Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nội Tôi

“Nhiều nhà văn trẻ bắt đầu nghiệp cầm bút bằng một tác phẩm viết về chính mình. Những kỷ niệm thời thơ ấu, mối tình đầu, những ước mơ, khát vọng... Đây là điều bình thường bởi vì tuổi thơ ấu là những năm tháng đẹp nhất và thường đi theo suốt cuộc đời. Nhà văn Bùi Tự Lực đã trải qua những năm tháng tuổi thơ dữ dội, có thể nói, ít người lâm vào những cảnh ngộ éo le như anh. Nhưng cuốn sách đầu tiên của anh, cuốn “Nội tôi”, lại không phải là cuốn sách viết về mình, mà về người bà đã khuất; một người bà ba bốn năm trong một: là bà, là mẹ, là cha, là người dẫn đường, là thần tượng – bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cho nên không có gì lạ khi người bà lại là nhân vật chính duy nhất trong suốt một trăm trang sách đầu tay của anh. Cháu yêu thương, kính trọng bà là chuyện bình thường, nhưng nhớ ơn bà, tìm cách đền đáo lại là chuyện khác, còn đền đáp bằng cách viết một cuốn sách về cuộc đời bà thì càng khác nữa, không phải ai cũng làm được. Hẳn Bùi Tự Lực phải xuất thân từ một gia đình có căn cốt tốt đẹp, và việc làm của anh là một việc làm của người có văn hoá... Vâng, Bùi Tự Lực là một nhà văn có căn cốt và có văn hoá. Những người vô ơn không bao giờ là người có văn hoá, dù họ là nhà văn, giáo sư hay là ai đi nữa. Trở lại với hình tượng người bà, Bùi Tự Lực đã kể về rất nhiều chuyện cảm động và đáng khâm phục về người bà anh hùng của mình, ở đây chỉ xin nhắc lại một chuyện nhỏ, rất nhỏ, nhưng có sức ám ảnh không nhỏ. Đó là chuyện làm chông tẩm thuốc độc: “Bà nội vót chông khéo lắm, đủ các loại: chông kép, chông đơn, chông ba lá, có cả loại chông có nganh như cái lưỡi câu, vót đến đâu, bà đem xếp hàng trải phơi nắng đến đó”. “Bà nội để ngay dưới gầm giường một cái ống nhổ, đựng nắm lá rừng đã được vò nát. Bà bảo tôi cứ mối sáng thức dậy, trước khi bước xuống đất, hãy nhổ nước bọt vào đó để bà làm thuốc độc tẩm chông”. Tôi không biết chuyện nước bọt biến thành thuốc độc thực sự thế nào và thứ nước bọt buổi sáng của người cháu có gì đặc biệt, nhưng khi căm thù biến thành lẽ sống, khi người ta đủ bền gan để chờ tre thành gậy “gặp đâu đánh què” chờ nước bọt biến thành thuốc độc để giết giặc thì sự thật đã biến thành huyền thoại. Đây là một chi tiết có thật hoàn toàn nhưng lại có tính biểu tượng rất cao. Hoa chi thơm lạ thơm lùng, Thơm gốc thơm rễ người trồng cũng thơm Vâng, một cuốn sách đáng quý từ chính cuộc đời, tấm lòng người viết cho đến những nhân vật, đặc biệt là người bà.” Trần Đình Nam *** Kính viến hương hồn nội - Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Đỉnh   MẸ SANG NGANG Đ ời tôi có một thua thiệt lớn trong tình cảnh gia đình, tuổi thơ lớn lên không được sống gần mẹ. Nhưng bù lại, tôi có được sự chăm ẵm và cưng chiều của bà nội từ thuở nhỏ. Đến năm mười hai tuổi, tôi cũng chỉ biết được đại khái rằng, ba tôi bị địch bắt lưu đày, mẹ tôi ở nhà vì một lý do nào đó, nên đi lấy chồng khác ở làng bên khi tôi mới tròn bốn tuổi. Lớn lên, tôi chỉ nhớ lờ mờ về những kỷ niệm tuổi thơ với mẹ. Nghe kể lại, mẹ tôi lúc ấy là một phụ nữ có nhan sắc, quanh năm buôn bán tảo tần. Hằng ngày, mẹ dậy từ mờ sáng, lo nhổ giá sắm sửa gánh xuống chợ Vinh Huy bán, chiều về quảy một gánh gồm mắm, muối, dưa cà...bán dạo quanh xóm. Chắc vì hoàn cảnh như thế, nên lúc nhỏ, trời phú cho tôi là đứa bé dễ nuôi, hay ăn chóng lớn, lúc đói thì giọt sữa bú nhờ, sắn khoai tán nhỏ đều ăn được hết; ai bế cũng theo, bế đi đâu cũng được. Ký ức tuổi thơ của tôi còn nhớ mang máng một ngày cuối năm 1959, mẹ không đi chợ, trong nhà có vài người hàng xóm đến giúp đỡ dọn dẹp, nấu nướng. Tôi đoán chắc là có đám giỗ kỵ gì đó vào ngày mai. Tối hôm ấy, mẹ dẫn tôi sang ngồi nói chuyện với bà nội rất lâu. Mẹ vừa nói vừa khóc. Đêm về, mẹ ôm tôi khóc hoài. Một câu hát ru vô thức đã nhập vào trong tôi ngay từ dạo ấy: “Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đờn đứt dây.” Sáng hôm sau, bà nội sang đón tôi sớm. Mẹ trao vội cho bà một cái bọc lớn (chắc là áo quần của tôi) và nói trong tiếng nức nở: - Con gửi nó cho mẹ - Mẹ ôm chầm lấy tôi - Từ nay con ở với bà nội - Vừa dứt câu nói, mẹ buông tay chạy vụt vào buồng. Bà nội dắt tôi về nhà, rồi hai bà cháu ra luôn ngoài ao rau muống ở giữa đồng. Được ra ao vừa nghịch vừa tát nước với bà là tôi thích lắm. Khoảng nửa buổi, tôi thấy có đoàn người đi qua, toàn là người quen ở xóm bên, khăn áo chỉnh tề hướng vào ngõ nhà tôi. Thấy tôi mãi nhìn theo, bà nội bảo nhỏ: - Đám cưới của mẹ con đó, mẹ con đi lấy chồng khác, từ nay con ở với bà. Một sự kiện rất quan trọng đối với đời tôi như vậy, nhưng vì còn quá thơ ngây, nên tôi nhận thức mơ hồ và đón nhận một cách vô tư như nghe tin mẹ đi chợ vắng nhà. Mẹ đi lấy chồng ở xóm bên, hay gửi quà bánh về cho tôi. Tôi lần lữa lớn lên bên bà nội, nghe mọi người nói rằng bà nội rất ghét mẹ. Mẹ sợ bà, nên chỉ dám ghé thăm tôi khi bà đi vắng. Tôi nhớ có mấy lần mẹ đang ngồi chơi với tôi, khi thoáng thấy bóng bà ngoài ngõ là mẹ trốn đi cửa sau. Với nhận thức còn non nớt của tuổi thơ, tôi chỉ nghĩ một lẽ rất giản đơn là, tại mẹ bỏ tôi lại cho bà nuôi, để đi theo người khác, nên bà không ưa. Mỗi năm tôi thêm một tuổi. Những ý nghĩ nông cạn của tuổi thơ cứ thế lớn dần lên thành nỗi xót xa như kim châm khi nghĩ cảnh tự dưng mất mẹ; khoảng trống trong lòng sẽ cứ thế nới rộng mãi, nếu không có cái đêm đáng nhớ trước khi tôi thực sự dấn bước vào đời. Đêm cuối cùng trước khi tiễn tôi đi Giao bưu, bà nội căn dặn tôi nhiều điều; trong đó có một chuyện rất hệ trọng. Hôm ấy, tôi mê man trong giọng kể sâu lắng của bà: -Còn một chuyện nầy nữa, con phải ghi nhớ để mà sống cho trọn đạo làm người. Sau nầy lớn lên con sẽ hiểu thêm, phải thương và hiếu thảo với mẹ - Bà im lặng hồi lâu như để lục tìm trong trí nhớ - Vào quảng đầu thu 1954, cái đêm mẹ con chuyển dạ, ba con chỉ dám về đến bìa rừng ngồi chờ đợi, khi nghe con cất tiếng khóc đầu tiên là đi biền biệt luôn, sau đó sa vào tay giặc, bị lưu đày đi khắp các nhà lao, có thời gian bặt tin.  m mưu “Tố Cộng” và “Diệt Cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ thâm hiểm lắm. Gia đình mình bị bọn chúng liệt vào loại “Gia đình Cộng sản”. Bà và mẹ con ở nhà bị chúng nó hành hạ đủ điều; con còn nhỏ phải bế đi hết trại cải huấn nầy đến trại cải huấn khác- Tôi ngồi lắng nghe như nuốt từng lờ i- Mẹ con lúc ấy còn rất trẻ, mới ngoài tuổi hai mươi, lại đẹp người. Bọn đại diện, ấp trưởng, bí thư Quốc dân đảng... la lết suốt ngày đêm trong nhà, buộc mẹ con phải “ly khai gia đình Cộng sản” để làm vợ lẽ chúng nó. Nếu không chịu “ly khai”, thì chúng nó sẽ tìm cách bóp chết giọt máu ba con để lại. Có một hôm, mới vừa sập tối, tên địa chủ chánh đại diện lẻn vào núp chờ sẵn trong buồng; mẹ vừa bế con từ bên bà về, nó xô đến trấn áp, giành giật; may mà có bà đến giải cứu kịp thời, nếu không thì những gì tồi tệ nhất đã phải đến vào đêm hôm ấy - Bà nội ngừng lời, nhìn tôi chăm chú như vẫn còn ngỡ ngàng; bà thở dài rồi kể tiếp - Nghĩ mà cơ cực cho cái cảnh cứ đêm đêm, bà, bác Cả, bác Năm phải thay nhau thức canh chừng. Tình thế gia đình ta lúc ấy éo le lắm! - Ly khai để giữ lấy sự sống cho mai sau, hay một dạ trung thành để có được chữ kiên trinh, hoặc sống chết một phen oán thù với chúng nó. Mẹ con phải định đoạt và lựa chọn. Để tránh chịu tiếng “ly khai Cộng sản” lấy Việt gian và giữ được con, không còn cách nào khác, bà và các bác đành lòng chấp nhận phải bỏ rơi một con người, để giữ lại truyền thống và dòng giống gia đình Cách mạng. Và mẹ con chỉ còn chọn con đường nhận lời lấy một người ở làng bên, để tránh sự nhòm ngó của bọn chúng - Kể đến đây, giọng bà trầm hẳn xuống - Bà coi như từ bỏ mẹ con, vì không thể chịu tiếng gả bán dâu, còn mọi tiếng thị phi thì mẹ con phải gánh chịu hết một kiếp người. Câu chuyện về mẹ mà bà nội kể đêm hôm ấy, đã giải thoát cho tôi nhiều khuất tất trong lòng bấy lâu. Tôi hiểu rõ hơn bà và mẹ, ơn nghĩa cao vời; càng thấu hiểu lời “Ru con” của ba tôi gửi lại:  “Nín đi đừng khóc con ơi! lắng tai nghe mẹ truyền lời ba ru...Con lớn lên ơn với bà, nghĩa với mẹ muôn đời nhớ ghi, ba nguyền giữ dạ tri tri, thương con nhớ mẹ ba đi một đường, vì nhân dân một tình thương, có gian lao khó nhọc mới có con đường vinh quang.” Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, bà nội tôi không còn nữa! Mẹ tôi đến bây giờ mới ngoài tuổi sáu mươi, nhưng trông bà già hơn trước tuổi rất nhiều. Chắc gì tất cả mọi người đã thông cảm và tha thứ hết cho mẹ tôi. Câu chuyện nầy lưu truyền trong dòng họ và kể suốt các đời con cháu của tôi. Mời các bạn đón đọc Nội Tôi của tác giả Bùi Tự Lực.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thiếu Nữ Toàn Phong - Minh Hiểu Khê
AudioBook Thiếu nữ Toàn Phong "Thiếu nữ Toàn Phong" là một cuốn tiểu thuyết càng đọc càng thấy hay, đúng như Hiểu Khê đã nói, nó đẫm máu khiến người xem không ngừng bị kích động và khiến chúng ta hiểu được tại sao tác giả phải nhất định viết câu chuyện này, cái cảm giác đó giống như một gì đó đang thúc giục, thôi thúc trái tim cô phải viết ra. Câu chuyện kể về một cô gái mang tên Bạch Thảo, ngay từ nhỏ đã yêu thích môn võ Teakwondo. Sư phụ của cô vẫn thường nói: biết lễ nghĩa, khiêm tốn, nhẫn nại, biết khắc chế bản thân, chịu đựng gian khổ là những yêu cầu cơ bản nhất khi luyện tập Teakwondo. Tuy môn võ này đạt được hưng thịnh ở Hàn Quốc nhưng lại khởi nguồn từ Trung Quốc, tinh thần của nó đến từ tinh túy của văn hóa Trung Hoa, là một người Trung Quốc khi luyện môn võ này thì càng nghiêm khắc với bản thân hơn... Lúc đầu, tuy cô không phải là môn đệ của Toàn Thắng đạo quán, chỉ là người đến giúp dọn dẹp mỗi ngày, lúc quét dọn thì thuận tiện xem sư phụ dạy các môn đệ khác luyện công. Nhưng vì lòng nhiệt huyết của mình, cô đã đạt được những thành quả như nó phải thế... Ngoài ra, câu chuyện còn xoay quanh khung cảnh, các mối quan hệ, những cuộc thi đấu giữa đạo quán này và đạo quán khác... Đây là ebook trọn bộ Thiếu nữ Toàn Phong gồm có: - Thiếu Nữ Toàn Phong Tập 1: Ánh Sáng Ban Mai - Thiếu Nữ Toàn Phong Tập 2: Trái Tim Rung Động  - Thiếu Nữ Toàn Phong Tập 3: Cầu Vồng Trong Mưa - Thiếu Nữ Toàn Phong Tập 4: Tình yêu Đích Thực Mời các bạn đón đọc Thiếu Nữ Toàn Phong của tác giả Minh Hiểu Khê.
Tuyết - Maxence Fermine
Ở nước Nhật thanh nhã thế kỷ XIX. Chàng trai trẻ Vuko đã lựa chọn con đường của riêng mình: anh sẽ thành nhà thơ. Đi ngược lại mong muốn của người cha. Người họa sĩ già mù lòa Soseki, từng là samurat chiến đấu vì Thiên hoàng, dạy anh nghệ thuật thơ haiku. Bao trùm lên hai người đàn ông là hình ảnh đầy ám ảnh của người phụ nữ mất tích trong màn tuyết. Một ngôn ngữ trong sáng, súc tích và không giả tạo miêu tả tình yêu cuộc sống và cuộc kiếm tìm sự tuyệt đối. "Câu Chuyện tựa như ánh sáng và thanh tao như một bài haiku. Một câu chuyện tình yêu bất diệt" - Nhật báo La Repubbka   Maxence Fermine sinh ngày 17 tháng Ba năm 1968 tại Albertville và trải qua một phần những năm tháng tuổi thơ ở Grenoble. Tiếp đó anh đến sống ở Paris trong vòng mười ba năm. Sau khi học xong chuyên ngành văn học, anh lên đường đến châu Phi và làm việc trong một phòng nghiên cứu ở Tunisia. Nghề đầu tiên của anh là kỹ thuật viên kiến trúc đã cho phép anh có nhiều cơ hội chu du khắp nơi, nhất là đến châu Phi và giúp anh phát triển thiên hướng của mình về nghệ thuật và mỹ học. Hiện anh đang sống ở Haute-Savoie, miền Đông Bắc nước Pháp cùng vợ và cô con gái Léa tám tuổi. Anh bắt đầu sự nghiệp viết lách đã lâu nhưng đến năm 1999 mới cho xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay: Tuyết. Cuốn tiểu thuyết ngay lập tức thu hút được sự chú ý của công chúng và được coi là “một điều ngạc nhiên thú vị”. Được thành công đầu tay khuyến khích, Fermine đã chuyển hẳn sang nghiệp văn. Cũng trong năm 1999, anh ra mắt bạn đọc cuốn Cây vĩ cầm đen. Năm 2000, anh viết Người nuôi ong, cuốn sách mang lại cho anh cùng lúc hai giải thưởng Del Duca và Murat. Với sức làm việc phi thường và niềm đam mê văn học cháy bỏng, năm 2002, anh hoàn thành cuốn Thuốc phiện và năm 2003 là các cuốn Billard Blues, Khúc jazz trống, Người chơi bài poker. Năm 2004, anh nhận giải thưởng châu Âu với tác phẩm Amazone. Cuốn sách gần đây nhất của Fermine mang tựa đề Nấm mồ sao. Các tác phẩm của Maxence Fermine được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, đặc biệt được ưa chuộng tại Ý và Tây Ban Nha. Qua mỗi tác phẩm của anh, độc giả như thấy anh đã từng trải qua nhiều thời kỳ, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa. Nước Nhật cuối thế kỷ XIX trong Tuyết, Châu lục Đen trong Người nuôi ong và Điệu tăng-gô của người Massa, Trung Quốc trong Thuốc phiện, Ý trong Cây vĩ cầm đen, Chicago những năm 1930 trong Billard Blues và thời kỳ Đức chiếm đóng Pháp đầy rối ren trong Nấm mồ sao. Mời các bạn đón đọc Tuyết của tác giả Maxence Fermine​.
John Carter và Công chúa Hoả tinh - Edgar Rice Burroughs
John Carter là một cựu binh trong cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ. Một ngày tình cờ anh bị hút vào Hỏa tinh, và nó đã khởi đầu cho cuộc phiêu lưu ly kỳ của anh trong suốt hơn hai mươi năm dài. Trải qua bao nhiêu phen vào sinh ra tử và vô số cuộc chiến, bằng lòng quả cảm, thủy chung và những đức tính rất “người” của một cư dân Trái đất, John Carter không những đã xây dựng cho mình một gia đình hạnh phúc mà còn góp phần lớn vào công cuộc đem lại hòa bình, thịnh vượng và tình yêu thương cho hành tinh vốn khô cằn và đang hấp hối này. Những thủ pháp miêu tả và cách xây dựng nội dung, tình tiết, cao trào của Burroughs đúng là của một bậc thầy, khiến độc giả không bao giờ chán và thậm chí không muốn dừng mạch đọc, dù đang theo dõi một cuộc đấu nghẹt thở hay đang lắng lòng với cảnh tự tình của hai con người yêu nhau. Ngoài ra, một trong những điểm đặc sắc của bộ truyện là tư tưởng mang tính tiên phong của Burroughs. Ngay từ đầu thế kỷ XX, ông đã có một tầm nhìn sâu sắc về môi trường, trong đó một Hỏa tinh đã từng trù phú trở nên khô khan cằn cỗi và các chủng tộc buộc phải lấy chiến tranh làm một phương tiện để trung hòa giữa dân số và nguồn tài nguyên thực phẩm hiếm hoi. Bên cạnh đó, những ý tưởng mang đầy tính sáng tạo của ông về các công nghệ trên Hỏa tinh thật sự là những yếu tố hấp dẫn và thú vị, đặc biệt của một tác giả sống trước năm 1950. Bộ Barsoom xuất bản tại Việt Nam gồm có:   - John Carter Và Công Chúa Hỏa Tinh      - John Carter Và Linh Thần Hỏa Tinh - John Carter Và Thống Soái Hỏa Tinh Tác giả: Edgar Rice Burroughs (01/09/1875 - 19/03/1950) là một tác giả người Mỹ, nổi tiếng với những tác phẩm về người rừng Tarzan và những cuộc thám hiểm của anh hùng John Carter trên Hỏa tinh. Ông từng theo học tại Philips Academy Andover và Học viện quân sự Michigan. Từ 1897 đến 1911, Burroughs đã không thành công trong nhiều lĩnh vực kinh doanh tại Chicago và Idaho. Năm 1911, Burroughs ổn định gia đình tại Chicago và bắt đầu sáng tác. Sáng tác đầu tay của ông Under the Moons of Mars đã gây tiếng vang lớn. Thành công này đã thôi thúc ông tập trung vào con đường trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Năm 1912, tập truyện đầu tiên trong bộ truyện 25 quyển về Tarzan đã ra đời: Truyện Tarzan (Tarzan of the Apes) đã được dịch ra hơn 56 ngôn ngữ và đã trở thành đề tài hấp dẫn cho điện ảnh, các chương trình phát thanh. Ngoài Tarzan, Burroughs còn là tác giả của hơn 68 đầu sách. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Burroughs là phóng viên thường trú cho “The Los Angeles Times” và là phóng viên thường trú cao tuổi nhất (66 tuổi) có mặt tại Nam Thái Bình Dương. Mời các bạn đón đọc John Carter và Công chúa Hoả tinh của tác giả Edgar Rice Burroughs
Bài Giảng Cuối Cùng - Randy Pausch & Jeffrey Zaslow
Là con người thì ai cũng muốn sống, sống thật vui, thật hạnh phúc bên người thân và bạn bè. Nhưng Nếu ngày mai phải ra đi, ta muốn để lại gì? Giáo sư Pausch là một con người, và tại thời điểm ông chuẩn bị cho bài giảng cuối cùng của mình, ông chỉ còn sống được vài tháng. Ông có một sự nghiệp thành công, là một nhà khoa học đạt đến học vị giáo sư. Ông có một gia đình nhỏ cho riêng mình, với vợ và ba con… Những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời mình, giáo sư giảng bài, vì ông là một thầy giáo. Đặt mình vào vị trí của giáo sư Pausch, có thể ai cũng tiếc nuối nhưng bản thân tôi thì không. Ông đã có một tuổi thơ êm đềm, một gia đình lớn đầm ấm, một gia đình nhỏ hạnh phúc và sự nghiệp thành công. Tất cả những giấc mơ của ông từ thuở bé đều đã trở thành hiện thực. Ông đã đem đến hy vọng cho nhiều người, đã nâng đỡ cho giấc mơ của nhiều sinh viên, đã sống và mạo hiểm với cách trị liệu khắc nghiệt nhất để rồi khi cơ hội không còn thì vẫn có thể đứng thẳng người đợi chờ ngày kết thúc… Bài giảng của giáo sư Pausch nhẹ nhàng như chính cách ông bước lên bục giảng. Chiếc áo thun màu rêu, quần tây màu kem và nụ cười trên môi. Thật khó để tin rằng trong cơ thể người đàn ông đó có cả chục khối u ác tính. “Bài giảng cuối cùng” có 61 phân đoạn ghi lại 53 “bài giảng” – 53 câu chuyện về một cuộc đời mà trong đó, Randy Pausch là nhân vật chính, cũng là người dẫn chuyện. Những bài giảng, đúng theo ý nghĩa của nó, chuyển tải đến người nghe những thông điệp, những bài học mà đôi khi đơn giản đến mức ta đã bỏ qua trong cuộc đời mình. Câu chuyện của những ước mơ  Khi ta còn nhỏ, ta có những ước mơ thật vĩ đại như trở thành siêu nhân, anh hùng hay làm thay đổi cả thế giới… Khi ta lớn hơn một chút, những ước mơ cũng bớt vĩ đại đi một chút, như trở thành một bác sĩ, một cảnh sát hay một doanh nhân… Và đến khi ta trưởng thành, ước mơ của ta bây giờ là có một nghề nghiệp ổn định và một gia đình êm ấm. Điều đó có nghĩa là không phải ai cũng có thể giữ cho mình những ước mơ từ thời thơ ấu và thực hiện nó. Tuy nhiên, “Bài giảng cuối cùng” – bài giảng của một vị giáo sư chỉ còn sống được vài tháng lại dạy cho ta một điều khác, rằng ông đã Thật Sự Đạt Được Những Ước Mơ Tuổi Thơ. “Nếu bạn dám mơ ước điều gì, bạn sẽ có thể thực hiện điều đó.” – Walt Disney Phần lớn số trang của cuốn sách là để nói về những trải nghiệm của giáo sư Randy Pausch trong hành trình ông thực hiện ước mơ của mình. Bài giảng bắt đầu bằng một danh sách những ước mơ ngay từ khi giáo sư còn là một cậu bé. - Ở trạng thái không trọng lượng. - Chơi bóng bầu dục ở hạng quốc gia. - Viết một bài cho Bách khoa Toàn thư Thế giới. - Làm thuyền trưởng Kirk. - Thắng giải những con thú bông. - Làm một Disney Imagineer. Những ước mơ này, có cái đã trở thành sự thật, có cái còn dang dở nhưng không ước mơ nào mà giáo sư chưa thử thực hiện. Cậu bé Randy nằm dài ra bàn dang rộng cánh tay rồi tưởng tượng mình đang bay trong không trung đã trở thành giáo sư Pausch và cùng những sinh viên của mình trải nghiệm 25s không trọng lượng ở NASA… Cậu bé Randy không thể chơi bóng bầu dục ở hạng quốc gia nhưng qua bóng bầu dục đã học được những bài học đắt giá về nỗ lực và lòng tự trọng… Cậu bé Randy hâm mộ bộ Bách khoa Toàn thư Thế giới đã trở thành giáo sư Pausch được mời để viết về lĩnh vực ông giỏi nhất, thực tế ảo… Cậu bé Randy đã không thể trở thành thuyền trưởng Kirk nhưng giáo sư Pausch đã gặp được thuyền trưởng Kirk và đưa thuyền trưởng vào thế giới của ông… Những ước mơ nối tiếp nhau trong một cuộc đời, dẫn dắt một con người trưởng thành, rồi bài học lớn nhất được rút ra lại chính là “Tôi đã đạt được nhiều thứ hơn qua việc theo đuổi ước mơ này, mà không đạt được nó, so với việc theo đuổi và đạt được nhiều ước mơ khác.”Cái quan trọng không phải là làm thế nào để thực hiện được ước mơ của bạn. Nó là việc làm thế nào để dẫn dắt cuộc đời bạn. Nếu bạn dẫn dắt cuộc đời của bạn một cách đúng đắn, cái nghiệp sẽ tự thành. Các ước mơ sẽ đến với bạn. Kết thúc cũng là một cách để bắt đầu   “Không cần phải sống mới có thể yêu thương.”   Ngay ở phần đầu của cuốn sách, khi viết về khoảng thời gian chuẩn bị cho bài giảng, giáo sư Pausch đã nói như vậy. Và câu nói khiến tôi giật mình. Không sống thì làm sao yêu thương được? Thật ra, câu nói đó đúng hay sai cũng đâu quan trọng vì trên thế giới này có rất nhiều cách để thể hiện tình yêu thương của mình. Một cái ôm. Một nụ hôn. Một vài lời quan tâm. Hay một kỷ niệm, một di vật để lại. Với “Bài giảng cuối cùng” – di sản người cha để lại cho các con, các con của Pausch sẽ biết cha các em yêu các em đến chừng nào. Có thể chuẩn bị cho cái chết của mình là một may mắn chăng? Và người ra đi thì bao giờ cũng nhẹ lòng hơn người ở lại. Những day dứt của Randy Pausch về nỗi đau mà người thân của mình phải gánh chịu sẽ chấm dứt vào thời điểm cuối cùng. Nhưng có thật thế không? Pausch là một người chồng không thể chăm sóc cho người vợ yêu quý trong những ngày tháng khó khăn sắp tới… Pausch là một người cha không thể chứng kiến những đứa con của mình lớn lên và chăm sóc chúng… Thật ra thì, Randy Pausch vẫn đau đấy chứ, chỉ có điều rồi sẽ đến lúc ông không biết là mình đau lòng mà thôi. Chết là kết thúc và chấm dứt, không có thiên đường, không có địa ngục. Nhưng đó cũng là cơ hội để một người nào đó sẽ thay thế ta trên cõi đời này. Một cách khác để bắt đầu chặng đường mới. Nếu một ngày mở mắt ra và phát hiện người thân của mình không còn nữa, bạn sẽ làm gì? Giữ cho mình một niềm tin bằng những gì còn lại, đó là minh chứng của tình yêu thương. “Bài giảng cuối cùng” là bài giảng khép lại một sự nghiệp, khép lại một cuộc đời và được chia sẻ bằng cảm xúc và những câu chuyện. Những bài học đơn giản mà giáo sư Randy Pausch dạy chúng ta là cách đối mặt với hiện thực. “Chúng ta không đổi được những quân bài đã chia, chỉ có thể đổi cách chơi những quân bài đó.” Đem điều đó vào cuộc sống, ta sẽ có những bài học để thành công và thành người.   Mời các bạn đón đọc Bài Giảng Cuối Cùng của hai tác giả Randy Pausch & Jeffrey Zaslow.