Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Sylvestre Bonnard, một học giả già lỗi lạc đang gặp các vấn đề bất ngờ khi ông bắt tay vào tìm kiếm một vài tài liệu văn học cổ xưa của Giáo Hội để mang từ Paris đến Sicily và ghi dấu vào lịch sử cuộc đời của chính mình. Vì lợi ích của công lý và tình yêu, ông cố gắng hoàn thành công việc sao cho tốt nhất nhất là tính hợp pháp nghi ngờ. Với "Tội phạm của Sylvestre Bonnard", Anatole France (1844-1924) đã viết một cuốn tiểu thuyết vừa thông minh và khôn ngoan và theo cách thức của các bậc thầy vĩ đại của phong cách văn học - một cuốn sách đầy đủ lẫn hồi hộp từ đầu đến cuối. *** Một câu chuyện cảm động và kết thúc đẹp như mong ước, một cái kết gần giống như kết của 'Những người khốn khổ' (Les Miserables), với một đôi trẻ hạnh phúc, nhưng không kém phần hồi hộp khiến ta phải lo âu theo dõi. Sylvestre Bonnard, người kể chuyện, một ông lão tuổi ngoài 60 sống tại Paris, nước Pháp nửa sau thế kỷ XIX, sống cuộc sống độc thân giản nhị nhưng không quá túng thiếu với Thérèse người quản gia cũng già đã phục vụ ông qua mấy chục năm. Một con người khá cô độc nhưng không ghét loài người, sống bình lặng với người quản gia, con mèo, cùng công việc yêu thích là nghiên cứu các văn bản cổ, và dịu dàng, nhân ái với mọi người. Phần 1 - 'Khúc củi' với diễn biến về sau khá bất ngờ, khi ông theo đuổi một bản thảo cổ từ Ý trở lại Paris, trong quá trình đó gặp một người phụ nữ bí ẩn, và cuối cùng bản thảo bị người phụ nữ bí ẩn trả giá cao trong cuộc bán đấu giá. Người phụ nữ, hóa ra từng là vợ của một người nghèo khổ sống cùng tòa nhà với ông, nay đã là mệnh phụ, sẵn lòng mua bản thảo với giá cao để đáp lại ân tình của Bonnard khi trước. Một kết thúc theo kiểu gieo nhân nào gặp quả nấy. Phần 2 - 'Tiểu thư Jeanne Alexandre' là sự quyến luyến của ông lão Bonnard đối với Jeanne, cô bé là cháu gái của Clementine, người con gái mà ngày còn trẻ ông mến mộ. Do phá sản, bố mẹ cô khi mất đã để Jeanne bơ vơ giữa đời phải sống trong một trường nội trú với những điều kiện khắc nghiệt và người giám hộ không được tử tế. Nhờ danh vị thành viên Học viện mà Bonnard được cô Préfère nể trọng đón tiếp tử tế và cuộc sống của Jeanne đỡ khổ ải hơn. Nhưng khúc quanh của câu chuyện khá bất ngờ khi cô cấm ông Bonnard không được đến thăm Jeanne tại trường và cô bé lại tiếp tục chịu cuộc sống hà khắc dưới quyền cô. Người đọc hồi hộp theo dõi liệu ông lão Bonnard có thể phạm tội ác gì (theo hướng chống lại cô Préfère) nhằm giành giật lại cô bé mà ông yêu quý và muốn bù đắp cho. Kết cục, như ta đã biết là tốt đẹp, và cô bé Jeanne cũng đã có hạnh phúc lứa đôi với chàng công chức cùng nghề với Bonnard, khi còn là sinh viên đã tìm đến ông để trao đổi về học thuật. Trong Phần 2 này những trao đổi giữa ông lão Bonnard và chàng sinh viên Gélis về lịch sử (trang 224 - 225 - 226, Bản dịch của Nguyễn Xuân Phương, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, tháng 4.2001) là khá thú vị, hay trao đổi giữa Bonnard và cô Thèrése về giáo dục (trang 156) đến bây giờ vẫn hoàn toàn đúng đắn. Cũng ở Phần 2 này theo lời kể của Bonnard ta cũng thấy nước Pháp những năm 1800 vẫn còn chia rẽ khá sâu sắc giữa những người ủng hộ Napoleon (những kẻ cướp vùng Loire) và những người bảo hoàng Bourbons. - Con người (mặc giáp sắt thời Trung cổ) được bọc sắt như con bọ hung. Sự yếu đuối của họ là ở bên trong. (trang 18) - hãy đối xử rộng lượng với đồng loại để họ rộng lượng với chúng ta (trang21) - Người nghèo không tham vọng là có món tài sản vĩ đại nhất, hắn tự kiềm chế được mình, còn người giàu mà thèm muốn thì chỉ là một tên nô lệ khốn khổ (trang 22). - cái thú chuyện trò với một trí tuệ ưu việt và ôn hòa, cái thú ăn tối với một anh bạn thân (trang 22) - những thèm muốn thuở hoa niên là ghê gớm biết bao nhiêu (trang 22) - chúng cháu (tuy là người lớn) mãi mãi là trẻ con, chúng cháu không ngừng đuổi theo những đồ chơi mới lạ (trang 28) - người thiếu phụ ấy không trở nên xấu cũng không trở nên tốt. Hãy đợi chị ta kết thúc cuộc đời mới nên phán xét (trang 29) - điệu bộ bạo dạn ở những kẻ nhát gan (trang 37) - với ba xu, tôi có thể ăn, uống và rửa mặt tất tần tật với một lát dưa hấu bày trên chiếc bàn con (trang 38) - Phải thương xót họ: của cải vây quanh lấy họ mà không thấm thấu vào họ; họ đáng thương, nội tâm cùng quẫn. Sự khốn khổ của người giàu thật thê thảm. (trang 43) - Những người yêu tha thiết không viết về hạnh phúc của mình (trang 45) - người ta có học được đôi điều qua sách vở, nhưng người ta càng học tập được nhiều hơn khi đi đây đi đó. (trang 47) - những nỗi buồn, đó là một cách tiêu khiển quan trọng. (trang 51) - người mà ta yêu thương mãi mãi chỉ là một hình bóng, nhưng kỷ niệm về nàng mãi mãi là niềm mê say của đời ta. (trang 76) - con người chỉ làm chủ thời gian khi chia no ra thành giờ, thành phút, thành giây, nghĩa là thành những khoảng cách cân đối với đời người ngắn ngủi, bởi vì thời gian chính là cuộc đời. (trang 81) - đối với phái yếu, mọi việc đều đượcphép, mọi hành động của họ là đặc ân, là sủng ái. (trang 90) - Có trí thức chẳng là gì hết, tưởng tượng sáng tạo mới quan trọng. Chỉ cái gì người ta suy nghĩ sáng tạo ra mới tồn tại. (trang 91) - Nhân loại hầu như toàn là người chết. So với số người đã chết thì người còn sống chẳng là bao nhiêu. Cuộc đời này là gì, ngắn ngủi hơn trí nhớ, ngắn ngủi hơn con người. (trang 100) - cuộc đừi là vĩnh hằng, ta phải yêu quý nó trong những hình thái không ngừng đổi mới (trang 100-101) -điếc như bao than, chậm chạp như tổ chức tư pháp. (trang 108) - Hãy trù liệu cho những việc lớn, nên biết rằng ý định là thực tế duy nhất trên đời. (trang 109) - Hãy coi trọng vỏ bánh mì khô trong chiếc đãy hai túi của anh hơn những chim sẻ vườn được quay trong bếp của lãnh chúa. (trang 110) - Tất cả chúng ta đều có trong người một Don Quixote và một Sancho mà chúng ta nghe theo, và cả đang khi Sancho thuyết phục chúng ta thì chính là Don Quixote mà chúng ta phải khâm phục. (trang 110) - Thời gian chỉ êm dịu đối với những ai khoan thai thận trọng đón nhận nó. (trang 112) - thực tế vũ trụ là phản ảnh của tâm hồn chúng ta. (trang 113) - Goethe ví đại có sức sống lạ thường, thực sự tin rằng người ta chỉ chết khi người ta muốn, nghĩa là khi tất cả sức mạnh chống lại sự phân hủy cuối cùng, khi toàn bộ khí lực làm nên sự sống bị hủy diệt đến tận cùng. Nói cách khác, ông nghĩ rằng người ta chỉ chết khi khôn muốn sống nữa. (trang 141-142) - tôi vẫn thích sự đam mê điên rồ hơn sự đứng đắn dửng dưng. (trang 144) - một thằng ngu, không phải bằng ba chữ mà đúng là bằng mười hai tập. (trang 147) - Những kẻ không có nhược điểm thì thật ghê gớm; không ai tác động đến họ được. (trang 150) - điều thực sự xấu xa trong thời đại chúng ta là khôn ai bằng lòng địa vị của mình, trong xã hội, trong mọi tầng lớp, từ trên xuống dưới, bao trùm sự túng thiếu, nỗi khắc khoải lo âu, sự khát khao hạnh phúc. (trang 153) - Không có thời đại nào con người lại thèm muốn sự túng thiếu. Họ luôn luôn tìm cách cải thiện địa vị xã hội của mình. Sự cố gắng kiên trì này đã sản sinh ra những cuộc cách mạng trường kỳ. Nó tiếp tục, thế thôi. (trang 153) - nghệ thuật giảng dạy chỉ là nghệ thuật kích thích tính tò mò ham biết của những tâm hồn non trẻ, tiếp đó là thỏa mãn tính tò mò ham biết đó, và tính tò mò ham biết chỉ mãnh liệt và lành mạnh trong những đầu óc sung sướng. Dùn quyền lực nhồi nhét kiến thức vào những đầu óc thông minh là bịt chúng lại, bóp nghẹ chúng. Trí thức phải được nuốt vào một cách ngon lành thì mới tiêu hóa được. (trang 155-156) *** Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm 1844 – 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học).   Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”…   A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.     Tác phẩm chính:   - Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, 1881), tiểu thuyết.   - Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.   - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.   - Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.   - Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu thuyết:    + Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)   + Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)   + Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)   + Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)   - Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết   - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.     Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:     - Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Vũ Thị Hay và Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972   - Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Hướng Minh dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.   - Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn Văn Thường dịch, NXB Văn Học, 1982.   - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết), Đoàn Phú Tứ dịch, NXB Văn Học, 1987.   - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định dịch, NXB Phụ Nữ, 1989.   - Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết), Trần Mai Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.   - Thais-Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức dịch, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.   - Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội 1987. ***  Tôi xỏ chân vào giày vải, khoác lại áo mặc trong nhà rồi lau giọt nước mắt do cơn gió bấc thổi ngoài bến tàu làm cho tôi tối tăm mặt mũi. Lửa rực sáng trong lò sưởi phòng làm việc của tôi. Những tinh thể băng tuyết hình lá dương xỉ phủ đầy bên ngoài mặt kính các cửa sổ, che lấp con sông Seine, các cây cầu và cung điện Louvre des Valois.   Tôi đẩy ghế bành và bàn di động đến gần lò sưởi chiếm lấy chỗ của chú mèo Hamilcar. Nó nằm khoanh tròn trên chiếc ghế lông, bốn chân ôm lấy mũi, ở đầu các thanh gác củi. Một làn gió đều đều phe phẩy bộ lông dày và nhẹ của nó. Thấy tôi đến gần, nó hé hai hàng mi, đưa cặp mắt mã não ra nhìn dịu dàng rồi nhắm lại ngay, nghĩ rằng: “Không hề gì, đó là bạn ta.” “Hamilcar!”. Tôi vừa kéo chân vừa gọi nó – “Hamilcar, ông hoàng ngủ gà của khu nhà sách, người canh gác ban đêm ơi! Mày chống lũ gặm nhấm hèn hạ, bảo vệ những bản thảo và ấn phẩm mà nhà bác học già nua đã mua với số tiền dành dụm ít ỏi là lòng nhiệt thành không mệt mỏi. Hamilcar, trong chốn thư viện im lặng này được các đức tính nhà binh của mày bảo vệ, mày hãy ngủ ung dung đài các như một bà hoàng! Bời vì ở mày hội tụ được dáng vóc tuyệt vời của một quân nhân Hung Nô với vẻ yêu kiều của một phụ nữ phương Đông. Hỡi chú Hamilcar anh hùng và thích khoái lạc, hãy vừa ngủ vừa chờ cơ hội lũ chuột nhảy múa dưới ánh trăng, trước giáo đường của nhà thông thái giáo phái Bông-lăng”.   Lời mở đầu bài diễn văn này làm vui lòng con Hamilcar, nó phụ theo bằng một tiếng khò khò trong họng như tiếng reo trong ấm nước sôi. Nhưng khi tôi cất cao lời nói, con Hamilcar cụp tai xuống, nhăn cái trán vằn, có ý cảnh cáo tôi nói năng cầu kỳ hoa mỹ như vậy là nghe chướng và nó nghĩ:   “Con người sách vở này nói năng chẳng đâu vào đâu, còn bà quản gia thì bao giờ cũng chỉ tuôn ra những lời lẽ đầy ý nghĩa, chứa đựng sự việc, hoặc báo tin một bữa ăn hoặc một trận đòn. Người ta biết chắc điều gì bà nói. Còn ông già này ghép lại những âm chẳng có ý nghĩa gì hết”.   Con Hamilcar nghĩ như vậy đó. Để mặc cho nó suy tư, tôi mở một cuốn sách và chăm chú đọc. Đó là cuốn danh mục các bản thảo. Tôi thấy không có gì dễ dàng hơn, thú vị hơn, êm đềm hơn bằng đọc một cuốn danh mục. Cuốn danh mục tôi đọc, do ông Thompson, cán bộ thư viện của ngài Thomas Raleigh, soạn thảo vào năm 1824 là cuốn sách hỏng, đúng thế, vì sự vắn tắt quá đáng và không thể hiện chút nào thứ chính xác mà các nhà lưu trữ thế hệ tôi đầu tiên đưa vào các tác phẩm về ngoại giao và về khoa chữ cổ. Nó chưa hoàn hảo, phái đoán mò. Có lẽ vì thế mà khi đọc nó, theo một bản tính tưởng tượng phong phú hơn bản tính của mình, tôi có cái cảm giác đáng được gọi là sự mơ mộng. Tôi lâng lâng thả mình trong dòng suy tư lơ mơ thì chị quản gia bằng một giọng cáu kỉnh bảo tôi biết có ông Coccoz yêu cầu nói chuyện với tôi.   Quả nhiên, một người nào đó lặng lẽ theo chị đi vào thư viện. Đó là một con người bé nhỏ, một con người bé nhỏ thảm hại, vẻ mặt ốm yếu, mặc chiếc áo mỏng dài đến đầu gối. Anh tiến về phía tôi, cúi chào mỉm cười nhiều lần, một cách tự tin. Anh rất đỗi xanh xao, tuy còn trẻ và nhanh nhẹn, nhưng hình như đang ốm. Nhìn anh, tôi nghĩ tới một con sóc bị thương. Anh cầm trong tay một mảnh vải bọc hàng màu xanh, đặt lên ghế, rồi mở bốn đầu mối của mảnh vải, để lộ một lô sách màu vàng.   - Thưa ông – lúc ấy anh cất tiếng – tôi không có hân hạnh được ông quen biết. Thưa ông, tôi là người môi giới cho hiệu sách. Tôi làm việc này cho các nhà buôn chính ở thủ đô, và với hy vọng rằng ông vui lòng cho tôi được hết sức tự hào về sự tin cậy của ông, tôi xin tự tiện mời ông một vài cuốn sách mới.   Trời đất ơi! Sách mới gì mà con người Coccoz nhỏ bé này mời tôi mua thế. Tập thứ nhất anh ta đặt vào tay tôi là cuốn Lịch sử tháp chiến Nesle với những chuyện dan díu giữa Margurite de Bourgogne và đại tá Buridan.   - Đó là cuốn sách lịch sử. – Anh vừa cười vừa bảo tôi. – Một cuốn sách đích thực.   - Trong trường hợp này – tôi đáp – thì chán lắm, bởi vì những cuốn sách lịch sử mà không nói láo thì đều buồn thiu buồn thỉu. Chính tôi đã viết những sách xác thực kia và nếu chẳng may cho anh, anh đi từ nhà này sang nhà khác giới thiệu cuốn nào, anh sẽ có nguy cơ suốt đời giữ nó lại trong cái bọc vải xanh của anh, không bao giờ tìm ra một chị cấp dưỡng nào khá kém chín chắn mua cho anh.   - Thưa ông, tất nhiên – Con người nhỏ bé đáp lại hoàn toàn chiều theo ý tôi.   Và vừa cười, anh ta đưa cho tôi cuốn Những chuyện dan díu của Héloise và Abeilard, nhưng tôi làm cho anh hiểu ngay rằng ở tuổi tôi, tôi chẳng làm gì với một chuyện tình.   Vẫn nụ cười trên môi, anh đề nghị tôi mua cuốn Luật về trò chơi đông người bài pikê, bài béji, bài các tê, bài uýt, bài súc sắc, bài con đam, cờ tướng.   - Chao ơi! – Tôi bảo anh ta – nếu anh muốn tôi nhớ lại luật chơi bài béji, anh hãy trả lại ông bạn già Bignan của tôi đã cùng tôi chơi bài mỗi buổi chiều, trước lúc ông ấy được năm viện hàn lâm long trọng đưa đến nghĩa địa, hoặc anh hãy làm xẹp sự thông minh trang trọng của con Hamilcar mà anh thấy nằm ngủ trên chiếc gối này, đối với chuyện phù phiếm về các trò chơi của con người, vì ngày nay, nó là người bạn duy nhất trong các buổi tối của tôi.   Nụ cười của con người nhỏ bé trở nên mơ hồ và hốt hoảng.   - Đây – anh bảo tôi – một tập mới xuất bản về các trò giải trí đông người, những câu pha trò, những trò chơi chữ, với những cách đổi một hoa hồng đỏ thành hoa hồng trắng.   Tôi bảo anh rằng từ lâu tôi đã rối lên với những hoa hồng, còn đối với những câu pha trò thì tôi chỉ cần những câu nào tôi được phép dùng một cách tự nhiên trong quá trình tiến hành các công việc khoa học.   Con người bé nhỏ lại đưa cho tôi cuốn sách cuối cùng với nụ cười lần chót. Anh nói:   - Đây là Sách giải mộng, giải thích tất cả mọi giấc mộng của người đời: mộng được vàng, mộng thấy mình là kẻ trộm, mộng thấy mình chết, mộng thấy từ trên cao trơi xuống… Đủ cả!   Tôi cầm cái gắp than, vung mạnh và trả lời ông khách luôn:   - Đúng, anh bạn ạ, nhưng những giấc mơ đó và muôn nghìn giấc mơ khác, vui có, buồn có, tóm lại chỉ là một mà thôi, đó là giấc mộng cuộc đời, và cuốn sách bìa vàng nhỏ của anh có cho tôi cái chìa khóa để giải giấc mộng đó không? Mời các bạn đón đọc Tội Ác Của Sylvestre Bonnard của tác giả Anatole France.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cha Con Giáo Hoàng - Mario Puzo
Cha con Giáo hoàng lấy bối cảnh Italy thời kỳ Phục hưng. Tiểu thuyết là câu chuyện về những dã tâm chính trị của nhà Borgia - “gia đình tội phạm đầu tiên” theo nhận định của Puzo. Ở đó, Giáo hội nắm quyền thống trị tối cao, nhưng ẩn dưới tấm áo choàng đỏ luôn là lửa tham vọng rực cháy. Cha con Giáo hoàng là một thiên sử thi xuất sắc, pha trộn màu sắc lãng mạn với chất cuồng điên của lòng tham quyền lực, những mưu ma chước quỷ, tội lỗi và trừng phạt… vượt xa khỏi trí tưởng tượng của người thường. Cuốn sách mang người đọc du hành đến một không gian, thời gian hoàn toàn khác, nơi Giáo hội nắm quyền thống trị tối cao, nơi lửa tham vọng ngùn ngụt cháy dưới tấm áo choàng đỏ rực. Đây là câu chuyện về mối quan hệ cha con kì lạ: gắn bó với nhau bởi huyết thống, lòng tận tụy và những ý đồ đen tối; về một gia đình khét tiếng mà công trạng và tội lỗi còn mãi lưu truyền hậu thế: gia đình Borgia. *** “Hấp dẫn không ngừng, li kì với những tình tiết xoay quanh tệ tham nhũng, mưu đồ phản bội, sát hại lẫn nhau, đan xen cùng chất trữ tình đậm đà và các giá trị gia đình” • Time “Puzo là người kể chuyện thiên tài với một thủ pháp miêu tả kì lạ khiến độc giả cứ phải nhấp nhổm lật giở từ trang này sang trang khác. Hãy gọi đó là thứ văn chương gây nghiện.” • USA Today “Tài năng của Puzo nằm ở chỗ ông biết sáng tạo nên một thế giới đa sắc, mỗi nhân vật có tính cách và lối hành xử riêng… khiến mỗi khi đọc tác phẩm của ông, ta luôn có cảm giác vui sướng đầy tội lỗi.” • New York Post “Một trong những tác phẩm hay nhất của Puzo… Cốt truyện lôi cuốn, tỉ mỉ với những nhân vật nổi tiếng lịch sử nhưng được miêu tả đầy chân thật… Đậm chất sử thi, một di tác vô cùng hấp dẫn mà ông hoàng tiểu thuyết Mafia để lại cho đời” • Booklist “Với nỗ lực biến những nhân vật lịch sử tai tiếng nhà Borgia trở nên gần gũi, Cha con Giáo hoàng - cuốn tiểu thuyết có tiết tấu dồn dập, được dụng công nghiên cứu kĩ càng - có lẽ là tác phẩm tham vọng nhất trong sự nghiệp của Puzo.” • Barnes and Noble Review “Cho dầu tôi hèn hạ và đê tiện đến thế nào, xin hãy để tôi hôn đường viền tấm vải liệm bao bọc nhục thể Chúa tôi. Mặc dầu có thể con đang đi theo quỷ dữ, con vẫn là con của Người, ôi lạy Chúa, và con yêu kính Người, và con cảm nhận niềm lạc phúc mà nếu không có nó thế giới này không thể tồn tại. • FYODOR DOSTOYEVSKY - Anh em nhà Karamaxov *** Tác giả Mario Puzo, quốc tịch Mỹ, gốc Ý, sang Mỹ sống ly hương trong khu dành riêng cho dân ngụ cư người Ý ở Long Island (New York). Khởi sự bằng những truyện ngắn viết nhỏ ở ban đầu, tiền nhuận bút kiếm chẳng đủ nuôi miệng. Vợ làm nghề thợ may chẳng đủ nuôi miệng vợ và chồng chưa đủ nuôi thân chồng. Chồng dại vợ đi ngủ, khẽ gập bàn máy may lại, kê bàn máy chữ lên, dưới để chiếc chăn không gây tiếng động, bắt đầu viết. Thật cuộc sống không ngày mai; nhưng kiên nhẫn vẫn cứ kéo dài ngày qua ngày. Khi Mario Puzo hàn vi, cũng may mắn gặp dược một người bạn thật tốt. Hàng ngày bạn này lui tới, khuyến khích chàng văn sĩ, không những về tinh thần mà giúp cả vật chất nữa. Thường là cho Mario Puzo vay tiền, lúc năm, hoặc mười đô la; khi hai chục. Rồi một ngày, bạn đưa ra ý kiến: khuyên nên viết một tác phẩm theo ý thích: nhân vật, chất liệu, tình tiết cũng như bối cảnh mà chàng có được. Nếu cứ viết như bây giờ, chuyện nhỏ theo lối đặt hàng chủ báo, thì cuộc đời văn sĩ sẽ chẳng bao giờ mọc mũi, sủi tăm - tiền cũng chẳng có mà sự nghiệp cũng không! Mario Puzo nghe tới đây rất thích thú, nhưng có một điều; chẳng lẽ chàng lại nói ra. Cuối cùng đành phải tiết lộ, món tiền nhuận bút kia nhỏ thật; nhưng đủ uống nước lạnh và gặm mẩu bánh mì dằn bụng. Chàng cũng đành thú thật, viết tác phẩm theo sở thích, thì lấy đâu ra tiền để sống hàng ngày? Bạn chàng gật dầu, đáp ứng ngay, hôm nay hai; mai ba; mốt bốn; kia năm mươi đô đủ sống mà viết. Ngày, tuần, tháng; bạn lui tới kiểm tra sáng tác tới đâu. Và mỗi lần cho vay tiền đều rút sổ tay ghi nợ. Một ngày kia, khi gần hoàn tất tác phẩm, bạn chàng cho vay số tiền khá lớn, và cầm bản thảo đến các nhà xuất bản thương lượng. Các tác phẩm của Mario Puzo: Đấu trường u ám (1955) Đất khách quê người (1965) The Runaway Summer of Davie Shaw (1966) Six Graves to Munich (1967), với bút danh Mario Cleri Bố già (1969) Những kẻ điên rồ phải chết (1978) Sicilian Miền đất dữ (1984)  Đời Tổng Thống K thứ tư (1991) Ông Trùm Quyền Lực Cuối Cùng (1996) Luật im lặng (2000) phần tiếp theo tới Bố già Gia đình Giáo hoàng (2002) (tựa bản dịch khác Cha Con Giáo Hoàng) Mời các bạn đón đọc Cha Con Giáo Hoàng của tác giả Mario Puzo.
Cửa Tiệm Của Những Lá Thư - Yasushi Kitagawa
Tác giả Yasushi Kitagawa đã để lại dấu ấn lớn trong lòng bạn đọc khi viết về những vấn đề gần gũi, chân thực trong đời sống của xã hội Nhật Bản đầy bất ổn nhưng cũng rất khuôn phép gò bó. Nối tiếp thành công từ cuốn tiểu thuyết Cuộc hẹn bình minh và Nếu ngày mai không bao giờ đến, Yasushi tiếp tục chinh phục độc giả qua cuốn sách thứ 3 mang tên Cửa tiệm của những lá thư. Cửa tiệm của những lá thư sẽ giúp bạn có câu trả lời, tuy không giải đáp được mọi thắc mắc nhưng cuốn sách được ví như luồng ánh sáng len lỏi vào tâm hồn mỗi người. Ở đó, góc khuất của tâm hồn lần lượt được chiếu rọi. *** Bây giờ, tôi đã viết xong tác phẩm thứ ba của mình Cửa tiệm của những lá thư. Tôi đang ngồi một mình trong thư phòng để viết lời bạt này.   Mùa hè năm ngoái, khi tôi xuất bản cuốn Nếu ngày mai không bao giờ đến, rất nhiều bạn đọc đã gửi cảm nhận của họ đến tôi. Đó như một mối duyên dẫn ta đến với nhiều cuộc gặp gỡ tuyệt vời. Nhờ những cuộc gặp gỡ đó, tôi có được cơ hội tham gia diễn thuyết hay làm khách mời trên sóng truyền thanh.   Đem tác phẩm của mình bày ra trước thế giới cần nhiều dũng khí lắm. Nhưng một khi có dũng khí hành động thì thế giới của tôi sẽ từng bước mở rộng ra. Chính vì thế, lần này, tôi lại có cơ hội mời các bạn đón đọc một tác phẩm mới của tôi.   Tôi không phải dạng viết lách thường xuyên. Chỉ khi nào cuộc sống của tôi có những điều cực kì muốn truyền tải đến mọi người, hay khi có những người mình thực lòng muốn truyền tải đến họ. Chỉ những lúc ấy, tôi mới viết. Lần này là nhờ một cậu sinh viên đã luôn hỗ trợ công việc của tôi suốt bốn năm trời. Nhìn cảnh bon chen đi xin việc của cậu ấy, tôi mới quyết định, “Được rồi, hãy viết theo cách nghĩ của mình!” rồi bắt tay vào viết, đó chính là tác phẩm Cửa tiệm của những lá thư này.   Tôi không có ý dùng tác phẩm này để chỉ dạy cách thức vượt rào tuyển dụng (xin lỗi những ai đã mong đợi điều ấy khi đọc cuốn sách này).   So với việc thành hay bại trong quá trình xin việc trước mắt, cuộc đời sau này ra sao, ta sẽ sống là chính mình như thế nào mới là điều quan trọng hơn hẳn. Điều đó, tôi muốn gửi đến cho cậu ấy, đến cho những bạn trẻ đồng tuổi với cậu ấy và cả những người đang mang cùng mối lo nữa. Tôi muốn gửi đến những bạn trẻ đang nắm tương lai của đất nước này. Với quyết tâm đó, tôi đã khởi thảo cho tác phẩm này đây.   Thực ra, tác phẩm này kể từ khi bắt đầu viết cho tới tận lúc hoàn thành mất nhiều thời gian hơn tôi dự tính ban đầu. Tôi phải xem xét những điều mình muốn truyền tải có thể truyền tải một cách rõ ràng không rồi còn viết lại, việc đó lặp đi lặp lại chẳng biết bao nhiêu lần.   Quá trình đó là điều đương nhiên, nhưng bắt đầu từ lòng kiên nhẫn, ta cần đến rất nhiều trí lực theo nhiều nghĩa. Đối với tôi, nó mệt mỏi hơn nhiều các tác phẩm mình đã viết ra như Cuốn sách của nhà hiền triết hay Nếu ngày mai không bao giờ đến.   Chỉ là, dẫu có vậy, tôi không hề có ý từ bỏ giữa chừng.   Nếu là tôi của trước đây, điều này cũng chẳng phải lạ gì nhưng tôi đã giữ vững niềm tin “Nhất định, mình sẽ hoàn thành một tác phẩm hay!” rồi tiếp tục viết.   Với lại, trong lúc tôi viết tác phẩm này, tôi luôn nghĩ đến “một điều gì đó” và “một điều gì đó” đấy biết đâu lại là cách suy nghĩ được giới thiệu trong chính tác phẩm này.   Tôi lúc nào cũng viết một mình.   Ngồi một mình trong căn phòng yên tĩnh, lặng lẽ viết.   Nhưng, tôi không thấy cô độc.   Tôi có ý định mình sẽ một mình ngồi trên bàn viết ra một tác phẩm với đội cổ vũ hùng hậu đủ để lấp đầy sân bóng chày Koushien.   Đội cổ vũ đó giờ tôi vẫn chưa thấy đâu nhưng khi tôi vượt qua được bức tường của mình cũng là lần đầu tiên gặp được họ, đó là những người có suy nghĩ “đọc được tác phẩm này thật tốt quá”.   “Có những người đang đợi tác phẩm này hoàn thành. Dẫu có gặp gian nan nhường nào, chỉ cần vượt qua, chắc chắn sẽ có hàng vạn người sẽ nghĩ rằng đọc được Cửa tiệm của những lá thư quả là điều may mắn. Nhất định tôi sẽ gặp được những người như vậy.”   Nghĩ vậy, tôi đã nghe thấy đâu đây những tiếng hò reo ủng hộ.   Giờ, khi đọc xong hết tác phẩm này rồi, bạn cũng sẽ trở thành một người trong số đó chứ?   Bởi vì tôi đã nghe thấy được những tiếng cổ vũ của các bạn đọc cuốn sách “May mà cuốn sách này đã được xuất bản, cảm ơn anh” nên mới có thể cố gắng hoàn thành nó.   Đương nhiên, để có được cảm xúc như vậy cũng là nhờ nhiều người đã nói rằng “Chúng tôi trông đợi vào tác phẩm tiếp theo của anh Kitagawa đấy!”. Những độc giả đã tiếp sức cho tôi, thật lòng cảm ơn các bạn.   Giờ, đến lượt người đã đọc cuốn sách là bạn đấy, đến lượt bạn nghe thấy những tiếng cổ vũ và vượt qua bức tường khó khăn của mình rồi. Tôi cũng sẽ là một người trong đó lớn tiếng ủng hộ bạn.   Hãy cứ rạng rỡ, tươi vui và là chính mình. Ngoài ra... dẫu có thể nào! Hãy cứ chạy tiếp đi.   Viết được tác phẩm này, tôi đã nhận được nhiều lời khuyên bổ ích cho cấu trúc của câu chuyện từ giám đốc Hoshiba và phụ trách biên tập Ishibashi của Discovery 21. Morisue đã cung cấp cho tôi rất nhiều ý tưởng liên quan đến “Thư lạc”. Nếu không có sự giúp đỡ của những người đó, Cửa tiệm của những lá thư sẽ không thể ra đời được. Tôi muốn mượn một góc nhỏ, xin gửi lời tri ân đến họ. Thành thật cảm ơn.   Ngoài ra, những thành viên hội “Soumei” lúc nào cũng giúp đỡ tôi, những em học sinh luôn chỉ dạy cho tôi nhiều điều và cả những người đã tài trợ cho tôi. Những người tôi đã có cơ hội được gặp từ trước tới nay. Người vợ và con gái luôn thấu hiểu tôi nhất nữa. Những độc giả đã luôn đọc sách của tôi từ trước tới giờ. Và cả người đang đọc cuốn sách vào lúc này đây là bạn nữa.   Xin có lời cảm ơn.   Cảm ơn mọi người.   Đầu hè 2007   Mời các bạn đón đọc Cửa Tiệm Của Những Lá Thư của tác giả Yasushi Kitagawa.
Từ Thăm Thẳm Lãng Quên - Patrick Modiano
Ở Từ thăm thẳm lãng quên, cuộc gặp lại sau mười lăm năm biến mất không dấu vết gì về nhau đã gợi lại một đoạn đường ngắn nhân vật Tôi được ở trong vùng kết nối cùng Jacqueline, cô gái mà anh đã quý mến day dứt ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy trước cửa quán cà phê Dante, ở Paris. Cô gái Jacqueline đột ngột bước vào một đoạn tuổi trẻ ngắn ngủi của anh, để rồi từ ấy, anh đã bị cuốn theo cô, với những cuộc đi băng qua nhiều đại lộ ở Paris, rồi sau đó là cuộc vượt thoát sang London, và họ ở đó, mùa hè rong ruổi cùng nhau trên những đại lộ nóng bức. Thế nhưng, Jacqueline bỗng nhiên biến mất. Còn anh, sau những ngày tháng trôi dạt cùng cô giữa Paris, giữa London, phá phách, hoang dại, lại trở về với đời sống thường ngày, nhưng anh hoàn toàn không phải là anh của những ngày trước kia gặp cô. Tâm trí anh vẫn tìm kiếm cô như tìm kiếm một ảo vọng giữa mê cung đầy huyễn hoặc của những mùa hè. Để rồi mười lăm năm sau, anh gặp lại cô cùng chồng cô trong một bữa tiệc ở ngày khu nhà cũ. Cô đã đổi tên, cắt tóc, và hút thuốc không còn bị ho. Anh tưởng như cô không còn nhớ gì về anh. Thực chất, ấy chỉ là một mặt hồ yên lặng, dậy sóng ở đáy sâu. *** Nhà văn Patrick Modiano sinh ngày 30/7/1945 tại Boulogne-Billancourt - một khu ngoại ô thành phố Paris. Cha của ông là một doanh nhân Ý gốc Do Thái, sống sót qua Thế chiến thứ hai bằng những mối làm ăn bí mật với Đức quốc xã. Có lẽ chính vì thế nên Patrick Modiano bị ám ảnh với thân thế có vết nhơ. Các tác phẩm của ông thường lấy bối cảnh thời kỳ Đức quốc xã chiếm đóng nước Pháp và xoay quanh những chủ đề như ký ức, sự lãng quên, thân phận và cảm giác tội lỗi. Trong một lần xuất hiện trên truyền hình năm 2007, ông kể mình “đau khổ vì được ra đời” và mô tả bản thân là “sản phẩm của một thời kỳ quái đản, khi những người lẽ ra không nên gặp nhau lại gặp và có con một cách tình cờ”. Từ khi xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay La place de L’Etoile (Quảng trường ngôi sao), Patrick Modiano đã lập tức trở thành một hiện tượng của nền văn học Pháp. Hàng loạt tác phẩm sau đó, từ La ronde de nuit (Tuần tra đêm), Les boulevard de ceinture (Những đại lộ ngoại vi), Rue des boutique obscures (Phố những cửa hiệu u tối) đều được giới phê bình đánh giá cao và giành hàng loạt giải thưởng văn học Pháp. Một số tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Phố Những Cửa Hiệu U Tối - Patrick Modiano Quảng Trường Ngôi Sao - Patrick Modiano Ở Quán Cà Phê Tuổi Trẻ Lạc Lối - Patrick Modiano Để Em Khỏi Lạc Trong Khu Phố - Patrick Modiano Từ Thăm Thẳm Lãng Quên   Mời các bạn đón đọc Từ Thăm Thẳm Lãng Quên của tác giả Patrick Modiano.
Truy Mộng - Neil Gaiman & Yoshitaka Amano
Đây là truyện dịch đầu tiên của tôi, về bộ truyện tiếng Anh mà tôi yêu thích nhất, Sandman. Lời văn ma quái của Neil Gaiman – Shakespeare của truyện tranh, kết hợp với những bức họa mỹ lệ của Yoshitaka Amano (họa sĩ của Vampire Hunter D) sẽ trở thành gì? Tác phẩm Truy Mộng – một truyện cổ tích được giao hòa giữa hai nền văn hóa. Cũng như mọi câu chuyện cổ tích khác, Truy Mộng bắt đầu khá đơn giản: Một cuộc đánh cá giữa con chồn và con cáo. Kẻ nào đuổi được nhà sư ra khỏi ngôi chùa sẽ trở thành kẻ chiếm hữu nơi đó. Con chồn biến thành một viên quan lớn, truyền cho nhà sư phải lên kinh đô để trình hoàng đế. Con cáo biến thành một thiếu nữ mỹ miều bị cướp xin nhà sư đưa nàng trở về nhà. Nhưng nhà sư thông minh đều nhìn thấu những âm mưu của chúng, và vẫn ở trong ngôi chùa của mình đơn độc. Duy chỉ có con cáo, từ ngày đó đã bắt đầu làm bạn với nhà sư và bí mật tương tư người. *** Review: Sandman – The Dream Hunters Lời văn ma quái của Neil Gaiman – Shakespeare của truyện tranh, kết hợp với những bức họa mỹ lệ của Yoshitaka Amano (họa sĩ của Vampire Hunter D) sẽ trở thành gì? Tác phẩm Truy Mộng – một truyện cổ tích được giao hòa giữa hai nền văn hóa. Cũng như mọi câu chuyện cổ tích khác, Truy Mộng bắt đầu khá đơn giản: một cuộc đánh cá giữa con chồn và con cáo. Kẻ nào đuổi được nhà sư ra khỏi ngôi chùa sẽ trở thành kẻ chiếm hữu nơi đó. Con chồn biến thành một viên quan lớn, truyền cho nhà sư phải lên kinh đô để trình hoàng đế. Con cáo biến thành một thiếu nữ mỹ miều bị cướp xin nhà sư đưa nàng trở về nhà. Nhưng nhà sư thông minh đều nhìn thấu những âm mưu của chúng, và vẫn ở trong ngôi chùa của mình đơn độc. Duy chỉ có con cáo, từ ngày đó đã bắt đầu làm bạn với nhà sư và bí mật tương tư người. Đến chương 2, câu chuyện đột ngột trở nên đen tối với sự xuất hiện của bốn tinh linh đang muốn hãm hại nhà sư. Chúng là tay sai của một viên quan thái bốc nổi tiếng ở Kinh Thành, một người lúc nào cũng sợ hãi – dù không biết là sợ gì. Nghe lời ba người đàn bà tiên tri, ông phải lấy mạng của nhà sư để có sự bình an trong tâm hồn mình. Nàng cáo nghe được âm mưu này, và van xin Mộng Đế để có thể cứu được người mình yêu. Sự hi sinh của nàng có ích hay không? Hay chỉ là vô nghĩa? Kết quả của nhà sư và nàng cáo sẽ ra sao? Viên quan có được sự bình an của mình hay không? Tất cả những người này đều chạy theo một giấc mộng, để rồi phải hối tiếc mãi mãi. Được kể theo một câu chuyện cổ tích Nhật Bản, truyện mang nhiều nét Đông phương huyền bí. Ta thấy ở trong đó là nhà sư, Bồ Tát, ngôi chùa, viên quan ở Nhật, hồ ly tinh hóa thành người, linh vật trong truyền thuyết, v.v. Ngay cả quan niệm lấy thiện báo oán nữa. Tuy nhiên, truyện vẫn có những nét riêng biệt của Tây phương. Khác với truyện liêu trai, các nàng hồ ly không bao giờ cho ta thấy hình dáng thật của nàng, trừ khi là bị nguy hiểm sắp chết. Nàng hồ ly trong Truy Mộng thật là một con cáo, ta thấy nó mơ giấc mơ của con cáo, chạy bằng bốn chân, săn thịt cóc khi đói (ew!) Quan niệm không kẻ nào chống lại được số phận dù có cố gắng đến mấy. Điểm đặc biệt nữa của truyện là không nhân vật nào trong truyện có tên. Mọi người chỉ là như thế: nhà sư, nàng hồ ly, vị quan, mộng đế … Những người đó đã bị thời gian xóa đi tên, không ai nhớ nữa, nhưng họ vẫn trở về trong mơ. Ở đây, ta gặp lại những nhân vật quen thuộc của bộ truyện Sandman. Mộng đế – dĩ nhiên – vẫn xanh xao, nhưng với vẻ đẹp kì bí, có thể nói là đẹp trai hơn dưới ngòi bút của Amano. Ba nhà nữ tiên tri (hay phù thủy) là hiện thân của ba nữ thần Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai. Hai anh em sinh đôi với người em tốt bụng luôn giúp đỡ người ta và người anh luôn muốn giết người em. (Mà những ai đã đọc qua Sandman truyện tranh chương 2 trong Thư Viện đều đã biết