Trong những đối cực chính trị, những xoay chiều đổi thế tại thị trấn nhỏ Mariupol khiến các giá trị, những đúng sai lộn nhào, và mỗi phận người như gió bụi, có những thân phận rơi vào cảnh lạc lõng giữa hai chiến tuyến, ở tình thế này có thể đang là người may mắn, nhưng ngay sau đó, khi chính trị đổi ngôi thì lập tức lại thành những tội phạm chiến tranh, kẻ thù của dân tộc phải xử tử hoặc lưu đày. Tiếp đó những nhân vật bị cuốn vào Thế chiến 2. Một trong những nhánh rẽ của dòng xoáy ấy với một số người là lựa chọn lưu vong cay đắng nơi đất khách quê người, như mẹ của Natalia Nikolajevna. Theo hành trình tìm kiếm của nhân vật tôi, mỗi mảnh vụn thân phận của dòng họ năm xưa văng đến những phương trời mang theo những kí ức của chung, của riêng. Người bác Sergey là nghệ sĩ phục vụ trong Hồng quân Liên Xô, bác Lidia làm giáo viên, từng bị kết án trong một vụ án chính trị. Con cái của họ mỗi người đã tiếp nhận và "thừa kế" những di chứng của thế hệ trước. Sau cuộc chiến, họ như những miệng núi lửa đã ngưng hoạt động, trên bề mặt lạnh lùng sần sẹo là những kí ức bị kẹp chì bởi lí do chính trị: “Hồi ấy, cũng như cả hàng chục năm về sau, có họ hàng với một người như mẹ tôi là rất nguy hiểm, với một người rất có thể đã tình nguyện để bị bắt lùa sang Đức, hoặt chí ít cũng đã không tìm cách trốn, thậm chí cùng đường còn phải tự sát - như Stalin vẫn đòi hỏi những người ái quốc chân chính phải tự hi sinh như thế - để dứt khoát không sang Đức làm nô dịch cho quân thù. Hồi ấy, người ta tránh không cho con cái mình biết đến những bà con thân thích bị liệt vào hạng phản quốc như mẹ tôi, bởi vì, ai mà muốn con cái mình mang vạ vào thân chứ”. Bởi thế mà những kí ức về những người thân như cha mẹ của  Natalia Nikolajevna thường bị chôn kín hoặc đứt gẫy với các thế hệ sau. Phần lớn trong số họ cho đến thời điểm câu chuyện được dựng lại đã mang những bí mật về thế giới bên kia. Bảy mươi năm sau Thế chiến thứ 2, những nạn nhân chiến tranh đã lùi dần vào dĩ vãng, những người thuộc thế hệ thứ hai cũng đã đi đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, nhưng những tổn thương thì dường như vẫn âm ỉ cháy đâu đó trong mỗi gia đình, mỗi phận người. Họ đã ở lại như những nhân chứng cuối cùng, ghi lại những tiểu biên bản, bổ sung vào bộ dữ liệu khổng lồ về chiến tranh bằng những số phận con người. Người mẹ của nhân vật Natalia Nikolajevna, người đã buộc phải li hương đầy cay đắng, chắc hẳn đã nghĩ về nơi cội rễ với những ám ảnh kinh hoàng, và dù cuộc chiến tranh thế giới đã kết thúc cũng không có nghĩa là sự lưu lạc dừng lại, bởi bà không còn có thể cũng như không có lí do để quay về, như sự ngộ ra bi kịch thê thảm của mẹ mình của nhân vật tôi, cũng là tác giả: “Cuộc đời của một kẻ lạ trên đất Đức có lẽ không có gì là mới mẻ đối với mẹ tôi, mà đúng ra, chỉ là sự kéo dài thêm kiếp đời bà từng nếm trải mà thôi. Hóa ra, tự bao giở bao giờ đến nay tôi đã hiểu sai về mẹ tôi. Mẹ vốn không phải là người bị bẩy rễ khỏi quê hương, mà ngay từ đầu bà đã là kẻ vô quê hương, không gốc nguồn, không cội rễ, một kẻ tha hương ngay từ lúc mới mở mắt chào đời”. Bìa sách đề thể loại là tiểu thuyết, nhưng câu chuyện và những bức ảnh các nhân vật sau đề mục bắt đầu mỗi phần đều cho thấy đó là một câu chuyện có thật. Một tiểu thuyết phi hư cấu thành công, như con đường mà một nữ tác giả khác cũng thuộc Liên bang Xô viết trước đây, Liên bang Nga sau này, Svetlana Alexievich, người Belarus, đã đi và giành được vinh quang văn chương với giải Nobel 2015, tác giả của Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ, Những nhân chứng cuối cùng. Ở Natascha Wodin, bà đã đi xa hơn Svetlana Alexievich khi đã xử lí tư liệu một cách nhuần nhuyễn trong một câu chuyện miên viễn trải dài trong một không gian rộng lớn, thời gian kéo dài gần cả trăm năm. Điều thú vị là song song với tư liệu, tác giả đã để nhân vật thả trí tưởng đi xa nhất trong những hình dung, dự đoán về mẹ, tự vẽ ra, tự suy đoán, đưa ra những giả thuyết về cuộc đời của mẹ mình cùng những người thân của bà, mà những giả thuyết, suy đoán, những tình huống ấy chắc hẳn có thể đúng với nhân vật, hoặc đúng với bất kì một phận người nào trong cơn lốc xoáy của chiến tranh trong số hàng triệu công nhân miền Đông trên đất Đức.  Cuốn tiểu thuyết tư liệu pha trộn yếu tố trinh thám này đã khiến độc giả hồi hộp cùng tác giả lần theo cây phả hệ của gia tộc bên ngoại của nhân vật tôi với những kịch tính nhẹ nhàng. Tưởng như vô tăm tích bởi sự lưu lạc theo dòng cuốn tàn khốc của chiến tranh, thế nhưng sự bám víu theo những thông tin mơ hồ trong tiện ích công nghệ của thời đại, khi mà mọi thứ được hòa mạng Internet, câu chuyện được bóc tách, hé lộ từng lớp trên một lối đi chênh vênh giữa khoa học và tâm linh, giữa lí trí và tình cảm, giữa sự mù mờ và sáng rõ. Chiến tranh không ở phía những người ra trận cũng tàn khốc và làm biến dạng biết bao cuộc đời, bẻ lái biết bao số phận. Natascha Wodin đã trả được món nợ quá khứ của mẹ bà, chạm vào trái tim của người đọc với sự đồng cảm sâu sắc. Giống như bác Lidia của bà, người đã vượt qua tất cả những cực hình nơi nhà lao, sự cưỡng bức, hãm hiếp, những hình phạt lao động khổ sai nơi rừng thiêng nước độc, đã vẫn sống, sống để làm nhân chứng cho những gì đã trải qua. Năm mươi năm sau, khi đã ở tuổi tám mươi, bà Lidia đã viết lại những gì đã trải dưới dạng hồi kí vào hai tập vở. Để rồi như một dự báo, nó tưởng như đã bị chôn vùi, quên lãng thì người cháu từ nước Đức sau khi tìm kiếm, chắp nối các mối quan hệ rời rã phập phù đã lần ra manh mối, có được chúng để dựng lại câu chuyện về một góc tối tăm của Đế chế Nga trước đây trong cơn vặn mình lịch sử với những vinh quang và đớn đau của một dân tộc vĩ đại. Với giọng văn nữ tinh tế cùng thái độ khách quan với lịch sử, có thể nói Natascha Wondin đã bay lượn đầy cảm xúc trên nền tư liệu, dung hòa giữa lí trí và tình cảm để gọi hồn cuộc chiến, gọi tên những khuất lấp lịch sử. Có lẽ đây là lí do khiến các nhà phê bình và những người tổ chức hội sách Leipzig tại Đức đã coi cuốn sách này là "một cuốn tiểu sử có những yếu tố của sự hư cấu nghệ thuật". Đọc Người đến từ Mariupol thấy rằng, điều tệ hại nhất của chiến tranh là nó đã bóp chết tâm hồn con người một cách vĩnh viễn. Hoá ra cuộc chiến ấy, sau gần tám mươi năm vẫn còn những sợi dây kết nối đâu đó ở những người của hôm nay, mơ hồ hay hiện hữu là do cách mà mỗi người ứng xử với nó mà thôi. “Nhiều năm nay rồi, tôi bỏ công cố tìm một cuốn sách nào đó viết về những công nhân dạo xưa từng bị cưỡng bức lao động, tức là cố tìm cho ra một tiếng nói văn học về họ để bấu víu dựa dẫm, nhưng đều vô ích. Nạn nhân sống sót từ các trại tập trung trở về đã viết nên hàng loạt các tác phẩm văn chương mang tầm quốc tế, sách họ viết về nạn diệt chủng đối với người Do Thái xếp đầy các thư viện, thế nhưng, những công nhân không phải Do Thái hồi đó bị bắt đi cưỡng bức lao động lại im lặng, chẳng ai viết lách gì”, đó là một đoạn tự sự của nhân vật Natalia Nikolajevna trong tác phẩm và có lẽ cũng là của tác giả. Phải chăng đó cũng là lí do mà Người đến từ Mariupol khi ra đời đã được đánh giá cao tại Đức. Cuốn sách đã giành được một số giải văn chương tại đất nước này như Giải thưởng văn học Alfred Döblin, Giải thưởng Hội chợ sách quốc tế tại Leipzig (CHLB Đức) năm 2017. *** Được giới thiệu là cuốn sách về thân phận 5 triệu người Đông Âu bị biến thành lao động cưỡng bức ở nước Đức trong Chiến tranh thế giới thứ II nhưng mảng truyện hấp dẫn hơn, bi thương hơn, chiếm nhiều trang sách hơn lại là viết về họ dưới một thể chế toàn trị. Là lao động cưỡng bức, họ bị phát xít bóc lột, tra tấn, tàn sát, sự ghê rợn cả thế giới đều biết từ lâu. Nhưng ngay trong và sau chiến tranh, họ bị cố quốc coi là kẻ phản bội, hợp tác với quân thù. Rồi sau chiến tranh, phải cư trú ngay trong lòng nước Đức thua trận, họ còn bị người Đức bản địa kỳ thị, tẩy chay, bức hại, vì bị coi là thuộc phía kẻ thù gây ra thảm họa. Nhưng cuộc sống ngục tù trần gian còn xảy ra trước cả khi họ bị lừa phỉnh trở thành người lao động, phải rời bỏ quê hương để sang nước Đức phát xít. Một lịch sử đau thương được gỡ dần ra ở Ukraine, trải dài từ sau cách mạng, sang nội chiến ở Liên Xô, cho đến khi bị phát xít Đức bao vây trong Chiến tranh thế giới thứ II. Như đã nói, đây là mảng truyện lôi cuốn nhất, được đào xới sâu sắc nhất và lay động tâm can nhất. Đọc Người đến từ Mariupol, người ta cùng lúc nhớ đến hai tác giả đoạt giải Nobel văn chương. Đặt bên Aleksandr Solzhenitsyn (Nobel 1970), câu chuyện của Người đến từ Mariupol sâu đậm hơn và gây chấn động hơn nỗi trần ai ở quần đảo Gulag. Đặt bên những thiên phóng sự của Svetlana Alexievich (Nobel 2015, Chiến tranh không có một gương mặt phụ nữ, Những nhân chứng cuối cùng), vốn là những bản gỡ băng phỏng vấn được sắp xếp có hàm ý, thì khả năng tổng hợp và chọn lọc tư liệu của Natascha Wodin gây ấn tượng hơn. Tác giả thể hiện một phương pháp điều tra báo chí rất tinh xảo và chính xác, đồng thời bộc lộ trí tưởng tượng phong phú trên nền tư liệu. Câu chuyện của đại gia đình, từ ông bà cha mẹ, chú bác cô dì cho đến những người em, đứa cháu, chỉ từ tư liệu mà được trí tưởng tượng của tác giả tái hiện và bóc gỡ đến tận cùng. Phương pháp điều tra, trí tưởng tượng cộng với nhập thân hết mình vào nhân vật là những yếu tố nổi bật ở tác giả, khiến người đọc có lúc say mê đến mức thấy mình có thể đồng nhất và rung cảm với những số phận trong sách. Tác phẩm đã tạo ra một sự kiện văn chương ở CHLB Đức, đoạt giải thưởng của Hội chợ sách quốc tế Leipzig năm 2017 và Giải thưởng văn học Alfred Döblin… Hồ Anh Thái *** Nữ nhà văn Natascha Wodin sinh ra tại Fürth, bang Bayern CHLB Đức, trong một gia đình hai vợ chồng người Ukraine (thuộc Liên bang Xô viết trước đây) bị bắt sang Đức quốc xã làm nhân công lao động cưỡng bức năm 1944. Một năm sau, năm 1945 - cũng là năm kết thúc Thế chiến thứ 2 - Natascha Wodin được sinh ra. Bà lớn lên trong các trại dành cho người di cư trước khi chuyển vào ở nội trú tại một trường nữ sinh trực thuộc Giáo hội Thiên chúa giáo cho đến khi trưởng thành. Bà sinh sống và làm việc tại Đức. Sau khi tốt nghiệp trường chuyên ngữ, bà chuyển sang viết văn và biên dịch. Người đến từ Mariupol xuất bản bởi Nxb Hội Nhà văn, Tao Đàn phát hành, tác phẩm do Hoàng Đăng Lãnh dịch.   Mời các bạn mượn đọc sách Người Đến Từ Mariupol của tác giả Natascha Wodin & Hoàng Đăng Lãnh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cô Gái Chơi Dương Cầm
Cô gái chơi dương cầm (nguyên bản tiếng Đức: Die Klavierspielerin) là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của của nữ văn sĩ người Áo Elfiede Jelinek. Tác phẩm xuất bản năm 1983 và được đông đảo người đọc đón nhận. Trong cuốn tiểu thuyết này, Jelinek bóc trần những gì được coi là cấm kỵ trong cuộc sống gia đình người Áo. Cuốn tiểu thuyết bày ra một liên hệ rất không bình thường giữa cô giáo và bà mẹ già độc đoán. Erika là cô giáo dương cầm tài giỏi bậc nhất tại nhạc viện Vienna. Nhưng sự nghiêm trang và đứng đắn của Erika có thể chỉ là vẻ giả tạo bên ngoài. Một khi đã bước ra khỏi căn phòng dạy nhạc, người phụ nữ này lại lén lút đến xem phim tại một cửa hàng phim khiêu dâm, rình mò những đôi trai gái làm tình và luôn giấu sẵn một lưỡi dao cạo trong người để cắt xẻo da thịt của chính mình. Mối quan hệ của Erika và những người xung quanh lại càng bất thường hơn. Người phụ nữ ngoài 30 này vẫn bị bà mẹ độc đoán kiểm soát mọi lúc mọi nơi. Đối với học trò, Erika lại tỏ ra rất lạnh nhạt và nghiêm khắc. Cô sợ mất đi vị trí độc tôn của mình nên tìm cách trù dập những sinh viên tài năng nhất. Nhưng có một chàng sinh viên đã lọt vào mắt xanh của Erika. Cậu là Walter, một sinh viên chuyên ngành kỹ sư rất điển trai với ngón đàn điêu luyện. Thấy Erika lạnh nhạt, Walter lại càng muốn chiếm lấy tình cảm của cô. Cậu học trò Klemmer cũng là một con người có cuộc sống bị kìm hãm. Họ đến với nhau theo cách tự hành hạ, tự làm đau đớn bản thân và làm cho người khác đau. *** Elfriede Jelinek sinh ngày 20/10/1946 tại Mürzzuschlag thuộc Miền Hạ Áo. Từ 1966 đến nay, địa chỉ chỗ ở của bà tại thủ đô Vienna không thay đổi. Chính vì thế, bà luôn coi mình là dân Vienna "chính hiệu". Cha bà là người Do Thái gốc Czech, mẹ bà lại là một tín đồ rất ngoan đạo của Thiên Chúa giáo. Thuở nhỏ bà học ba-lê. Từ năm 6 tuổi, bà học dương cầm theo yêu cầu của mẹ. Đạo diễn người Áo Michael Haneke đã chuyển thể tiểu thuyết này thành phim cùng tên rất nổi tiếng và đã đoạt 3 giải thưởng trong Liên hoan phim Cannes năm 2001. Năm 2004, Elfriede Jelinek được trao giải Nobel Văn học. *** Tác phẩm: Ngoài ba tiểu thuyết lớn (Die Liebhaberinnen, Die Klavierspielerin, Lust) với những chủ đề: nước Áo với quá khứ phát xít, tuổi thơ bị đè nén, số phận phụ nữ trong chế độ nam quyền, văn hoá porno..., Jelinek còn là tác giả của một tập thơ, nhiều vở kịch, một số kịch bản phim và nhiều tiểu luận phê bình. Ngoài ra, bà còn là dịch giả với những bản dịch tác phẩm của Thomas Pynchon, Georg Feydeau, Eugène Labiche, Christopher Marlowe và Oscar Wilde.   Giải thưởng: Jelinek đã nhận được rất nhiều giải thưởng văn học uy tín của các nước nói tiếng Đức cho các tiểu thuyết và các vở kịch của bà (Trong đó có Georg-Büchner-Preis năm 1988, giải thưởng văn học lớn nhất của Đức). Năm 2004, bà được trao giải Nobel văn chương.   - 1969: Giải nhất cuộc thi Thơ sinh viên Áo   - 1969: Giải của Tuần văn hóa thanh niên ở Innsbruck cho Aus einem Iiustriertenriman (Trích từ một tiểu thuyết tranh) và bản thảo chưa xuất bản của wirsind lockvÖgel baby! (chúng ta là chim mồi, các em ạ!)   - 1972/1973: Học bổng quốc gia dành cho văn học.   - 1978: Giải Roswitha của thành phố Bad Gandersheim.   - 1979: Giải khuyến khích dự án Kịch bản phim Die Ausgensperrten (Những kẻ bên lề).   - 1983: Giải văn chương của Bộ giáo dục và nghệ thuật Áo.   - 1986: Giải Heinrich BÖll của thành phố Köin.   - 1987: Giải văn chương của bang Steiermark.   - 1989: Giải văn chương của thành phố Wien.   - 1994: Giải Walter Hansenclever của thành phố Aachen.   - 1994: Giải Peter Weiss của thành phố Bochum.   - 1996: Giải văn chương của thành phố Bremen cho tiểu thuyết Die Kinder Toten (Con cái người chết).   - 1998: Giải Georg Büchner.   - 2000: Giải manuskripte của bang Steiermark.   - 2002: Giải sân khấu Berlin của Quỹ Preuβische Seehandlung.   - 2002: Giải của thành phố Mülheim cho kịch bản Macht Nichts (không sao cả).   - 2002: Giải Heinrich Heine của thành phố Düsseldorf.   - 2003: Giải Else Lasker-Schüler của Nhà hát Pfalztheater ở Kaiserslautern cho sự nghiệp nhà viết kịch.   - 2004: Giải Lessing cho công tác phê bình.   - 2004: Giải của thành phố Mülheim cho kịch bản Das Werk (Nhà máy).   - 2004: Giải Stig Dagerman của Hội Stig Dagerman (Thụy Điển).   - 2004: Giải kịch truyền thanh viết cho người mù trong chiến tranh.   - 2004: Giải văn chương Franz Kafka (Séc).   - 2004: Giải Nobel (Thụy Điển).   Mời các bạn đón đọc Cô Gái Chơi Dương Cầm của tác giả Elfriede Jelinek.
Vương Nguyên
Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 15 tuổi, bà được gửi trọ học tại một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi, cha mẹ cho Pearl Buck về Mỹ, học tại Trường Đại học Randolph Macon (tiểu bang Virginia). Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo tại miền Bắc Trung Hoa. Từ năm 1922, bà dạy ở Đại học Nam Kinh và Kim Lăng. Năm 1925, Pearl Buck bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Gió Đông, Gió Tây (do chạy loạn Quốc dân đảng, năm 1930 mới xuất bản được). Sau đó hàng loạt tiểu thuyết nổi tiếng khác về đề tài Trung Quốc ra đời, như Đất Lành, Những Người Con Trai, Một Nhà Chia Rẽ, Người Mẹ, Những Đứa Trẻ Chậm Lớn… trong đó tiểu thuyết Đất Lành được nhận giải Pulitzer năm 1931. Năm 1933, bà được Đại học Yale tặng bằng Cử nhân Văn chương Danh dự. Năm 1938, bà được Đại học West Virginia và Đại học St. Lawrence trao tặng bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Trong Thế chiến II, Pearl Buck viết nhiều sách báo chính luận chống chủ nghĩa phát xít. Những năm 50, bà xuất bản một số tác phẩm về đề tài gia đình và xã hội Mỹ, kí bút danh I. Sedge. Năm 1951, Pearl Buck được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ. Năm 1955, bà li dị chồng và tục huyền với giám đốc một hãng quảng cáo. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ già; Những mảnh hồn sầu xứ.” *** Đây, những lý do nào đã khiến Vương Nguyên, con trai Vương Hổ Tướng, tìm đến căn nhà đất của ông nội hắn, Vương Long…   Khi ở Nam về, cãi cọ, chống đối với cha, Vương Nguyên năm đó 19 tuổi. Một đêm đông gió rét, những hạt tuyết sa lốp bốp đập vào cánh cửa sổ, Vương Hổ Tướng ngồi một mình trong căn phòng rộng lớn, trầm ngâm suy nghĩ, trước ánh than hồng của chiếc lò sưởi; chàng mơ vọng một ngày kia con trở về, một trang thanh niên anh tuấn, cầm quân xuất trận như chàng, lập chiến công hiển hách, nối chí cha tạo những võ công chàng đã hoạch định mà nay vì tuổi già chưa thực hiện được. Chính cái đêm hôm đó, không ai ngờ tới, Vương Nguyên đã đột ngột trở về.   Người thanh niên sừng sững đứng trước mặt chHổ Tướng nhận đúng con chàng, nhưng thấy con ăn vận một lối quân trang chưa từng thấy bao giờ. Đó là sắc phục của dân quân cách mạng, đối thủ với những lãnh chúa như chàng. Khi đã hiểu ý nghĩa cơ sự, Hổ Tướng như bừng tỉnh giấc mơ, đứng phắt dậy, hai mắt dán chặt vào con, tay sờ soạng tìm thanh đoản kiếm lúc nào cũng để bên cạnh người, chàng sẵn sàng giết đứa nghịch tử, như đã hạ thủ bất cứ một đối thủ nào khác. Nhưng lần này cũng là lần đầu tiên, đứa con dám cả gan bộc lộ lòng uất hận đối với cha, từ trước đến nay hắn chưa có dám thế bao giờ. Người thanh niên cởi phanh chiếc áo màu lam, để hở chiếc ngực sạm nắng, nhẵn thín, hét lên, tiếng tuy còn non nhưng rắn rỏi mạnh bạo: - Con biết ý cha muốn giết con lắm! Đó là một phương tiện độc nhất của cha! Giết con đi!   Nhưng ngay lúc đó, người thanh niên cũng biết cha chàng không đủ can đảm giết được con. Hai mắt trừng trừng nhìn cha, cánh tay Vương Hổ Tướng từ từ hạ dần, thanh đoản kiếm rơi xuống nền gạch, Vương Hổ Tướng lấy tay bưng miệng cố giữ cho đôi môi đỡ run như sắp muốn khóc. ... Mời các bạn đón đọc Vương Nguyên của tác giả Pearl S. Buck.
Linh Sơn
Linh Sơn là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Trung Quốc đoạt Giải Nobel Văn học năm 2000: Cao Hành Kiện - con người đa tài trên nhiều lĩnh vực như viết kịch, làm thơ, vẽ, viết lý luận và viết tiểu thuyết.  Linh Sơn không có truyện đủ đầu đuôi phát triển cùng xung đột, mâu thuẫn tới cao trào theo như chuẩn định. Linh Sơn cũng không có nhân vật (theo chuẩn mực thông thường) với đầy đủ diện mạo, hình hài, cốt cách, cảnh ngộ. Linh Sơn tựa như một gallery những gương mặt thấp thoáng, le lói, vừa thực vừa ảo. Nó như một bức tranh thuỷ mặc đẹp thăm thẳm nhờ những nét chấm phá điêu luyện của người hoạ sĩ.  Linh Sơn rất hiện đại ở bút pháp, bố cục nhưng cũng đầy khí cốt, hồn phách Trung Hoa. Vừa dân tộc tính, vừa hiện đại, cả hai đều ở mức cao, đó có lẽ là lý do mà tác phẩm này đã được Uỷ ban Giải thưởng Nobel lựa chọn để trao giải. *** Cao Hành Kiện (4/1/1940) là một nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình người Trung Quốc đầu tiên và là công dân Pháp thứ 13 được trao Giải Nobel Văn học trong suốt 100 năm qua. Ông cũng còn được biết đến với tư cách là một dịch giả, đạo diễn sân khấu và họa sĩ. Ông sinh ra và lớn lên ở Cống/Cám Châu, Giang Tây, Trung Quốc. Ông tốt nghiệp trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh năm 1962 ngành tiếng Pháp. Sau khi tốt nghiệp ông được phân công đến Cục xuất bản ngoại văn làm phiên dịch. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa (1966-1976) ông đã bị đưa vào trại học tập cải tạo và phải âm thầm thiêu hủy cả một va-li đầy bản thảo tác phẩm của mình, trong đó có một vài cuốn tiểu thuyết chỉ chờ ngày xuất bản và 15 vở kịch. Sau đó, ông bị gửi vào trại cải tạo giáo dục mất 7 năm. Năm 1975 ông trở về Bắc Kinh, làm việc tại Cục xuất bản Ngoại văn. Đến năm 1978 ông nhận chức phiên dịch cho Hiệp hội tác gia Trung Quốc. Năm 1980 ông về làm công tác biên kịch tại Kịch viện Nghệ thuật Nhân dân Bắc Kinh. Cao Hành Kiện là một trong những văn nghệ sĩ tiền phong của Trung Quốc đã cổ vũ, đấu tranh cho quyền sáng tác văn nghệ tự do và đích thực. Chính phủ Trung Quốc đã từng coi ông là một phần tử chống đối và các tác phẩm của ông đã bị cấm lưu hành từ năm 1986. Ông đã bỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1989 sau vụ thảm sát Thiên An Môn. Năm 1988, ông sang Pháp sinh sống và nhập quốc tịch Pháp từ 1998, hiện cư ngụ tại ngoại ô Paris, khu Bagnolet. Mười chín năm sống ở Pháp, ông đã tập trung vào viết sách, soạn kịch và triển lãm nghệ thuật. Vào năm 1992 ông đã giành được giải Chevalier de l'Ordre des Arts et des Lettres (Huân chương về Văn học và Nghệ thuật) của Chính phủ Pháp. Sau khi ông đoạt giải Nobel năm 2000, báo chí Trung Quốc không rầm rộ về việc này, nhưng tờ báo ra hằng ngày Tin tức buổi chiều Dương Thành, vào năm 2001, trong một cuộc chỉ trích về Linh Sơn đã gọi ông là một "nhà văn dở tệ" và nói rằng việc ông đoạt giải Nobel thật là lố bịch. Linh Sơn là một tác phẩm nổi tiếng của ông, tổng hợp nhiều hình thái và thể loại văn chương gồm hồi ký, chuyện tình, phóng sự xã hội, thực tế, hư cấu, triết lý, đối thoại, độc thoại... hoà quyện vào nhau. Giáo sư Lee Mabel, người dịch tác phẩm Linh Sơn sang tiếng Anh (Soul Mountain) đã nhận định: "Linh Sơn là câu chuyện của người đi tìm sự an bình và tự do bên trong". Cao Hành Kiện còn là một họa sĩ vẽ tranh thủy mặc độc đáo. Ông đã cho tổ chức khoảng 30 cuộc triển lãm tranh khắp nơi trên thế giới và nhận được nhiều lời khen ngợi. *** Mi muốn kể cho nàng một chuyện có từ đời nhà Tấn. Chuyện ni cô đến xin bố thí ở cửa một đại tướng quân nổi tiếng vì ngạo mạn. Theo lệ, người ta báo với quản gia và quản gia cho ni cô một xâu nghìn đồng chinh. Ni cô từ chối, muốn gặp thí chủ, người ban tiền cho mình. Quản gia đành chuyển đạt lời thỉnh cầu này lên tổng quản gia, tổng quản gia muốn rũ gạt nhà sư nên đã ra lệnh cho gia nhân mang đưa cho ni cô một lượng bạc. Ai dám nói ni cô lại một lần nữa từ chối, lại yêu cầu gặp đích thân đại tướng quân, khẳng định chắc chắn rằng ông ta đang lâm nạn và ni cô đến đây để đặc biệt cầu kinh hóa giải cho ông ta. Tổng quản gia chỉ còn có thể trình lên và viên tướng ra lệnh đưa ni cô vào.     Khi nhìn thấy khuôn mặt của nhà sư mặc dù đầy bụi nhưng rất thanh tú và thoát tục, vị tướng nghĩ ngay ni cô không có chút nào là kẻ lừa bịp hay một mụ đàn bà chuyên trò dâm tà, ông bèn hỏi nhà sư muốn gì. Ni cô tiến lên, chắp tay chào rồi lùi lại nói đinh ninh rằng từ lâu đã nghe thấy đại tướng quân hào hiệp và khoan dung. Ni cô từ xa đặc biệt đến đây để thực hành bảy bảy bốn chín ngày chay giới vì vong linh của mẹ tướng quân đã chết. Đồng thời ni cô cầu xin Phật A Di Đà giáng phúc cho viên tướng, phù hộ độ trì cho ông tai qua nạn khỏi. Cuối cùng, viên tướng ra lệnh cho quản gia xếp đặt một gian phòng ở sân trong và cho gia nhân sửa soạn bàn hương ở đại sảnh.     Từ hôm ấy, tiếng tụng kinh gõ mõ cứ vang lên từ sáng đến chiều trong tướng phủ. Thời gian trôi đi, viên tướng cảm thấy ngày một nguôi dịu trong lòng và sự kính trọng của ông đối với vị sư nữ không ngừng tăng lên. Nhưng mỗi chiều vị sư nữ trẻ lại bỏ ra một giờ tắm táp. Viên tướng ngạc nhiên: nhà sư không tóc thì việc gì phải bận đến đầu tóc cùng trang điểm như một người đàn bà bình thường. Vậy tại sao tắm, nghi lễ đơn giản để thanh tẩy tâm can trước khi thay hương, lại kéo dài đến như thế? Hơn nữa, vào lúc ấy, người ta nghe thấy nước chảy không ngừng. Ni cô dội nước lên mình liên tục hay sao? Tướng quân bắt đầu bị sự tò mò ám ảnh. ... Mời các bạn đón đọc Linh Sơn của tác giả Cao Hành Kiện.
Đồng Hồ Xương - David Mitchell
Mỗi người trong chúng ta là một chiếc “đồng hồ xương”, thời gian hữu hạn trôi qua, và những gì còn lại là xương cốt. Trái với con người hữu thời là những kẻ vô thời, bất tử nhờ tự nhiên hoặc bằng cách tước đoạt mạng sống của người khác, nhưng những kẻ ấy liệu có hạnh phúc hơn khi không thấy thời gian hữu hạn? Năng lực đặc biệt, khả năng thấy trước tương lai, tuổi thọ… không bù đắp được sự cần thiết về gia đình, tình bằng hữu đối với con người. Cuốn tiểu thuyết mới nhất đầy ấn tượng của Mitchell mở đầu với câu chuyện của Holly Sykes, một thiếu niên người Anh với khả năng có thể nghe được những giọng nói độc ác. Với Holly là người dẫn đường, Mitchell đã đưa người đọc của mình qua những câu chuyện thần thoại của hàng loạt người kể thuộc các thể loại khác nhau, đã thực sự đạt tới đỉnh điểm của trận chiến mà ở đó thiện và ác xoay vần mà không hề phóng đại. Cái nhìn của ông về tương lai có thể u ám, nhưng khả năng kể chuyện của ông khiến cho The Bone Clocks trở nên thú vị, đặc biệt đối với những người hâm mộ trung thành, những người sẽ được gặp lại nét quen thuộc trong các tác phẩm trước đây của Mitchell. Trận chiến gần như vĩnh viễn không kết thúc ở rìa của thế giới hàng ngày; “những chiếc đồng hồ xương” là những bầy người, cam chịu chạy xuống và chết. Đó là một chuyến đi không tưởng khi chúng ta theo chân Holly Sykes, từ người thiếu niên đào tẩu đến một bà già chứng kiến sự thất bại của văn minh. *** Mình kéo toang rèm cửa. Bầu trời khát khô, dưới sông đầy tàu thuyền lớn nhỏ lô nhô nhưng trong đầu mình chỉ có đôi mắt màu sô cô la của Vinny, dầu gội đầu chảy xuống lưng chàng, mồ hôi lấm tấm trên vai chàng, rồi nụ cười tinh quái của Vinny. Tim mình như muốn vỡ tung. Chúa ơi, ước gì mình thức dậy ở nhà Vinny trên phố Peacock, chứ không phải trong căn phòng chết giẫm này. Đêm qua những lời ấy như tự thốt ra, “Lạy Chúa, em yêu anh quá chừng, Vin à,” rồi Vinny phả khói thuốc thành đám mây nhỏ, rồi Vinny giả giọng như Thái tử Charles, “Phải nói rằng, ta cũng ưa ở cùng cô lắm, Holly Sykes à,” mình cười muốn són cả ra, mặc dù vẫn hơi bực vì chàng chẳng đáp “Anh cũng yêu em”. Thiệt tình. Nhưng mà, đàn ông con trai hay ra vẻ vớ vẩn bông lơn để mà che giấu cảm xúc, chẳng phải báo vẫn viết vậy sao. Ước gì mình gọi được cho Vinny ngay bây giờ. Ước gì người ta chế ra điện thoại có thể gọi mọi nơi mọi lúc. Giờ này hẳn chàng đang cưỡi chiếc Norton đi làm trên Rochester, chàng mặc áo da có chữ LED ZEP đính đinh bạc. Tháng Chín này mình tròn mười sáu tuổi, chàng sẽ chở mình trên chiếc Norton. Dưới nhà có tiếng đóng cửa tủ đánh rầm. Má. Còn ai đóng cửa kiểu đó nữa. Hay má biết rồi? Mình nghĩ mà quặn cả ruột. Không có đâu. Hai đứa vô cùng cẩn thận. Má đang tuổi mãn kinh nên nóng nảy. Chỉ có vậy thôi. Đĩa Fear of Music của Talking Heads đang nằm trong máy, mình hạ cây kim máy xuống. Vinny mua tặng mình đĩa này, hôm đó là ngày thứ Bảy thứ nhì tụi mình gặp nhau ở tiệm đĩa Magic Bus Records. Đĩa hay tuyệt. Mình thích bài “Heaven” và “Memories Can’t Wait” nhưng nói chung cả album không có lấy một bài dở. Vinny đã từng đến New York, từng xem Talking Heads biểu diễn. Dan bạn của Vinny làm bảo vệ ở đó nên cho Vinny vào sau cánh gà, Vinny đã gặp David Byrne và ban nhạc. Năm sau mà đi tiếp thì chàng sẽ dẫn mình theo. Mình thay đồ, ngắm mấy vết cắn yêu trên người rồi ước gì tối nay lại được đến thăm Vinny, nhưng chàng bận đi gặp bạn ở Dover. Đàn ông rất ghét đàn bà hay ghen, nên mình giả bộ không ghen gì hết. Stella - bạn thân nhất của mình, đã đi London để đi săn đồ cũ ở chợ Camden. Má nói mình còn quá nhỏ, không thể đi London mà không có người lớn, vậy là Stella rủ Ali Jessop. Ngày hôm nay mình chỉ còn trông mỗi việc hút bụi ở quầy bar để kiếm ba bảng tiền tiêu vặt. Chán mớ đời. Rồi phải ôn tập để chuẩn bị thi tuần tới. Thực lòng chỉ muốn nộp giấy trắng, dẹp hết tam giác tam giếc Py-ta-go và tiểu thuyết Chúa ruồi với vòng đời sâu bọ nhảm nhí. Có khi làm vậy luôn. Ừ, biết đâu đó. ... Mời các bạn đón đọc Đồng Hồ Xương của tác giả David Mitchell.