Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Chữ A Màu Đỏ - Nathaniel Hawthorne

Đọc tác phẩm “Chữ A màu đỏ” của Nathaniel từ đầu tới cuối tôi đều cảm thấy trong mình tràn dâng những cảm xúc mãnh liệt. Cái cách kể chuyện và miêu tả tâm lý nhân vật với những đoạn độc thoại nội tâm gay gắt của người phụ nữ ngoại tình chính là những trang văn in dấu sâu đậm nhất trong tôi. Tôi đã phải tập trung tất cả mọi trí lực và cảm xúc của mình để theo dõi câu chuyện hấp dẫn này. Một câu chuyện cảm động về nghị lực, sự can đảm và tình yêu cuộc sống vô bờ bến của một người phụ nữ trót mang tội trong xã hội.  Với tôi, nó cũng thật sự là một câu chuyện quá đẹp giữa cuộc sống này, nó đem lại cho tôi nhiều tin yêu, nhiều mạnh mẽ và nhiều hi vọng. Những cuốn sách đã trải qua thăng trầm của thời gian để còn lại, để sáng hơn và đem đến cho những độc giả của hôm nay nhiều trải nghiệm sâu sắc hơn. Một câu chuyện về “Chữ A màu đỏ” khép lại, nhưng đã đem lại cho tôi cái nhìn thấu hiểu hơn đối với số phận và nghị lực của những người phụ nữ ngoại tình. Những người phụ nữ ấy không phải ai cũng xấu xa và đáng trách. Họ có những tâm tư thầm kín mà chỉ khi có được sự thấu hiểu và đồng cảm thực sự chúng ta mới có thể hiểu được. Đây là một trong số những câu chuyện nghiệt ngã nhất về số phận của người phụ nữ mà tôi đã từng được biết. Tôi đã đọc cuốn sách với tâm trạng bế tắc, đau đớn, hận thù và hoàn toàn bất lực. Ngay khi bắt đầu đọc “chữ A màu đỏ” tôi đã ngưỡng mộ cô. Tôi chăm chú theo dõi từng bước chân của chị trên hành trình mà chị đang đi. Tôi không rời mắt khỏi con người chị và những người xung quanh chị dù chỉ một giây phút. Và tôi đã nhận ra rằng ánh mắt của những người bên cạnh chị khi nhìn theo chị đã dần khác. Tôi không còn cảm thấy cái ánh mắt ngột ngạt hằn học và căm giận nữa. Tôi bắt gặp một ánh mắt yêu thương, tha thứ, và đồng cảm. Quả thực cuộc sống, tình yêu và sự hi sinh trong sáng của cô đã khiến cho cộng đồng không thể quay lưng với cô nữa. Cô sống giản dị, điềm đạm như biết bao nhiêu người đàn bà khác. Người đời không còn trách cô nữa. Tôi nghĩ đó là điều đương nhiên cô đáng nhận được với những gì mà cô đã trải qua. Tấm lòng nhân hậu đã khiến cho chữ A màu đỏ trên người cô trở thành một dấu vết phai nhòa của quá khứ xa xôi, mà hiện tại khi nhìn về phía cô gái đã từng mang tiếng ngoại tình, chửa hoang ấy người ta chỉ cảm tháy lòng yêu thương, vị tha, và một nguồn an ủi đồng cảm vô tận với số phận của những người phụ nữ trong xã hội này. *** Chữ A màu đỏ, tiểu thuyết của Nathaniel Hawthorne, xuất bản năm 1850, đã được nhiều nhà phê bình đánh giá là một trong những tác phẩm hay nhất của nền văn học thế giới. Câu chuyện xảy ra ở Boston, thủ phủ ban Massachuselle (thuộc miền New England đông bắc nước Mỹ) trong những năm 1640, vào một thời mà xã hội miền này bị giam hãm trong vòng luật lệ và giáo lý nghiệt ngã của nhà thờ Thanh giáo. Một người phụ nữ tên là Hester Prynne, vì một đứa con hoang, đã bị kết án bêu trên bục tội nhân ba tiếng đồng hồ trước công chúng và chịu hình phạt mang một chữ A màu đỏ cài trên ngực cho đến hết đời. chữ A màu đỏ là dấu sỉ nhục về tội ngoại tình (chữ A là chữ đầu từ Adultery : tội ngoại tình). Không ai ngờ được rằng người bố của đứa con hoang ấy lại là người đảm nhiệm phần hồn của Hester Prynne, mục sư Arthur Dimmesdale, một giáo sĩ trẻ đầy tài năng, được con chiên ngưỡng mộ như một vị thiên thần. Hester Prynne chịu đựng nỗi nhục nhã đau đớn. Còn Arthur Dimmesdale, bị sự dày vò khủng khiếp của lòng hối hận, ngày một gầy mòn xanh xao. Thế nhưng quần chúng không hề hay biết gì cả, vẫn sùng kính anh như một vị thánh sống. Giữa lúc đó, xuất hiện thêm một nhân vật, hình thành đủ bộ ba trong diễn biến xung đột của câu chuyện. Đó là chồng của Hester, một con người tuổi đã xế chiều, khô lạnh, dị dạng, mà Hester không hề yêu. Lão đã sống cuộc đời lang bạt, nay vừa đến đây thì thấy vợ trên cái bục ô nhục. Lão bắt đầu một cuộc săn tìm kẻ tình địch để báo thù. Buộc vợ thề không bao giờ lộ tung tích của lão ra, lão đội cái tên giả Roger Chillingworthe, xuất hiện giữa cộng đồng Thanh giáo Boston với danh nghĩa là một thầy thuốc. Như vậy là tác giả Nathaniel Hawthorne đã bắt đầu câu chuyện ở chỗ mà phương sách xử lý cốt truyện cổ truyền thường kết thúc. Mối quan tâm của Hawthorne không phải là ở giai đoạn diễn biến một cuộc tình duyên éo le, mà là ở tâm lý của các nhân vật trong giai đoạn tiếp sau đầy khủng hoảng quyết liệt, và những vấn đề triết lý sâu xa rút ra từ những tình tiết trong cảnh huống ấy. Hester Prynne nhẫn nhục chịu đựng nỗi đau đớn ê chề trước sự ghê sợ khinh bỉ và nhục mạ của mọi người. Chị không bỏ đi nơi khác để làm lại cuộc đời, mà tiếp tục ở lại giữa mảnh đất đã ruồng rẫy chị, coi đó là một định mệnh. Chị giữ một phong cách giản dị khổ hạnh, tích cực lao động kiếm sống cho mình và cho đứa con gái nhỏ. Con người bị xã hội khinh rẻ đã thể hiện một tấm lòng nồng hậu và nhân đạo, tự nguyện làm một bà phước, tận tụy săn sóc cưu mang những người nghèo khổ, ốm đau. Sau những năm dài, cuộc sống trong sáng của chị đã biện hộ cho chị. Dần dần người ta có thiện cảm với chị, tha thứ cho lỗi lầm của chị. Chữ A màu đỏ chỉ còn là một dấu vết của quá khứ đã lùi xa về phía sau, biến thành một biểu tượng mang một ý nghĩa khác : ý nghĩa của sự tích cực, của lòng thương người, của nguồn an ủi. Trong suốt thời gian Hester Prynne triền miên chịu sỉ nhục thì mục sư Arthur Dimmesdale cũng triền miên day dứt, hối hận trong lòng. Sự hối hận thôi thúc anh bộc bạch tội lỗi, nhưng anh không đủ dũng khí, chỉ dùng được những lời ám chỉ để tự phê phán. Nhưng anh càng tự phê phán thì người ta lại càng kính trọng anh. Và anh thấy khổ sở tự ghê tởm mình. Quá trình dày vò dai dẳng ấy làm anh ngày càng héo hon tiều tụy. Lão Roger Chillingworthe từ khi xuất hiện ở Boston đã tiếp cận Dimmesdale, ngỏ ý muốn chữa bệnh cho anh. Những diễn biến đặc biệt trong sự đau ốm của thể chất và tâm thần anh làm lão sinh nghi, càng quyết tâm thâm dò, tìm hiểu. Nhân dân Boston vui mừng vì Thượng đế đã cho một vị bác sĩ y khoa lỗi lạc đến chăm sóc sức khỏe người mục sư mà họ xiết bao yêu quý. Người ta bố trí cho lão ở chung một nhà với Dimmesdale. Bằng sự sắc sảo của một đầu óc thông thái và quỷ quyệt, lão đã dần dần phát hiện và đi đến khẳng định anh chính là kẻ tình địch mà lão đang săn tìm. Thế là từ đấy lão bám sát anh, báo thù theo cách của lão, dùng mọi thủ đoạn kích động hành hạ cho Dimmesdale thêm đau đớn. Bảy năm đằng đẳng trôi qua với sự im lặng chịu đựng của Hester, với nỗi thống khổ khắc khoải trong tâm hồn Dimmesdale mà lão Chillingworth đã nhai xé cho ngày càng trầm trọng, khiến sức khỏe của anh suy sụp chỉ còn như ngọn lửa chập chờn sắp lụi tàn. Hester Prynne thấy giấu kính tông tích lão chồng cũ không phải là tránh được tai họa cho Dimmesdale, nên chị rút bỏ lời thề, nói cho Dimmesdale rõ sự thực. Hai người nhận thấy âm mưu báo thù của lão Chillingworth còn xấu xa hơn nhiều so với tội lỗi của họ. Họ bàn tính cùng nhau bỏ đi thật xa, làm lại cuộc đời. Nhưng Roger Chillingworth biết được ý đồ ấy. Vậy là chỉ còn một nơi để thoát khỏi tay lão : đó là bục tội hình. Ngay sau buổi thuyết giáo của Dimmesdale trong một ngày hội tụ tập đông đảo quần chúng, Dimmesdale gọi Hester và con gái cùng bước lên bục tội hình, nơi mà bảy năm về trước, Hester một mình chịu hình phạt. Đứng trên bục, Dimmesdale bộc lộ lỗi lầm của mình trước đám đông bàng hoàng sững sốt. Vượt qua được ngưỡng cửa của cuộc đấu tranh nội tâm ghê gớm, dành được chiến thắng trong cơn thống khổ cực độ, chàng mục sư trẻ gục xuống trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Hester Prynne. * Đọc Nathaniel Hawthorne, chúng ta tiếp xúc với một phong cách đặc biệt, với những diễn biến phức tạp, mãnh liệt trong chiều sâu tư duy, tâm hồn nhân vật. Tác giả kể chuyện, nêu những tình tiết xảy ra rồi phân tích, gợi lên những điều triết lý sâu sắc trong tâm khảm, trong tính cách của từng người, từng lớp người, hoặc của quảng đại quần chúng. Giá trị các tác phẩm của Nathaniel Hawthorne là ở sự phân tích tỉ mỉ, sâu rộng về nội tâm. Hawthorne thừa kế truyền thống nghiêm ngặt của nhà thờ Thanh giáo ; ông quan tâm đến cái mà các nhà thần học thường gọi là “tội lỗi vốn có” của loài người (original sin). Nhưng ông đả phá tính hẹp hòi, cố chấp và tàn ác của nhà thờ Thanh giáo New England. Những tác phẩm của ông thấm nhuần tính nhân đạo sâu sắc. Vấn đề tội lỗi là đề tài được lặp đi lặp lại trong nhiều cuốn truyện của Hawthorne nhưng sự chú ý của Hawthorne không phải là ở bản thân tội lỗi mà là tập trung vào tác động tâm lý do tội lỗi gây ra. Trước con mắt của Hawthorne, tội lỗi lớn nhất Chữ A màu đỏ không phải là tội ngoại tình của Hester Prynne, cũng không phải là tội của Dimmesdale, mà là tội của Roger Chillingworth đã xúc phạm vào cõi thiêng liêng trong tâm hồn Dimmesdale. Hawthorne đã miệt mài để hết tâm trí vào cuộc tranh luận kéo dài năm này sang năm khác về bản chất con người. Trong thế kỷ đương thời, có một dòng tư tưởng lãng mạn tích cực, nhấn mạnh rằng con người bẩm sinh là tốt. Quan điểm này, xuất phát từ Jean Jacques Rousseau và người đề xướng quan điểm này trong văn học Mỹ là Emerson. Hawthorne không lãnh đạm trước sức quyến rũ của tư tưởng tích cực này. Việc Hawthorne xử lý tính cách nhân vật Hester Prynne trong Chữ A màu đỏ tỏ rõ một tấm lòng đồng tình thương cảm. Hester là một phụ nữ cương nghị. Chị không hối hận về hành vi ngoại tình với mục sư Dimmesdale. Chị cũng không đồng tình với nỗi cắn rứt lương tâm của Dimmesdale. Chị nói với Dimmesdale : “Điều chúng ta đã làm có một tính thánh hóa của riêng nó”. Khi chị ngồi với chàng mục sư trong rừng, chị đã bứt chữ A màu đỏ ra khỏi ngực mình và vứt xuống đất. Việc Hester vứt cái dấu sỉ nhục ấy đi là sự “nổi loạn” của chị. Thế nhưng, câu chuyện cũng viện ra nhiều lý lẽ để bảo vệ luật pháp và lương tâm. Dimmesdale không còn tìm cách trốn đi như đã dự tính, mà trái lại, Dimmesdale đã bước lên bục tội hình, bộc lộ thẳng thắng lỗi lầm trước công chúng rồi chịu chết, yên tâm đã chiến thắng bản thân. Các tiểu thuyết của Hawthorne cho hư danh là mọi tội lỗi lớn, dù đó là để bảo toàn thanh danh mình (như Dimmesdale, đóng vai đạo đức giả suốt bảy năm trời). Con người chỉ có thể được “cứu vớt” nhờ sự khiêm nhường, chịu khuất phục ý trí của Đấng thiên liêng. Sự khiêm nhường là yếu tố hòa hợp, cân bằng trong mối quan hệ giữa người với người. Hawthorne đặc biệt nổi bật ở quan điểm về cái thiện và cái ác bên trong một con người. Trong nhiều truyện ngắn và truyện dài sáng tác cả trước và sau Chữ A màu đỏ, cũng như trong truyện này, Hawthorne đã luôn luôn nghiền ngẫm về những mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa cái tốt và cái xấu, về cái xu hướng hòa làm một hoặc đảo chỗ cho nhau giữa hai nhân tố ấy trong từng cá nhân. Dưới một bề ngoài mô phạm đạo đức, bên trong vẫn có những điều đáng hổ thẹn, thậm chí những vết nhơ và tội ác ; ngược lại, dưới cái bề ngoài tội lỗi bị khinh bỉ và bị lên án, lại có một tâm hồn nhân ái, vị tha. Một đặc điểm khác của Hawthorne là tài sử dụng thành thạo lối phúng dụ - tức diễn đạt ngụ ý (allegory) – và lối dùng hình ảnh tượng trưng (symbolism`. Phép diễn đạt ngụ ý và bằng tượng trưng của Hawthorne đặc biệt thành công trong câu chuyện về chữ A màu đỏ, mà nhiều đoạn đã lộ rõ ý của tác giả muốn mô tả thành một truyền thuyết. Mỗi địa điểm, mỗi nhân vật và mỗi sự kiện đều mang một ý nghĩa sâu rộng hơn. Bục tội hình – như một đoạn đầu đài – mang ý nghĩa của sự trừng phạt trong đoạn đầu câu chuyện, và mang ý nghĩa của sự chuộc tội trong đoạn cuối. Rừng hoang là một nơi mà con người sa vào con đường lầm lạc về mặt tinh thần đạo lý. Khóm tầm xuân trước cửa nhà tù, mụ già Hibbins, v.v…, đều mang một ngụ ý. Bản thân chữ A màu đỏ là tượng trung cho tội ngoại tình; ; nhưng còn hơn thế, nó tượng trưng cho mọi tội lỗi ; và khi người ta càng mở rộng tầm của nó ra xa thêm, thì nó lại tượng trưng cho tất cả mọi lỗi lầm và yếu kém ngăn trở sự vận động thỏa đáng của xã hội loài người. Và oái oăm thay, cái chữ A màu đỏ sỉ nhục ấy lại tiến đến chỗ biến thành một biểu tượng mang ý nghĩa khác hẳn : ý nghĩa của lòng nhân ái, của nguồn an ủi, ý nghĩa của chiếc thánh giá trên ngực người nữ tu sĩ, trước con mắt của những tín đồ Thanh giáo khắc nghiệt! Ở Hawthorne, sự sụp ngã của một con người là sự sụp ngã có phúc. Qua tội lỗi và đau khổ, con người đạt tới một chiều sâu tâm hồn và một chiều rộng nhãn quan, mà nếu không va vấp và chịu sự hành xác thì không thể nào đạt tới được. Nathaniel Hawthorne còn có một khả năng nhạy bén về thuật kết cấu câu chuyện (architectonic sense). Cấu trúc của truyện chữ A màu đỏ chặt chẽ. Bốn nhân vật (Hester Prynne, Arthur Dimmesdale, Roger Chillingworth, và bé Pearl) gắn chặt vào nhau trong cái mạng tơ vò của một cảnh huống cuộc đời dường như không thể nào có giải pháp. Việc tác giả sử dụng với một sự sắp đặt cố ý cái bục bêu tội nhân ở ba lớp chủ yếu của câu chuyện (đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn kết) tạo ra sự thống nhất về diễn biến một quá trình diễn biến phát triển chậm rãi nhưng không khoan nhượng đến điểm tột đỉnh là cuộc thú tội của Dimmesdale trước công chúng. Phong cách viết đi vào cõi nội tâm, phân tích những điều triết lý sâu sắc bên trong tinh thần của sự vật khả năng phát triển ý nghĩa của các hình ảnh tượng trưng, cộng với kỹ năng viết điêu luyện – tất cả những đức tính nói trên đã tạo nên cái hay đặc thù của Hawthorne và đã làm cho các tác phẩm của ông được đánh giá cao, gây được sức thuyết phục mạnh mẽ đối với những độc giả từ giữa thế kỷ 20 trở về sau. Hawthorne đã được xem là một nhà văn lớn, một trong những nhà viết tiểu thuyết có tài năng nhất trong nền văn học Mỹ. * Nathaniel Hawthorne sinh năm 1804 ở Salem, bang Massachusetts (miền đông bắc nước Mỹ) thuộc một dòng họ người Anh đã đến đây từ năm 1630 và đã góp phần tạo ra khu định cư đầu tiên của thuộc địa Anh ở miền này, mà những người thực dân Anh đầu tiên đặt tên là “nước Anh mới” (New England). Tại miền này, vào cuối thế kỷ thứ 17, tức khoảng 100 năm trước cuộc Cách mạng nước Mỹ, một số tín đồ Thanh giáo cuồng tín cho rằng con người có thể bán mình cho quỷ dữ và trở thành phù thủy. Thân sinh ra ông nội Nathaniel Hawthorne sống vào thời ấy, là một quan tòa Thanh giáo khắc nghiệt đã kết án treo cổ nhiều người bị gán cái tội ấy. Một trong những nạn nhân của ông đã phát một lời trù rủa độc địa cho ông ta và con cháu ông ta sau này. Những sự kiện này đã có ảnh hưởng lớn tới suy nghĩ của Nathaniel Hawthorne và tác động đến các sáng tác của ông. Bố của Hawthorne là một thuyền trưởng, chết trong một chuyến đi biển, lúc Hawthorne mới bốn tuổi. Tâm trạng đau buồn đã khiến người mẹ tự tách biệt khỏi xã hội, sống ẩn dật. Nếp sống đó cũng có ảnh hưởng tới Nathaniel Hawthorne sau này. Khi đang học ở trường đại học Bôdân (Bowdoin), năm 1828, Hawthorne đã bắt đầu tập viết văn và mang hoài bão muốn trở thành nhà văn lớn. Sau khi tốt nghiệp đại học trở về Salem, Hawthorne trong một thời gian dài vẫn giấu kín bút danh, đóng kín cửa đọc sách, nghiên cứu rèn luyện tư duy và khả năng văn học. Mùa hè, ông đi thăm nơi này nơi nọ trong miền New England, hòa mình vào quần chúng ở các phiên chợ và các cuộc tụ tập, quan sát, tìm hiểu cuộc sống. Trong quá trình tự đào tạo ông đã viết nhiều truyện ngắn, nhưng thường viết xong, ông lại hủy bỏ. Mãi đến năm 1837, ông mới cho ra mắt được cuốn sách đầu tiên mang tên ông. Đó là cuốn Những truyện kể lại vài lần (Twice told tales) tập hợp một số truyện ngắn mà ông đã viết trong những năm qua. Ông xin vào làm ở Sở Thuế quan Boston. Năm 1842, ông cưới vợ và về sống ở một ngôi nhà mục sư cổ tại Concord (cũng bang Massachusetts) trong bốn năm, tiếp tục viết. Một tập truyện ngắn ra đời cuối thời kỳ này với nhan đề “Những mảng rêu từ một ngôi nhà mục sư cổ” (Mosses from an Old Manse) 1846. Chính thời kỳ này đã được ông nhắc đến trong phần mở đầu cuốn Chữ A màu đỏ. Là một đảng viên dân chủ, ông được chính quyền Đảng Dân chủ của Tổng thống Polk cho vào làm ở Phòng Thuế quan Salem. Ba năm sau, Đảng Uých (Whig) lên cầm quyền, ông mất việc. Trong nỗi chán ngán, ông đã ngồi viết Chữ A màu đỏ. Hôm ngồi đọc lại bản thảo cuốn truyện đã hoàn thành này, nhiều lần ông ứa nước mắt. Phải tóm bắt được những giây phút như thế mới hiểu thấu được tâm hồn ông. Cuốn Chữ A màu đỏ đã lập tức làm ông nổi tiếng không những ở Mỹ mà ở cả nước Anh vốn khó tính đối với tác phẩm của các nhà văn Mỹ. Những năm tiếp theo vẫn là thời kỳ đỉnh cao cuộc đời sáng tác của Nathaniel Hawthorne. Ông đã viết cuốn Ngôi nhà bảy đầu hồi (The House of the Seven Gables) cũng là một tác phẩm trứ danh (1851), cuốn Câu chuyện tình ở Blithedale (The Blithedale Romance) (1852), một số truyện cho trẻ em như Cuốn sách kỳ diệu cho các bé gái bé trai (Wonder Book for Girls and Boys) (1852) và Những truyện kể về rừng rậm cho các bé gái bé trai (Tanglewood Tales for Girls and Boys) (1853). Năm 1853, Tổng thống Mỹ Franklin Pierce, bạn học cũ của Hawthorne, cử ông đi làm lãnh sự Mỹ tại Livơpun (Anh). Gia đình ông sang ở Anh từ 1853 đến 1858. Sau đó ông đi du lịch sang lục địa châu Âu. Trong thời kỳ này, Nathaniel Hawthorne viết thêm cuốn Thần Đồng nội bằng cẩm thạch (The Marble Faun) (1860). Đây là cuốn truyện viết hoàn chỉnh cuối cùng của ông, nói về cái thiện và cái ác trong lòng người. 1860, Hawthorne cùng gia đình trở về Mỹ. Những truyện ông viết về cuối đời đều dở dang, chất lượng sút kém. Một lý do nào đấy, không xác định được, đã làm khô cạn tài năng sáng tạo của ông. Nathaniel Hawthorne mất năm 1864, vừa tròn 60 tuổi. Sau khi ông mất, bạn bè tập hợp lại những đoạn bản thảo chưa hoàn thành, xuất bản một số cuốn : Septimius Pelion (1872), “Mối tình Dolliver” (1876), Bí mật của bác sĩ Grimghawe (1883) và Dấu chân tổ tiên (1883). Nói về sáng tác của Hawthorne, người ta không quên nhắc đến những tác phẩm ông viết cho trẻ em. Ông đã đưa một sắc thái hoàn toàn mới mẽ vào nền văn học phục vụ thiếu nhi. Không phải với phương pháp mượn một câu chuyện kể để răn dạy, thuyết giáo con trẻ, ông đã trân trọng viết cho thiếu nhi như viết cho người lớn, có chiều sâu tư tưởng và lực truyền cảm mạnh mẽ. Cuốn sách viết cho thiếu nhi của ông được nhiều người biết tiếng nhất là cuốn Những truyện kể về rừng rậm cho các bé gái bé trai (1853). Nhà văn lớn này đã cống hiến cho thiếu nhi, cũng như đã phục vụ cho người lớn, tài năng đầy chất thơ và tri thức sâu sắc của mình về bản chất con người. NGƯỜI DỊCH Mời các bạn đón đọc Chữ A Màu Đỏ của tác giả Nathaniel Hawthorne.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tình Yêu Vượt Thời Gian - Catherine Bybee
Dựa vào manh mối là một cuốn sách bí ẩn cùng giác quan thứ sáu của mình, Helen Adams đã tới Scotland để tìm hiểu về sự mất tích bí ẩn của một thiếu niên. Một cơn địa chấn bất ngờ đã đưa cô vượt thời không, rời bỏ thế kỷ XX đểtrở về Scotland thời Trung Cổ và gặp gỡ những thành viên của gia đình MacCoinnich.  Lần đầu du hành vượt thời gian trở về quá khứ, Simon McAllister - MacCoinnich vẫn còn là một thiếu niên. Trải qua nhiều biến cố, anh đã coi Scotland thế kỷ XVI là nhà của mình và trở thành một chiến binh Cao nguyên đáng gờm với kỹ năng biến hình cũng như giao tiếp với động vật. Và cũng tại đây, số phận đã đưa Helen đến với anh. Cùng lúc đó, gia đình Simon liên tục phải đối mặt với các cuộc tấn công từ kẻ thù bí ẩn, còn Helen lại trở thành mục tiêu bị truy đuổi ngay trong thời đại của cô. Để giải quyết những mối nguy hiểm, đồng thời bảo vệ gia đình MacCoinnich, Simon và Helen phải trải qua các chuyến du hành vượt thời gian cùng với nhau, rồi tình yêu của họ bắt đầu chớm nở. Nhưng cho dù vượt qua được mọi chuyện, làm thế nào họ có thể giữ một mối quan hệ với khoảng cách thời gian hàng thế kỉ?   *** Catherine Bybee là tác giả ăn khách nhất của các tờ: - New York Times  - USA Today  - Wall Street Journal - Amazon  - Indie Reader Năm 2001, bà đã giành được giải thưởng More Than Magic – giải thưởng văn học cao quý dành cho các tác giả văn học lãng mạn pha viễn tưởng.  Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả tại: www.catherinebybee.com Lớn lên ở tiểu bang Washington, nhưng sau khi tốt nghiệp trung học, Catherine Bybee đã chuyển đến sống ở miền Nam California với hy vọng trở thành một ngôi sao điện ảnh. Phát chán với thời gian chờ đợi sự nổi tiếng đến với mình, Catherine đã quay trở lại trường và trở thành một y tá. Nhưng cuối cùng, sau mười năm làm y tá ở bệnh viện thành phố, giờ đây Catherine cống hiến phần còn lại của cuộc đời mình cho sự nghiệp viết lách. Với nhiều series ăn khách như MacCoinnich Time Travel (đang được BachvietBooks xuất bản ở Việt Nam), Weekday Brides, Not Quite. Catherine Bybee bị “nghiện” tiểu thuyết lãng mạn từ thuở học sinh, bà luôn sống với niềm say mê đó và có khả năng ghi nhớ rất tuyệt vời những gì đã đọc. Chính tình yêu mãnh liệt dành cho thể loại văn học này đã thôi thúc và tạo động lực để bà viết nên các tác phẩm của chính mình. Sự sáng tạo nên thế giới của những xúc cảm mạnh mẽ, những âm mưu và tình tiết gay cấn, nơi người sói cũng bị rơi vào lưới tình đem đến cho Catherine sự cân bằng hoàn hảo. Sau mười năm làm y tá tại một bệnh viện thành phố, giờ đây Catherine cống hiến thời gian còn lại của cuộc đời mình vào sự nghiệp viết lách để mang lại niềm vui cho mọi người. Catherine hiện đang sống cùng chồng và hai con trai tại miền Nam California. Binding Vows là cuốn đầu tiên trong series MacCoinnich Time Travel: - Binding vows (Phía sau một lời thề) - tải eBook - Silent vows (Thề ước thầm lặng) - tải eBook - Redeeming vows *** Helen đưa mỗi lần vài người thuộc gia tộc MacCoinnich về nhà họ. Trong lần cuối cô quay lại để đưa Simon và Cian, Ian và Lora hỏi cô có thể đưa họ theo cùng để nói lời tạm biệt với Amber không. Mọi chuyện diễn ra quá nhanh. Helen hầu như không còn đủ thời gian để nói lời từ biệt của mình. Lizzy ôm ghì lấy cô trong vòng tay và nhắc cô nhớ rằng họ ở đó nhưng chỉ cần một ý nghĩ thoáng qua thôi là cô đã có thể gặp nếu cần tới họ. Nhưng sống ở thế kỷ XVI không đơn giản chỉ là một sự hy sinh mà Helen có thể làm. Bên cạnh đó, bà Dawson cần có cô. Amber cần có người bầu bạn và người hướng dẫn. Nơi thuộc về cô là thời đại của mình, không phải là đây, nơi thuộc về Simon. Cả hai không nói chuyện với nhau, chuyện chia tay đã khiến cô khóc suốt mỗi khi nghĩ tới. Với đại bộ phận người nhà MacCoinnich, an toàn là để họ ở trong pháo đài, Helen đưa Ian cùng Lora về theo. Khi cơn lốc ngừng, Lora là người thấy Amber đầu tiên. Cả hai lao vào ôm chầm lấy nhau. “Ơn Chúa, mẹ đã lo lắng cho con.” Lora kéo con gái hơi nhích ra xa, nhìn cô từ đầu đến chân, và ghi nhớ. “Bộ quần áo này hợp với con.” “Chúng có cảm giác hơi lạ”, Amber thừa nhận. “Rồi con sẽ quen thôi.” “Mẹ chắc chứ? Con phải ở lại sao?” Đây là lần duy nhất Helen nghe Amber dò hỏi về số phận của cô ấy. “Phải, con gái. Con sẽ tìm thấy hạnh phúc của mình ở đây.” Amber cúi gằm mặt xuống đất. “Hai người hẳn phải là Lãnh chúa MacCoinnich cùng phu nhân. Tôi là bà Dawson.” Bà Dawson bước xuống nấc thang cuối và ngắt lời họ. “Cháu xin lỗi, bà Dawson, cháu nên giới thiệu bà”, Helen nói. ... Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Vượt Thời Gian của tác giả Catherine Bybee.
Khu Vườn Ngôn Từ - Shinkai Makoto
Khu vườn ngôn từ kể về một tình yêu còn xa xưa hơn cả tình yêu. Khái niệm tình yêu trong tiếng Nhật hiện đại là luyến hoặc ái, nhưng vào thời xưa nó được viết là cô bi, nghĩa là nỗi buồn một mình. Shinkai Makoto đã cấu tứ Khu vườn ngôn từ theo ý nghĩa cổ điển này, miêu tả tình yêu theo khái niệm ban sơ của nó, tức là cô bi - nỗi buồn khi một mình thương nhớ một người. Những ngày mưa triền miên.... Nơi hàng hiên ngập tràn màu xanh của một khu vườn Nhật Bản... Có một cảm xúc êm dịu đến không thốt nên lời cứ thế manh nha, tựu hình và lửng lơ tồn tại. Trong lúc dòng đời cuồn cuộn chảy trôi, tất cả hối hả tiến về phía trước, thì cậu và cô lại dừng chân, chìm xuống trong tĩnh lặng riêng mình, và ở cái vũng tĩnh lặng đó, họ tìm thấy nhau. Dần dần và mạo hiểm, quên đi cả các chênh lệch về tuổi tác và vị trí, họ thả hồn mình trôi về nhau hòa điệu. Làm nền cho tất cả là mưa rơi không ngừng, là lá mướt mát rung rinh. Nhưng khi mưa tạnh và trời quang trở lại, mọi đường nét của hiện thực trở nên rõ rệt đến khắc nghiệt, thì những êm dịu và lửng lơ kia liệu còn khả năng tồn tại? *** Tôi luôn mang trong mình một mối tình đơn phương với tiểu thuyết. Mà không chỉ tiểu thuyết, tôi luôn có cảm giác mình đang yêu đơn phương truyện tranh, điện ảnh, phim hoạt hình và những cảnh sắc hiện thực. Tình yêu đơn phương tôi đang nói đến là trạng thái bản thân mình rõ ràng rất thích nhưng đối phương lại không có hứng thú tới mức độ đó với mình. Dù đôi lúc tôi thấy mình đã ở tuổi trưởng thành rồi mà còn có những tình cảm như vậy thì cũng khá không hợp, nhưng tôi không tài nào thoát khỏi cảm giác này. Công việc của tôi là đạo diễn phim hoạt hình, coi như tôi cũng có rất nhiều cơ hội để nói với phim hoạt hình rằng, “Tôi rất thích em!” Tuy nhiên đối với tiểu thuyết thì không được như vậy. Thời gian rảnh trong ngày, những khi ngồi trên tàu điện, những lúc chờ kết xuất đồ hoạ, tôi thường lật giở các trang văn và không ngừng thán phục, “Tiểu thuyết đúng là tuyệt vời!” Bởi vậy khi tiểu thuyết Khu vườn ngôn từ được đăng dài kỳ trên nguyệt san Da Vinci thì tôi hạnh phúc không sao tả được. Công việc viết lách quả là nhiều hứng thú. Tôi đã định sẽ viết tất cả những gì phim hoạt hình không thể hoặc khó lòng thể hiện thành công. Giả dụ như khi viết “gương mặt ngơ ngác như đứa bé lạc đường…”, lòng tôi đã reo lên đắc thắng với người đạo diễn phim hoạt hình trong mình, “Sao hả? Thấy thế nào, câu này khó thể hiện ra thành hình ảnh lắm!” Liệu có diễn viên nào tái hiện được đúng hình ảnh đó không? Liệu người làm phim hoạt hình có vẽ được gương mặt trông như đứa bé đi lạc không. Câu trả lời đầu tiên trong tôi là “Không thể!” Có lẽ họ sẽ tạo ra được một khuôn mặt lo lắng, nhưng để thể hiện hình ảnh so sánh trực tiếp và ngắn gọn như “đứa bé lạc đường” là một điều rất khó. Hoặc câu “Tiếng ồn ào tan học phía sau cánh cửa kia giờ chỉ như những âm thanh lạo xạo thoát ra khỏi tai nghe của ai đó” nữa, chắc chắn hình ảnh không thể diễn tả hết, tôi đã cười thầm. Khán giả sẽ không liên tưởng những âm thanh xung quanh lớp học với tiếng nhạc lọt ra ngoài từ tai nghe. Sự kết nối giữa những con chữ chính là bí quyết tạo nên thần thái sảng khoái của tiểu thuyết, tôi đã cảm nhận được điều này trong khi viết. Khi nhìn lại như thế này tôi nghĩ có lẽ cũng chỉ có mình tôi thấy hài lòng với những điều này nên trở nên phấn khích, nhưng quả thật quãng thời gian sáng tác ấy rất vui. Quay lại với cuốn tiểu thuyết, Khu vườn ngôn từ này chính là phiên bản tiểu thuyết của bộ phim hoạt hình cùng tên do tôi làm đạo diễn, công chiếu từ năm 2013. Tức là tôi tự chuyển thể tác phẩm của mình sang tiểu thuyết. Trong nguyên gốc thì bộ phim hoạt hình chỉ dài 46 phút, được kể lại từ góc nhìn của Takao và Yukino, còn trong cuốn tiểu thuyết này, tôi đã tăng số lượng nhân vật tự sự lên, kéo theo đó là sự gia tăng nội dung. Một hàm lượng nội dung thế này mà chuyển thành phim thì rất khó trình bày gọn gàng trong hai tiếng đồng hồ. Tôi mong muốn các bạn đọc đã xem phim cũng như chưa xem đều thấy thú vị khi đọc cuốn sách này.   Tôi đã viết với tâm trạng vui mừng, háo hức đến vậy, nhưng tâm trạng đó không sao duy trì mãi được. Lẽ dĩ nhiên thôi. Tôi nhận ra hình ảnh vẫn là phương tiện truyền tải tuyệt vời, và đôi khi còn có nhiều cách thể hiện thích hợp hơn. Ví dụ như khi thể hiện cảm xúc của con người, tôi chọn vẽ cảnh thành phố lúc về đêm và chèn thêm một đoạn nhạc buồn vào đó nữa. Bất cứ thời điểm nào cũng được, một khung cửa sổ, một ánh đèn vụt sáng hoặc vụt tắt… Chỉ cần như vậy thôi, hình ảnh đã tạo được cảm xúc cho người xem rồi. Cảm xúc nói chung chính là những tình cảm nảy nở từ cuộc sống thường ngày. Bởi thế đối với hình ảnh, chỉ cần ánh sáng từ một khung cửa sổ thôi cũng có thể khơi gợi vô vàn cảm xúc. Còn trong tiểu thuyết, tôi đã phải đau đầu suy nghĩ để tìm ra cách diễn đạt tương ứng. Tôi không kể cụ thể hơn được vì sẽ rất dài, nhưng trong những biện pháp ẩn dụ khác, sử dụng hình ảnh vẫn có tác dụng mạnh hơn. Đôi khi dùng hàng trang bản thảo tiểu thuyết diễn tả một vằn sóng vẫn là không đủ, nhưng đúng một cảnh trong phim hoạt hình thôi lại thể hiện xong. Hơn nữa, điểm mấu chốt hóa ra lại không liên quan gì đến kỹ thuật, điều khiến tôi trăn trở suốt, một điều hết sức đương nhiên, đó chính là việc không biết cần phải viết gì. Khi hoàn thành bản thảo, tôi thất vọng nghĩ, “Tiểu thuyết, tiểu thuyết, tiểu thuyết gia nữa, họ thật tuyệt vời, mình không tài nào đến gần được vị trí của họ.” Sau khi hoàn thành xong cuốn sách, điều cuối cùng đọng lại chính là mối tình đơn phương dành cho tiểu thuyết và phim hoạt hình lại trở nên sâu sắc hơn nữa. Tôi cũng không mong tình cảm đơn phương này biến thành tình cảm hai chiều. Đôi lúc tôi chợt nghĩ nó giống như tình cảm mà Takao dành cho Yukino. Các nhân vật khác trong quyển sách này cũng thế, dù ít dù nhiều họ đều mang theo một mối tình đơn phương. Tôi lại có dịp để nhận ra mình muốn viết về những cảm xúc như vậy của con người. Có lẽ bởi niềm khao khát một ai đó, một điều gì đó trong cô độc chính là cảm hứng để dệt nên thế giới này. Đây là điều tôi muốn diễn tả trong cuốn sách này. “Khu vườn ngôn từ là câu chuyện về một tình yêu (孤悲 cô bi) thậm chí còn xa xưa hơn cả tình yêu (愛 ái).” Đây là câu tiêu đề cho bộ phim hoạt hình gốc. Có lẽ rất nhiều người thời nay khi đọc câu này vẫn thấu hiểu một cách sâu sắc. Bởi chúng ta biết rằng ở thời đại của Vạn diệp tập, cách đây một nghìn ba trăm năm, tình yêu không phải là “ái” mà là “cô bi”, tức “nỗi buồn khi thương nhớ một người trong hiu quạnh”38. Trong thời gian viết tác phẩm, tôi đã học hỏi được từ rất nhiều người. Đầu tiên phải nhắc đến cô Kurazumi Kaoru, người đã giúp tôi chọn dùng những bài phù hợp trong Vạn diệp tập. Thứ đến là những nghệ nhân làm giày, thầy cô và học sinh sinh viên trong các trường cấp ba và đại học, nhân viên kinh doanh trong các doanh nghiệp chế tạo… Câu chuyện của mọi người đã đem đến sức nặng cho cuốn sách này. Tôi chân thành cảm ơn tất cả. Ngoài ra tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến biên tập của tôi. Ochiai Chiharu, người đã luôn ủng hộ cho tác phẩm của tôi từ phim đến truyện bằng tất cả tình yêu và sự quan tâm sâu sắc. Tôi viết tác phẩm này trong lúc bộ phim Khu vườn ngôn từ được công chiếu, thành ra hầu hết bản thảo đều thực hiện trên đường công tác. Dù không có nhiều liên hệ với nội dung truyện nhưng tôi đã đi viết ở rất nhiều nơi, ghi lại cũng hay, nào Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Sri Lanka, Đài Loan, Nga, Scotland, Pháp, rồi Việt Nam. Tôi đến đó chủ yếu để tham dự các liên hoan phim và sự kiện về phim hoạt hình, cũng có những điểm đến là để tìm bối cảnh cho phim, nhưng khoảng thời gian ở khách sạn cũng như di chuyển trên máy bay tôi đều dành cho viết. Và đoạn kết truyện tôi đã viết khi ngồi trên chuyến tàu điện vượt qua biển Yosan. Có lẽ rằng những khung cảnh lướt qua những khung cửa sổ đó cũng đã thấm vào từng trang văn của tôi. Cuối cùng, bạn đọc thân mến, những người đang cầm trên tay cuốn sách và lần lượt lật giở, tôi chân thành cảm ơn các bạn. Tháng Hai năm 2014 Shinkai Makoto    Ầm ì sấm dội cuồn cuộn mây trôi Mưa rơi chăng tá? để ta lưu người…   Mời các bạn đón đọc Khu Vườn Ngôn Từ của tác giả Shinkai Makoto.
Giữ Trọn Lời Thề - Catherine Bybee
Vì sự an nguy của mình, Lizzy McAllister – một bà mẹ đơn thân ở thế kỷ XXI buộc phải sống chung nhà với một gia đình trung cổ khi cô bị đẩy ngược về thế kỷ XVI.  Lúc Lizzy nhận thấy mình mắc kẹt tại thời đại này với Fin, người đàn ông khiến cô vừa ghét lại vừa bị cuốn hút, cô đã đồng ý hợp lực với anh để giải thoát Scotland khỏi bàn tay độc ác của mụ phù thủy Grainna. Bản thân Finlay MacCoinnich cũng dành cho Lizzy nhiều tình cảm không kém. Phá vỡ những bức tường kiên cố cô đã dày công dựng lên quanh mình là một việc không hề dễ dàng, nhưng anh sẵn sàng làm bất kỳ chuyện gì để giữ cô bên mình. Rồi kẻ thù ghê gớm nhất của họ ếm bùa chú khiến họ bị ném trở lại thế kỷ XXI. Liệu họ có tìm được cách trở về đúng lúc để cứu gia đình khỏi cơn nguy khốn? Và Lizzy có sẵn lòng ở lại thời trung cổ cùng Fin, hay vĩnh viễn lìa xa anh? *** Catherine Bybee là tác giả ăn khách nhất của các tờ: - New York Times  - USA Today  - Wall Street Journal - Amazon  - Indie Reader Năm 2001, bà đã giành được giải thưởng More Than Magic – giải thưởng văn học cao quý dành cho các tác giả văn học lãng mạn pha viễn tưởng.  Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả tại: www.catherinebybee.com Lớn lên ở tiểu bang Washington, nhưng sau khi tốt nghiệp trung học, Catherine Bybee đã chuyển đến sống ở miền Nam California với hy vọng trở thành một ngôi sao điện ảnh. Phát chán với thời gian chờ đợi sự nổi tiếng đến với mình, Catherine đã quay trở lại trường và trở thành một y tá. Nhưng cuối cùng, sau mười năm làm y tá ở bệnh viện thành phố, giờ đây Catherine cống hiến phần còn lại của cuộc đời mình cho sự nghiệp viết lách. Với nhiều series ăn khách như MacCoinnich Time Travel (đang được BachvietBooks xuất bản ở Việt Nam), Weekday Brides, Not Quite. Catherine Bybee bị “nghiện” tiểu thuyết lãng mạn từ thuở học sinh, bà luôn sống với niềm say mê đó và có khả năng ghi nhớ rất tuyệt vời những gì đã đọc. Chính tình yêu mãnh liệt dành cho thể loại văn học này đã thôi thúc và tạo động lực để bà viết nên các tác phẩm của chính mình. Sự sáng tạo nên thế giới của những xúc cảm mạnh mẽ, những âm mưu và tình tiết gay cấn, nơi người sói cũng bị rơi vào lưới tình đem đến cho Catherine sự cân bằng hoàn hảo. Sau mười năm làm y tá tại một bệnh viện thành phố, giờ đây Catherine cống hiến thời gian còn lại của cuộc đời mình vào sự nghiệp viết lách để mang lại niềm vui cho mọi người. Catherine hiện đang sống cùng chồng và hai con trai tại miền Nam California. Binding Vows là cuốn đầu tiên trong series MacCoinnich Time Travel: - Binding vows (Phía sau một lời thề) - tải eBook - Silent vows (Thề ước thầm lặng) - tải eBook - Redeeming vows *** Fin rút thanh kiếm ra khỏi người gã chiến binh vừa đánh nhau với anh. Như những người khác, máu chảy thấm vào đất và vương lên những bụi cây. Những người đàn ông này không chết vì lãnh chúa hay thị tộc của họ. Họ chết một cách vô nghĩa. Cian theo sau Duncan đến bên cạnh anh. Đa số binh lính đã ngã xuống, một vài vẫn còn chiến đấu, nhưng sức mạnh của kẻ thù đã suy yếu. Fin đưa mắt về phía nơi họ đã để cánh phụ nữ lại. Một vài vẫn còn đứng đó, lửa bắn ra từ tay họ và những người khác trông có vẻ đang sử dụng một vài những quyền năng khác. Cố nhìn kỹ hơn, Fin nhận ra không có ai giống Liz cả. Anh cố nhìn kỹ hơn nữa. Cả mẹ cũng không thấy đâu. “Phụ nữ nhà mình đâu cả rồi? Duncan chỉ vào một đám phụ nữ. “Nhìn lại đi, anh trai.” Mặt Duncan thất thần, anh vội lia mắt về phía pháo đài. Fin không đợi lời giải thích. Anh biết anh trai mình đang nói chuyện với vợ bằng ý nghĩ. Fin thúc ngựa phi về phía những bức tường của pháo đài. ... Mời các bạn đón đọc Giữ Trọn Lời Thề của tác giả Catherine Bybee.
Gió Mùa Hè - Catherine Anderson
Sau khi chứng kiến cuộc thảm sát đẫm máu cướp đi sinh mạng của cả gia đình, Rachel Hollister đã phải sống trong nỗi ám ảnh và tách biệt khỏi thế giới suốt năm năm. Cô luôn cảm thấy khiếp sợ với ý nghĩ để ai đó bước vào nhà mình, đặc biệt là bước vào cánh cửa trái tim cô. Vậy nhưng rắc rối vẫn gõ cửa, quá đột ngột, và Rachel chẳng còn cách nào khác ngoài chấp nhận sự có mặt của một gã cao bồi xa lạ nhưng điển trai ngay trong “pháo đài” an toàn của riêng mình… Còn gã cao bồi độc thân Joseph Paxton phải miễn cưỡng chấp nhận lời đề nghị đến tạm trú tại trang trại Hollister với lý do là người bảo hộ cho Rachel, dù cô gái trẻ có chịu chấp nhận điều đó hay không. Tuy vậy, khi nhận ra tình cảm của mình cũng như vẻ đẹp tâm hồn của Rachel, hắn sẽ làm mọi thứ để có thể xua đi bóng tối bao trùm lấy cuộc sống của người con gái ấy. Liệu phép màu có xảy ra và Rachel có thể tìm lại hạnh phúc cũng như cuộc sống bình dị trước kia hay không? Tất cả sẽ được giải đáp qua câu chuyện đời mà hai người họ đã chép lại trong cuốn nhật ký - kỷ vật được lưu lại đời sau như một minh chứng thật nhất, cảm động nhất về thứ mà nhiều người tin rằng đã không còn tồn tại, đó chính là tình yêu chân chính. *** Catherine Anderson sinh năm 1948 và hiện đang sống cùng chồng là Sidney D. Anderson tại Oregon, Mỹ. Là con gái của một nhà văn nên những mảnh ghép ký ức sớm nhất Catherine Anderson có được trong cuộc đời là tiếng gõ trên chiếc máy đánh chữ cũ kỹ cùng những tác phẩm của mẹ, vì thế từ rất lâu trước khi biết đọc bảng chữ cái, một thế giới kỳ diệu và bí ẩn của những câu chuyện hư cấu đã mở ra trước mắt bà. Cùng với đam mê và nguồn cảm hứng ấy, bà đã viết rất nhiều những câu chuyện của riêng mình trong suốt thời niên thiếu. Tuy nhiên, nhận thức được rằng việc bắt đầu sự nghiệp như một nhà văn chính thống là một điều rất khó khăn, bà đã quyết định theo học chuyên ngành kế toán ở trường đại học để có thể phụ giúp công việc sổ sách ở công ty của chồng. Sau khi nhận ra rằng những con số không khiến mình cảm thấy hạnh phúc, cùng với sự động viên của chồng, Catherine đã nghỉ học ở trường để có thể toàn tâm theo đuổi sự nghiệp viết lách. Catherine Anderson bắt đầu sự nghiệp văn học với dòng lãng mạn, sau đó bà chuyển nguồn cảm hứng sang các tác phẩm có tiêu đề một chữ (Single-title) thuộc dòng lãng mạn lịch sử và lãng mạn đương đại. Không ít các tác phẩm của bà tập trung vào các nhân vật mang trên mình những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần và cách họ vượt qua những khiếm khuyết đó. Theo nhận định của tạp chí Romantic Times, tiểu thuyết của bà rất “cảm động, ấm lòng và tạo lập thứ tình yêu hoàn hảo lý tưởng trong một thế giới thiếu hoàn hảo”. Với độc giả, những cuốn sách của bà đều rất “vui nhộn, thú vị, cảm động, đẹp đẽ, cao cả với những ước lệ cổ điển”. Năm 1988, bà cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay Reasonable Doubt, do Harlequin Intrigue xuất bản. Hai cuốn tiểu thuyết sau đó của bà là Sun Kissed và Morning Light đã lọt vào top 5 trong danh sách 10 cuốn sách bán chạy nhất của New York Times. Ngoài ra, Catherine Anderson đã chín lần được đề cử giải Bình chọn của các nhà phê bình Romantic Times, trong đó có một lần chiến thắng với tác phẩm Cherish. Bà cũng từng được trao giải Thành tựu trọn đời của Romantic Times. Tháng 5 năm 2008, tác phẩm Comanche Moon đã được tái xuất bản và lọt vào danh sách các tác phẩm ăn khách nhất của New York Times. Cuốn sách Gió mùa hè (Summer breeze) của Catherine Anderson được Penguin Group xuất bản tháng 1 năm 2006. Một số các tác phẩm của bà như, Điệu Waltz dưới ánh trăng (Phantom Waltz) và Giai điệu của Annie (Annie’s song), đã được Bách Việt phát hành năm 2013 và 2015. *** Tucker nhìn chăm chăm thật lâu vào trang cuối trong cuốn nhật ký của Rachel Hollister, cảm giác có chút gì đó hụt hẫng. Giống như những trang hồi ký cuối cùng của bà vẫn không ngừng rỉ nước, từng giọt từng giọt thoát ra khỏi cơ thể hắn, rồi cuối cùng chẳng để lại chút gì. Một câu chuyện đời thật đáng kinh ngạc, với một kết cục viên mãn đến thế, đó là thứ hạnh phúc mà hắn chưa từng và cũng không chắc sẽ được nếm trải trong đời. Hắn quay sang nhìn mẹ. Lúc này đây, vào buổi chiều thứ Tư và hai mẹ con đang cùng nhau theo dõi cuốn nhật ký. Bà nhìn đăm đăm vào tấm rèm cửa trên ô cửa sổ nhà bếp và mỉm cười một cách mơ màng như đang hồi tưởng lại chuyện gì. “Mẹ đang nghĩ gì vậy?”, hắn hỏi. Mary Coulter nhún vai và toét miệng cười. “Nghĩ về cha của con. Về lần đầu tiên mẹ gặp ông ấy. Về thời gian cha mẹ hẹn hò nhau.” Bà khẽ thở dài. “Tình yêu chân chính mới thật huy hoàng. Thời gian chỉ càng thêm khẳng định nó. Hạnh phúc, giống như Ace đã cố gắng giải thích với Joseph, thậm chí còn quý giá hơn sau khi tất cả những háo hức, nồng nhiệt qua đi. Mẹ hay cằn nhằn cha con vì ông không bao giờ chịu đổi cái áo khác, mẹ cũng không bao giờ tiếc lời rầy la ông ấy mỗi lần ông bày bừa ra nhà. Nhưng điều đó cũng chẳng ảnh hưởng, bây giờ mẹ vẫn yêu cha con, thậm chí còn yêu nhiều hơn lúc cha mẹ còn trẻ còn mơ mộng và mới chỉ bắt đầu hẹn hò.” Bà vỗ nhẹ vào cuốn nhật ký của Rachel rồi nói, “Đã lâu rồi mẹ không được đọc thứ gì ý nghĩa như vậy. Bọn họ sống và yêu nhau vào thời điểm cách đây rất lâu, nhưng cuối cùng vẫn có được một kết cục hạnh phúc viên mãn. Không phải rất tuyệt sao?”. “Làm sao mẹ biết được họ có hạnh phúc dài lâu được hay không?”, Tucker hỏi. “Rất có thể một ngày nào đó Joseph tỉnh dậy và phát hiện cảm xúc của mình đã thay đổi. Cũng có thể sự phấn khích, nồng nhiệt ban đầu ngày nào đó sẽ biến mất.” Tucker đã trải nghiệm điều này rất nhiều lần, toàn là sáo rỗng cả, vô số lần hắn nghĩ đã tìm được người con gái trong mơ của mình, rồi sau đó lại thất vọng. “Hai người họ lấy nhau quá nhanh. Để xem nào, sau khi gặp nhau một tháng, phải không nhỉ? Họ còn chưa kịp tìm hiểu rõ con người đối phương như thế nào ấy chứ.” ... Mời các bạn đón đọc Gió Mùa Hè của tác giả Catherine Anderson.